CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÓC TÁCH VỎ HẠT2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến bóc tách vỏ2.1.1. Độ ẩmCác hạt có dầu có độ ẩm khác nhau ,khi xát vỏ sẽ tách ra không đều .Tăng độ ẩm hạt cũng làm tăng nhu cầu điện năng cần dùng để phá vỡ vỏ hạt .Nâng độ ẩm của hạt từ 68% tuy không mang lại sự chênh lệch đáng kể về hiệu quả xát ,khi hạt trong máy có cùng vận tốc ,nhưng bảo đảm được hỗn hợp xay ít tấm . Do vậy sấy khô hạt đến độ ẩm dưới 78% là không hợp lý .Khi nâng độ ẩm hạt lên 811%,chi phí điện năng cho xát vỏ tăng lên .Chẳng hạn ,tăng vận tốc hạt trong máy xát cánh búa lên trên 38ms mà không sát đến cỡ hạt trong máy cũng không hợp lý ,vì thực tế lượng nhân nguyên trong hỗn hợp xay giảm. Trong lúc đó, hạt với độ ẩm 67% ở vận tốc 3637ms, sẽ thu được lượng nhân nguyên liệu tối đa.2.1.2. Kích thước hạtHạt không đồng đều về kích thước, khi xát, vỏ sẽ rất khác nhau. Các hạt lớn, khi cùng độ ẩm sẽ dễ tróc vỏ hơn hạt bé và cũng tiêu thụ ít điện năng hơn. Chẳng hạn hạt có dầu có độ ẩm 67%, cỡ hạt 6mm (không lọt lỗ sàn lớn hơn 6mm) vận tốc cần thiết 31ms, khi cũng ở độ ẩm đó nhưng cỡ hạt bé hơn 6mm, vận tốc cần có là 34ms.2.1.3. Đặc diểm hạtCác giống hạt có dầu phẩm chất khác nhau có sự khác nhau về kích thước, độ dày của vỏ, tỷ lê vỏ so với nhân và do đó khi xác vỏ cũng khác nhau. Chẳng hạn, giống Tiên Tiền ( khối lượng mỗi hạt 0,095g) Vận tốc cần có khi phá vỡ vỏ hạt có độ ẩm 67% phải lớn hơn vận tốc phá vở vỏ hạt giống V.NIIMK8931 (khối lượng mỗi hạt 0,100g) ở cùng độ ẩm của nhân. Giống Tiên Tiền có độ bền lớn, cỡ hạt bé hơn, nhẹ hơn và nhân nhiều hơn so với giống V.NIIMK8931.Hiệu quả xác hạt tốt nhất đối với hạt có dầu ở độ ẩm của vỏ bằng hoặc không thấp hơn 12% so với độ ẩm của nhân.Ở điều kiện này vỏ sẽ giòn và nhân sẽ dẻo.Trong hỗn hợp xay hạt như vậy ít hạt sót, ít tấm và bụi dầu.2.1.4. Động học phá vỡ vỏ hạt khi sát vỏ hạt có dầuKhi xát vỏ hạt hướng dương, các cánh búa của tay quay sẽ va đập lên hạt. Mặt vỏ trực giao bị biến dạng, rạn nức thành một số phần.Khi chịu tác động của ngoại lực, vỏ hạt không chỉ chịu lực nén đầy, mà cả lực có tính uống căng.Đầu tiên hạt chịu những va đập của cánh búa do tang quay chuyển động với vận tốc nhất định gây nên. Lúc hạt dang tiếp xúc với bề mạt kim loại của cánh búa, vỏ hạt bị nén sâu vào nhân với một mức độ nào đó. Sau đó, hạt cùng chuyển động với cánh búa, lúc này lực biến dạng đàn hồi sẽ làm khôi phục hình dạng ban đầu của vỏ. Tiếp theo, hạt bị các cánh bủa đẩy văng ra. Ở thời điểm chịu va đập, vỏ vừa hình thành vết nứt.Lúc vỏ tiếp xúc với cánh búa, nhân sẽ nén lên các chổ vỏ bị biến dạng làm rách mặt vỏ phía trong.Trong khi đó, nhân không bị vỡ vì còn được bao một lớp vỏ mềm nằm giữa nhân và phần vỏ cứng. Khi lực đập đủ lớn làm rạn nứt vỏ, nhưng không làm vở nhân, nhân sẽ tách ran gay lúc hạt vừa rời khỏi bề mạt cánh búa.Vỏ hạt còn do các cạnh biên của các cánh búa làm vỡ hoặc bị vỡ trong lúc bay từ mặt cánh búa đến thành trong của long máy.Những hạt khi búa đập lên không đủ lực làm vỡ vỏ, khi văng vào mặt ráp của long máy sẽ bị vỡ tiếp.Những hạt đã chịu nén động học mất đi mối liên hệ bền giữa nhân và võ đều xảy ra dễ dàng việc giải phóng nhân khỏi vỏ. 2.2. Các phương pháp bóc tách vỏ hạt2.2.1. Cơ sở lý thuyếtThành phần chủ yếu của vỏ là xenlulo và hemixenlulo hầu như không chứa dầu hoặc chứa rất ít, hơn nữa vỏ đảm nhiệm chức năng bảo vệ cơ học cho quả hoặc hạt dầu nên độ bền của vỏ lớn hơn nhân rất nhiều (nếu để vỏ sẽ gây khó khăn cho quá trình ép). Mặt khác, muốn hiệu suất tách dầu cao, các tế bào nhân cần phải được phá vở triệt để nhằm giải phóng dầu ra ở dạng tự do nên phải qua công đoạn nghiền, chính vì vậy bóc và tách vỏ trước khi nghiền nhằm vào các mục đích sau: Tạo điều kiện cho việc nghiền nhân được dễ dàng, đạt độ nhỏ mong muốn. Giảm tổn thất dầu trong sản xuất vì vỏ có tính hút dầu cao. Ngoài ra, vỏ là nơi tập trung nhiều chất màu, nếu không bóc vỏ trước khi ép, dưới ảnh hưởng của nhiệt độ cao chát màu tan mạnh vào dầu làm cho dầu có màu xấu.Để hiệu suất bóc vỏ cao, khối nguyên liệu phải đồng đều về kích thước do đó cần phải phân loại trước khi bóc tách vỏ. Người ta thường dùng sàng để phân loại.Tùy thuộc vào kích thước hình dáng ,và độ bền cơ học của vỏ mà sử dụng máy bóc vỏ và tách vỏ có cơ cấu cũng như nguyên lý làm việc khác nhau .Máy bóc vỏ cứng được bố trí bộ phận tạo ra lực nén ,cát ,chẳng hạn cặp trục có rãnh hoặc đĩa có dao .Máy bóc vỏ mềm giòn cần tạo ra lực đập,nén bằng hệ thống trục trên hoặc rãnh khía ,máy bóc vỏ dai có hệ thống dao cắt và sàng đập .Sau khi vỏ được bóc ra cho hỗn hợp qua hệ thống phân ly sàng ,quạt .Trong quá trình bóc vỏ độ ẩm nguyên liệu đóng vai trò hết sức quan trọng .Nếu quá khô không những vỏ nát ra mà nhân bị nát vụn nhiều .Khi phân ly tổn thất nhân lớn .Nếu quá ướt hiệu suất bóc thấp ,nghĩa là hạt nguyên không bóc vỏ còn nhiều .Do tình hình nguyên liệu không tập trung ,công tác thu mau gặp nhiều khó khăn nên việc bóa vỏ hạt có thẻ hoàn toàn thủ công ,giao cho công nhân rồi định tỷ lệ nhân .Biện pháp này tuy tích cực nhưng mang lại nhiều nhược điểm .Mỗi loại nguyên liệu chứa dầu có độ bền cơ học khác nhau nên đối với mỗi loại nguyên liệu khác nhau người ta dùng các loại máy bóc vỏ có cơ cấu khác nhau. Các loại máy này thường dựa vào các nguyên tắc cơ bản như sau: Hạt có vỏ cứng như: trẩu ,sở, lai ,cọ: tạo lực nén, cắt, nên dùng cặp trục có rãnh hoặc đĩa gắn dao.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
THÁNG 12/2014
Trang 21.1.1 Lịch sử phát triển dầu thực vật 1
1.2 Ứng dụng dầu thực vật trong đời sống 2
1.2.1 Vai trò của dầu thực vật đối với cơ thể người 2
1.2.2 Dự trữ năng lượng: 2
1.2.3 Ứng dụng của dầu thực vật trong công nghiệp 3
1.3 MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU HẠT CÓ DẦU PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM 3
1.3.1 Lạc (đậu phụng) 3
1.3.2 Đậu nành 4
1.3.3 Dừa 4
1.3.4 Cám gạo 5
1.3.5 Đào lộn hột (điều) 5
1.3.6 Cây cải dầu (Brassica napus L.) 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÓC TÁCH VỎ HẠT 7
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bóc tách vỏ 7
2.1.1 Độ ẩm 7
2.1.2 Kích thước hạt 7
2.1.3 Đặc diểm hạt 7
2.1.4 Động học phá vỡ vỏ hạt khi sát vỏ hạt có dầu 8
2.2 Các phương pháp bóc tách vỏ hạt 9
2.2.1 Cơ sở lý thuyết 9
2.2.2 Các biện pháp và thiết bị bóc vỏ hạt 10
2.2.3 Yêu cầu sau bóc tách 10
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT BỊ TÁCH VỎ HẠT CÓ DẦU 12
3.1 Phá vở vỏ nguyên liệu do kết quả của sự va đập lên một bề mặt rắn 12
3.2 Phá vỡ vỏ nguyên liệu dựa vào lực cắt bằng các cơ cấu dao 14
3.3 Phá vở vỏ nguyên liệu do ma sát với bề mặt nhám 15
3.4 Phá vỡ vỏ nguyên liệu bằng lực nén ép trong các khe của các trục quay 17
Trang 3Từ xưa đến nay, chất béo đóng vai trò rất cần thiết trong cuộc sống hằng ngày,dầu thực vật là nguồn cung cấp chất béo chủ yếu qua khẩu phần ăn hằng ngày Vì vậyngành công nghệ sản xuất dầu ra đời để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.Dầu ăn được tinh lọc từ nguồn gốc thực vật, nằm ở thể lỏng trong môi trườngbình thường Có khá nhiều loại dầu được xếp vào loại dầu ăn được gồm: dầu ô liu,dầu cọ, dầu nành, dầu canola, dầu hạt bí ngô, dầu bắp, dầu hạt hướng dương, dầu câyrum, dầu lạc, dầu hạt nho, dầuvừng, dầu argan và dầu cám gạo Nhiều loại dầu ăn cũngđược dùng để nấu ăn và bôi trơn.
Dầu thực vật được sử dụng trên nhãn của sản phẩm dầu ăn để chỉ một hỗn hợpdầu trộn lại với nhau gồm dầu cọ, bắp, dầu nành và dầu hoa hướng dương
Đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật bóc tách vỏ hạt có dầu” giúp chúng ta tìm hiểu về một
số nguyên liệu dùng để sản xuất dầu cũng như các phương pháp bóc tách vỏ hạt có dầuhiện nay
CHƯƠNG 1:
Trang 4CHƯƠNG 3: Dầu mỡ được biết đến đầu tiên có lẽ từ đế chế Ai cập (năm 1400 trướcCN), ngoài phục vụ cho ăn uống, việc sản xuất xà phòng từ dầu mỡ cũng đã được ứngdụng Ánh sáng ban đêm của người cổ đại cũng được tạo ra từmỡ động vật chứa trong
lọ và một ống sứa được sử dụng như bấc đèn ngày nay Người La Mã xưa cũng đã biếtchế tạo nến từ mỡ động vật trộn với sáp ong Bên cạnh đó, rất nhiều thực vật cũngđược sửdụng làm nguồn cung cấp dầu: dầu olive có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải,hạt cải dầu được sử dụng phổ biến ở Châu Âu, dầu mè ở Ấn độ và đặc biệt, Trungquốc là quốc gia biết sử dụng dầu sớm nhất; cho đến ngày nay, dầu đậu nành vẫn được
ưa chuộng ở nước này Hiện nay, có rất nhiều loại động thực vật cho dầu mỡ đã đượckhai thác, mỡ không chỉ thu được từ các động vật chủyếu như heo, bò, cừu mà mỡ từđộng vật biển cũng được quan tâm
CHƯƠNG 4: Song song với quá trình sử dụng dầu mỡ, công nghệ chế biến dầu cũngrất phát triển: từ khâu chiết tách thu dầu mỡ đến kỹ thuật tinh luyện giúp dầu mỡ cóchất lượng cao hơn Tuy nhiên, bước ngoặt lớn giúp nền công nghiệp chế biến dầu mỡphát triển gắn liền với việc ứng dụng máy nghiền ép dầu dạng con lăn của Smeatonvào năm 1752 Tiếp theo đó, công nghệ chiết tách dầu có kết hợp chưng sấy cũng bướcđầu được nghiên cứu trong những năm 1795 (Brahma), 1800 (Neubauer), 1891(Montgolfier) Deiss (1855) đã thử nghiệm trích ly dầu thành công từ dung môi làCS2, sau đó Irvine, Richardson và Lundy (1864) đã đưa ra phát minh cho việc sử dụngdung môi trích ly dầu là hydrocarbon và hiện vẫn còn được áp dụng Cùng với công
Trang 5nghệ chiết tách dầu, ông nghệ tinh luyện dầu mỡ cũng được phát triển song song.Thêm vào đó, các phương pháp kiểm định và đánh giá chất lượng của dầu mỡ cũngđược nghiên cứu và ứng dụng: khái niệm về chỉ số acid (Merz, 1879), chỉ số xà phònghóa (Koettstorfer, 1879), chỉ số iod (Huebl, 1879); việc ứng dụng phương pháp sắc kýtrong xác định giá trị dầu mỡ cũng đã được ứng dụng từnăm 1906 (Tswett, sắc ký cột)
và phát triển dần
4.1 Ứng dụng dầu thực vật trong đời sống
4.1.1 Vai trò của dầu thực vật đối với cơ thể người
CHƯƠNG 5: Dầu thực vật có thành phần chất béo, là một trong ba thành phần hóa học
cơ bản được tạo thành trong thực vật
5.1.1 Dự trữ năng lượng:
CHƯƠNG 6: Chất béo trong cơ thể đóng một vai trò quan trọng là chất dự trữ được cơthể thiếu thức ăn hoặc bị đau ốm Nguyên nhân chủ yếu để cơ thể sống sử dụng chấtbéo như một chất dự trữ đó là chất béo có năng lượng rất lớn,gấp hơn hai lần so vớigluxit, gấp hơn hai lần so với protit Các công trình nghiên cứu sinh hóa học và dinhdưỡng đã xác định: nếu như thức ăn hằng ngày thiếu chất béo một thời gian dài sẽ dẫnđến những rối loạn về hoạt động sinh lý của cơ thể, gây nên sự mất cân bằng về vậtchất và cuối cùng dẫn đến sự suy nhược cơ thể
CHƯƠNG 7: Trong cơ thể con người dầu được chuyển hóa cung cấp năng lượng cho
cơ thể để làm việc, chống lại sự giảm thân nhiệt do ảnh hưởng của các điều kiện bênngoài
7.1.1.1 Tạo cơ thể:
CHƯƠNG 8: Cấu tạo màng sinh học và tạo thành hàng rào bao xung quanh tế bào vàcác bộ phận của tế bào
8.1.1.1 Dung môi hòa tan vitamin:
CHƯƠNG 9: Hòa tan các vitamin tan trong chất béo như: A, D, E và K
9.1.1.1 Bảo vệ chống đỡ cơ học:
CHƯƠNG 10: Lớp mỡ dưới da của động vật có tác dụng bảo vệ cơ thể động vật trướccác tác động cơ học
Trang 6CHƯƠNG 11: Tính chất hóa lý quan trọng của chất béo là không tan trong nước, điều
đó xác định vai trò của chất béo trong chất nguyên sinh Màng tế bào, nhân, ty thể, lậpthể, nhiễm sắc thể được cấu tạo bởi các chất béo, các hỗn hợp lipoprotein.Trong thànhphần màng,chất béo tham gia trực tiếp vào quá trình vận chuyển các ion, các phân tửcác chất khác nhau qua màng
11.1.1 Ứng dụng của dầu thực vật trong công nghiệp
CHƯƠNG 12: Dùng để chiên, xào, nấu nướng làm tăng giá trị dinh dưỡng thức ăn,trong công nghiệp đồ hộp: dùng để bảo quản thịt cá, dùng trong sản xuất bánh kẹo, mỳ
ăn liền, thức ăn cho gia súc, là nguyên liệu cho các sản phẩm công nghiệp khác: dệtvải, xà phòng, thuộc da, dầu bôi trơn
CHƯƠNG 13: Do tác dụng về sinh lý học, dinh dưỡng học và y học mà dầu thực vật
đã trở thành một loại thức ăn không thể thiếu được trong đời sống con người
13.1 MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU HẠT CÓ DẦU PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM 13.1.1 Lạc (đậu phụng)
CHƯƠNG 14: Lạc được cấu tạo gồm ba phần:
- Vỏ ngoài: là lớp vỏ mỏng, nhám, khi khô dễ vỡ theo chiều dọc, thành phầnchủ yếu là xenlulo 68 %, chứa dầu rất ít 1%, tinh bột 12%, tro 4% lượng vỏngoài chiếm 24 ÷ 35% khối lượng toàn củ lạc
- Vỏ lụa: màu vàng hay hồng, chủ yếu chứa hemixenlulo, chiếm 3 ÷ 4% khốilượng hạt
- Nhân: tròn hay bầu dục, màu trắng, thành phần hóa học (theo % chất khô) nhưsau:
50 ÷ 63 %, linolic (C18:2) 13 ÷ 33 %, và một ít axit béo no như panmitic (C16:0) 6 ÷
11 %, vì thế dầu lạc ở thể lỏng ở nhiệt độ thường Dầu lạc thường được khai thác từnhân lạc bằng phương pháp ép hoặc ép kết hợp với trích ly Thường trung bình 100 kg
Trang 7lạc (cả vỏ) cho 70 kg nhân và 30 kg vỏ Nếu dùng phương pháp ép kết hợp với trích
ly, ta thu được 34 kg dầu lạc và 36 kg khô lạc
CHƯƠNG 24: Protein trong khô dầu lạc gồm các axit amin không thay thế nhưacginin, lizin, histidin, triptophan, ngoài ra trong nhân lạc còn có các vitamin như B1,B2, PP
CHƯƠNG 25: Tỉ trọng của dầu lạc 0,910 ÷ 0,929, chỉ số xà phòng 185 ÷ 194, I.I 82 ÷
92, nhiệt độ đông đặc -2,5 ÷ 30C Dầu lạc dùng trong sản xuất đồ hộp, bơ nhân tạo
25.1.1 Đậu nành
CHƯƠNG 26: Thuộc họ đậu, là một loại cây hàng năm, hạt đậu nành gồm:
- Vỏ ngoài: chiếm 50 % khối lượng hạt, khối lượng 1000 hạt dao động từ 90 ÷200g, dung trọng khoảng 600 ÷ 780 kg/m3 Thành phần của hạt đỗ tương nhưsau:
CHƯƠNG 27:
Thànhphần
CHƯƠNG 47: Trong dầu đỗ tương có các axit béo như axit linolic (C18:2) 51 ÷ 57 %,oleic (C18:1) 23 ÷ 29 %, linolenic (C18:3) 3 ÷ 6 %, panmitic (C16:0) 3 ÷ 6 %, stearit(C18:0) 5 ÷ 7 % Tỉ trọng của dầu đậu nành là 0,922 ÷ 0,934, chỉ số xà phòng 198 ÷
193, I.I 120 ÷ 141, nhiệt độ nóng chảy -15 ÷ 180C Dầu đậu nành chủ yếu dùng làmthực phẩm, trong dầu đậu nành có nhiều photpholipit mà chủ yếu là lơxitin có nhiềugiá trị dinh dưỡng, do đó, thành phần này sẽ được tách ra trong quá trình tinh chế dầu
Trang 8để dùng trong sản xuất kẹo bánh và bánh mì để làm tăng giá trị dinh dưỡng của nhữngsản phẩm đó.
47.1.1 Dừa
CHƯƠNG 48: Thuộc họ cọ, được trồng nhiều ở vùng nhiệt đới, phấn và sợi bên ngoàichiếm 57 %, sọ chiếm 12 %, cùi 18 %, nước 13 %, thành phần hóa học của cùi dừanhư sau:
÷ 10%, các axit béo không no rất ít nên ở nhiệt độ thường, dầu dừa ở thể rắn Tỉ trọngcủa dầu dừa 0,925 ÷ 0,926, chỉ số xà phòng 251 ÷ 264, I.I 7 ÷ 10
CHƯƠNG 68: Để khai thác dầu dừa, sau khi bổ quả dừa, người ta đem phơi nắng rồidùng tay tách lấy cùi dừa, sau đó sấy khô, bảo quản và đưa vào sản xuất Dầu dừadùng để sản xuất bơ nhân tạo và dùng làm xà phòng
Trang 968.1.1 Cám gạo
CHƯƠNG 69: Cám gạo là phụ phẩm của công nghiệp xay xát, trong cám còn lẫn trấu,tấm vụn, muốn dùng cám để tách dầu cần phải tách riêng các chất ấy ra, tùy theo từngloại gạo mà hàm lượng dầu trong cám có thể khác nhau, dao động từ 20 ÷ 23 % Hàmlượng enzym lipaza trong cám gạo khá cao nên cám rất dễ bị hư hỏng, vì vậy sau khixay xát, muốn cám bảo quản được lâu thì phải tiêu diệt enzym lipaza hoặc phải đưa đi
ép dầu ngay.Nhiệt độ diệt enzym 100 ÷ 1050C/10 phút.Trong cám có nhiều B1 nêndầu cám được dùng trong y học (chữa bệnh tê phù) Thành phần axit béo trong dầucám gồm axit oleic 40 ÷ 50%, linolic 26 ÷ 42 %, panmitic 13 ÷ 18 % Do trong cám cónhiều enzym lipaza nên trong dầu cám cũng sẽ tồn tại một lượng đáng kể enzym này,
vì thế dầu cám rất khó bảo quản Tỉ trọng của dầu cám là 0,916 ÷ 0,929, chỉ số xàphòng 180 ÷ 198
69.1.1 Đào lộn hột (điều)
CHƯƠNG 70: Là loại cây thân gỗ, trong hạt đào có hai loại dầu khác nhau:
- Dầu vỏ: hàm lượng dầu trong vỏ khoảng 37 ÷ 61 %, thành phần chủ yếu làepoxy, được sử dụng trong công nghiệp sản xuất sơn, vecni
-Dầu ở nhân: hàm lượng dầu trong nhân khoảng 47%, axit béo chủ yếu là axitoleic 74%, dầu nhân hạt điều được sử dụng làm thực phẩm
70.1.2 Cây cải dầu (Brassica napus L.)
CHƯƠNG 71: Là cây có khả năng cho hàm lượng dầu cao và được trồng khá
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Hạt cải dầu có chứa khoảng 40% dầu thực vật vàkhô bã thu được sau khi ép có chứa một lượng lớn protein (26-30%) Dầu hạt cải đượcđánh giá là loại dầu ăn rất tốt cho sức khỏe nhờ sự kết hợp cân bằng giữa tỷ lệ chất béobão hòa thấp chưa đến 7% (thấp nhất trong các loại dầu có nguồn gốc từ thực vật), tỷ
lệ chất béo không bão hòa đơn cao (61%), lượng chất béo không bão hòa đa vừa phải(32%) trong đó có chứa axít omega 3 cần thiết như axít alpha-linolenic và axit béoomega 6 như axít linoleic có lợi cho sức khỏe Theo Delplanque và cs (2004), dầu hạtcải có vai trò quan trọng trong việc cải thiện tình trạng thiếu omega 3 trong khẩu phần
ăn của con người Axit alpha linolenic (ALA) được tìm thấy trong dầu hạt cải có khảnăng hạ thấp lượng cholesterol có hại LDL (Low Density Lipoprotein), bảo vệ những
Trang 10tế bào tim không tham gia vào hoạt động nhanh của tim giúp giảm nguy cơ đột tử(Hans và cs., 2008) và làm giảm lượng mỡ trong máu (Nahla và cs., 1999)
Trang 11CHƯƠNG 72: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÓC TÁCH
CHƯƠNG 74: Khi nâng độ ẩm hạt lên 8-11%,chi phí điện năng cho xát vỏ tăng lên.Chẳng hạn ,tăng vận tốc hạt trong máy xát cánh búa lên trên 38m/s mà không sát đến
cỡ hạt trong máy cũng không hợp lý ,vì thực tế lượng nhân nguyên trong hỗn hợp xaygiảm Trong lúc đó, hạt với độ ẩm 6-7% ở vận tốc 36-37m/s, sẽ thu được lượng nhânnguyên liệu tối đa
74.1.1 Kích thước hạt
CHƯƠNG 75: Hạt không đồng đều về kích thước, khi xát, vỏ sẽ rất khác nhau Cáchạt lớn, khi cùng độ ẩm sẽ dễ tróc vỏ hơn hạt bé và cũng tiêu thụ ít điện năng hơn.Chẳng hạn hạt có dầu có độ ẩm 6-7%, cỡ hạt 6mm (không lọt lỗ sàn lớn hơn 6mm)vận tốc cần thiết 31m/s, khi cũng ở độ ẩm đó nhưng cỡ hạt bé hơn 6mm, vận tốc cần
có là 34m/s
75.1.1 Đặc diểm hạt
CHƯƠNG 76: Các giống hạt có dầu phẩm chất khác nhau có sự khác nhau về kíchthước, độ dày của vỏ, tỷ lê vỏ so với nhân và do đó khi xác vỏ cũng khác nhau Chẳnghạn, giống Tiên Tiền ( khối lượng mỗi hạt 0,095g) Vận tốc cần có khi phá vỡ vỏ hạt có
độ ẩm 6-7% phải lớn hơn vận tốc phá vở vỏ hạt giống V.NIIMK-8931 (khối lượng mỗihạt 0,100g) ở cùng độ ẩm của nhân Giống Tiên Tiền có độ bền lớn, cỡ hạt bé hơn, nhẹhơn và nhân nhiều hơn so với giống V.NIIMK-8931
Trang 12CHƯƠNG 77: Hiệu quả xác hạt tốt nhất đối với hạt có dầu ở độ ẩm của vỏ bằng hoặckhông thấp hơn 1-2% so với độ ẩm của nhân.Ở điều kiện này vỏ sẽ giòn và nhân sẽdẻo.Trong hỗn hợp xay hạt như vậy ít hạt sót, ít tấm và bụi dầu.
77.1.1 Động học phá vỡ vỏ hạt khi sát vỏ hạt có dầu
CHƯƠNG 78: Khi xát vỏ hạt hướng dương, các cánh búa của tay quay sẽ va đập lênhạt Mặt vỏ trực giao bị biến dạng, rạn nức thành một số phần.Khi chịu tác động củangoại lực, vỏ hạt không chỉ chịu lực nén đầy, mà cả lực có tính uống căng
CHƯƠNG 79: Đầu tiên hạt chịu những va đập của cánh búa do tang quay chuyểnđộng với vận tốc nhất định gây nên Lúc hạt dang tiếp xúc với bề mạt kim loại củacánh búa, vỏ hạt bị nén sâu vào nhân với một mức độ nào đó Sau đó, hạt cùng chuyểnđộng với cánh búa, lúc này lực biến dạng đàn hồi sẽ làm khôi phục hình dạng ban đầucủa vỏ Tiếp theo, hạt bị các cánh bủa đẩy văng ra Ở thời điểm chịu va đập, vỏ vừahình thành vết nứt
CHƯƠNG 80: Lúc vỏ tiếp xúc với cánh búa, nhân sẽ nén lên các chổ vỏ bị biến dạnglàm rách mặt vỏ phía trong.Trong khi đó, nhân không bị vỡ vì còn được bao một lớp
vỏ mềm nằm giữa nhân và phần vỏ cứng Khi lực đập đủ lớn làm rạn nứt vỏ, nhưngkhông làm vở nhân, nhân sẽ tách ran gay lúc hạt vừa rời khỏi bề mạt cánh búa
CHƯƠNG 81: Vỏ hạt còn do các cạnh biên của các cánh búa làm vỡ hoặc bị vỡ tronglúc bay từ mặt cánh búa đến thành trong của long máy
CHƯƠNG 82: Những hạt khi búa đập lên không đủ lực làm vỡ vỏ, khi văng vào mặtráp của long máy sẽ bị vỡ tiếp
CHƯƠNG 83: Những hạt đã chịu nén động học mất đi mối liên hệ bền giữa nhân và
võ đều xảy ra dễ dàng việc giải phóng nhân khỏi vỏ
CHƯƠNG 84:
Trang 1384.1 Các phương pháp bóc tách vỏ hạt
84.1.1 Cơ sở lý thuyết
CHƯƠNG 85: Thành phần chủ yếu của vỏ là xenlulo và hemixenlulo hầu như khôngchứa dầu hoặc chứa rất ít, hơn nữa vỏ đảm nhiệm chức năng bảo vệ cơ học cho quảhoặc hạt dầu nên độ bền của vỏ lớn hơn nhân rất nhiều (nếu để vỏ sẽ gây khó khăn choquá trình ép) Mặt khác, muốn hiệu suất tách dầu cao, các tế bào nhân cần phải đượcphá vở triệt để nhằm giải phóng dầu ra ở dạng tự do nên phải qua công đoạn nghiền,chính vì vậy bóc và tách vỏ trước khi nghiền nhằm vào các mục đích sau:
- Tạo điều kiện cho việc nghiền nhân được dễ dàng, đạt độ nhỏ mong muốn
- Giảm tổn thất dầu trong sản xuất vì vỏ có tính hút dầu cao
- Ngoài ra, vỏ là nơi tập trung nhiều chất màu, nếu không bóc vỏ trước khi ép,dưới ảnh hưởng của nhiệt độ cao chát màu tan mạnh vào dầu làm cho dầu cómàu xấu
CHƯƠNG 86: Để hiệu suất bóc vỏ cao, khối nguyên liệu phải đồng đều về kích thước
do đó cần phải phân loại trước khi bóc tách vỏ Người ta thường dùng sàng để phânloại
CHƯƠNG 87: Tùy thuộc vào kích thước hình dáng ,và độ bền cơ học của vỏ mà sửdụng máy bóc vỏ và tách vỏ có cơ cấu cũng như nguyên lý làm việc khác nhau Máybóc vỏ cứng được bố trí bộ phận tạo ra lực nén ,cát ,chẳng hạn cặp trục có rãnh hoặcđĩa có dao Máy bóc vỏ mềm giòn cần tạo ra lực đập,nén bằng hệ thống trục trên hoặcrãnh khía ,máy bóc vỏ dai có hệ thống dao cắt và sàng đập Sau khi vỏ được bóc ra chohỗn hợp qua hệ thống phân ly sàng ,quạt Trong quá trình bóc vỏ độ ẩm nguyên liệuđóng vai trò hết sức quan trọng Nếu quá khô không những vỏ nát ra mà nhân bị nátvụn nhiều Khi phân ly tổn thất nhân lớn Nếu quá ướt hiệu suất bóc thấp ,nghĩa là hạtnguyên không bóc vỏ còn nhiều Do tình hình nguyên liệu không tập trung ,công tácthu mau gặp nhiều khó khăn nên việc bóa vỏ hạt có thẻ hoàn toàn thủ công ,giao chocông nhân rồi định tỷ lệ nhân Biện pháp này tuy tích cực nhưng mang lại nhiều nhượcđiểm
CHƯƠNG 88: Mỗi loại nguyên liệu chứa dầu có độ bền cơ học khác nhau nên đối vớimỗi loại nguyên liệu khác nhau người ta dùng các loại máy bóc vỏ có cơ cấu khácnhau Các loại máy này thường dựa vào các nguyên tắc cơ bản như sau: