Xây dựng thành công luận án trong đó có phần tổng quan là nhiệm vụ quan trọng “số 1” của nghiên cứu sinh nói chung và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế chính trị nói riêng. Để hoàn thành nhiệm vụ này, vươn tới “đỉnh cao sán lạn” đòi hỏi nghiên cứu sinh không chỉ ở sự “lao tâm, khổ tứ”, không sợ “chùn chân mỏi gối” trên những “chặng đường gập ghềnh của khoa học” mà còn cần hiểu và vận dụng đúng phương pháp nghiên cứu khoa học. Muốn có được điều này thiết nghĩ mỗi nghiên cứu sinh cần trở về với bộ Tư bản để biết, để học ở Mác phương pháp luận khoa học cũng như cách vận dụng các phương pháp nghiên cứu vào hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và trong luận giải các vấn đề kinh tế chính trị nói riêng.
Trang 1VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA MÁC TRONG QUYỂN 1, QUYỂN HAI BỘ TƯ
BẢN VÀO VIẾT TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
MỞ ĐẦU
C.Mác, Ph.Ăngghen đã tiến hành cách mạng sâu sắc cả trong triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học Học thuyết của các ông đã được Lênnin phát triển lên tầm cao mới Những công trình nghiên cứu của C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin, đặc biệt là bộ Tư bản đã đóng góp cho nhân loại một kho tàng kiến thức đồ sộ mà một trong nhiều đóng góp quan trọng đó là phương pháp luận nghiên cứu khoa học mácxít Đây cũng là các công trình chứa đựng sự mẫu mực về vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học vào luận giải những vấn đề kinh tế - xã hội trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cho đến nay phương pháp luận mácxít vẫn được xem là phương pháp luận khoa học nhất, vì nó nó có thể áp dụng vào nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực tự nhiên mà cả trong xã hội và tư duy Đặc biệt sự vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học của Mác trong bộ Tư bản vẫn được cả nhân loại tiến bộ, đặc biệt là những người cộng sản trân trọng, coi đó là cẩm nang cho việc luận giải các vấn đề kinh tế chính trị Ở nước ta, Đảng khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, vì thế nắm vững phương pháp luận mácxít trở thành yêu cầu quan trọng và cấp thiết
Xây dựng thành công luận án trong đó có phần tổng quan là nhiệm vụ quan
trọng “số 1” của nghiên cứu sinh nói chung và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế chính trị nói riêng Để hoàn thành nhiệm vụ này, vươn tới “đỉnh cao sán lạn” đòi hỏi nghiên cứu sinh không chỉ ở sự “lao tâm, khổ tứ”, không sợ “chùn chân mỏi gối” trên những “chặng đường gập ghềnh của khoa học” mà còn cần hiểu và
vận dụng đúng phương pháp nghiên cứu khoa học Muốn có được điều này thiết nghĩ mỗi nghiên cứu sinh cần trở về với bộ Tư bản để biết, để học ở Mác phương pháp luận khoa học cũng như cách vận dụng các phương pháp nghiên cứu vào hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và trong luận giải các vấn đề kinh tế chính trị nói riêng
Trang 21 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA MÁC TRONG QUYỂN MỘT, QUYỂN HAI BỘ TƯ BẢN
1.1 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học của Mác trong quyển một bộ Tư bản
Bộ tư bản của Mác không chỉ là một tác phẩm kinh tế mà còn là một tác phẩm triết học lớn, trong đó các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng một cách điêu luyện Lênnin đã từng viết: “Mác không để lại cho chúng ta “Lôgic học” (với chữ (L viết hoa), những đã để lại cho chúng ta lôgíc của “Tư bản” và cần phải vận dụng đầy đủ nhất lôgíc đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta nghiên cứu Trong “Tư bản” Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức(không cần ba từ: đó cùng là một cái duy nhất của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất” Lênin toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr29, tr 359 - 360 Những điều trên thật đúng với những gì mà chúng ta cảm nhận khi nghiên cứu bộ Tư bản, đặc biệt là từ chương I đến chương IX Khi viết bộ Tư bản, Mác đã khắc phục phép siêu hình của các nhà kinh tế tiến bộ và cả những mặt hạn chế của phép biện chứng của Hêghen Bộ Tư bản là một kiểu mẫu nổi bật về sự thống nhất không thể phân chia của phép biện chứng và sự giải thích thế giới theo quan điểm duy vật Lần đầu tiên những vấn đề kinh tế chính trị được giải quyết dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Khác với các học giả tư sản khác khi nghiên cứu xã hội tư bản Mác đã bắt đầu bằng việc phân tích hàng hóa Tại sao lại bắt đầu nghiên cứu từ việc phát sinh hàng hóa? Theo Mác, hàng hóa là tế bào của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Nếu vạch được những mâu thuẫn bên trong hàng hóa với tư cách là tế bào của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì theo đó những bản chất của xã hội này sẽ được bộc lộ rõ ra theo một lô gisc nội tại Việc lựa chọn hàng hóa làm điểm xuất phát cho quá trình nghiên cứu tư bản là một sự lựa chọn chính xác và Mác đã thành công trong vấn đề này Khi đã lựa chọn được điểm khởi đầu đó, Mác đã vận dụng tài tình phép biện chứng để dần dần lột tả được những bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa
Mác đã phân đôi “hàng hóa” thành hai mặt đối lập nhau: giá trị sử dụng và giá trị Nếu xét về tổng thể toàn bộ quá trình nghiên cứu, ta thấy tiến trình tư duy của Mác đã đi từ hiện tượng đến bản chất, từ cái chung đến cái riêng, từ hình thức đến nội dung… Điều đó đã thể hiện thể hiện qua việc Mác đã biến đổi khái niệm
“hàng hóa”, coi đó như một hiện tượng chứa đựng bản chất của xã hội tư bản chủ
Trang 3nghĩa, chứa đựng sự đối kháng kinh tế giữa nhà tư bản và những người làm thuê… Nhưng xét từng bộ phận của quá trình nghiên cứu, thì ta lại thấy tiến trình tư duy của Mác đi theo một con đường ngược lại, từ cái riêng đến cái chung, từ nội dung đến hình thức…Điều này được thể hiện qua việc Mác đã coi hàng hóa vừa là nguồn gốc vừa là sản phẩm của tư bản, hoặc qua việc đi từ giá trị sử dụng đến giá trị trao đổi…
Sau khi phân đôi “hàng hóa” (theo chiều ngang) thành giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, rồi đi sâu vào các mối liên hệ bên trong của từng mặt đó, Mác lại tiếp tục phân đôi giá trị theo chiều dọc thành hai mặt: thực thể của giá trị và hình thái của giá trị Sự phân đôi của giá trị đạt đến độ chín muồi nhất là ở sự xuất hiện tiền tệ và ở việc coi tiền tệ là hình thái biến hóa của hàng hóa thành cực đối lập với nó Sự đối lập giữa tiền tệ và hàng hóa thể hiện ra ở chỗ: tiền tệ không biểu hiện hoặc không thực hiện trực tiếp giá trị sử dụng của nó trong sản xuất hay trong tiêu dùng mà chỉ biểu hiện hoặc thực hiện giá trị sử dụng của nó trong trao đổi Như vậy đến đây sự phân đôi giá trị sử dụng, mà theo đó, giá trị sử dụng tồn tại dưới hai hình thức vật chất đối lập nhau: hàng hóa thông thường và hàng hóa tiền tệ khi sản xuất hàng hóa đã ở vào một trình độ phát triển cao hơn, biểu hiện ra như một chỉnh thể thống nhất bởi hai mặt đối lập tương ứng với hai lĩnh vực đối lập nhau: sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa
Sự phân tích lý luận giá trị hàng hóa tất yếu phải thông qua phân tích lý luận về tiền tệ Vì “Tiền tệ là sự kết tinh chói lọi của giá trị hàng hóa” Qua phân tích sự phát triển của các hình thái giá trị, Mác đã vạch rõ nguồn gốc, bản chất của tiền tệ Luận điểm “tiền là hàng hóa đặc biệt là chính xác, khoa học và mang tính thực tiễn cao
Như vậy trong khi nghiên cứu giá trị, Mác đã vận dụng hoàn hảo phép biện chứng bằng các thao tác: phân tích gắn liền với tổng hợp, diễn dịch gắn liền với quy nạp, lập luận lô gíc gắn liền với lịch sử… Với những thao tác như vậy, Mác đã làm cho các quy luật cơ bản của phép biện chứng biểu hiện rõ rệt thông qua sự phát triển của các khái niệm Mâu thuẫn trong lao động giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng đã phát sing ra hàng hóa, mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị phát sing ra tiền tệ, mà tiền tệ là biểu hiện tổng hợp của tất cả các hình thái giá trị trước nó Quá trình phát sinh, hình thành như vậy là biểu hiện của những quy luật: Những sự phát triển dần về lượng dẫn đến sự thay đổi nhảy vọt về chất của sự vật
Trang 4và ngược lại (quy luật lượng chất); Sự thay đổi nhảy vọt về chất lại biểu hiện thông qua sự thay thế một hình thức cũ bằng một hình thức mới, cao hơn của sự vật (quy luật phủ định)
Về mặt phương pháp nghiên cứu, ở đây, khi nghiên cứu sự biến đỏi của tiền tệ thành tư bản, Mác cũng vận dụng hoàn hảo phép biện chứng bằng các thao tác trên Điều đó cho thấy rằng trên cơ sở phân đôi thế giới hàng hóa thành hai cực đối lập nhau: hàng hóa và tiền tệ, Mác đã phân đôi chủ thể sản xuất thành hai giai cấp: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân
- Phương pháp nghiên cứu giá trị thặng dư của Mác:
Phương pháp Mác sử dụng để nghiên cứu giá trị thặng dư trong xã hội tư bản là phương pháp trừu tượng hóa khoa học Đó là phương pháp loại bỏ khỏi qusw trình nghiên cứu những cái đơn nhất, ngẫu nhiên, tạm thời hoặc tạm gác lại những nhân tố nào đó để làm rõ bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế ; từ bản chất cấp một chuyển sang bản chất cấp cao hơn, nêu lên thành phạm trù, quy luật biểu hiện bản chất ấy Nếu không có những phạm trù, quy luật này thì không thể nhận thức đúng đắn những biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản
Ý nghĩa của trừu tượng hóa khoa học là: “khi phân tích những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản ứng hóa học được Sức trừu tượng hóa phải thay thế cả hai cái đó”1 Lênin toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr 16
Phương pháp trừu tượng hóa của Mác đã giải quyết hai vấn đề cơ bản là: Giới hạn của sự trừu tượng hóa: cái gì có thể trừu tượng hóa, cái gì không thể trừu tượng hóa; Không nên đi quá xa giới hạn nhất định
Chính nhờ phương pháp trừu tượng hóa khoa học mà Mác đã xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, một trong những học thuyết vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng kinh tế
Khi chuyển từ việc nghiên cứu sự chuyển hóa của tiền thành tư bản sang việc nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng dư, tư duy của Mác đã vận động theo tiến trình từ hiện tượng đến bản chất Về mặt hiện tượng, giá trị thặng dư được tạo ra từ trao đổi hoặc lưu thông Nhưng về bản chất, giá trị thặng dư lại được tạo ra từ sản xuất, từ việc bóc lột những người làm thuê Nhà tư bản đã dùng hai phương pháp
Trang 5bóc lột giá trị thặng dư là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối
Tóm lại, bằng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, Mác đã phát hiện và xây dựng nên học thuyết về giá trị thặng dư, từ đó làm sáng tỏ hàng loạt khái niệm khoa học kinh tế như: lợi nhuận, địa tô, tiền lượng giá cả… Toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác là bộ cẩm nang vô giá cho việc xây dựng cơ chế hoạt động chung của tất cả các nước đang phát triển kinh tế Và trên thực tế nhiều nhà tư sản đã áp
dụng nó để xây dựng các chính sách của họ Trong tác phẩm Kinh tế học nổi tiếng
của mình P.Samenlson và W Nordhaus đều thừa nhận những luận điểm khoa học của Mác Họ coi Mác là người “khổng lồ về tri thức” kinh tế, mặc dù học đứng trên lập trường tư tưởng đối lập với Mác
Sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác thể hiện không chỉ ở sự phát hiện những quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản đương thời mà còn ở những phương pháp nghiên cứu khoa học rất chính xác và có thể vận dụng cho mọi thời đại
* Phương pháp nghiên cứu của Mác từ chương X đến chương XX
Bắt đầu từ chương X phần thứ 4 và kết thúc ở chương XX phần thức 6, Mác
đi sâu phân tích quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư và tiền công Trong toàn bộ phần này, Mác nghiên cứu quan hệ giữa nhà tư bản với công nhân và những người sản xuất với nhau Mác bắt đầu bằng cách phân tích sự phân chia lợi ích giữa nhà
tư sản và công nhân làm thuê và những người sản xuất với nhau Hay nói chính xác Mác phân tích quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Đặc biệt Mác dành một phần lớn thời gian để nghiên cứu về lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
Nếu như ở những chương trước, Mác sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích và phương pháp lô gíc để tìm ra hệ bản chất của các khái niệm và các hiện tượng kinh tế, thì ở các chương này, phương pháp nghiên cứu của Mác lại thể hiện ở giác độ lịch sử, bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử
Phương pháp nghiên cứu lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi
tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hóa của đối tượng để phát hiện bản chất và quy luật của đối tượng
Trang 6Mọi sự vật hiện tượng của tự nhiên, xã hội đều có lịch sử của mình tức là có nguồn gốc phát sinh vận động phát triển và tiêu vong Quy trình phát triển lịch sử biểu hiện toàn bộ tính cụ thể của nó, với mọi sự thay đổi những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp, muôn hình muôn vẻ, trong hoàn cảnh khác nhau và trong một trật tự thời gian nhất định Đi theo dấu vết của lịch sử chúng ta sẽ có bức tranh trung thực về bản thân đối tượng nghiên cứ
Với phương pháp này, Mác đã phân tích từ giá trị thặng dư tương đối đến hiệp tác, phân công lao động xã hội và phân công lao động trong công trường thủ công đến tiểu công, ở đây chủ yếu Mác đưa ra những cứ liệu lịch sử để chứng minh cho những luận điểm khoa học của mình Bằng những cứ liệu lịch sử chuẩn xác, Mác đã phân tích thực chất quan hệ của tư bản và lao động Ông không chỉ làm rõ thêm một số khái niệm như giá trị thặng dư tương đối, giá trị thặng dư siêu ngạch, tiền công… mà thông qua làm rõ các khái niệm này, Mác đã vạch trần thêm bản chất bóc lột vừa tinh vi vừa thô bạo của chế độ làm thuê tư bản chủ nghĩa Với những tư liệu lịch sử, những nhận xét của chính các học giả tư sản tiến bộ, Mác đã chỉ ra các xu hướng chung, tất yếu của tư bản và những biểu hiện các xu hướng đó
* Phương pháp nghiên cứu của Mác từ chương XXI đến XXV (phần thứ bảy)
Sau khi vạch rõ bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng việc phân tích những mâu thuẫn cũng như những mối lien hệ nội tại của nó ở các chương trên, Mác bắt tay vào xem xét cách thức cũng như xua hướng phát triển của phương thức sản xuất này
Theo Mác phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển bằng cách tư bản hóa một bộ phận của giá trị thặng dư hay biến một bộ phận của giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm Để phát hiện ra điều này, cũng để phát hiện ra cách thức phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mác đã vận dụng quy luật lượng chất vào nghiên cứu, vì quy luật này chỉ ra cách thức phát triển của sự vật
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư với quy mô ngày càng lớn Tư bản hóa giá trị thặng dư theo quy mô ấy chính là tích lũy tư bản Mác bắt đầu nghiên cứu quá trình này bắt đầu bằng nghiên cứu quá trình tái sản xuất giản đơn Theo Mác quá trình tái sản xuất tư bản chủ
Trang 7nghĩa là một hình thái đặc biệt của quá trình tái sản xuất giản đơn Tái sản xuất giản đơn vừa là cơ sở lôgíc vừa là cơ sở lịch sử của quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở đây phép biện chứng được sử dụng một cách rất hoàn hảo Từ quá trình chuyển hóa từ tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, mác đã phát hiện ra quy luật tích lũy tư bản chủ nghĩa đang chi phối các hiện tượng trong lúc chúng đang nằm trong mối quan hệ qua lại mà ông quan sát được khi nghiên cứu Đối với Mác, điều quan trọng hơn cả là quy luật biến hóa của các hiện tượng, quy luật phát triển của chúng, tức là sự chuyển hóa từ một hình thái này sang một hình thái khác; từ một trật tự này sang một trật tự khác
Mác cho rằng, sản xuất hàng hóa giản đơn phải phát triển đến một trình độ nào đó mới có thể phát sinh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là lượng phải tích được tích lũy đến một mức độ nào đó mới có thể làm cho chất thay đổi Sự thay đổi về chất của sản xuất hàng hóa thể hiện ở chỗ: Nếu trước kia sản xuất hàng hóa giản đơn xuất hiện chỉ dựa trên hai điều kiện đơn thuần là: sự phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu đối với tư liệu sản xuất, thì bây giờ nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ngoài hai điều kiện trên, còn cần phải có thêm hai điều kiện nữa: Một là, toàn bộ hay hầu hết tư liệu sản xuất xã hội (biểu hiện thành tiền tệ) phải tập trung trong tay một số ít người để họ chỉ đạo hoặc chi phối quá trình sản xuất xã hội; hai là, phải có đông đảo những người vô sản mà muốn sống được họ phải đi làm thuê, phải đem bán sức lao động của mình cho một số ít kẻ có tiền của Những điều kiện như thế không chỉ để phân biệt nền sản xuất tư bản chủ nghĩa với sản xuất giản đơn mà còn nói lên quan hệ đối kháng giữa tư bản và người công nhân trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tiếp tục xã hội hóa quá trình sản xuất ở trình độ cao hơn Từ đây trở đi quan hệ này sự thống trị hoặc tri phối quán trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Thực ra, trong quá trình sản xuất hàng hóa giản đơn, quá trình xã hội hóa cũng đã được thực hiện - tức là hàng hóa sản xuất ra không phải cho người sản xuât ra nó mà cho người trao đổi Nhưng trong tái sản xuất hàng hóa giản đơn, người sản xuất còn chi phối những sản phẩm của mình một cách độc lập hơn Mặc dù là sản xuất giá trị tiêu dùng cho người khác, những toàn bộ giá trị thặng dư sản xuất ra, người sản xuất đã tiêu dùng cho chính mình Đến sản xuất tư bản chủ nghĩa thì quá trình xã hội hóa đã đạt đến một trình độ cao hơn về chất Ở đây Mác đã phát hiện ra một quy luật tự nhiên, một quy luật kinh tế là sự phân chia giá trị thặng dư thành sản phẩm tiêu dùng cho cá nhân nhà tư bản và phần chia cho tích lũy tư bản là do những điều kiện kinh tế cụ thể
Trang 8quy định chứ không hề phụ thuộc vào ý chí của bất cứ nhà tư bản nào Thoạt nhìn vào hiện tượng, chúng ta dễ nhầm tưởng rằng việc phân chia giá trị thặng dư thành hai phần như vậy hết thảy đều theo ý chí của nhà tư bản Trên thực tế bản thân nhà
tư bản cũng bị các quy luật kinh tế tự nhiên chi phối Chính vì quá trình xã hội hóa cao như vậy nên sự chi phối của quy luật kinh tế khách quan trong sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa càng mạnh mẽ hơn, “gang thép” hơn Vì vậy ý thức đóng vai trò phụ thuộc trong nền văn minh Sự nghiên cứu các quy luật kinh tế ít có thể dựa vào một hình thái ý thức hay một kết quả của ý thức Đây là một biểu hiện rất sinh động của quy luật cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Tuy nhiên ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội
1.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học của Mác trong quyển thứ hai, bộ
Tư bản
Ở quyển thứ nhất, bộ Tư bản, Mác đặt tên là “Quá trình sản xuất của tư bản” còn ở quyển thứ hai là “Quá trình lưu thông của Tư bản Thật vậy, trong quyển thứ hai, quá trình sản xuất được bổ sung bằng quá trình lưu thông của tư bản, những ở đây không nghiên cứu quá trình lưu thông hàng hóa giản đơn mà là quá trình lưu thông tư bản Qúa trình lưu thông hàng hóa giản đơn thực chất đã được nghiên cứu ở quyển thứ nhất Còn quyển thứ ba là “Toàn bộ quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa”, tập trung khảo sát sự lưu thông của quá trình vào sản xuất tư bản trong sự vận động cụ thể biện chứng của nó
Nếu ở quyển thứ nhất, bộ Tư bản, Mác đã sử dụng nhiều phương pháp phân tích và phương pháp trừu tượng hóa tức la chia các đối tượng nghiên cứu thành những đối tượng độc lập để nghiên cứu, thì ở quyển thứ hai, Mác đã sử dụng nhiều phương pháp tổng hợp và cụ thể hóa để khảo sát sự vận động của sản xuất tư bản chủ nghĩa trong chỉnh thể của nó Khi nghiên cứu toàn bộ Tư bản ta thấy việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học của Mác rất hợp lý Khi đối tượng nghiên cứu và lôgíc nghiên cứu cần đề cập đến loại hình phương pháp nào thì Mác đã sử dụng triệt để phương pháp đó Ở quyển thứ nhất cần tách đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận nhỏ và nghiên cứu từng bộ phận ấy một cách riêng lẻ, Mác đã bắt đầu từ hàng hóa và phát hiện ra tính hai mặt của quá trình lao động và từ đó khám phá ra bản chất của các khái niệm tiếp theo như tiền tệ, lợi nhuận, giá trị thặng dư… Ở quyển thứ hai, Mác đã đặt tư bản trong sự vận động cụ thể của nó
Trang 9Ở đây, sản xuất tư bản chủ nghĩa không bị khảo sát tách rời giữa các khái niệm mà trong tổng thể sự vận động cụ thể của nó Như vậy các cặp phương pháp nghiên cứu được sử dụng nặng hơn về phía ngược lại với phương thức ở quyển thứ nhất Trong cặp phương pháp phân tích - tổng hợp ở quyển thứ nhất nặng về phân tích thì ở quyển thứ hai nặng về tổng hợp Trong cặp phương pháp trừu tượng hóa - cụ thể hóa thì ở quyển thứ nhất nặng về trừu tượng hóa, quyển thứ hai nặng về cụ thể hóa, tức là Mác đặt sản xuất tư bản chủ nghĩa trọng sự vận động cụ thể của nó Trong quyển thứ nhất cặp phương pháp lôgíc - lịch sử được sử dụng thiên về phương pháp lôgíc thì ở quyển thứ hai nặng hơn về phân tích lịch sử Trong cặp phương pháp quy nạp - diễn dịch thì ở quyển thứ nhất sử dụng nhiều phương pháp quy nạp, còn ở quyển thứ hai Mác sử dụng nhiều phương pháp diễ dịch Tuy vậy, ở quyển thứ hai, Mác vẫn sử dụng nhiều phương pháp diễn dịch Ví dụ ở quyển hai, Mác đã phân tích vòng chu chuyển của tư bản trong sự vận động tổng thể của nó, những với một điều kiện là những nhân tố bên trong của nó đã được khám phá - cái hộp denđã được mở và nghiên cứu kỹ Bây giờ là lúc đóng cái hộp đen ấy lại để quan sát bề ngoài của cái hộp đen, tức là những biểu hiện bên ngoài của nó Với phương pháp này, Mác đã khắc phục được những khiếm khuyết của những học giả kinh tế trước ông
Tóm lại ở quyển thứ hai, Mác đã sử dụng phương pháp luận riêng của mình để phanh phui cái bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế đồng thời quan sát các mâu thuẫn giữa hiện tượng và bản chất Mác đã khảo sát nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong sự vận động tổng thể của nó Nếu như ở quyển thứ nhất, Mác đã phân tích các khái niệm trong trạng thái tĩnh, trong điều kiện tách rời, không liên kết thì ở quyển thứ hai, bộ Tư bản chúng lại nằm trong sự vận động thống nhất, biện chứng của nó Ở quyển thứ nhất, cần thiết phải nghiên cứu các đối tượng trong trạng thái tĩnh và tách rời tương đối với các đối tượng khác, thì ở quyển thứ hai, rõ ràng Mác lại đặt các sự vật, hiện tượng trong sự vận động biện chứng của chúng Ở đây nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được tái hiện không phải ở những khái niệm rời rạc, bất động khô cứng mà trong sự vận động, trong sự sinh sôi nảy nở Chính từ cách nghiên cứu hợp lý đó mà Mác không những chỉ ra được những mặt hạn chế, những thiếu sót trong học thuyết kinh tế của A.Smít và Đ Ricácđô, mà còn chỉ ra được nguyên nhân dẫn đến những sai lầm mà các nhà kinh điển của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển đã vấp phải Việc nghiên cứu quyển thứ hai của bộ Tư bản bắt đầu từ từ sự giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất và lưu thông Thực
Trang 10chất giá trị thặng dư chỉ có thể được sản xuất trong lĩnh vực sản xuất, nhưng tư bản lại bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực lưu thông Bắt đầu từ hình thái tiền tệ của tư bản, nhà tư bản ứng tiền ra để mua hàng hóa sức lao động và tư liệu lao động Sau đó nhà tư bản mới đi vào lĩnh vực sản xuất và ở đó người ta mới thấy sự xuất hiện quá trình sản xuất, mới tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Sự vận động của thực tiễn như vậy dễ làm cho người ta hiểu sai là lợi nhuận, giá trị thặng dư được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông chứ không phải trong lĩnh vực sản xuất
* Rút ra một số kinh nghiệm về phương pháp luận nghiên cứu khoa học như sau:
Từ nghiên cứu quyển một và quyển hai bộ Tư bản có thể rút ra một số kinh nghiệm hay ý nghĩa về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học đó là:
Một là, để tìm hiểu bản chất của các hiện tượng xã hội thì ngoài việc nghiên
cứu rất nghiêm túc các hiện tượng, các số liệu, các dữ liệu, một nhân tố không thể thiếu là đó là phải có công nghệ và phương pháp luận hợp lý Phương pháp luận sai thì không bao giờ cho được những kết quả khả quan Bản chất của việc nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như là một phương tiện để khám phá ra chính đối tượng đó Phương pháp là những quy luật bản chất, nội tại của vận động nhận thức khoa học được chúng ta sử dụng một cách có ý thức để đạt được những thành tựu tiếp cận chân lý đầy đủ hơn, nhanh chóng hơn, đúng đắn hơn Phương pháp nghiên cứu khoa học là những quy luật nội tại của tư duy với tư cách là sự phản ánh chủ quan của thế giới khách quan
Hai là, khi nghiên cứu một hoặc nhiều hiện tượng xã hội thì phải sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Việc sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác, ở thời điểm này hay thời điểm khác là tùy theo yêu cầu của đối tượng và giai đoạn nghiên cứu Ở đây quan hệ giữa chủ thể nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu là quan hệ biện chứng Mỗi đối tượng nghiên cứu đòi hỏi những phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau Việc sử dụng các phương pháp không phải theo ý chí chủ quan của người nghiên cứu Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu lại do người nghiên cứu phát hiện và sử dụng, do