HỌC THUYẾT VỀ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CỦA NHO GIÁO VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Người sáng lập ra trường phái Nho giáo nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại Trung Quốc là Khổng tử, ông tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ra ở nước Lỗ trong một gia đình quý tộc sa sút. Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên và được “Việt Nam hóa” trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của Dân tộc. Nho giáo góp phần đáng kể vào việc xây dựng, và phát triển nền văn hiến Việt Nam. Bao đời từng là hệ tư tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng phong kiến Việt Nam. Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá, chính trị –xã hội, lẽ sống và phong tục tập quán của người Việt Nam. Nho giáo trở thành một bộ phận của truyền thống văn hoá của dân tộc.
Trang 1Học thuyết về chính trị - xã hội của nho giáo và tác động của
nó đối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam hiện nay
Ngời sáng lập ra trờng phái Nho giáo - nhà t tởng vĩ đạinhất của thời cổ đại Trung Quốc là Khổng tử, ông tên làKhâu, tự là Trọng Ni, sinh ra ở nớc Lỗ trong một gia đình quýtộc sa sút Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm
đầu công nguyên và đợc “Việt Nam hóa” trong suốt chiềudài lịch sử dựng nớc và giữ nớc của Dân tộc Nho giáo gópphần đáng kể vào việc xây dựng, và phát triển nền vănhiến Việt Nam Bao đời từng là hệ t tởng thống trị trongkiến trúc thợng tầng phong kiến Việt Nam Nho giáo đã ảnhhởng sâu sắc đến đời sống văn hoá, chính trị –xã hội, lẽsống và phong tục tập quán của ngời Việt Nam Nho giáo trởthành một bộ phận của truyền thống văn hoá của dân tộc.Trong giai đoạn hiện nay Nho giáo vẫn đang in đậm trongmọi lĩnh vực của đời sống xã hội Con ngời Việt Nam dù tựgiác hay không, vẫn còn mang đậm dấu ấn của Nho giáo.Truyền thống văn hóa trong lịch sử của dân tộc bao gồm vănhoá vật thể và văn hoá phi vật thể vẫn còn đó Một văn miếuquốc tử Giám với 82 tấm bia tiến sĩ sừng sững uy nghiêmkhông chỉ đợc xem là một trong những biểu tợng của vănhóa Thăng Long Hà Nội, mà còn đợc xem là kỷ vật thiêngliêng, ngng tụ của một nền văn hóa truyền thống đợc nhiềuthế hệ ngời Việt Nam trân trọng và tự hào Nhng truyềnthống là do lịch sử để lại, qua sự vân động và phát triểncủa xã hội có những vấn đề không phù hợp với xã hội hiện đại
Trang 2Mặc dù cơ sở kinh tế - xã hội của Nho giáo đã bị thủ tiêu,
nh-ng nhữnh-ng tàn d, phonh-ng tục cổ hủ lạc hậu của nó đã và đanh-ngtrở thành lực cản của sự nghiệp đổi mới ở nớc ta hiện nay
Trong hơn 20 năm qua, công cuộc đổi mới do Đảngcộng sản Việt Nam khởi xớng và lãnh đạo đã đạt đợc nhiềuthành tựu quan trọng Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thịtrờng định hớng xã hội chủ nghĩa đã đẩy nhanh sự tăng tr-ởng về kinh tế, đời sống xã hội đợc nâng cao Tuy nhiên,mặt trái của cơ chế thị trờng cũng đang tạo ra nhiều xáotrộn trong quan hệ xã hội, trong gia đình và phẩm chất cánhân Trong xã hội đã xuất hiện những biểu hiện tiêu cực cảtrong nhận thức và hành động: lối sống thực dụng, chạy theo
đồng tiền làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên xa rời mụctiêu lý tởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, nạn thamnhũng, lãng phí, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạnxã hội khác đang có chiều hớng gia tăng Những chủ trơngbiện pháp khắc phục tình trạng nói trên nó động chạm tớinhiều vấn đề liên quan đến Nho giáo, nhất là khi Nho giáo
đã đồng hành cùng dân tộc ta hàng ngìn năm, để lại những
t tởng khó khắc phục nh bệnh bảo thủ trì trệ, quan liêu, giáo
điều, chủ nghĩa bình quân Đến nay những t tởng đó vẫncon tồn tại với nhiều biểu hiện khác nhau Sự nghiệp đổi mới
ở Việt Nam và triển vọng lớn lao của nó không thể tách rờiviệc khắc phục những ảnh hởng tiêu cực của Nho giáo vàsau đó khai thác những nhân tố tích cực để biến thànhtruyền thống Việt Nam trên nhiều lĩnh vực của đời sống.Nho giáo là vấn đề của lịch sử nhng cũng là vấn đề hiện
Trang 3tại và tơng lai Nghiên cứu t tởng chính trị xã hội của Nhogiáo để nhìn nhận, đánh giá rõ hơn những yếu tố đã lỗithời lạc hậu, những phản giá trị văn hoá cần xoá bỏ, đồngthời kế thừa những tinh hoa, những cái còn hợp lý để vậndụng, phát huy nó trong sự nghiệp đổi mới ở nớc ta hiệnnay Dới góc độ tiếp cận của triết học - t tởng chính trị xãhội của Nho giáo có ý nghĩa rất quan trong cả về lý luận vàthực tiễn.
1.t tởng chính trị –xã hội của nho giáo
Khổng Tử (551 - 479 TCN) là ngời đầu tiên sáng lập raNho giáo Những ngời kế tục nổi tiếng là Mạnh Tử (372 -
289 TCN) và Tuân Tử (298 - 238TCN) Là học thuyết của xãhội phong kiến, do xã hội phong kiến sản sinh ra, Nho giáo
đề ra các nguyên lý, quy tắc, biện pháp nhằm ổn định xãhội Trung Quốc đơng đại và thúc đẩy xã hội phát triển.Mục tiêu lý tởng của Nho giáo là xây dựng một nhà nớc hngthịnh, duy trì kỷ cơng xã hội, tông pháp, đẳng cấp, quyềnlực tuyệt đối thuộc về Thiên Tử Ngời cai trị phải dùng đức,
lễ tiết để làm gơng và lôi cuốn dân chúng, từ đó dânchúng tự giác làm tròn bổn phận của mình Nghiên cứu t t-ởng của Nho giáo có thể thấy những t tởng chính trị xã hộicủa nho giáo đó là: t tởng về Nhà nớc, quyền lực nhà nớc vàmối quan hệ giữa dân với nhà nớc; đờng lối trị nớc đợc đềcập khá sâu sắc
1.1.T tởng về nhà nớc, quyền lực nhà nớc và mối quan hệ giữa nhà nớc với dân
Trang 4T tởng về nhà nớc và quyền lực nhà nớc.
Thời xuân thu chiến quốc là một giai đoạn đặc biệttrong lịch sử Trung Quốc (thế kỷ VII - thế kỷ III TCN) đó làthời đại quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ kiểu phơng
đông sang xã hội phong kiến Đây là thời kỳ loạn lạc chiếntranh liên miên ở trung Quốc, thời kỳ “vơng đạo suy vi, bá
đạo trị vì” Chính điều kiện lịch sử đó đã quyết định sự
ra đời của một hình thức nhà nớc đặc biệt, nhà nớc chuyênchế phơng đông, trong đó mọi quyền lực đều tập trung ởnhà vua
T tởng Nho giáo ra đời trên cơ sở tổ chức chính trị xãhội đặc biệt đó, nên t tởng về nhà nớc, quyền lực nhà nớccủa Nho giáo biểu hiện rõ nét ở chỗ đề cao vai trò của nhàvua chuyên chế Theo Nho giáo, con ngời có nhiều mối quan
hệ gắn bó ràng buộc lẫn nhau trong phạm vi những cộng
đồng nhất định Trong đó các cộng đồng nhà (gia), nớc(quốc) và thiên hạ là cơ bản nhất, bao quát nhất Thiên hạ gốc
ở nớc, nớc gốc ở nhà, nhà gốc ở thân Nho giáo coi mối quan
hệ ràng buộc lẫn nhau giữa nhà và nớc là mối quan hệ rờngcột Muốn trị quốc trớc hết phải tề gia Nớc là vật sở hữu củamột số ngời tuân mệnh trời và giỏi tề gia Nớc trong quanniệm của Nho giáo vừa là chỉ đất nớc cũng vừa là nhà nớc.Nhà nớc thời đó thuộc quyền chuyên chế của nhà vua vàhoàng tộc Nho giáo cho rằng: xã hội phải có ngời đại diệnnắm giữ quyền lực tối cao để giữ gìn kỷ cơng phép nớc.Nhà vua chính là ngời nắm giữ quyền lực tối cao đó, là ngờichủ sở hữu đất đai, trực tiếp quản lý kinh tế, tổ chức hành
Trang 5chính, thực hiện pháp luật, chỉ huy quân đội, giáo dục đạo
đức và cả đứng đầu tôn giáo nữa Để quản lý xã hội, nhàvua phải tổ chức ra bộ máy quan liêu từ trung ơng đến địaphơng Để “chính danh” của những ngời nắm quân quyền,Nho giáo chủ trơng thuyết “thiên mệnh” Thuyết này coi trời
là trên hết, ngôi vua đợc trời lựa chọn để cai quản đất nớc vàthần dân, nhng không cho mãi một ngời làm vua, mà ai làm
điều lành thì đợc, làm điều ác thì mất Vì vậy nhà vua cóquyền lực rất lớn nhng không đợc lạm dụng quyền ấy để làm
điều trái đạo
Thuyết “thiên mệnh” với t tởng an phận thủ thờng theo
địa vị của mình, đã đè nặng lên đời sống tinh thần củadân tộc Trung Hoa và các dân tộc tôn sùng Nho giáo suốtnhiều thế kỷ qua Đây là một trong những nguyên nhân làmcho tôn ti trật tự phong kiến đợc duy trì quá lâu, kìm hãmsức vơn lên của con ngời Tuy nhiên chính thuyết “thiênmệnh” đã đáp ứng đợc đòi hỏi bức thiết của lịch sử TrungQuốc thời bấy giờ đó là thống nhất dân tộc, xây dựng chínhquyền trung ơng tập quyền hng thịnh
.T tởng về dân và mối quan hệ giữa dân với nhà nớc
T tởng về dân
Nho giáo đợc hình thành rất sớm trải qua quá trình tồntại, đấu tranh gay gắt với Mặc gia và Pháp gia mà đợc thừanhận làm đạo lý trị quốc của nhiều triều đại phong kiếnTrung quốc
Trang 6Khái niệm “dân” của Nho giáo bao gồm: sĩ, nông,công, thơng Sự phân chia này không dựa trên tiêu chuẩn sởhữu mà theo ngành nghề Đây cũng chính là bậc thang giátrị trong xã hội phong kiến, nó phản ánh một nền kinh tế tiểunông khép kín, tự cung tự cấp, công thơng nghiệp cha pháttriển Tuy vậy, theo quan niệm của Nho giáo “dân” thông th-ờng là những ngời không có địa vì gì trong bộ máy thốngtrị.
Trong mối quan hệ với nhà nớc, quyền lực nhà nớc màngời đứng đầu là vua, dân có vai trò rất lớn Nho giáo đã sớmnhận thức đợc vai trò của nhân dân đối với sự tồn vong củacác triều đại phong kiến Nho giáo cho rằng trong ba yếu tố
để một triều đại đợc bền vững đó là: đất đai, nhân dân
và chính sự thì dân là yếu tố quyết định Còn về chính
sự thì Nho giáo lại chỉ rõ: lơng thực phải đủ để nuôi dân,binh lực phải mạnh để bảo vệ dân và lòng tin của dân,trong đó lòng tin của dân là quan trọng nhất Nho giáo cũng
đã nhìn thấy sức mạnh to lớn của nhân dân, “vua lấy dânlàm trời”, vua chúa sống đợc là nhờ dân, nếu áp bức dân tànbạo để dân vùng lên thì những ngời nắm giữ quyền lựcnhà nớc ắt đi tới diệt vong Mạnh Tử rất quan tâm đến dân,
ông coi trọng việc cải thiện đời sống của nhân dân là
“gốc”, là trách nhiệm của ngời cầm quyền: Đấng minh quânphảI làm cho thần dân ngẩng đầu lên đủ thờ cha mẹ, cúixuống đủ nuôi vợ con, năm đợc mùa thì no luôn, năm mất mùathì không đến nỗi chết đói Không thể phủ nhận quan
điểm của Mạnh Tử về dân là có nhiều tiến bộ, nhng nếu
Trang 7đứng trên lập trờng giai cấp mà xem xét thì ông không có ttởng dân chủ thực sự; không có t tởng đấu tranh cho quyềnlàm chủ đất nớc của nhân dân và làm chủ vận mệnh củamình Kể cả khi ông chủ trơng xây dựng một nền chính trị
đợc lòng dân, quan tâm đến dân để cho dân có “hằngsản” từ đó “có hằng tâm” thì cũng không ngoài mục đích
điều hòa mâu thuẫn giai cấp trong xã hội
Nói về dân và chính sách trị dân Khổng tử nhấnmạnh các vấn đề: dỡng dân, giáo dân và chính hình, trong
đó dỡng dân là yếu tố quan trọng Bất kỳ chính thể nào,nhà cầm quyền nào cũng phải coi trọng việc dỡng dân nếukhéo dỡng dân thì nớc thịnh, nhà cầm quyền đợc dân quý,ngợc lại thì nớc loạn, dân sẽ bỏ đi nơi khác hoặc nổi loạn,chính quyền sớm muộn cũng bị lật đổ Dỡng dân là làm chodân no đủ, giàu có Điều đó cho thấy Nho giáo đã sớm nhậnthấy vai trò to lớn của dân đối với nhà nớc và quyền lực nhànớc, nhng họ không vợt qua đợc hạn chế về mặt giai cấp vàthời đại, do đó đối với Nho giáo không có t tởng dân chủthực sự, tất cả đều mỹ dân để dễ bề sai khiến cai trị Tuynhiên, t tởng của Nho giáo về dân, về mối quan hệ giữa dânvới nhà nớc vẫn hàm chứa nhiều giá trị mà ngời cầm quyền x-
a và nay đều quan tâm, đó là:
Phải biết tranh thủ dân và nắm lấy dân Dân là quý,
dân nh nớc, chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng làdân, do vậy muốn làm vua chúa, muốn cầm quyền thì phảitranh thủ dân và nắm lấy dân Tranh thủ đợc dân chúngthì làm Thiên tử, đợc dân là đợc cả thiên hạ, ngời cầm quyền
Trang 8phải thuận lòng dân, phải biết thích cái thích của dân,ghét cái ghét của dân, theo lòng dân mà trị nớc tất sẽ gâydựng đợc đại nghiệp.
Giữ gìn sinh mệnh và không lãng phí tài sản của dân.
Ngời cầm quyền phải biết sử dụng sức ngời, sức của cho phùhợp tránh lạm dụng, lãng phí tiền bạc công sức của dân, nhvậy lòng dân mới yên xã tắc mới bền vững T tởng của nhogiáo về vai trò của dân đợc các nhà t tởng Việt Nam kế thừa,cải biến và sáng tạo phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc
Thời Lý – Trần, coi đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân là việc hàng đầu của đạo trị nớc, “ý dân”, “lòng dân”
đã trở thành căn cứ, mục đích cho những chủ trơng chínhtrị lớn “Chiếu dời đô” nổi tiếng của Lý Công Uẩn đã khẳng
định: Trên vâng mệnh trời, dới theo ý dân, thấy thuận thìthay đổi Nên vận nớc lâu dài, phong tục phồn thịnh TrầnQuốc Tuấn với t tởng “khoan th sức dân để làm kế sâu rễbền gốc”, coi đó là “thợng sách để giữ nớc” đã nhìn rõnhân dân là tiềm lực về kinh tế và quốc phòng, bảo đảmcho sự vững chắc của nền độc lập và chủ quyền đất nớc.Nguyễn Trãi xem dân là gốc của nớc, dân có quan hệ tới sựyên nguy của triều đại Dân là số đông, là cơ sở của xã hội,
là lực lợng có vai trò quyết định ủng hộ hay phế truất nềnthống trị của một triều đại.Nhận thức đợc vai trò của nhândân không phải là ngẫu nhiên đối với các nhà t tởng ViệtNam Mặc dù lập trờng phong kiến đã hạn chế tầm nhìn của
họ về vai trò của nhân dân, nhng là những nhà yêu nớc lớn,
đứng ở đỉnh cao của phong trào yêu nớc lúc bấy giờ, họ đã
Trang 9thấy đợc yêu cầu phải cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnhcủa dân tộc nên đã vợt qua đợc những hạn chế giai cấp vốn
có của mình
Đến Hồ Chí Minh, quan niệm về dân đã phát triển
đến một tầm cao mới Dân là số đông, phải làm cho số
đông đó ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đợc học hành.Lấy dân làm gốc ở Hồ Chí Minh không phải chỉ xem dân làlực lợng dời non lấp biển mà còn là mục đích, mục tiêu chínhtrị đều vì dân, xây dựng nền chính trị của dân, do dân
và vì dân Quan trọng hơn cả là Ngời đã đa truyền thốngyêu nớc thơng nòi với cơ chế hoạt động của nhà nớc là củadân, do dân và vì dân thành nguyên tắc cơ bản để xâydựng Đảng cộng sản và chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam
1.2 Đờng lối trị nớc của nho giáo
Nho giáo chỉ rõ cai trị con ngời và xã hội bằng giáo dục,giáo dỡng, bằng thu phục nhân tâm, hạn chế dùng pháp trị.Nho giáo là hệ t tởng có tính chất quy chế làm chuẩn mực
để giải quyết các quan hệ xã hội Các khái niệm tởng chừngthuần túy đạo đức nhng nó mang tính chính trị rất cao.Cácphạm trù: “Nhân”, “Lễ”, “Chính danh”, là nguyên lý đạo đứccơ bản và là hạt nhân trong học thuyết chính trị xã hội củaNho giáo, là nguyên tắc trị nớc của Nho giáo
Phạm trù “Nhân”, “Lễ”
Nhân: Chữ Nhân trong học thuyết của Khổng Tử có ý
nghĩa rất rộng, lúc trừu tợng, lúc cụ thể, tùy theo trình độhoàn cảnh mà ông diễn đạt nội dung của nó một cách khác
Trang 10nhau Nhng nội dung bao quát nhất của “Nhân” là Ngời, làlòng ngời, là thơng ngời Đạo nhân là cái trời phú cho con ng-
ời, ở cái tâm của con ngời, đó là lòng thơng ngời Điều đó
đợc thể hiện ra ở hai điều cốt yếu: “Ngời nhân là mìnhmuốn lập thân thì cũng mong muốn giúp ngời lập thân,mình muốn thông đạt thì cũng muốn giúp ngời thông đạt”
và “điều gì mình không muốn thì chớ đem đối xử với ời” “Nhân” là đức tính hoàn thiện, là cái gốc của con ngờinên nhân chính là đạo làm ngời Đức nhân bao gồm tinh túycủa tất cả các đức tính khác, trong bất kỳ mối quan hệ nào,nếu hỏng về đức của mối quan hệ đó thì cũng đồng thời
ng-là trái với đức nhân, chẳng hạn nh: không trung thực với ngờikhác, không nghiêm khắc với kẻ sai trái lầm lỗi, không cungkính bề trên… đều là trái với đức nhân Ngời muốn đạtnhân theo Khổng Tử phải có “Trí” và “Dũng” Nhờ có trí conngời mới sáng suốt minh mẫn để hiểu đợc đạo lý, xét đoán
sự việc, phân biệt phải trái, thiện ác để trau rồi đạo đức vàhành động phù hợp với “Thiên lý” Muốn đạt nhân còn phải có
“Dũng”, ngời có “Dũng” không phải ỷ vào sức mạnh, hành
động bất chấp đạo lý mà là ngời quả cảm, dám xả thân vìnghĩa, khi thiếu thốn không làm mất nhân cách của mình,khi đầy đủ sung túc không xa rời dạo lý.Đức nhân mà nhogiáo đề cập trong học thuyết chính trị của mình hoàn toànkhác với thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử, “Đức” của Lão Tử, lạicàng khác với “Bác ái” của đạo ki tô và “Từ bi” của đạoPhật.Đạo nhân với tính cách là trung tâm của toàn bộ họcthuyết chính trị đạo đức của mình, các nhà Nho nâng lên
Trang 11thành đờng lối trị quốc: Nhân trị - tức trị dân bằng đứcnhân Đức nhân là một tiêu chuẩn bắt buộc, nghiêm khắcnhất đối với kẻ làm quan Những ngời làm quan, các bậc vuachúa đều phải có đức nhân - đó là yêu cầu tối thợng Nhogiáo chú trọng lấy đạo đức để thực hành chính trị, kẻ tridân phải tu thân, sửa mình làm gơng cho dân, hớng theo
điều thiện, nhờ đó cảm hóa đợc dân chúng, dân chúngphục mà nghe theo Nhấn mạnh việc tu dỡng đạo đức, đồngthời Khổng Tử đề cao yêu cầu về cái tài của kẻ cai trị, cái tài
đó giúp họ làm việc sáng suốt, nếu kẻ cai trị chỉ có lòng
th-ơng dân thuần túy thì cha đủ mà phải có cả trí
Nh vậy, từ “Nhân” đến “Nhân trị” đó chính là t tởng
về đờng lối trị quốc của Nho giáo, điều đặc biệt và sâusắc của t tởng này là ở chỗ Nho giáo đã đặt đạo đức vớichính trị trong mối quan hệ hết sức chặt chẽ, đạo đức lànền tảng của chính trị Chính trị là sự tiếp tục của đạo
đức, phải lấy đạo đức làm gốc Đây cũng là điểm độc đáocủa triết lý phơng đông so với các học thuyết phơng tây Do
ảnh hởng của t tởng này mà thực tiễn chính trị phơng đông
đã hình thành nên mẫu ngời cai trị với phong cách đặc trng,
đó là những con ngời có đủ đức, tài Xây ngôi nhà chínhtrị trên nền đạo đức một cánh thái quá, ít chú ý tới cơ sởkinh tế nên Nho giáo đã duy trì xã hội phơng đông trongtrạng thái trì trệ, bảo thủ suốt mấy ngàn năm lịch sử
Lễ: Phạm trù “Lễ” trớc tiên dùng để chỉ việc thờ cúng,
tế lễ, sau dùng rộng ra nó bao gồm cả phong tục tập quán màxã hội thừa nhận và còn có nghĩa là thể chế, là quyền uy Lễ
Trang 12là một công cụ chính trị mạnh mẽ và là một phơng pháp trịquốc đắc lực mà Nho giáo đã cống hiến cho các triều đạiphong kiến Trong gia đình, làng mạc, đất nớc và thiên hạ,thậm chí trong trời đất, con ngời có bao nhiêu mối quan hệthì có bấy nhiêu lễ nghi quy định cụ thể gọi là lễ Trớc bốicảnh “Lễ nhạc h hỏng”, Khổng Tử muốn dùng lễ để khôi phụclai trật tự phép tắc, luân lý xã hội, đa xã hội từ loạn trở thànhthịnh trị.Lễ quy định một cách nghiêm ngặt các mối quan
hệ giữa vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè (Ngũluân) Trong năm mối quan hệ ấy, có ba mối quan hệ rờngcột gọi là (Tam cơng): vua tôi, cha con, chồng vợ Trong cácmối quan hệ đó, mỗi ngời phải tuân theo địa vị, danhphận của mình Đó là “Vua dùng tôi nên theo lễ, tôi thờ vuatheo đạo trung”, “Cha đối với con phải nhân từ, con thờ chatheo đạo hiếu”, “Anh em với nhau phải giữ chữ đễ” tức làphải yêu thơng nhờng nhịn nhau, “Vợ chồng đối với nhaucũng phải giữ lễ”, “Bạn bè đối với nhau phải giữ chữ tín” Nhvậy, “Lễ” trong nho giáo là nguyên tắc về chính trị, mộtvăn bản nghi tiết Trong các tầng lớp do chế độ phân biệtthứ hạng tạo ra thì có một loại thớc đo để phân biệt họ, do
đó mà có danh để đặt ra đạo nghĩa, đạo nghĩa để đặt
ra lễ Có thể nói, lễ là một cái lới bủa ra rất rộng và xiết lạihết sức chặt chẽ Chỗ tinh vi của Nho giáo là đã đóng khung
ý nghĩ và hành động của con ngời vào phạm vi thực hiệnnhững quy tắc nghiêm ngặt của cuộc sống, trải qua hàngngàn năm lịch sử, xã hội theo Nho giáo đã giữ đợc sự ổn
định trong gia đình và trật tự ngoài xã hội Lễ trở thành
Trang 13điều kiện quan trọng bậc nhất trong việc trị quốc tề gia Lễtrị của Nho giáo nó trói buộc con ngời từ khi lọt lòng đến khichết, từ trong chiếc nôi gia đình ra đất nớc, thiên hạ Nếupháp trị của Hàn Phi Tử táo bạo một cách lộ liễu thì lễ trịcủa Nho giáo lại trói buộc con ngời trong cái vỏ êm dịu, trangtrọng Đó chính là điều mà các triều đại phong kiến thốngtrị sau Khổng Tử, từ nhà Hán cho đến nhà Thanh ở TrungQuốc, cũng nh từ thời Lý - Trần đến Lê - Nguyễn ở Việt Namtìm thấy để gò chặt cả dân cả nớc trong vòng tôn ti trật tự,
kẻ cai trị cứ việc sai khiến, kẻ phụng sự cứ việc tuân theo.Hàm ý sâu xa của lễ là ở đó, một khi các tầng lớp dới đềulàm theo lễ thì không bao giờ làm mất tôn ti trật tự, đặcbiệt là “Dễ sai” thì bề trên càng dễ cai trị Trong việc trị n-
ớc, trị dân, lễ hay hơn hình pháp ở chỗ lễ ngăn cấm việccha xảy ra, còn hình pháp cấm sau khi sự việc đã xảy ra, lễgiúp ngời tránh xa điều ác gần với điều thiện Tuy nhiên, lễtrị của Nho giáo đã kìm hãm cuộc sống của con ngời mộtcách dai dẳng, đặc biệt là đối với phụ nữ và đông đảonhân dân lao động dới thời phong kiến
Phạm trù “Chính danh”
Cuối thời Xuân thu - Chiến quốc, tình hình xã hộiTrung Quốc hết sức rối loạn, các nớc ch hầu xâm lấn và thôntính lẫn nhau; sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấphết sức gay gắt, đó là mâu thuẫn giữa nông dân với lãnhchúa phong kiến, địa vị của bọn lãnh chúa phong kiến bịlung lay; quan hệ tông pháp rối loạn Trớc tình hình đó Nhogiáo chủ trơng lấy thuyết “chính danh” làm vũ khí để ổn
Trang 14định xã hội Theo Khổng Tử, sự hỗn loạn của quan niệm danhphận, đẳng cấp, sự sa sút của Thiên tử nhà Chu, sự suy yếu,bất ổn của các nớc ch hầu…tình trạng đó làm cho trật tự xãhội đơng đại Khổng Tử cho rằng: muốn cứu vãn nguy cơchính trị thời đó, trớc hết phải khôi phục uy quyền của thiên
tử, phải ngăn chặn những việc vợt quyền, mỗi ngời phải biếtgiữ danh phận của mình mới có thể gây lại nền chính trị có
đạo, phải “chính danh” để xác định lại danh phận đẳngcấp…đó là vấn đề căn bản của chính trị thời bấy giờ
“Danh” là tên gọi, là danh vị, nghĩa là cơng vị, quyền hạn.Chính danh là sự quy định rõ cơng vị và quyền hạn Khibàn về chính danh, Khổng Tử giải thích: Chính danh là làmcho mọi việc ngay thẳng Chính danh thì ngời nào có địa
vị, bổn phận của ngời đó, trên dới vua tôi, cha con trật tựphân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi thờ vua theo đạotrung, vua ra vua, tôi ra tôi…thì nớc mới hng thịnh, lễ nghĩa,nhân đức, danh phận vẹn toàn Thực chất quan niệm trên ratrên, dới ra dới đã có từ lâu trong lịch sử Trung Quốc Các sửgia Trung Hoa từng ghi lại những hành vi tốt xấu của các vịvua quan một cách công tâm cũng hàm ẩn cái ý chính danh.Nhng lý luận, giảng giải, đặt nó thành một quy tắc và caohơn nữa là thuật trị nớc thì mãi tới thời Khổng Tử mới có.Danh và thực phải hợp với nhau, nếu không hợp với nhau thìgọi tên ra ngời ta sẽ không hiểu, lý luận không xuôi, mọi việckhông thành, lễ nhạc, hình pháp không định đợc, mà xã hội
sẽ hỗn loạn Để chính danh, trớc hết mọi ngời phải tự giác giữlấy danh phận của mình, từ thiên tử, ch hầu, đại phu đến kẻ
Trang 15sĩ phải tu dỡng đạo nhân để có sự tự giác đó Đối với ngờicai trị, Khổng tử quan niệm: Ông vua là ngời đợc trời giaophó cho nhiệm vụ lo cho dân đủ ăn, đủ mặc, làm gơng chodân, dạy dỗ dân để dân đợc sống yên ổn Làm tròn nhiệm
vụ đó là danh xứng với thực Nh vậy, đối với ngời cai trị, bảnthân phải ngay thẳng Có nh nh vậy mới chỉ đạo, giúp đỡ và
ảnh hởng một cách có hiệu quả đối với ngời khác Bên cạnh
đó, “ngôn” cũng phải chính, lời nói với việc làm phải hợpnhau, không đợc nói nhiều làm ít, không đợc nói lời kính cẩn
mà trong lòng rỗng không, lời nói phải thận trọng Nói vềnguyên nhân hỗn loạn của thời Xuân thu, Khổng Tử cho rằngtại thiên tử nhà Chu không làm tròn trách nhiệm, để quyềnhành lọt vào tay ch hầu, khắp thiên hạ đều vô đạo, muốncho thiên hạ hữu đạo thì phải chính danh, thiên hạ mà loạnthì lỗi trớc hết là ở vua chúa bởi vì vua không ra vua tôikhông ra tôi
Yêu cầu chính danh đối với ngời cai trị là hết sức tíchcực, nhng trong điều kiện chính trị xã hội lúc đó, khó cóthể thực hiện đợc Do đó, đối với bọn vua chúa phong kiếnthích vợt quyền, không chịu giữ danh phận của mình,không tự giác
Nguyên tắc chính danh của Khổng Tử là: ai ở địa vịnào cũng phải làm tròn trách nhiệm ở địa vị ấy, không đợchởng quyền lợi cao hơn địa vị của mình và không ở chức
vị nào thì đừng mu tính việc của chức vị đó Đây là điều
mà Khổng Tử chú trọng Chính danh là mối quan hệ haichiều: Quân trung thì thần trung, Phụ từ thì tử hiếu… Để
Trang 16có cái đạo đức xã hội ấy thì phải giáo dục Giáo dục chính làcái gốc lâu bền tạo ra cái đức, để con ngời có đức nhân,sống theo lễ và trở về với chính danh Thuyết chính danhcủa khổng tử là ảo tởng vì đơng thời danh và thực mâuthuẫn nhau sâu sắc Cái thực là đời sống xã hội, trật tự xã hội
đã có nhiều biến đổi làm cho cái danh cũ đợc quy địnhtheo lễ nhà Chu không còn phù hợp nữa, do đó mà không thểthực hiện đợc Tuy vậy, thuyết chính danh vẫn mang ýnghĩa chính trị sâu sắc, đó là: muốn cho xã hội ổn định,ngời cầm quyền phải có đức có tài xứng với cái danh vị đãcó; mọi ngời trong xã hội phải tự giác giữ lấy danh phận củamình theo tôn ti, trên ra trên, dới ra dới, thuyết chính danhsau này đợc Mạnh Tử, Tuân Tử và các học trò tiếp tục bổsung và phát triển
Các phạm trù, “Nhân”, “Lễ”, “Chính danh” không chỉ làcác chuẩn mực đạo đức đơn thuần mà còn mang tínhchính trị cao Nó trở thành đờng lối trị quốc của Nho giáo.Nhân, lễ, chính danh có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhân lànội dung, lễ là hình thức biểu hiện của nhân, nhân là gốc,
lễ là ngọn, nhân để khôi phục lễ, để trở về với chính danh,xã hội trở về với đạo Đó cũng là hoài bão của Nho giáo về mộtchế độ phong kiến thái bình thịnh trị Suốt hơn 2000 nămthống trị, t tởng của Nho giáo về nhà nớc, quyền lực nhà nớc,mối quan hệ giữa dân với nhà nớc; t tởng về đờng lối trịquốc của Nho giáo đã góp phần quan trọng xây dựng nênnhà nớc phong kiến ở Trung Quốc và các nớc lân cận trong đó
có Việt Nam Nhờ đó các nhà nớc phong kiến mang t tởng
Trang 17Nho giáo thờng có trình độ cao hơn so với các nhà nớc phongkiến cùng thời ở các khu vực khác nhau trên thế giới Đó thờng
là các nhà nhà nớc dân sự, có tổ chức thiết chế cao, quản lýxã hội một cách có hiệu quả Đó cũng là giá trị tích cực màngày nay nhiều nớc chủ động khai thác Nho giáo có kế thừa.Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, t tởng ấy phản ánhnhận thức của một thời đại, lập trờng của một gia cấp và cảtồn tại xã hội cũng nh cái đời sống tinh thần của một giai
đoạn lịch sử nhất định, cho nên trong thực tế nó có nhiềuhạn chế cần khắc phục loại bỏ Tất nhiên việc khắc phục hayloại trừ những hạn chế của Nho giáo cũng nh việc khai thácnhững giá trị tích cực của nó nh thế nào lại tùy thuộc vàomức độ ảnh hởng của nó đối với đời sống xã hội
2 ảnh hởng của t tởng chính trị nho giáo đối với đờisống xã hội việt nam hiện nay
Nho giáo đã từng giữ vị trí đặc biệt và có vai trò quantrọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta qua các giai
đoạn lịch sử Nho giáo phát triển trng mối quan hệ với Phậtgiáo và Lão giáo, tác động mạnh mẽ vào đời sống nhân dân
và ảnh hởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội ViệtNam Ngày nay, mặc dù cơ sở kinh tế - xã hội của Nho giáo đã
bị thủ tiêu, nhng những ảnh hởng của nó đối với đời sống xãhội Việt Nam còn rất lớn trên tất cả các lĩnh vực: chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội
2.1.Đối với chính trị
ảnh hởng tích cực của nho giáo đối với đời sống chính
trị ở nớc ta hiện nay