1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN HAI PHƯƠNG PHÁP sản XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG dư TRONG tác PHẨM tư bản của c

16 2,3K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 108,5 KB
File đính kèm PHUONG PHAP SAN XUAT GIA TRI THANG DU.rar (24 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận khái quát hai phương pháp sản suất giá trị thặng dư trình bày trong Bộ tư bản của C.Mác. Liên hệ vận dụng ở Việt Nam Tác phẩm “Tư Bản” là công trình đồ sộ nhất và đặc trưng nhất của C.Mác. Dưới góc độ Kinh tế Chính trị, Tác phẩm “Tư Bản” đã phát hiện và trình bày nhiều nguyên lý, quy luật kinh tế nền tảng như: Quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật sản xuất giá trị thặng dư, lợi nhuận, lợi tức, địa tô…đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và mang ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

2 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cơ bản trình bày

trong tác phẩm “Tư bản”

5

2.1 Vị trí của nội dung hai phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư trong tác phẩm Tư bản

5

2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 6

2.3 Phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối 9

2.4 Sự sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị

thặng dư tương đối

11

3 Một số ý nghĩa rút ra từ nghiên cứu hai phương pháp sản xuất

giá trị thặng dư

12

Trang 2

HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG TÁC PHẨM TƯ BẢN CỦA C MÁC VÀ Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ

NGHIÊN CỨU

MỞ ĐẦU

Tác phẩm “Tư Bản” là công trình đồ sộ nhất và đặc trưng nhất của C.Mác Dưới góc độ Kinh tế Chính trị, Tác phẩm “Tư Bản” đã phát hiện và trình bày nhiều nguyên lý, quy luật kinh tế nền tảng như: Quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật sản xuất giá trị thặng dư, lợi nhuận, lợi tức, địa tô…đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và mang ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn

Qua nghiên cứu môn học Tác phẩm Tư Bản, bản thân nhận thấy đây là một công trình khoa học vĩ đại, có nội dung rộng bao hàm cả triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội Khoa học Do đó, không thể một sớm một chiều có thể đọc hết, nghiên cứu sâu được tất cả các nội dung của tác phẩm “Tư bản” Tuy nhiên, nội dung liên quan tới các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là nội dung mang tính thời sự nhất và phản ánh rõ nét nhất bản chất bóc lột của nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa từ khi nó ra đời cho tới nay Do vậy, cá nhân em sau khi học môn Tác phẩm tư bản chỉ xin lựa chọn nội dung: “Hai phương pháp sản

xuất giá trị thặng dư trong tác phẩm “Tư bản” của C Mác và ý nghĩa của vấn đề

nghiên cứu” làm nội dung thu hoạch của mình

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái quát về tác giả và tác phẩm “Tư bản”

1.1 Khái quát về Tác giả

Các Mác (Karl Marx) - vĩ nhân kiệt xuất trong lịch sử nhân loại, Người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học, nhà triết học, nhà kinh tế học lỗi lạc, lãnh

tụ thiên tài của giai cấp vô sản toàn giới Ông sinh ngày 05 tháng 5 năm 1818 tại thành phố Tơriơ (phía Tây nước Đức) trong gia đình luật sư Heinrich Marx - gia đình trí thức lớn Năm mười hai tuổi (1830) Các Mác vào học trường trung học Tơriơ Sức học Các Mác thuộc loại giỏi, đặc biệt Các Mác nổi bật trong các lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập và sáng tạo Mùa thu năm 1835, C.Mác tốt nghiệp trường trung học, tháng mười năm1835, C.Mác vào trường đại học tổng hợp Bonn để học luật Sau đó theo lời khuyên bố Các Mác tiếp tục học trường Đại học Tổng hợp Berlin Ở đây, năm 1836, cùng với việc học luật học, sử học ngoại ngữ, Các Mác bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học Mùa xuân 1837, Các Mác bắt đầu nghiên cứu kỹ các tác phẩm triết Hê-ghen, sang năm 1839 đi sâu vào nghiên cứu triết học, suốt năm 1839 phần đầu năm 1840 C Mác tập trung nghiên cứu vấn đề lịch sử triết học Cổ đại Ngày 15 Tháng 4 năm 1841, khi mới 23 tuổi, Các Mác nhận bằng Tiến sĩ triết học Lần đầu tiên, Các Mác gặp Ph Ăng-ghen vào cuối tháng 11 năm1842, khi Ph Ăng-ghen trên đường sang Anh ghé thăm ban biên tập tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh) Mùa hè năm 1844, Ph Ăng-ghen đến thăm Các Mác ở Pa-ri Hai ông trở thành bạn chung lý tưởng, quan điểm trên tất cả các vấn đề lý luận thực tiễn Theo yêu cầu Chính phủ Vương quốc Phổ, Chính phủ Pháp trục xuất Các Mác vào tháng 2 năm1845, Các Mác rời Pa-ri đến Brussel (Bỉ), sau đó Ph Ăng-ghen đến gặp Các Mác, hai ông lại tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau Sau cách mạng năm 1848 Pháp nổ ra, Chính phủ Bỉ trục xuất Các Mác Ông lại đến Pa-ri, Tháng tư năm 1848, Các Mác với Ph Ăng-ghen đến Kioln, Mác trở thành Tổng biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh Năm 1849 Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo trục xuất Các Mác, ông lại đến Pa-ri và Tháng Tám 1849, từ Pa-ri Các Mác đến Luân-đôn và sống đến cuối đời

ở đó Các Mác qua đời ngày 14 Tháng 3 năm 1883 ở Luân-đôn

1.2 Quá trình hình thành tác phẩm “Tư bản”

Trang 4

- Tư bản là một tác phẩm thiên tài của C.Mác Để viết tác phẩm chủ yếu của mình, C.Mác đã làm việc trong suốt thời gian bốn chục năm, từ đầu những năm 40 của thể kỷ XIX đến cuối đời ông

- C.Mác bắt tay vào việc nghiên cứu khoa kinh tế chính trị một cách có hệ thống từ cuối năm 1843 ở Pa-ri Những công trình nghiên cứu đầu tiên của ông trong lĩnh vực đó đã được phản ánh vào những tác phầm như “Bản thảo triết học -kinh tế năm 1844”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và tư bản”, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, v.v

- C.Mác chỉ có thể tiếp tục những công trình nghiên cứu kinh tế của mình

ở Luân Đôn, nơi ông bị bắt buộc di cư đến tháng 8 năm 1849 Ở đây ông nghiên cứu một cách sâu sắc toàn diện lịch sử kinh tế quốc dân và nền kinh tế của các nước khác nhau trong thời ông, nhất là của nước Anh, nước cổ điển của chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ

- Từ tháng 8 năm 1857 đến hết tháng 6 năm 1858, C.Mác đã soạn được một bản thảo với một khối lượng gần 50 tờ in; đó gần như là bản sơ thảo của

bộ “Tư bản” về sau này

- Tháng 11 năm 1857, C.Mác soạn một đề cương cho tác phẩm của mình, đề cương này về sau đã được chi tiết hóa và chính xác hóa thêm một cách căn bản Công trình đó của ông được chia thành 6 quyển, trong đó quyển 1 “Tư bản nói chung” lại còn được chia ra thành các phần nhỏ: 1) Quá trình sản xuất của tư bản, 2) Quá trình lưu thông của tư bản và 3) Sự thống nhất giữa hai cái đó, hay tư bản và lợi nhuận, lợi tức Điều rất đáng chú ý là chính từ sự phân chia nhỏ này lại là cơ sở để C.Mác phân chia toàn bộ tác phẩm thành ba tập tương ứng của bộ “Tư bản”

- Tháng 8 năm 1861, C.Mác bắt đầu viết một bản thảo lớn và kết thúc bản thảo đó vào giữa năm 1863 Với một khối lượng lớn gần 200 tờ in, gồm 23 quyền

vở, bản thảo đó cũng được đặt tên giống như quyển sách năm 1859 “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”

- Tháng 9 năm 1867, tập I bộ “Tư bản” ra đời Sau đó C.Mác vẫn tiếp tục xem lại tập đó vì phải chuẩn bị cho những lần in mới bằng tiếng Đức và cho những bản dịch ra tiếng nước ngoài Ông đã sửa chữa lại rất nhiều đoạn

Trang 5

trong bản in lần thứ hai (1872).

- Sau khi C.Mác mất thì hai tập tiếp theo của bộ “Tư bản” mới được Ph.Ăng-ghen đưa ra in và xuất bản Tập thứ hai vào năm 1885 và tập thứ ba vào năm 1894, bằng việc đó Ph.Ăng-ghen đã cống hiến vô giá vào kho tàng của chủ nghĩa công sản khoa học

- Sau đó, Ph.Ăng-ghen đã biên tập bản dịch tiếng Anh của tập I bộ “Tư bản” (xuất bản năm 1887), đã chuẩn bị để xuất bản lần thứ ba (1883) và lần thứ tư (1890) quyển I bộ “Tư bản” bằng tiếng Đức và nhiều thứ tiếng khác

- Quyển IV “Các học thuyết về giá trị thặng dư” của C.Mác đã được Cau -ski xuất bản lần đầu tiên trong những năm 1905 - 1910 Những bản do Cau-ski xuất bản còn nhiều thiếu sót về chất lượng, thậm chí còn có những chỗ sai lầm hoặc bóp méo nguyên bản Vì vậy, đến năm 1954 - 1961 trên cơ sở thẩm tra tỷ mỷ và xác minh rõ về căn bản, Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô mới chuẩn bị xong và năm 1962 cho ra mắt quyển IV sát đúng hơn cả so với nguyên cảo của C.Mác

2 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cơ bản trình bày trong tác phẩm “Tư bản”

2.1 Vị trí của nội dung hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong tác phẩm Tư bản

Nội dung hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là: sự sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sự sản xuất giá trị thặng dư tương đối được C Mác trình bày trong Tác phẩm Tư Bản nằm ở: Quyển thứ nhất: Quá trình sản xuất của Tư bản, Tập III(theo biên tập và xuất bản của Nhà xuất bản Sự thật – 1975) Chiếm một phần lớn nội dung cơ bản của Học thuyết giá trị thặng dư, nếu Học thuyết giá trị thặng dư trình bày từ phần II đến Phần V gồm 13 chương thì trong đó, có

12 chương trình bày về hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là từ chương

V đến chương XVI

Nội dung hai phương pháp sản xuất gái trị thặng dư, được biên tập lại nằm

ở Mác – Ăng Ghen toàn tập, tập 23 cụ thể như sau:

Phần thứ 3 Sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối trình bày từ chương V đến chương IX( từ trang 265 đến 452)

Phần thứ 4 Sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối từ chương X đến chương XIII( từ trang 453 đến 716)

Trang 6

Phần thứ 5 Sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối từ chương XIV đến chương XVI( từ trang 717 đến 753)

Còn nếu theo Biên tập của Nhà xuất bản sự thật năm 1975 thì nội dung hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nằm ở Quyển thứ nhất: Quá trình sản xuất của tư bản – Tập III

Như vậy, đây là nội dung hết sức cơ bản và quan trọng trong Bộ tư bản của Mác, làm cơ sở và tiền đề để Các Mác làm rõ bản chất bóc lột và phương thức bóc lột giá trị thặng dư của nền sản xuất Tư bản, cũng như là mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột là giai cấp tư sản với giai cấp bị bóc lột là giai cấp vô sản

2.2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Nội dung phương pháp sản xuất giái trị thặng dư tuyệt đối được Các Mác trình bày ở phần thứ 3 và phần thứ 5, với việc đi từ phân tích quá trình lao động

và quá trình làm tăng giá trị tới tư bản bất biến và tư bản khả biến, tỷ suất giá trị thặng dư và ngày lao động cuối cùng là tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư Qua cách trình bày như vậy, Các Mác từng bước làm rõ bản chất sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối, các cách thức để thực hiện và những hệ lụy nảy sinh từ việc sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối…

Đầu tiên C.Mác nghiên cứu quá trình lao động và chỉ ra rằng tiêu dùng sức lao động, đó chính là quá trình lao động Bên cạnh những bản chất chung của quá trình lao động, C.Mác đã chỉ rõ hai đặc trưng của quá trình lao động tư bản chủ nghĩa với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động:

“Người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, lao động của anh

ta thuộc về nhà tư bản… và thứ hai: sản phẩm là sở hữu thuộc nhà tư bản, chứ không phải của người sản xuất trực tiếp, không phải của người công nhân”.1

Từ đó, C Mác đi vào phân tích quá trình sản xuất với tư cách là quá trình tạo ra giá trị C Mác lấy ví dụ về quá trình sản xuất sợi

Và chính nhờ sức lao động có cái đặc tính là làm một nguồn sinh ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra giá trị lớn hơn của bản thân nó, là sự phục vụ đặc biệt mà nhà

tư bản mong chờ ở nó2

Nhờ lưu thông mà nhà tư bản mua được sức lao động trên thị trường để tiến hành sản xuất Nhưng việc làm tăng giá trị lại diễn ra trong lĩnh vực sản xuất

1 Sđd, tr.277

2 Sđd, tr.289 – 290.

Trang 7

Từ đó, C.Mác so sánh quá trình tạo ra giá trị và quá trình làm tăng giá trị; quá trình tạo ra giá trị và quá trình lao động và rút ra kết luận: “Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hóa; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của sản xuất hàng hóa”3

Tiếp theo Các Mác nghiên cứu tư bản bất biến và tư bản khả biến để chỉ rõ

bộ phận tư bản nào tạo ra giá trị thặng dư, qua đó chỉ rõ nhà tư bản bóc lột toàn

bộ giai cấp công nhân dưới hình thức bộ phận tư bản khả biến Khi trình bày những vai trò khác nhau mà những nhân tố khác nhau của quá trình lao động đã đóng góp trong sự hình thành giá trị của sản phẩm, trên thực tế đã vạch rõ những chức năng của những bộ phận cấu thành khác nhau của tư bản trong quá trình làm tăng giá trị của bản thân nó Và từ những phân tích đó, C.Mác đã đặt tên cho từng bộ phận của tư bản Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất, do không thay đổi đại lượng giá trị của nó trong quá trình sản xuất C.Mác gọi là bộ phận bất biến của tư bản, hay tư bản bất biến Bộ phận tư bản biến thành sức lao động lại thay đổi giá trị của nó trong quá trình sản xuất, nó không chỉ tái sản xuất ra vật ngang giá với bản thân nó, mà còn sản xuất ra giá trị thặng dư, từ một đại lượng bất biến, bộ phận này lại không ngừng chuyển hóa thành đại lượng khả biến C.Mác gọi là bộ phận khả biến của tư bản, hay tư bản khả biến Tuy nhiên, theo C.Mác, khái niệm

tư bản bất biến không có nghĩa rằng giá trị các bộ phận cấu thành nó là bất biến Giá trị của nguyên liệu, máy móc…được dùng trong sản xuất có thể thay đổi lên xuống nhưng không bao giờ chúng chuyển nhiều hơn cái giá trị mà nó có vào sản phẩm

Trong phần tiếp theo Các Mác nghiên về Tỷ suất giá trị thặng dư và tập chung vào các nội dung cơ bản là: Mức độ bóc lột sức lao động, hay mức độ nhà

tư bản bóc lột người công nhân; biểu hiện giá trị của sản phẩm bằng những phần

tỷ lệ của sản phẩm; phê phán “giờ cuối cùng” của xê ni ô; sản phẩm thặng dư, trong đó trọng tâm là làm rõ tỷ suất giá trị thặng dư, bởi vì tỷ suất giá trị thặng

3 Sđd, tr.294 – 295.

Trang 8

dư biểu hiện chính xác mức độ nhà tư bản bóc lột người công nhân, đồng thời đó cũng là cơ sở để nhận thức và giải quyết các vấn đề tiếp theo

C.Mác chỉ rõ mục đích quyết định của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mức

độ giàu có cũng vậy, nó không phải được đo bằng lượng tuyệt đối của sản phẩm

mà bằng lượng tương đối của sản phẩm thặng dư Và tổng số lao động cần thiết

và lao động thặng dư hợp thành đại lượng tuyệt đối của thời gian lao động của người công nhân – tức là ngày lao động (working day)

Nhà tư bản luôn luôn thèm khát lao động thặng dư, do đó luôn tìm cách kéo dài thời gian ngày lao động Anh ta dựa vào quy luật trao đổi để biện hộ sự tận dụng tối đa hàng hóa sức lao động mà hắn đã mua

Coa thể nói, sự chiếm đoạt lao động thặng dư đã có từ lâu, từ khi xã hội hình thành một bộ phận người chiếm độc quyền về tư liệu sản xuất Tuy nhiên, hình thái chiếm đoạt lao động thặng dư trong các phương thức sản xuất phong kiến và chiếm hữu nô lệ rất dễ nhận thấy, nhưng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì rất khó nhận thấy điều đó C.Mác chỉ ra rằng: lao động thặng

dư dưới chủ nghĩa tư bản che giấu, khó nhận thấy vì nó nhập với lao động cần thiết Tuy nhiên thực tế Các Mác cũng chỉ ra lòng tham vô đáy của Giai cấp tư sản bằng việc kéo dài ngày lao động nhằm sản xuất ra nhiều giá trị thặng dư tuyệt đối là rất tàn khốc: công nhân trong ngành công nghiệp phải lao động 13-14 giờ trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhất, cộng thêm với lao động phụ 4 giờ trong ngày chủ nhật Công nhân ngành đường sắt phải làm việc 14, 18, 20 giờ, trong một

số trường hợp đặc biệt thì kéo dài 40 - 50 giờ không nghỉ…Những ví dụ trên là những minh chứng cho sự bóc lột tàn bạo mà giai cấp tư sản đã thực hiện đối với giai cấp công nhân Anh

Để bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối, ngoài việc kéo dài ngày lao động, thì giai cấp tư sản còn tìm cách tổ chức lại quá trình sản xuất như làm ca kíp, chế độ làm việc luân phiên… Vì về mặt sinh lý không thể bòn rút sức lao động của cùng một con người trong suốt ngày, đêm được, muốn vượt được chướng ngại sinh lý đó, người ta cần phải thay phiên những sức lao động.Và cách tổ chức sản xuất đó đã trở thành phổ biến trong các công xưởng của nước Anh và một số

Trang 9

nước tư bản khác Với cách thức như vậy, nhà tư bản đã duy trì hoạt động sản xuất liên tục 24/24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần Người lao động thuộc đủ mọi giới tính, lứa tuổi: đàn ông, đàn bà; người lớn, trẻ em đều bị lôi cuốn vào guồng máy làm việc đó, đặc biệt trong những ngành công nghiệp nặng C.Mác

đã đưa ra rất nhiều dẫn chứng về sự tàn bạo của các nhà tư bản trong việc sử dụng lao động trẻ em trong các công xưởng của nước Anh

Chính sự bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối mang tính chất tàn bạo như vậy làm cho giai cấp công nhân đứng lên đấu tranh cho ngày lao động bình thường,

và làm cho mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Tư bản hình thành và ngày càng trở nên gay gắt

2.3 Phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối

Nội dung phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối được trình bày

ở phần thứ 4 và thứ 5 của Mác – Ăng Ghen toàn tập tập 23 Ở nội dug này Mác tập trung làm rõ khái niệm sản xuất giá trị tặng dư tương đối, luận giải sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp qua 3 giai đoạn: Hiệp tác; công trường thủ công; và đại công nghiệp cơ khí Qua đó làm rõ bản chất, quá trình hình thành và phát triển của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối gắn liền với yếu tố về sự phát triển kỹ thuật, khoa học và công nghệ trong sản xuất, sự bóc lột tinh vi hơn, khó thấy hơn…

Trước hết về khái niệm giá trị thặng dư tương đối C.Mác chỉ ra rằng, việc kéo dài số lao động thặng dư sẽ tương ứng với việc rút ngắn số lao động cần thiết Cái sẽ thay đổi không phải là độ dài của ngày lao động mà là sự phân chia của sự lao động thành lao động cần thiết và lao động thặng dư Khi độ dài của ngày lao động đã có sẵn thì thời gian lao động thặng dư được kéo dài là do thời gian lao động cần thiết bị rút ngắn Từ đó, C.Mác gọi “giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng cách kéo dài ngày lao động là giá trị thặng dư tuyệt đối; trái lại, giá trị thặng dư có được do rút ngắn thời gian lao động cần thiết và do sự thay đổi tương ứng trong tỷ lệ của hai bộ phận cấu thành ngày lao động, thì tôi gọi đó là giá trị thặng dư tương đối”4

4 Sđd, tr.458.

Trang 10

Nhưng vì giá trị thặng dư tương đối tỷ lệ thuận với sự phát triển của sức sản xuất của lao động, trong khi đó thì giá trị của hàng hóa lại hạ xuống tỷ lệ nghịch với chính sự phát triển đó Như vậy cũng một quá trình ấy vừa làm cho hàng hóa rẻ đi, vừa làm tăng giá trị thặng dư chứa đựng trong hàng hóa đó Chính điều đó đã giải quyết được bí ẩn là tại sao nhà tư bản chỉ quan tâm đến việc sản xuất ra giá trị trao đổi, lại không ngừng hạ thấp giá trị trao đổi của các hàng hóa xuống

Từ đó C.Mác kết luận, trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tiết kiệm lao động bằng cách phát triển sức sản xuất của lao động, quyết không phải là mục đích nhằm rút ngắn ngày lao động Nó chỉ nhằm mục đích giảm bớt số thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một lượng hàng hóa nhất định Và quá trình phát triển sức sản xuất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng là quá trình làm tăng tỷ suất giá trị thặng dư bằng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Đó là một quá trình lịch sử lâu dài trải qua các giai đoạn phát triển trong mối tương quan, tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Để minh chứng cho điều đó, C.Mác đã luận giải sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp qua 3 giai đoạn: Hiệp tác; công trường thủ công; và đại công nghiệp cơ khí

Hiệp tác: Trong xã hội tư bản, dưới quyền lực của tư bản, hiệp tác trở

thành công cụ để bóc lột, một hình thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối C.Mác cho rằng: ''một mặt, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử để biến quá trình lao động thành một quá trình xã hội, thì mặt khác, hình thức xã hội đó của quá trình lao động lại là một phương pháp mà tư bản đã dùng để bóc lột quá trình đó một cách có lợi hơn bằng cách nâng cao sức sản xuất của quá trình đó''5

Sự phân công lao động và công trường thủ công

CMác viết:'' Sự phân công lao động trong công trường thủ công chỉ là một phương pháp đặc biệt để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, hay đẩy mạnh việc tự tăng thêm giá trị của tư bản ở trên lưng công nhân Nó không những phát

5 Sđd, tr.486

Ngày đăng: 09/10/2019, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w