1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LO âu và một số yếu tố LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ điều TRỊ tại TRUNG tâm UNG bướu và PHẪU THUẬT đầu cổ BỆNH VIỆN TAI mũi HỌNG TRUNG ƯƠNG năm 2017

85 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 401,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN PHƯƠNG HOALO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU VÀ PHẪU THUẬT ĐẦU CỔ BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG NĂM 2017 LUẬN VĂN THẠC S

Trang 1

NGUYỄN PHƯƠNG HOA

LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ

TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU VÀ PHẪU THUẬT ĐẦU CỔ BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

NGUYỄN PHƯƠNG HOA – Mã HV C00476

LO ÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ

TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU VÀ PHẪU THUẬT ĐẦU CỔ BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG NĂM 2017

Chuyên ngành : Y tế công cộng

Mã số :60720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THỊ KHÁNH VÂN

HÀ NỘI – 2017LỜI CẢM ƠN

Trang 3

Trường Đại Học Thăng Long.

Với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới

TS Nguyễn Thị Khánh Vân, người thầy mẫu mực đã hướng dẫn, truyềnđạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới

Các Thầy, Cô Bộ môn Y tế Công cộng đã tạo mọi điều kiện, dạy bảo,truyền đạt kiến thức cũng như góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luậnvăn này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Các khoa phòng Bệnh viện Tai mũi Họng Trung ương, các Bác sỹ, điềudưỡng khoa Tai Mũi Họng, phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Tai MũiHọng Trung Ương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập và hoàn thành luậnvăn

Xin gửi lời cảm ơn

Các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ động viên tôi trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu

Và tôi xin dành tất cả tình cảm yêu quý và biết ơn sâu sắc tới

Gia đình thân yêu luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành tốt công việc củamình

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2017

Nguyễn Phương Hoa

LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa TS Nguyễn Thị Khánh Vân

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãcông bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơinghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kếtnày

Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2017

Người viết cam đoan

Nguyễn Phương Hoa

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Ung thư tai – mũi – họng 3

1.1.1 Khái niệm cơ bản về ung thư 3

1.1.2 Ung thư tai – mũi – họng 3

1.1.3 Dịch tễ học ung thư vùng tai – mũi – họng 8

1.2 Rối loạn lo âu 9

1.2.1 Một số khái niệm về lo âu 9

1.2.2 Phân loại các rối loạn lo âu 10

1.2.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu 11

1.3 Rối loạn lo âu trên bệnh nhân ung thư 12

1.3.1 Tâm lý của bệnh nhân ung thư 12

1.3.2 Một số nghiên cứu về lo âu ở bệnh nhân ung thư 13

1.3.3 Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư 16

CHƯƠNG 2 19

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19

2.2.2 Cách chọn mẫu: 19

2.2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 20

2.2.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 23

2.2.5 Khống chế sai số trong nghiên cứu 24

2.2.6 Xử lý và phân tích số liệu 24

2.2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 25

Trang 7

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 31

3.2.1 Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu 31

3.2.2 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu 31

3.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 37

CHƯƠNG 4 43

BÀN LUẬN 43

4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 43

4.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 47

4.2.1 Tỉ lệ lo âu chung 47

4.2.2 Tỉ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học 48 4.2.3 Tỉ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm bệnh 49

4.2.4 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm môi trường bệnh viện 50 4.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 51

4.3.1 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu (phân tích đơn biến) 52

4.3.2 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu (phân tích đa biến) 55

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 57

KẾT LUẬN 58

KHUYẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

66.Hinz A., Krauss O., Hauss J.P., Höckel M., Kortmann R.D., Stolzenburg J.U & Schwarz R (2010) European Journal of Cancer Care Anxiety and depression in cancer patients compared with the general population 19(4), 522-529 7

BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 10

Trang 8

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.2 Thông tin chung về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.3 Thông tin chung về môi trường bệnh viện 30

Bảng 3.4 Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang HADS 31

Bảng 3.5 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm thông tin cá nhân 31

Bảng 3.6 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm bệnh 34

Bảng 3.7.Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm môi trường bệnh viện 36

Bảng 3.8.Mối liên quan giữa các yếu tố về nhân khẩu học đến tình trạng lo âu của bệnh nhân 37

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa các yếu tố về kinh tế đến tình trạng lo âu của 39 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa các loại ung thư và quá trình điều trị đến tình trạng lo âu của bệnh nhân 40

Bảng 3.11.Mối liên quan giữa các yếu tố về môi trường bệnh viện đến tình trạng lo âu của bệnh nhân 42

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư (UT) là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu trong số cácbệnh không lây nhiễm[1] Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Hiệp hộiphòng chống ung thư quốc tế (UICC), năm 2000 đã có 22,4 triệu người đangsống với UT trong đó có 10,1 triệu ca mới mắc Căn bệnh này cũng đã lấy đimạng sống của 6,2 triệu người chiếm 12,6% nguyên nhân của tất cả cáctrường hợp tử vong và con số này thậm chí còn nhiều hơn so với tỷ lệ tử vonggây ra bởi HIV/AIDS, lao và sốt rét cộng lại[2] Đến năm 2002, số người chết

vì UT đã tăng lên là 6,7 triệu người và sau hai năm số bệnh nhân tử vong do

UT đã là 7,4 triệu chiếm hơn 13% nguyên nhân gây ra tất cả các trường hợp

tử vong[3],[4]

Ung thư vùng tai mũi họng (UTVTMH) là một nhóm bệnh UT xuấtphát từ những vị trí khác nhau ở đường hô hấp và tiêu hóa trên, bao gồmnhiều loại UT khác nhau nhưng có chung đặc tính xâm lấn mạnh và thườngđược chẩn đoán ở giai đoạn muộn Bệnh chiếm 10% trong tổng số các loại

UT Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 41.000 trường hợp bệnh mới mắc và 12.000

ca chết vì bệnh Các loại UTVTMH xếp theo thứ tự phổ biến ở Mỹ là UTlưỡi, môi, niêm mạc má; khoang miệng, họng miệng, sàn miệng, vòm họng vàtuyến nước bọt[5]

Tại Việt Nam, theo ghi nhận UT ở Hà Nội năm 1999, loại UTVTMHphổ biến nhất là UT vòm họng với tỉ lệ mắc là 7,2/100.000 dân, tiếp đến là

UT lưỡi, hạ họng thanh quản, khoang miệng,…Theo báo cáo tổng quan ngành

Y tế 2014 của Bộ Y tế và nhóm đối tác, mỗi năm ước tính có 125.000 trườnghợp mới mắc và hơn 80.000 người chết vì UT Cũng theo báo cáo trên, tạiViệt Nam, tỉ lệ mắc bệnh UT tăng nhanh cùng với việc hơn 70% số bệnh nhânđến khám và chữa trị đều đã ở giai đoạn III hoặc IV dẫn đến những tổn thấtrất nặng nề đối với toàn xã hội[6]

Trang 10

Nhờ sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật hiện đại đã mang lạinhững niềm hi vọng cho bệnh nhân UT, song những tổn thất mà họ phải chịuđựng vẫn còn rất lớn[7] Cùng với việc đối mặt với các vấn đề tốn kém vềkinh tế, người bệnh UT còn phải chịu đựng đau đớn về thể xác, suy giảm sứckhỏe, tinh thần, lo lắng, căng thẳng Trong nghiên cứu của A Malekian vàcộng sự (2008) nhận thấy trạng thái lo âu, trầm cảm có thể mang đến nhữngtác động tiêu cực sâu sắc với người bệnh UT về cả tình trạng chức năng, chấtlượng cuộc sống, thời gian nằm viện và hiệu quả điều trị do đó việc đánh giáđúng mức và điều trị những rối loạn này là rất quan trọng[8].

Việc điều trị cho bệnh nhân UT đòi hỏi phải toàn diện về thể chất cũngnhư tinh thần Những cảm xúc lo âu, buồn phiền, tiêu cực mà bệnh nhân UTđang phải gánh chịu hàng ngày cần phải được chú ý phát hiện và có nhữngbiện pháp chăm sóc thích hợp nhằm mang đến hiệu quả điều trị tốt nhất vànâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh Ở Việt Nam, những vấn đềnày chưa được quan tâm đúng mức Tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện TaiMũi Họng Trung ương hiện nay đang phát hiện và điều trị các khối u vùng taimũi họng và đầu cổ bao gồm khối u lành tính và ác tính; chưa có nghiên cứunào về vấn đề lo âu của bệnh nhân UT được điều trị tại đây, do đó chúng tôi

thực hiện đề tài “Lo âu và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân ung thư điều trị tại Trung tâm Ung bướu và Phẫu thuật đầu cổ– Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2017” với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng lo âu của bệnh nhân ung thư điều trị tại Trung tâm Ung bướu và Phẫu thuật đầu cổ – Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2017.

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Ung thư tai – mũi – họng

1.1.1 Khái niệm cơ bản về ung thư

Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích của các tác nhânsinh UT, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các

cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể[9]

Đa số bệnh UT hình thành các khối u Khác với khối u lành tính chỉphát triển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, khối u ác tínhgiống như hình “con cua” với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơthể hoặc giống như rễ cây lan trong đất Các tế bào của khối u ác tính có khảnăng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối umới và cuối cùng dẫn tới tử vong Cùng với di căn xa, tính chất của bệnh UThay tái phát đã làm cho điều trị bệnh khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiênlượng bệnh[9]

Hiện nay, người ta biết có đến hơn 200 loại UT trên cơ thể người,những loại UT này có đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng có nhiều điểmkhác nhau về nguyên nhân gây bệnh, tiến triển của bệnh, về phương phápđiều trị và về tiên lượng bệnh[9]

1.1.2 Ung thư tai – mũi – họng

1.1.2.1 Giải phẫu vùng tai – mũi – họng[10]

Giải phẫu tai

Tai gồm 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong

- Tai ngoài gồm vành tai và ống tai ngoài

Trang 12

Vành tai: có khung sụn, trừ phần dưới chỉ có lớp mỡ và da gọi là dáitai Khung sụn có các nếp lồi lõm tạo thành các gờ, hõm.

Ống tai ngoài: đi từ cửa ống tai ngoài đến hòm nhĩ, phía vành taingoài là ống sụn, trong là ống xương Đoạn sụn và xương tạo thành khuỷuhướng ra trước và xuống dưới Lớp da có nhiều tuyến tiết nhầy

- Tai giữa gồm hòm nhĩ, vòi nhĩ và các xoang chũm.

Hòm nhĩ: giống như một hình trống dẹt Bộ phận chủ yếu tronghòm nhĩ là tiểu cốt Hòm nhĩ được chia thành hai tầng Tầng trên gọi là tầngthượng nhĩ chứa tiểu cốt, tầng dưới gọi là trung nhĩ là một hốc rỗng chứakhông khí, thông trực tiếp với vòi nhĩ

Vòi nhĩ (Eustachi): là một ống nhỏ nối liền hòm nhĩ với thành bênvòm mũi họng, được lát bằng lớp niêm mạc, phía trên liên tiếp với niêm mạchòm nhĩ, phía dưới với niêm mạc vòm mũi họng

Xương chũm: là một xương nhỏ ở phía dưới bên của hệ xương tháidương, phía sau ống tai ngoài

- Tai trong: Nằm trong xương đá, đi từ hòm nhĩ tới lỗ ống tai trong Gồmhai phần là mê nhĩ xương bao bọc bên ngoài và mê nhĩ màng ở trong

Mê nhĩ xương: gồm tiền đình và ốc tai

Tiền đình thông với tai giữa bởi cửa sổ bầu dục ở phía trước, có ống bánkhuyên nằm theo ba bình diện không gian

Ốc tai giống như hình con ốc có hai vòng xoắn rưỡi, được chia thành haivịn: là vịn tiền đình thông với tiền đình và vịn nhĩ thông với hòm nhĩ bởi cửa

sổ tròn, nó đựơc bịt kín bởi màng nhĩ phụ

Mê nhĩ màng: ốc tai màng và hai túi cầu nang, soan nang, ống nộidịch và ba ống bán khuyên màng

Giải phẫu mũi, xoang

Trang 13

 Mũi gồm hai phần: tháp mũi và hốc mũi.

- Tháp mũi: Như một mái che kín hốc mũi, có khung là xương chínhmũi, ngành lên xương hàm trên, sụn cánh mũi và sụn uốn quanh lỗ mũi

- Hốc mũi: Vách ngăn chia hốc mũi thành hốc mũi phải và hốc mũi trái,

là hai khoảng thông từ trước ra sau Phía trước có hai lỗ mũi, phía sau có haicửa mũi sau

Mỗi hốc mũi có bốn thành:

Thành trên: là trần của hốc mũi, ngăn cách hốc mũi với sọ não

Thành dưới: là sàn mũi, ngăn cách mũi với miệng

Thành trong: hay là vách ngăn mũi là một vách thẳng đi từ trần mũi xuốngsàn mũi và chạy dọc từ trước ra sau ngăn mũi thành hai hốc mũi phải và trái

Thành ngoài: là thành quan trọng hơn cả Thành ngoài có ba xương uốncong còn gọi xương xoăn theo thứ tự trên, giữa, dưới Ba xương xoăn đượclớp niêm mạc bao phủ bên ngoài mang tên: cuốn mũi trên, cuốn mũi giữa vàcuốn mũi dưới Mỗi một cuốn mũi hợp với thành ngoài của hốc mũi tạo thànhmột khe mũi hay là ngách mũi

 Xoang là những những hốc nằm trong xương sọ và được mang tên cùngvới tên của xương đó

Các xoang mặt được chia thành hai nhóm:

Nhóm xoang trước: xoang hàm, xoang sàng trước, xoang trán vâyquanh hốc mắt Nhóm xoang này đều đổ ra ngách mũi giữa, sau đó niêm dịchvượt qua mặt trong cuốn mũi giữa ở phần sau để đổ vào họng mũi Qua nộisoi mũi đã chứng minh được rằng các dịch tiết từ xoang trán, xoang hàm,xoang sàng trước đều được vận chuyển về phía sau để được đổ vào vùng họngmũi Vùng này mở thông ra ngoài, dễ bị nhiễm khuẩn và dễ gây ra biến chứngmắt Khi mới sinh xoang sàng đã thông bào, xoang hàm còn nhỏ, xoang trán

Trang 14

thì khoảng 4-7 tuổi mới bắt đầu phát triển Xoang trước có lỗ thông với hốcmũi rộng, lại liên quan nhiều đến các răng hàm trên nên các xoang trướcthường bị viêm cấp tính thể nhiễm khuẩn, mủ và các triệu chứng biểu hiện ởphía trước (như đau ở mặt, chảy mủ ra ở cửa mũi trước, xì mũi ra mủ

Nhóm xoang sau: xoang sàng sau và xoang bướm ở sâu dưới nền sọ,liên quan tới phần sau ổ mắt, dây thần kinh thị giác, xoang tĩnh mạch hang,tuyến yên Xoang sàng sau đổ ra ngách mũi trên, xoang bướm đổ ra vùngkhứu giác của hố mũi Vùng này kín hơn, ít bị xâm nhập bởi nhưng nguyênnhân bệnh lý bên ngoài Do xoang sau có lỗ thông với mũi ở phía sau ngáchmũi trên nên dịch xuất tiết thường chảy xuống họng

Giải phẫu vòm họng

Họng là một ống cơ và màng ở trước cột sống cổ, đi từ mỏm nền đếnngang tầm cột sống cổ VI, là ngã tư của đường ăn và đường thở, nối liền vớimũi ở phía trên, với miệng ở phía trước, với thanh quản và thực quản ở phíadưới Họng chia làm ba phần: họng mũi, họng miệng và họng thanh quản

- Họng mũi (hay vòm mũi họng): ở cao nhất, lấp sau màn hầu, ở saudưới của hai lỗ mũi sau Thành sau họng mũi hợp với thành trên và hai thànhbên làm thành hình vòm, trên nóc vòm có tổ chức sùi gọi là V.A Hai thànhbên có loa vòi Eustachi thông lên hòm tai Phía dưới của họng – mũi được thởthông với họng – miệng

- Họng miệng: phía trên thông với họng – mũi, phía dưới thông với họng– thanh quản, phía trước thông với khoang miệng và được màn hầu phâncách Thành sau họng miệng liên tiếp với thành sau họng mũi và bao gồm cáclớp niêm mạc, cân và các cơ khít họng Hai thành bên có amidan họng hayamidan khẩu cái nằm trong hốc amidan Hốc này được tao bởi trụ trước và trụsau, đó là các màng niêm mạc và cơ mỏng bao amidan phân cách với thànhbên họng bởi lớp vỏ xốp dễ bóc tách Bao để hở mặt trong và dưới gọi là mặt

tự do của amidan, mặt này nằm phía trong họng

Trang 15

- Họng thanh quản (hay hạ họng): đi từ ngang tầm xương móng xuốngđến miệng thực quản, có hình như một cái phễu, miệng to mở thông với họngmiệng, đáy phễu là miệng thực quản.Thành sau liên tiếp với thành sau họngmiệng Thành trước phía trên là đáy lưỡi, dưới là sụn thanh thiệt và hai sụnphễu của thanh quản Thành bên như một máng hẹp dần từ trên xuống dưới.Nếp phễu – thanh thiệt của thanh quản hợp với thành bên họng tạo nên mánghọng – thanh quản hay xoang lê.

1.1.2.2 Các bệnh ung thư vùng tai – mũi – họng[11]

Có rất nhiều loại bệnh UT ở vùng tai – mũi – họng, tiêu biểu như:

- Ung thư vòm họng đứng hàng đầu trong các bệnh UTVTMH, đứnghàng thứ 5 trong các bệnh UT nói chung Nhưng các triệu chứng lại khôngđiển hình hầu hết là các triệu chứng "mượn" của các cơ quan lân cận như: tai,mũi, thần kinh, hạch…do đó việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn

- Ung thư hạ họng là UT xuất hiện theo ba vùng: xoang lê, vùng saunhẫn phễu và vùng thành sau hạ họng, hay gặp hơn UT thanh quản nhưng kếtquả điều trị lại kém hơn do các triệu chứng lâm sàng ban đầu tương đối kínđáo, phần lớn người bệnh đến khám đều ở giai đoạn muộn

- Ung thư mũi xoang là UT ở khoang mũi hoặc các khối u ở xoang Cáckhối u mũi và xoang là các khối u có thể lành tính hoặc ác tính (ung thư) xảy

ra trong mũi xoang

- Ung thư thanh quản là loại UT hay gặp ở Việt Nam, đứng vào hàng thứ

4 sau UT vòm họng, UT mũi xoang và UT hạ họng

- Ung thư Amiđan khẩu cái là một trong những loại UTVTMH thườnggặp ở Việt Nam Bao gồm các khối u thành hố amiđan, cũng như trụ trước,trụ sau Trong nhiều trường hợp rất khó xác định điểm xuất phát, không rõ là

từ amiđan hay là từ các thành hố amiđan vì chúng liên quan mật thiết vớinhau

Trang 16

- Ung thư tai là một loại u ác tính hiếm gặp trong UTVTMH, theo thống

kê của Mỹ tỷ lệ này là 0,01% Ung thư có thể phát triển ở bất kỳ từ cấu trúcnào của tai

-1.1.3 Dịch tễ học ung thư vùng tai – mũi – họng

UTVTMH đứng hàng thứ sáu về tỷ lệ mắc bệnh, chiếm khoảng 10%tổng số các loại UT Ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 650.000trường hợp mới mắc và 350.000 trường hợp tử vong do bệnh[5] Theo thống

kê tại Hoa Kỳ năm 2006, UTVTMH có 40.500 trường hợp mới mắc, chiếm2,9% tổng số các loại UT[12] Bệnh thường được chẩn đoán sau độ tuổi 50ngoại trừ UT tuyến nước bọt và UT vòm mũi họng có xu hướng mắc ở ngườitrẻ Nguy cơ mắc bệnh tăng lên cùng với tuổi Tỷ lệ nam/nữ là khoảng 2,5/1.Theo thống kê tại Việt Nam giai đoạn 2001-2004, UT vòm mũi họng là mộttrong mười UT thường gặp ở nữ tại các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, HảiPhòng, Thái Nguyên, UT miệng đứng hàng thứ bảy tại Huế với tỷ lệ 4,7%trong tổng số các loại UT Còn đối với nam, UT vòm cũng là một trong sốmười UT thường gặp ở hầu hết các thành phố được thống kê, riêng UT lưỡi

có tỷ lệ cao ở hai thành phố là Hải Phòng và Huế[11] Theo Globocan 2012,

tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của UT khoang miệng, họng miệng - hạ họng, thanhquản tương ứng là 3,3/100000; 2,7/100000; 2,7/100000[13]

Trang 17

Biểu đồ 1.1.Mô hình bệnh ung thư ở Việt Nam theo Globocan 2012[13]

1.2 Rối loạn lo âu

1.2.1 Một số khái niệm về lo âu

1.2.1.1 Lo âu bình thường

Lo âu là một phần của cuộc sống hàng ngày, mỗi chúng ta ai cũng có lo

âu, khởi đầu lo âu là tự nhiên, bình thường và thậm chí còn có lợi Lo âu làmột hiện tượng cảm xúc tất yếu của con người trước những khó khăn, thửthách của tự nhiên và xã hội Lo âu là tín hiệu cảnh báo của cơ thể trướcnhững mối đe dọa đột ngột, trực tiếp Lo âu cần thiết cho mỗi cá thể để tồn tại

và thích nghi[14]

Lo âu bình thường có chủ đề rõ ràng trong cuộc sống như công việc,học tập… và mang tính chất nhất thời Khi những sự kiện trong đời sống ảnhhưởng đến tâm lý chủ thể hết tác động thì lo âu cũng không còn hoặc còn lạirất ít triệu chứng cơ thể[15]

Theo U Baumann: Lo âu là một hiện tượng phản ứng cảm xúc tự nhiêntất yếu của con người trước những khó khăn, thử thách, đe dọa của tự nhiên,

Trang 18

xã hội mà con người phải tìm ra các giải pháp (cách) để vượt qua, vươn tới,tồn tại[16].

1.2.1.2 Lo âu bệnh lý

Khác với lo âu bình thường, lo âu bệnh lý có thể xuất hiện không cóliên quan tới một mối đe dọa rõ ràng nào hoặc các sự kiện tác động đã chấmdứt nhưng vẫn còn lo âu, mức độ lo âu cũng không tương xứng với bất kì một

đe dọa nào để có thể tồn tại hoặc kéo dài Khi mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệtcác hoạt động, lúc đó được gọi là lo âu bệnh lý[17]

Lo âu bệnh lý có 2 mức độ: Lo âu tính cách (nhân cách lo âu) và rốiloạn lo âu (RLLA)

Tính cách lo âu: Một số người có nhân cách lo âu, thường được mô tảnhư lo âu “bẩm sinh” Họ lo buồn vì những nguyên cớ nhỏ, căng thẳng bởinhững sức ép thậm chí nhỏ nhất và thấy sợ hãi vì năng lực của họ Họ đượcnhận ra như: thường dễ xúc động, dễ sợ hãi, cẩn thận quá mức và trải nghiệm

lo âu nhiều hơn người cùng tuổi trong các tình huống tương ứng

Lo âu bệnh lý thường kéo dài và lặp đi lặp lại với các triệu chứng như:mạch nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, runrẩy, bất an Lo âu bệnh lý cũng là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không

có chủ đề rõ ràng, mang tính chất mơ hồ, vô lý[18],[19]

Theo Andrew R Getzfeld (2006), sự phân biệt giữa lo âu bình thường

và lo âu bệnh lý là ở mức độ khó khăn trong kiểm soát hoặc loại bỏ lo âu[20]

Bảng 1.1 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý

- Lo âu không làm ảnh hưởng đến

công việc, hoạt động hàng ngày

- Lo âu gây mất ổn định các hoạt động, ảnh hưởng đến nghề nghiệp, cuộc sống xã hội

- Lo âu có thể kiểm soát được - Lo âu không thể kiểm soát được

Trang 19

- Lo âu gây khó chịu đôi chút,

không nặng nề

- Lo âu hết sức khó chịu, bồn chồn,căng thẳng

- Lo âu giới hạn trong một số tình

huống có thật, hoàn cảnh đặc

trưng, cụ thể

- Lo âu trong mọi tình huống bất

kỳ, luôn có xu hướng chờ đợi những kết cục xấu

- Lo âu chỉ tồn tại trong một thời

điểm nhất định

- Lo âu kéo dài ngày này qua ngày khác trong khoảng thời gian ít nhất 6 tháng

1.2.2 Phân loại các rối loạn lo âu

Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống phân loại các rối loạn tâm thầnđược sử dụng phổ biến Đó là Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 của Tổchức Y tế Thế giới (ICD-10, 1992)[21], hướng dẫn chẩn đoán và thống kê cácrối loạn tâm thần lần thứ IV - TR của Hội Tâm thần học Mỹ (DSM-IV - TR,2000)[22], dựa vào các biểu hiện lâm sàng, các nghiên cứu về dịch tể học,cũng như di truyền, sinh học, tâm lý – xã hội và người ta chia RLLA thànhnhiều loại khác nhau

 Phân loại theo ICD-10

- Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ gồm: lo âu ám ảnh sợ khoảng trống, lo âu

ám ảnh sợ xã hội, lo âu ám ảnh sợ đặc hiệu, các rối loạn lo âu ám ảnh sợ khác,

lo âu ám ảnh sợ không biệt định

- Các rối loạn lo âu khác gồm: rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa,rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm, các rối loạn lo âu hỗn hợp khác, các rốiloạn lo âu không biệt định khác, rối loạn lo âu không biệt định

 Phân loại theo DSM – IV

- Rối loạn lo âu không biệt định bao gồm rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm

- Rối loạn hoảng sợ không bao gồm ám ảnh sợ đám đông

- Rối loạn lo âu lan tỏa

Trang 20

- Rối loạn hoảng sợ bao gồm ám ảnh sợ đám đông.

- Ám ảnh sợ đám đông không có tiền sử rối loạn hoảng sợ

- Ám ảnh sợ xã hội

- Ám ảnh sợ đặc hiệu

- Rối loạn ám ảnh nghi thức

- Rối loạn stress cấp

- Rối loạn stress sau sang chấn

1.2.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu

Những người bị rối loạn lo âu thường cảm thấy rất sợ hãi, không chắcchắn cùng với những biểu hiện đa dạng và phức tạp Họ thường xuyên lo lắng

và không thể kiểm soát sự lo lắng, không thể thư giãn, khó tập trung, khó ngủ

và duy trì giấc ngủ, hay bất chợt giật mình, bồn chồn và cáu gắt Ngoài ra cáctriệu chứng cơ thể thường gặp là: mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, căng thẳng,đau nhức cơ bắp, run rẩy, co giật, ra mồ hôi nhiều, hồi hộp, khó thở, cảm giácnhư hết hơi, buồn nôn…[23],[24]

1.3 Rối loạn lo âu trên bệnh nhân ung thư

1.3.1 Tâm lý của bệnh nhân ung thư

Ngày nay, với những tiến bộ không ngừng trong y học đã giúp pháthiện sớm và kéo dài số năm sống cho bệnh nhân UT Nhưng khi đối mặt vớicăn bệnh này, người bệnh không chỉ lo lắng về sự sống và cái chết mà còn rấtnhiều những vấn đề khác bao gồm sự đau đớn trong cơ thể, những tác dụngphụ gây ra bởi các phương pháp điều trị, những thương tật vĩnh viễn hoặc suygiảm chức năng các cơ quan, quan hệ xã hội, khả năng chi trả… tác động đếntâm lý của họ[25],[26]

Những tâm lý chung thường gặp ở người bệnh khi biết tin mình mắcung thư là lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, thậm chí có thể rơi vào trầm cảm, hay

Trang 21

cáu giận phát hiện mình bị ung thư có thể khiến bệnh nhân đau đớn và tuyệtvọng Thời gian này người nhà nên thường xuyên trò chuyện và khích lệ đểbệnh nhân giải tỏa những lo lắng và có thái độ lạc quan, tích cực và quyết tâmchữa bệnh.

Trong khi điều trị, thời gian đầu bệnh nhân thường hoang mang trongviệc lựa chọn nơi điều trị Người nhà bệnh nhân cần tìm hiểu những địa chỉđiều trị ung thư uy tín và hiệu quả để phân tích và giảm bớt lo lắng cho ngườibệnh Điều trị ung thư là quá trình lâu dài, tốn kém đòi hỏi sự kiên trì Bởi vậybệnh nhân thường mang tâm lý lo lắng về chi phí điều trị và những ảnh hưởngđến gia đình Nhiều trường hợp bệnh nhân không muốn chữa trị vì lo tốnkém Tuy nhiên, hiện nay có nhiều phương pháp điều trị ung thư như phẫuthuật, xạ trị, hóa trị Tùy từng hoàn cảnh và tình trạng bệnh nhân mà các bácsĩ sẽ tư vấn hình thức điều trị phù hợp Thêm vào đó, người nhà cũng nên làmcác công tác tư tưởng để làm dịu tâm lý bệnh nhân Trong quá trình điều trị,tâm lý chán nản cũng như lo sợ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe khiến bệnhnhân không ăn được nhiều và rơi vào tình trạng mệt mỏi, suy nhược Trongtrường hợp này, người nhà cần tìm hiểu và chuẩn bị thực đơn thích hợp chobệnh nhân để đảm bảo họ nhận được lượng dinh dưỡng đầy đủ kết hợp lốisống lành mạnh để điều trị đạt hiệu quả tốt nhất

Những sự căng thẳng tâm lý này diễn ra hàng ngày không chỉ với bệnhnhân UT mà còn ảnh hưởng đến gia đình bệnh nhân và những người chăm sóckhác Những tổn thương về cả thể chất và tâm thần này có thể gây ra tìnhtrạng mất khả năng lao động hoặc thực hiện các vai trò xã hội của ngườibệnh[27] Bên cạnh đó, những rối loạn tâm lý tiến triển hàng ngày mà khôngđược chú ý đến có thể ảnh hưởng lớn đến việc điều trị UT và gây tử vongsớm Do đó cần có những can thiệp để cải thiện đời sống tinh thần sẽ có thểmang đến những hiệu quả điều trị tốt hơn cho người bệnh UT[26]

1.3.2 Một số nghiên cứu về lo âu ở bệnh nhân ung thư

Trang 22

Nhằm đánh giá ảnh hưởng của lo âu, trầm cảm đến chất lượng cuộcsống của bệnh nhân UT, Smith EM, Gomm SA và Dickens CM (2003) đã sửdụng công cụ Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) tiến hànhnghiên cứu trên 68 bệnh nhân gồm 33 nam và 35 nữ Kết quả cho thấy có25% bệnh nhân lo âu (điểm số lo âu ≥ 11), 22% bệnh nhân trầm cảm vànhững rối loạn này có liên quan đến sự suy giảm chất lượng cuộc sống [29].Cùng cho kết luận rối loạn lo âu làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnhnhân UT là nghiên cứu của Stark D, Kiely M và Smith A (2002) với cỡmẫu n=178 cho kết quả 48% bệnh nhân có triệu chứng lo âu và 18% lo âuthực sự Nghiên cứu này sử dụng thang đo HADS và S-TAI (State-TraitAnxiety Inventory)[30, P20, tr3137-3148.] Một nghiên cứu của Teunissen

SC và cộng sự năm 2007 cũng sử dụng thang đo HADS cho thấy tỉ lệ lo âutrên bệnh nhân UT là 34% (n=79)[31]

Như vậy có thể thấy, những biểu hiện rối loạn lo âu là thường gặp trênbệnh nhân UT[32], và để đánh giá tình trạng lo âu ở những bệnh nhân UT giaiđoạn cuối, một nghiên cứu của Elissa Kolva và cộng sự (2011) với 194 bệnhnhân cho kết quả 18,6% có các triệu chứng lo âu và 12,4% lo âu thực sự[33].Một nghiên cứu khác của Stark D và cộng sự (2004) lại xem xét tình trạng lo

âu của bệnh nhân UT khi đã được điều trị thuyên giảm Nghiên cứu này sửdụng bảng câu hỏi đo sự lo lắng với 95 bệnh nhân UT đã được điều trị thuyêngiảm và kết quả là hơn 1/3 trường hợp có các triệu chứng lo âu, sau đó cácbác sĩ sử dụng các liệu pháp trấn an tinh thần nhưng sự lo âu không vì thế mà

Trang 23

giảm đi, như vậy lo âu vẫn có thể là một vấn đề kể cả sau khi bệnh nhân UT

Một nghiên cứu khác đã được thực hiện bởi Patricia A, ParkerWalter,

F Baile, Carl de Moor và Lorenzo Cohen (2002) với mục tiêu xác địnhnhững triệu chứng rối loạn tâm lý và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống củabệnh nhân UT Nghiên cứu được tiến hành với 351 bệnh nhân và các kết quảphân tích chỉ ra rằng những người bệnh lớn tuổi có sự hỗ trợ xã hội tốt hơn sẽbớt lo âu hơn (p <0,001), nam giới có UT không tái phát và những ngườikhông phải điều trị tích cực cũng cho báo cáo chất lượng cuộc sống tốt hơn vềsức khỏe thể chất (p <0,05) Những người bệnh lớn tuổi, có gia đình, có họcvấn, có hỗ trợ xã hội tốt cũng có chất lượng cuộc sống tốt hơn về sức khỏetâm thần (p <0,05) Những bệnh nhân có sự hỗ trợ nhiều hơn sẽ bớt lo lắng và

có kết quả chất lượng cuộc sống tốt hơn, do đó việc đánh giá tình trạng hỗ trợ

xã hội đối với bệnh nhân UT có thể giúp xác định những nguy cơ rối loạn tâmlý[36]

Ryan Spencer và cộng sự năm 2010 đã tiến hành nghiên cứu trên 635người cho thấy có 7,6% bị rối loạn lo âu, phụ nữ, những bệnh nhân bị suygiảm thể chất nặng và bệnh nhân trẻ tuổi xuất hiện nhiều dấu hiệu lo âu hơn.Bên cạnh đó, những bệnh nhân bị rối loạn lo âu có biểu hiện ít tin tưởng vàobác sĩ hơn, họ cảm thấy không thoải mái khi đặt câu hỏi về sức khỏe của mình

Trang 24

và thường ít có khả năng hiểu được các thông tin lâm sàng mà bác sĩ nói Họcũng có nhiều biểu hiện nghi ngờ những phương pháp điều trị mà bác sĩ đưa

ra cũng như nghĩ rằng sự điều trị đó không thể kiểm soát đầy đủ những triệuchứng của họ[37]

1.3.2.2 Tại Việt Nam

Như vậy có thể thấy trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về lo âu, tìnhtrạng này thường gặp trên bệnh nhân UT, tuy nhiên việc ước tính tỉ lệ lo âucủa người bệnh UT lại rất khác nhau, có báo cáo đã cho thấy tỉ lệ này daođộng trong khoảng từ 1,5% đến gần 50%[38] Tại Việt Nam, những nghiêncứu về lo âu trên bệnh nhân UT là rất hạn chế Năm 2012, Cao Tiến Đức vàcộng sự đã nghiên cứu tình trạng trầm cảm, lo âu ở bệnh nhân UT dạ dày điềutrị nội trú tại bệnh viện Quân y 103 cho thấy rối loạn trầm cảm gặp ở 65%,mệt mỏi 65%, cảm giác buồn chán 60%, khí sắc trầm 55%, giảm hoạt động45%, rối loạn lo âu chiếm 81,67% Biểu hiện: lo sợ 81,67%, buồn chán đứngngồi không yên 65%, đau căng đầu 51%, hồi hộp đánh trống ngực 48% Rốiloạn trầm cảm kết hợp với rối loạn lo âu chiếm 46,67%[39] Năm 2014,Trương Thị Phương cũng đã nghiên cứu về tỉ lệ lo âu trầm cảm trên bệnh nhân

UT tại bệnh viện K (n=290) sử dụng thang đo HADS cho kết quả 27,2% có triệuchứng lo âu trong đó tỉ lệ lo âu thực sự là 11,4% Điểm lo âu trung bình là 5,7±3,8 (min=0, max=19), tỉ lệ lo âu nữ (19,7%) cao hơn so với nam (4,4%) Loại

UT vú và cổ tử cung cho tỷ lệ lo âu cao nhất 26,3% và 19,6%[40]

1.3.3 Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư

Có nhiều thang điểm trắc nghiệm để đánh giá các mức độ rối loạn tâm

lý ở bệnh nhân, trong đó có thang đo lo âu Zung, thang tự đánh giá mức độ lo

âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory), thang đánh giá lo âu Hamilton(Hamilton anxiety rating scale – HARS), thang đánh giá lo âu và trầm cảmtrên bệnh nhân tại bệnh viện (HADS)…

Trang 25

- Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self - Rating Anxiety Scale):do

W.W Zung (1971) đề xuất là một phương pháp xác định mức độ lo lắng ởnhững bệnh nhân có các triệu chứng lo âu chủ yếu tập trung vào những rốiloạn phổ biến nhất, những vấn đề căng thẳng thường gây ra lo lắng[41] Testnày được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thừa nhận là một test đánh giá trạngthái lo âu bao gồm 20 câu hỏi trong đó 15 câu hỏi về gia tăng sự lo lắng và 5câu giảm Có hai dạng đánh giá là tự đánh giá và đánh giá lâm sàng Các câuhỏi được tính điểm theo 4 mức tần suất xuất hiện triệu chứng:

+ 1 điểm: không có hoặc ít thời gian

+ 2 điểm: đôi khi

+ 3 điểm: phần lớn thời gian

+ 4 điểm: hầu hết hoặc tất cả thời gian

Kết quả được đánh giá:

T < 50%: Không có lo âu bệnh lý

T > 50%: Có lo âu bệnh lý[42],[43]

- Thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory): Để đo lường sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của các triệu

chứng lo âu hiện tại Có hai loại phiên bản cho cả người lớn và trẻ em Công

cụ này là hai bảng tự đánh giá gồm tổng số 40 câu hỏi, mỗi bảng là 20 câu,người bệnh sẽ tự đánh giá theo các mức độ và được quy ra điểm: 1 điểm, 2điểm, 3 điểm và 4 điểm Ở mỗi bảng, số điểm nằm trong khoảng 20-80 điểm,điểm càng cao thì càng cho thấy sự lo lắng nhiều hơn Với người lớn, thờigian yêu cầu để hoàn thành bảng đo là 10 phút Đây là một phương pháp đánhgiá nhanh chóng, đơn giản, dễ dàng và rất phổ biến trên thế giới, được dịch ranhiều loại ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên khi muốn tìm sự thay đổi về tâm lýtrong một khoảng thời gian ngắn thì thang đo này vẫn còn hạn chế do mụcđích tìm các dấu hiệu lo âu đã tồn tại trong thời gian dài[44]

Trang 26

- Thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale – HARS): Đây là thang đo được sử dụng rất rộng rãi trên lâm sàng đặc biệt là

trong các nghiên cứu hiệu quả điều trị lo âu[45],[46] Thang đo này bao gồm

14 nhóm câu hỏi cho các triệu chứng và tương đối chi tiết, thường được sửdụng đánh giá các triệu chứng lo âu trong rối loạn lo âu lan tỏa[47]

- Thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện (HADS) Đây là công cụ có giá trị và đáng tin cậy để sàng lọc, đánh giá các

triệu chứng lo âu và trầm cảm của bệnh nhân tại bệnh viện[48],[49] Thang đonày rất đơn giản, dễ hiểu và dễ dàng hoàn thành trong khoảng thời gian chưađến 5 phút, gồm 14 câu hỏi tự trả lời về những triệu chứng của chính ngườibệnh trong thời gian tuần kế trước, bao gồm 7 câu đánh giá lo âu (HADS – A)

và 7 câu cho trầm cảm (HADS – D) Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo các mức

độ tương ứng với các số điểm từ 0 đến 3 Sau khi tính tổng điểm cho mỗiphần, từ 11 điểm trở lên là rối loạn lo âu hay trầm cảm thực sự, từ 8 đến 10điểm là có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0 đến 7 điểm là bìnhthường[44],[50],[51]

Nhìn chung HADS là công cụ đáng tin cậy, ngắn gọn, dễ sử dụng và có

độ nhạy cao với sự thay đổi[41] Bên cạnh đó, thang đo này rất dễ thực hiện

để phát hiện một tỉ lệ lớn những rối loạn lo âu thường gặp ở bệnh nhânUT[52],[53] Tại Việt Nam, thang đo này đã được mua bản quyền và dịchsang tiếng Việt bởi Khoa nghiên cứu y học hành vi thuộc Trường Đại họcNew South Well, Úc[40]

Trang 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân có đầy đủ các điều kiện dưới đây:

- Bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định bất kỳ loại UT nào tại Trungtâm, còn khả năng giao tiếp và sẵn sàng trả lời câu hỏi

- Từ 18 tuổi trở lên

- Đang điều trị tại Trung tâm Ung bướu và Phẫu thuật đầu cổ – Bệnhviện Tai Mũi Họng Trung Ương

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân được xác định không đủ thể lực và tinh thần để hoàn thànhnghiên cứu hoặc phỏng vấn bởi điều tra viên (mê sảng, mất trí nhớ, đã đượcchẩn đoán bệnh lý tâm thần)

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Ung bướu và Phẫu thuật đầu

cổ – Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương từ 04/2017 đến 07/2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cách chọn mẫu:

Mẫu nghiên cứu được lựa theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện:

Trang 28

Tỷ lệ % nam và nữ: Số bệnh nhân (BN)nam (nữ) trên tổng số bệnh nhân thamgia nghiên cứu (NC)

Tuổi Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân từng nhóm tuổi

trên tổng số bệnh nhân tham gia nghiêncứu

Tình trạnghôn nhân

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo từng loạitình trạng hôn nhân trên tổng số bệnhnhân tham gia nghiên cứu

Trình độhọc vấn

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo từng nhómtrình độ học vấn trên tổng số bệnh nhântham gia nghiên cứu

Nghềnghiệp

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo từng loạinghề nghiệp trên tổng số bệnh nhân thamgia nghiên cứu

BHYT

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân được hưởng bảohiểm y tế cho chi trả chăm sóc tại bệnhviện trên tổng số bệnh nhân tham gianghiên cứu

Kinh tế giađình

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo từng nhómkinh tế gia đình trên tổng số bệnh nhântham gia nghiên nghiên cứu

Trang 29

Chi phíđiều trịngười bệnh

chitrả/tháng

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo từng nhóm chi phí

Khả năngchi trả

Tỉ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo từng nhómkhả năng chi trả trên tổng số bệnh nhântham gia nghiên cứu

+ Tỷ lệ % theo giới: tỷ lệ mỗi loại hoặcnhóm bệnh UT theo giới nam/nữ trêntổng số bệnh nhân nam/nữ tham gianghiên cứu

+ Tỷ lệ % theo nhóm tuổi: tỷ lệ mỗi loạihoặc nhóm bệnh UT theo nhóm tuổi củabệnh nhân trên tổng số bệnh nhân ở mỗinhóm tuổi ấy

Giai đoạnbệnh

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân thuộc các nhómgiai đoạn bệnh khác nhau trên tổng sốbệnh nhân tham gia nghiên cứu

Thời gianđược chẩnđoán bệnh

Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm khoảng thời gianchẩn đoán bệnh của các bệnh nhân trêntổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu.Các

phươngpháp điềutrị

Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm phương phápđiều trị ở các bệnh nhân trên tổng sốbệnh nhân tham gia nghiên cứu

Tiến triểnbệnh

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân thuộc các nhómtiến triển khác nhau trên tổng số bệnh

Trang 30

nhân tham gia nghiên cứu.

Tác dụngphụ khiđiều trị

Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm mức độ tác dụngphụ khi điều trị ở bệnh nhân trên tổng sốbệnh nhân tham gia nghiên cứu

Thôngtin vềmôitrườngbệnhviện

Ảnh hưởng

từ lo âu củangười bệnhkhác

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo các nhómmức độ ảnh hưởng từ lo âu của ngườibệnh khác trên tổng số bệnh nhân thamgia nghiên cứu

Cơ sở vậtchất bệnhviện

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo các nhómtrả lời về cơ sở vật chất bệnh viện trêntổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu.Thái độ

phục vụ củanhân viên ytế

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo các nhómtrả lời về thái độ phục vụ của nhân viên y

tế trên tổng số bệnh nhân tham gianghiên cứu

Niềm tinvào thầythuốc

Tỷ lệ %: tỷ lệ bệnh nhân theo các nhómmức độ tin tưởng với thầy thuốc trêntổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Mục tiêu 1:

Mô tả tình

trạng lo âu

Tỷ lệ lo âu chung Tỉ lệ bệnh nhân lo âu trên tổng số bệnh

nhân tham gia nghiên cứu (%)

Tỷ lệ lo âu theo cácđặc điểm thông tin cá

nhân

Tỉ lệ bệnh nhân theo các đặc điểm thông tin cá nhân bị lo âu trên tổng số bệnh nhân tham gia nghiên cứu (%)

Tỉ lệ lo âu theo các đặcđiểm về tình trạng

bệnh

Tỉ lệ bệnh nhân theo các đặc điểm về tình trạng bệnh bị lo âu trên tổng số bệnhnhân tham gia nghiên cứu (%)

Trang 31

Tỉ lệ lo âu theo các đặcđiểm môi trường bệnh

2.2.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin

2.2.4.1 Công cụ thu thập thông tin

Thông tin thu thập qua bộ câu hỏi có sẵn được thiết kế dựa trên nhómbiến số chỉ số và thang đo lường về sự lo âu và trầm cảm tại bệnh viện(Hospital Anxiety and Depression – HADS) và thang tự đánh giá lo âu ZungSelf – Rating Anxiety Scale

Về thang HADS trong nghiên cứu này chỉ sử dụng 7 câu hỏi nằm trongphần đo lo âu (HAS) Mỗi câu có 4 mức độ trả lời tương ứng với điểm0,1,2,3

Kết quả được phân tích theo tổng điểm các câu hỏi theo các mức độ:

 Không lo âu : ≤ 40 điểm

 Lo âu mức độ nhẹ : 41 – 50 điểm

Trang 32

 Lo âu mức độ vừa : 51 – 60 điểm.

 Lo âu mức độ nặng : 61 – 70 điểm

 Lo âu mức độ rất nặng : 71 – 80 điểm

2.2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn bệnh nhân theo bộ câu hỏi

2.2.5 Khống chế sai số trong nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu được hỏi về các triệu chứng lo âu của họ trongtuần kế trước theo thang tự đánh giá HADS, do đó dễ mắc phải sai số nhớ lại

- Các biện pháp khống chế sai số được áp dụng bao gồm xin ý kiếnchuyên gia, chuẩn hoá bộ câu hỏi thông qua điều tra thử, tập huấn điều traviên một cách kỹ lưỡng và giám sát chặt chẽ quá trình điều tra

- Trong quá trình nhập số liệu, bộ số liệu được nhập lại 10% số phiếunhằm kiểm tra thông tin nhập một cách kỹ lưỡng nhất, hạn chế sai số mộtcách tối đa

2.2.6 Xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu sau khi được làm sạch sẽ được nhập vào máy tính và quản lýbằng phần mềm Epidata 3.1

- Các số liệu được xử lý và phân tích sử dụng phần mềm Stata 12.0

- Trong quá trình xử lý, các số liệu bị thiếu, vô lý, ngoại lai được kiểmtra và khắc phục

- Các thống kê mô tả và thống kê suy luận thực hiện thông qua tính toángiá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho các biến định lượng và tỷ số, tỷ

lệ cho các biến định tính

- Phân tích được thực hiện thông qua các test thống kê thích hợp

- Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 được áp dụng

Trang 33

2.2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban lãnh đạo Trung tâm Ung bướu

và phẫu thuật đầu cổ - Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương quan tâm, ủng hộ

- Trước khi tham gia nghiên cứu, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽđược cung cấp rõ thông tin liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu.Đối tượng được thông báo là tự nguyện quyết định tham gia vào nghiên cứuhay không

- Việc phỏng vấn phải được tiến hành vào thời điểm thuận tiện cho người bệnh

- Các thông tin thu thập được từ các đối tượng chỉ phục vụ cho mục đíchnghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật

- Đối tượng được quyền dừng sự tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu bất

cứ lúc nào

- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi cho lãnh đạo Trung tâm Ungbướu và phẫu thuật đầu cổ - Bệnh viện Tai Mũi họng Trung Ương sau khinghiên cứu kết thúc

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu n % Giới tính

7,2 32,6 15,9 6,3 19,7 22,6 0,5 1,0

Trang 35

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu n % Khả năng chi trả

Nhóm tuổi: nhóm tuổi từ 50 trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là:34,6% và 38%; nhóm tuổi từ 20 – 39 chiếm tỷ lệ thấp nhất với 9,6%

Trong số những bệnh nhân tham gia nghiên cứu, nhóm bệnh nhân đangsống chung với vợ/chồng hoặc với người có quan hệ tình cảm chiếm 90,8%

và nhóm bệnh nhân ly dị, góa hay độc thân chiếm 9,2%

Về trình độ học vấn của đối tượng tham gia nghiên cứu, nhóm có trình

độ phổ thông chiếm tỉ lệ cao nhất với 59,6%; nhóm đã tốt nghiệp đại họcchiếm 29,3% và nhóm có trình độ sau đại học chiếm tỉ lệ thấp nhất 11,1%

Về nghề nghiệp hiện tại của các bệnh nhân trong nghiên cứu, đối tượng

là nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất với 32,6%, tiếp sau là nhóm lao động tự do,

về hưu và cán bộ nhà nước lần lượt là 22,6%, 19,7% và 15,9% Chỉ có 1 đốitượng tham gia nghiên cứu không có việc làm chiếm 0,5%

Nhóm bệnh nhân sử dụng bảo hiểm y tế cho các chi trả chăm sóc tạibệnh viện chiếm 86,1% và không sử dụng chiếm 13,9%

Trang 36

Về tình trạng kinh tế gia đình của 208 bệnh nhân trong nghiên cứu: có 43người thuộc hộ nghèo chiếm 20,7%; 54 người thuộc hộ cận nghèo chiếm 26%

và nhóm không nghèo là 111 người chiếm 53,4%

Về khả năng chi trả của các bệnh nhân trong nghiên cứu, nhóm đủ khảnăng chiếm 32,7%; nhóm phải vay nợ một phần chiếm tỉ lệ lớn nhất với54,1%; nhóm phải vay nợ toàn bộ chiếm 15,9%

Bảng 3.2 Thông tin chung về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu

Trang 37

Nhận xét: Theo đó, tỷ lệ các loại ung thư phân bố trên bệnh nhân caonhất là ung thư thanh quản chiếm 33,2%, K mũi xoang 12,5%, K hạ họngchiếm 20,2% Thấp nhất là K tai 1%, K tuyến nước bọt 1%.

Về giai đoạn bệnh của các đối tượng nghiên cứu, có 9,1% bệnh nhân bịung thư nặng, di căn nhiều; 35,6% bệnh nhân nhẹ, không di căn; có tỉ lệ caonhất là nhóm bệnh nhân ở mức độ trung bình, ít di căn chiếm 54,8%

Trong số các đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân đã phẫu thuật và xạtrị là 26,9%, tỷ lệ bệnh nhân đã phẫu thuật và hóa trị là 1,4%, nhóm đã hóa trị

và xạ trị là 9,6%, nhóm mới chỉ phẫu thuật là 47,6% và chỉ có 0,5% số bệnhnhân đã sử dụng phương pháp điều trị khác (liệu pháp hormone và miễn dịchtrị liệu)

Về tiến triển bệnh , có 39,4% số bệnh nhân trong nghiên cứu cho biếttiến triển bình thường, 54,8% có tiến triển tốt và 5,8% tiến triển xấu đi

Về tác dụng phụ khi điều trị, có 5,8% đối tượng nghiên cứu gặp nhiềutác dụng phụ, 39,4% bệnh nhân cho biết tác dụng phụ ở mức trung bình, có54,8% bệnh nhân gặp ít tác dụng phụ khi điều trị đạt tỉ lệ cao nhất

Bảng 3.3 Thông tin chung về môi trường bệnh viện

Trang 38

thầy thuốc Bình thườngKhông tin 1622 10,67,7

Nhận xét: Theo đó, 51,4% đối tượng nghiên cứu ít bị ảnh hưởng bởi lo âu củanhững bệnh nhân khác; 36,1% bị ảnh hưởng trung bình và 12,5% bị ảnhhưởng nhiều từ lo âu của các bệnh nhân khác

Về cơ sở vật chất của bệnh viện, hầu hết bệnh nhân cho rằng đầy đủ/rộng rãi/ tiện nghi (70,2%); 25,0% cho rằng cơ sở vật chất phù hợp và 4,8%bệnh nhân thấy thiếu thốn/ chật chội

Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 86,5% bệnh nhân cho biếtthái độ phục vụ của nhân viên y tế tốt, còn lại 13,5% cho rằng thái độ phục vụtrung bình, không có trường hợp nào cho biết thái độ phục vụ kém

Về niềm tin vào thầy thuốc, 81,7% đối tượng nghiên cứu thấy tin tưởngvào bác sĩ, chỉ có 7,7% tin tưởng trung bình và 22 trường hợp là không tinchiếm 10,6%

3.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.4.Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang HADS

3.2.2 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.5 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm thông tin cá nhân

Trang 39

Đặc điểm đối tượng

nghiên cứu

Lo âu Không

n (%)

Có n(%) Giới tính

Trang 40

Nhận xét: tỉ lệ lo âu nam cao hơn ở nữ lần lượt là 92(56,1%) và 29(65,9%).Đối với những bệnh nhân đang có mối quan hệ sống chung với vợ/chồng hoặcbạn tình thì tỉ lệ lo âu là 60,3% ở nhóm ly dị, góa, độc thân có tỉ lệ lo âu36,8%.

Xét theo trình độ học vấn, nhóm đối tượng có trình độ phổ thông có tỉ lệ

lo âu 63,7%, nhóm có trình độ đại học có tỉ lệ lo âu 49,2% Nhóm có trình

độ sau đại học có tỉ lệ lo âu 52,2%

Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, những đối tượng chỉlàm nông dân có tỉ lệ lo âu cao nhất với 75,5%, tiếp đến là nhóm lao động

tự do có tỉ lệ lo âu 66%

Nhóm bệnh nhân có bảo hiểm y tế có tỉ lệ lo âu 60,9% cao hơn bệnhnhân không lo âu thuộc nhóm này Trong khi ở những bệnh nhân không cóbảo hiểm y tế tỉ lệ không lo âu cao hơn bệnh nhân lo âu lần lượt là 58,6% và41,4%

Nhóm kinh tế gia đình không nghèo có tỉ lệ lo âu chiếm 59,5%, nhómcận nghèo 50%, nhóm nghèo có tỉ lệ 65,1%

Nhóm khả năng chi trả vay nợ một phần có tỉ lệ lo âu chiếm 65,4%, nhómvay nợ toàn bộ có tỉ lệ lo âu chiếm 69,7%, nhóm đủ khả năng chi trả có tỉ lệ lo âuchiếm 41,2%

Ngày đăng: 05/08/2019, 21:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w