với lĩnh vực thi hành án dân sự, Viện kiểm sát có quyền kiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án để đảm bảo việc cưỡng chế đúng pháp luật, ngăn chặn những hành vi, quyết định xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân, cơ quan tổ chức là một trong những quyền năng của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án dân sự. Bài viết trình bày những hoạt động cụ thể của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, từ đó giúp hình thành, phát triển và hoàn thiện kỹ năng của Kiểm sát viên khi tiến hành kiểm sát hoạt động này.
Trang 1Đề bài số 0 2: Trình bày hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Lời mở đầu
Thi hành án dân sự là hoạt động thi hành bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa bản án, quyết định dân sự ra thi hành trên thực tế Hoạt động này nhằm đảm bảo bản án, quyết định được thực thi trong cuộc sống, mặt khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, thực tế không phải bản án, quyết định dân
sự nào của cơ quan có thẩm quyền cũng được thi hành một cách tự nguyện Do đó, pháp luật quy định các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo việc thi hành án dân sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đúng pháp luật
Nhà nước trao cho Viện kiểm sát nhân dân quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; với lĩnh vực thi hành án dân sự, Viện kiểm sát có quyền kiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án để đảm bảo việc cưỡng chế đúng pháp luật, ngăn chặn những hành vi, quyết định xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân, cơ quan tổ chức là một trong những quyền năng của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án dân sự Bài viết trình bày những hoạt động
cụ thể của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, từ đó giúp hình thành, phát triển và hoàn thiện kỹ năng của Kiểm sát viên khi tiến hành kiểm sát hoạt động này
Trang 2I Khái quát chung về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
1 Khái niệm, ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có cơ sở pháp lí tại điều 9 về cưỡng chế
trong thi hành án dân sự đối với“Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này”; Khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự“Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế”; Mục 2 Chương IV, từ Điều 70 đến Điều 121
quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự; Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 17/8/2015; Thông tư 200/2016/TT-BTC ngày 09/11/2016… Có thể thấy hoạt động cưỡng chế thi hành án đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành
án dân sự và nhìn chung đã có khung pháp lý điều chỉnh khá cụ thể và rõ ràng trong các văn bản pháp luật
1.1 Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Theo Từ điển Luật học, cưỡng chế là“buộc cá nhân hay tổ chức phải phục tùng một mệnh lệnh, thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, “biện pháp sử dụng trong cưỡng chế là bạo lực về mặt vật chất hoặc tinh thần, thường được áp dụng khi quyết định
đã có hiệu lực không được thực hiện một cách tự nguyện” Tại điều 3 Luật thi hành
án dân sự về giải thích từ ngữ và các văn bản hướng dẫn liên quan không có định nghĩa cưỡng chế thi hành án dân sự Tuy nhiên, từ khái niệm tại Từ điển Luật học,
có thể định nghĩa: Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp do Cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án dân sự để thực hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo thủ tục do pháp luật quy định nhằm cưỡng bức buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về
2
Trang 3tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tầu tán, hủy hoại tài sản
Tại điều 71 Luật Thi hành án dân sự quy định 06 biện pháp cưỡng chế: một
là, khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền giấy, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; hai là, trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; ba là, kê biên,
xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản do người thứ ba giữ; bốn là, khai thác tài sản của người phải thi hành án; năm là, buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; sáu là, buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc
không được thực hiện công việc nhất định
1.2 Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đóng vai trò hỗ trợ cho việc thi hành các bản án, quyết định, góp phần bảo đảm hiệu lực thực thi bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; bảo vệ quyền và nghĩa vụ dân sự được ghi nhận trong bản án, quyết định, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, các nghĩa vụ thanh toán có tính chất tài sản có thể được thực hiện nếu người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ có tài sản để thi hành, hoặc thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Hiện nay, không phải lúc nào các bản án, quyết định cũng được các đương
sự tự nguyện thực hiện, nhiều đương sự có nghĩa vụ thi hành án nhưng không tự nguyện, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định nên rất dễ có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản Nhìn chung, các biện pháp cưỡng chế vừa có tác động trực tiếp đến quyền định đoạt tài sản của người phải thi hành án, vừa mang những đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự, tố tụng hành
Trang 4chính về sự đơn giản về thủ tục, nhanh chóng về thời gian áp dụng, xét về mức độ biện pháp này tước đi quyền tự định đoạt tài sản của người phải thi hành án Xuất phát từ mục đích nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án, dựa trên bản án, quyết định; quyết định thi hành án; quyết định cưỡng chế thi hành án là các căn cứ để cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên có thể áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế thi hành án Như vậy, biện pháp cưỡng chế được áp dụng tại thời điểm có đầy đủ các quyết định trên, trừ một số trường hợp quy định tại khoản 3 điều 70 Luật thi hành án Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, khả năng đánh giá, nhận định tình huống của Chấp hành viên
Về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tôn
trọng thực hiện: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức cá nhân tôn trọng;cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành 1” Trong lĩnh vực thi hành án, không phải lúc nào các bản án, quyết định cũng được các đương sự tự nguyện thực hiện Hiện nay, chế tài
về hành vi không chấp hành bản án, quyết định đã được quy định khá cụ thể nhưng
để xử lý thì vẫn gặp không ít khó khăn và kết quả thực thi trên thực tế chưa thật sự hiệu quả
Biện pháp cưỡng chế thi hành án làm chấm dứt quyền định đoạt tài sản của người phải thi hành án, đối với người bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án phải gánh chịu những thiệt hại nhất định về kinh tế và bị tước đi quyền tự định đoạt tài sản So với biện pháp cưỡng chế, việc người phải thi hành án lựa chọn biện pháp
tự nguyện thi hành án được xem như giải pháp có lợi hơn cả, uy tín của họ không
bị ảnh hưởng do không bị cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế và không phải nộp khoản tiền chi phí cưỡng chế thi hành án bởi mức độ tác động của
1 Điều 106 Hiến pháp 2013 Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
4
Trang 5biện pháp cưỡng chế rất mạnh Khi đương sự đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trên nền tảng ý chí cưỡng bức của nhà nước sẽ ảnh hưởng nhiều đến các mối quan hệ xã hội, do đó, biện pháp cưỡng chế thi hành án chỉ là giải pháp khi đương sự không tự nguyện thi hành án dân sự
Tóm lại, các biện pháp cưỡng chế thi hành án nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của đương sự; bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước, góp phần vào việc giữ gìn trật tự trị an và ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững và củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước
2 Quy định về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Về điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng cưỡng chế thi hành án dân sự, một là
biện pháp cưỡng chế thi hành án chỉ được áp dụng đối với người phải thi hành án, khi mà người đó phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định đã được đưa ra thi hành của Toà án, quyết định của Trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc phải nộp phí thi hành án…; hai là người phải thi hành án đã được cơ quan có thẩm quyền xác minh là có điều kiện thi hành
án, nhưng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn theo quy định pháp luật
Về trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự, xác
minh căn cứ cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án, tống đạt, chuyển giao giấy tờ, văn bản; tiến hành hoạt động cưỡng chế thi hành án; thanh toán phí thi hành án, chi phí cưỡng chế và chi phí liên quan; kết thúc thi hành án
Về nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, một là chỉ áp
dụng biện pháp cưỡng chế khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án hoặc còn thời
Trang 6hạn nhưng cần ngăn chặn người đó có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án2; hai là chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà pháp luật quy định3; ba là việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào bản án, quyết định, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể và tổ chức cưỡng chế trong thời gian pháp luật cho phép, cưỡng chế tương ứng với nghĩa vụ mà người đó phải thi hành theo một trình tự thủ tục nhất định
II Hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
1 Vào sổ, lập hồ sơ nghiệp vụ kiểm sát
Để thuận lợi và kiểm sát chặt chẽ, mỗi Kiểm sát viên tùy vào yêu cầu đặt ra của đơn vị để theo dõi, kiểm tra sổ theo dõi về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án để từ đó kiểm sát chặt chẽ từng nội dung của hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự, phát hiện vi phạm của cá nhân, cơ quan tổ chức liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án, kịp thời ban hành yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị khắc phục
Trong công tác này, Viện kiểm sát mà cụ thể là Kiểm sát viên thực hiện việc lập hồ sơ kiểm sát khi: trực tiếp kiểm sát; kiểm sát việc cưỡng chế thi hành án; kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về cưỡng chế thi hành án… Khi nhận được Kế hoạch cưỡng chế thi hành án4, Kiểm sát viên được phân công thụ lý vào sổ thụ lý vụ việc, sau đó tiến hành lập hồ sơ kiểm sát việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Hồ sơ kiểm sát hoạt động cưỡng chế thi hành án được đánh số bút lục; sắp xếp theo thời gian và trình tự tổ chức cưỡng chế thi hành án, được phân thành các tập tài liệu để dễ nghiên cứu, sử dụng Hồ sơ phải có đầy đủ tài liệu về hoạt động kiểm sát việc cưỡng chế thi hành án trong mỗi hoạt động, các tài liệu phải tuân thủ quy định về nội dung, hình thức, thẩm quyền, thời gian, căn cứ…Ngoài ra, hồ sơ
2 Khoản 2 điều 45 Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014.
3 Điều 71 Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014.
4 Điều 72 Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014.
6
Trang 7kiểm sát phải được lập tuân thủ đúng quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
về chế độ lập, quản lý, bảo quản hồ sơ nghiệp vụ kiểm sát
2 Kiểm sát hồ sơ thi hành án dân sự và các hoạt động liên quan đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
2.1 Kiểm sát hồ sơ thi hành án dân sự
Khi nhận được bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền kèm theo “để thi hành”, Cơ quan thi hành án dân sự phải lập hồ sơ thi hành án Đối với hoạt động
áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, Kiểm sát viên thực hiện báo cáo Lãnh đạo Viện/ Lãnh đạo đơn vị khi nhận được kế hoạch cưỡng chế thi hành án, Lãnh đạo phân công Kiểm sát viên nghiên cứu và kiểm sát hồ sơ thi hành án trong đó có các quyết định, hành vi liên quan đến hoạt động cưỡng chế thông qua quá trình trực tiếp kiểm sát tại Cơ quan Thi hành án dân sự, cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc thông qua việc yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ để kiểm sát việc cưỡng chế thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về cưỡng chế thi hành án dân sự…
Khi nghiên cứu, Kiểm sát viên phải làm rõ tính có căn cứ, tính hợp pháp trong việc ra quyết định và thực hiện các hoạt động cưỡng chế thi hành án, có hay không vi phạm pháp luật trong quá trình cưỡng chế? Nội dung, tính chất, mức độ vi phạm? Hình thức xử lí, khắc phục hậu quả, xử lý vi phạm khi có vi phạm đối với việc kiểm sát trực tiếp quá trình cưỡng chế thi hành án Đối với việc trực tiếp kiểm sát (thông qua định kỳ hoặc đột xuất), trước khi trực tiếp kiểm sát, Lãnh đạo Viện phải ban hành quyết định trực tiếp kiểm sát theo nội dung và mẫu quy định chung của ngành, nêu rõ kiểm sát trực tiếp thường kỳ hay đột xuất Sau khi được phân công, trường đoàn trực tiếp kiểm sát phải lập Kế hoạch trực tiếp kiểm sát, gồm các nội dung cơ bản như: Mục đích, yêu cầu; nội dung cần kiểm sát; cách thức tiến hành; trách nhiệm của đơn vị được kiểm sát Kế hoạch phải trình đồng thời với Quyết định trực tiếp kiểm sát để lãnh đạo Viện xem xét và phê duyệt Quyết định
Trang 8và Kế hoạch trực tiếp kiểm sát phải được gửi cho cơ quan, tổ chức (và cơ quan chủ quản) được trực tiếp kiểm sát ít nhất trước 15 ngày kể từ ngày sẽ trực tiếp kiểm sát
để phối hợp thực hiện (trừ trường hợp trực tiếp kiểm sát đột xuất) và gửi cho Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền để báo cáo Khi phát hiện hồ sơ thi hành án có vi phạm pháp luật trong quá trình cưỡng chế thi hành án, Kiểm sát viên lập phiếu kiểm sát theo mẫu; ghi rõ và đầy đủ các vi phạm, quan điểm của Kiểm sát viên về hướng giải quyết khắc phục vi phạm, thông báo với Chấp hành viên phụ trách việc thi hành án hoặc Lãnh đạo Cơ quan thi hành án dân sự về nội dung của phiếu kiểm sát; ghi ý kiến của Chấp hành viên Sau đó báo cáo kết quả và quan điểm đề xuất
xử lý vi phạm với Lãnh đạo Viện/ Trưởng đoàn (trong trường hợp trực tiếp kiểm sát); gửi báo cáo cho cán bộ làm nhiệm vụ để tập hợp, chuẩn bị xây dựng kết luận kiểm sát
Đối với trường hợp khiếu nại tố cáo trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, mà Viện kiểm sát yêu cầu cung cấp thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, ban hành kết luận kiểm sát
hồ sơ, gửi cho Cơ quan Thi hành án dân sự và làm văn bản tổng hợp thông báo kết quả kiểm sát gửi cho người khiếu nại, tố cáo Sau khi nghiên cứu hồ sơ xong, phải sắp xếp lại, chuyển giao lại cho Cơ quan Thi hành án dân sự, cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan Việc giao, nhận phải được lập biên bản và ký xác nhận giữa hai bên
2.2 Kiểm sát các hoạt động liên quan đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Khi ban hành các quyết định về cưỡng chế thi hành án dân sự, Cơ quan Thi hành án dân sự phải gửi cho Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm đảm bảo cho các quyết định, hành vi thực hiện đúng quy định pháp luật Khi nhận được các quyết định liên quan đến
8
Trang 9việc cưỡng chế thi hành án dân sự, Viện kiểm sát vào sổ thụ lý, phân công cán bộ, Kiểm sát viên nghiên cứu Cán bộ, Kiểm sát viên được phân công nghiên cứu cần làm rõ về: thời hạn, thẩm quyền, nội dung, thủ tục ban hành quyết định; thời hạn gửi quyết định cho Viện kiểm sát, lựa chọn đúng mẫu kiểm sát Đối với quyết định cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi
tổ chức cưỡng chế thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án
Hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án có thể thông qua biện pháp cử Kiểm sát viên trực tiếp tham gia và kiểm sát việc cưỡng chế hoặc kiểm sát hồ sơ, tài liệu việc thi hành án có cưỡng chế Khi tham gia và trực tiếp kiểm sát việc cưỡng chế, Kiểm sát viên nghiên cứu trước các tài liệu thi hành án có liên quan đến việc cưỡng chế, nếu phát hiện có vi phạm trong việc tổ chức cưỡng chế thể hiện trong tài liệu thi hành án thì báo cáo Lãnh đạo viện để yêu cầu hoặc kiến nghị, kháng nghị khắc phục; nếu phát hiện vi phạm tại nơi tổ chức cưỡng chế thì có quan điểm yêu cầu Cơ quan thi hành án khắc phục Khi nhận thấy các quyết định về cưỡng chế thi hành án có vi phạm pháp luật thì cán bộ, Kiểm sát viên ghi rõ vi phạm vào phiếu kiểm sát, đề xuất báo cáo Lãnh đạo đơn vị phương
án xử lý vi phạm bằng việc ban hành văn bản yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị để thu hồi, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy quyết định Viện kiểm sát kiểm sát các trường hợp thẩm quyền ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về cưỡng chế thi hành án; về hình thức mẫu thực hiện cưỡng chế
Khi cần thiết kiểm sát hoạt động thẩm định giá hoặc bán đấu giá tài sản, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá hoặc
Cơ quan THADS cung cấp hồ sơ việc thi hành án hoặc hồ sơ thẩm định giá, hồ sơ bán đấu giá để kiểm sát
3 Kĩ năng của Kiểm sát viên trong kiểm sát việc áp dụng về cưỡng chế thi hành án trong hoạt động cụ thể
Trang 103.1 Kiểm sát việc áp dụng các căn cứ cưỡng chế thi hành án
Kiểm sát viên tiến hành xem xét, kiểm tra các căn cứ cưỡng chế thi hành án phải đầy đủ, phù hợp với nội dung quyết định cưỡng chế như: Điều 20, Điều 44, Điều 71… Luật Thi hành án dân; bản án, quyết định; quyết định thi hành án; quyết định cưỡng chế thi hành án (Điều 70 Luật Thi hành án dân sự)
Quyết định cưỡng chế thi hành án theo biện pháp nào thì phải ban hành tương ứng với mẫu hiện hành của biện pháp đó được quy định tại Thông tư 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp Kiểm sát viên khi phát hiện sai phạm trong việc áp dụng căn cứ cưỡng chế, việc ra quyết định có đúng thẩm quyền, nội dung, hình thức quyết định cưỡng chế hay không, vi phạm thời hạn gửi quyết định thì báo cáo lãnh đạo để thực hiện việc kiến nghị hoặc yêu cầu Chấp hành viên
ra quyết định sửa đổi, bổ sung, thu hồi quyết định cưỡng chế thi hành án
3.2 Kiểm sát việc lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án
Điều 72 Luật Thi hành án dân sự quy định trước khi tiến hành cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay Kế hoạch cưỡng chế phải do người có thẩm quyền ký ban hành và bao gồm các nội dung chính sau: Tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế
Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cùng cấp, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án
Kiểm sát viên được phân công tiến hành kiểm sát hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự sau khi nhận được kế hoạch cưỡng chế thi hành án cần kiểm tra nội dung kế hoạch, thẩm quyền ký kế hoạch, so sánh căn cứ, cơ sở tiến hành cưỡng với các quy định pháp luật, tình hình thực tế Nếu phát hiện thiếu sót phải kịp thời báo cáo lãnh đạo để thực hiện quyền yêu cầu hoặc kiến nghị Đoàn trực tiếp kiểm sát khi tiến hành trực tiếp kiểm sát tại Cơ quan thi hành án mà phát hiện những vụ án
10