1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận thi hành án dân sự 2014

14 513 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 36,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Miễn giảm nghĩa vụ thi hành án là gì? Tại sao lại có chủ trương miễn giảm nghĩa vụ thi hành án? Ý kiến của em về vấn đề này?

Trang 1

Đề tài số 12: Miễn giảm nghĩa vụ thi hành án là gì? Tại sao lại có chủ trương miễn giảm nghĩa vụ thi hành án? Ý kiến của em về vấn đề này?

Lời mở đầu

Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 đã có những thay đổi nhất định để kiện toàn công tác thi hành án dân sự được diễn ra thuận lợi hơn trên thực tế Đối với trường hợp khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể có quyền và nghĩa vụ phải thực hiện các quyền

và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, không phải lúc nào việc thi hành án cũng diễn

ra được thuận lợi bởi các lí do khác nhau từ người phải thi hành, từ tài sản phải thi hành, do đó đối với những trường hợp này pháp luật thi hành án dân sự cần

có những quy định cụ thể Theo đó, Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi

bổ sung năm 2014 với nội dung miễm giảm nghĩa vụ thi hành án đã có những thay đổi nhất định phù hợp với quyền và lợi ích của đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lợi ích nhà nước và xã hội Qua đó, cụ thể hóa việc đảm bảo, công nhận, tôn trọng quyền con người, quyền công dân ở Nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến pháp và pháp luật

I.Một số vấn đề lí luận về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

1.Khái niệm miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

Tại Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi chung là Luật thi hành án dân sự- LTHADS) không có quy định giải thích về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án, tuy nhiên theo cách hiểu chung có thể hiểu miễn giảm thi hành án có thể hiểu là trường hợp người phải thi hành án có nghĩa

Trang 2

vụ nộp một khoản tiền, tài sản để thu nộp ngân sách nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thực hiện hoặc mới thực hiện được một phần mà có đủ các điều kiện do pháp luật quy định nên được Tòa

án có thẩm quyền quyết định miễn giảm thi hành toàn bộ hay một phần các khoản thu nộp ngân sách nhà nước

2 Điều kiện miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

Tại điều 61 LTHADS quy định điều kiện miễn gảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đối với từng trường hợp như sau:

Đối với người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có

đủ hai điều kiện: Một là, không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo

quy định của pháp luật không được xử lí để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và

người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng Hai là, hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày

ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2000000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành

án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2000000 đồng đến dưới 5000000 đồng

Điều 61 khoản 2 LTHADS quy định người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện như sau: Một là, không có tài sản hoặc

có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lí để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối

thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng.Hai là,hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ

còn lại có giá trị dưới 5000000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5000000 đồng đến dưới 10000000 đồng

Tại khoản 3 điều 61 quy định, người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp từ ngân sách nhà nước mà thuộc một trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 điều 61 LTHADS thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện như sau: Một là, hết thời hạn 05 năm,

kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ

Trang 3

10000000 đồng đến 100000000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số

tiền còn lại phải thi hành Hai là, Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định

thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100000000 đồng, mỗi lần giảm không quá một năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50000000 đồng

Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC

giải thích tại điều 4 về điều kiện xét miễn, giảm thi hành án: “Thi hành được một phần khoản thu, nộp ngân sách nhà nước quy định tại Khoản 2 và Khoản

3 hoặc một phần án phí quy định tại Khoản 4 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự là

đã thi hành được ít nhất bằng một phần năm mươi khoản thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc khoản án phí phải thi hành theo bản án, quyết định của Tòa án”.Trường hợp người đã được giảm một phần hình phạt tiền mà lại phạm tội

mới thì chỉ xét giảm tiếp khi đã thi hành được một phần hình phạt tiền chung theo quy định của Bộ luật Hình sự về giảm mức hình phạt tiền đã tuyên

Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại Số lần được xét miễn hoặc giảm được quy định tại khoản 5 điều 61 LTHADS là một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định.Việc miễn phần án phí, tiền phạt còn lại quy định tại Khoản 4 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự được thực hiện khi người phải thi hành án có đủ các điều kiện sau:

“a) Đã tích cực thi hành được một phần án phí quy định tại Khoản 1 Điều này; thi hành được một phần tiền phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự về miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại;

b) Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn

Trang 4

Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài là người bị giảm sút hoặc mất thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do tai nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn đến không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho bản thân người đó

và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng từ mười hai tháng trở lên, kể từ thời điểm xảy ra sự kiện đó đến thời điểm xét miễn, giảm thi hành án

Người phải thi hành án lập công lớn là người đã có hành động giúp cơ quan nhà

nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận”1

3 Một số vấn đề khác về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

3.1 Nguyên tắc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

Về nguyên tắc việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án cho người phải thi hành án phải do người được thi hành án quyết định, khi người được thi hành án đồng ý, Tòa án mới có quyền quyết định việc miễn giảm nghĩa vụ thì hành án cho người phải thi hành án Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015 điều 3 quy định các nguyên tắc xét miễn, giảm thi hành án: “1 Việc xét miễn, giảm thi hành án phải được thực hiện khách quan, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thời hạn và các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật có liên quan;2 Người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm”

Chi phí cho việc xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí hoạt động của cơ quan thực hiện việc miễn, giảm thi hành án Ngoài ra việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án cần tuân thủ theo các quy định của pháp luật nói chung

1Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015.

Trang 5

3.2 Xác minh điều kiện để xét miễn giảm thi hành án

Việc xác minh điều kiện để xét miễn giảm thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 44 LTHADS, ngoài ra cần lưu ý một số vấn đề được quy định tại điều 5 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC:

Thứ nhất, việc xác minh điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án được

thực hiện khi có một trong các căn cứ sau đây:

Một là, Thủ trưởng cơ quan thi hành án đã ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự; đủ điều kiện về thời hạn, mức tiền quy định tại Điều 61 Luật Thi hành án dân sự và điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch này hoặc đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch này;

Hai là, Cơ quan Thi hành án dân sự nhận được đơn đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án.Đơn đề nghị xét miễn, giảm được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện cho cơ quan Thi hành án dân sự

Ba là, Cơ quan Thi hành án dân sự nhận được yêu cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện kiểm sát.Viện kiểm sát yêu cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm khi có căn cứ xác định rõ người phải thi hành án có đủ điều kiện để được xét miễn, giảm thi hành án, nhưng cơ quan Thi hành án dân sự không lập hồ sơ

Thứ hai, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ quy định tại Khoản

1 Điều 5 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC, Chấp hành viên tiến hành xác minh để lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án; đối với trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này, nếu xét thấy người phải thi hành án chưa đủ các điều kiện quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này thì cơ quan Thi hành án dân sự thông báo cho người phải thi hành án đã có đơn đề nghị xét miễn, giảm thi hành án biết và không phải tiến hành xác minh

Trang 6

Đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, Chấp hành viên còn phải xác minh điều kiện xét miễn, giảm tại Trại giam, Trại tạm giam, cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện (sau đây gọi chung là cơ sở giam giữ) nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù Nội dung xác minh làm rõ trong quá trình chấp hành hình phạt tù, phạm nhân là người phải thi hành

án thuộc một hoặc các trường hợp: lập công lớn; bị bệnh hiểm nghèo; có tài sản gửi ở bộ phận lưu ký của cơ sở giam giữ; kết quả thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước do cơ sở giam giữ thu (nếu có) Chấp hành viên có thể trực tiếp xác minh tại cơ sở giam giữ hoặc cơ quan Thi hành án dân sự gửi phiếu đề nghị xác nhận Cơ sở giam giữ có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận vào phiếu xác nhận

để chuyển trực tiếp cho Chấp hành viên hoặc gửi phiếu xác nhận cho cơ quan Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được phiếu đề nghị

Thứ ba, trường hợp xác minh theo quy định tại Điểm b và Điểm c

Khoản 1 Điều 5 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC, nếu người phải thi hành án không đủ điều kiện xét miễn, giảm thì trong thời hạn

05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác minh, cơ quan Thi hành án dân

sự phải thông báo bằng văn bản cho người phải thi hành án đã có đơn đề nghị xét miễn, giảm thi hành án hoặc Viện kiểm sát đã yêu cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án biết, nêu rõ lý do chưa đủ điều kiện xét miễn, giảm

3.3 Thẩm quyền miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

Điều 63 khoản 1 LTHADS quy định thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án thuộc Tòa án có thẩm quyền, cụ thể như sau: “Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở

Trang 7

3.4 Hồ sơ và thủ tục miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

Trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác minh, nếu người phải thi hành án có đủ điều kiện xét miễn giảm thi hành án, Chấp hành viên lập hồ sơ

đề nghị xét miễn giảm thi hành án, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân

sự để chuyển Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện kiểm sát theo quy định pháp luật

Hồ sơ đề nghị xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án do Cơ quan thi hành án dân

sự có thẩm quyền lập đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét được quy định cụ thể tại điều 62 LTHADS bao gồm:

“1 Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt

2 Bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự

3 Biên bản xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm

4 Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, nếu có

5 Ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án”

Căn cứ điều 6 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC,tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án quy định tại khoản 4 Điều 62 LTHADSlà một trong các loại tài liệu sau:

a) Chứng từ thu - chi tiền thi hành án (nếu có);

b) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên trong trường hợp người phải thi hành án bị tai nạn, đau ốm kéo dài;

Trang 8

c) Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã trong trường hợp người phải thi hành án bị thiệt hại tài sản do thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác;

d) Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp người phải thi hành án lập công lớn;

đ) Phiếu xác nhận của cơ sở giam giữ nơi người phải thi hành án đang chấp hành

án phạt tù đối với các thông tin được quy định tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư liên tịch này;

e) Quyết định của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự về việc người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự;

g) Tài liệu chứng minh khác liên quan đến điều kiện xét miễn, giảm thi hành án (nếu có)

Đối với thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 63 và điều 9TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC như sau:

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý

hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án, Chánh án Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm thi hành án phân công một Thẩm phán thụ lý hồ sơ và giải quyết việc xét miễn, giảm thi hành án Thẩm phán được phân công có quyền yêu cầu Viện kiểm sát hoặc cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung giấy tờ cần thiết trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu Quá thời hạn nêu trên, nếu cơ quan được yêu cầu không giải thích hoặc bổ sung giấy tờ cần thiết thì Thẩm phán trả lại hồ sơ cho cơ quan đã đề nghị.Trường hợp hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm bị Tòa án trả lại do chưa đầy đủ

Trang 9

hoặc thực hiện không đúng thủ tục, Viện kiểm sát hoặc cơ quan Thi hành án dân

sự có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ, thủ tục và đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét trong kỳ xét miễn, giảm gần nhất

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện

cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân

sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp,

cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang chấp hành hình phạt tù

Quyết định miễn, giảm thi hành án của Tòa án có hiệu lực thi hành kể

từ ngày hết thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 64 LTHADS mà Viện kiểm sát không kháng nghị

II.Lý giải về việc có quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

1 Cơ sở lí luận của việc quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

Đảng và Nhà nước định hướng xây dựng nền pháp chế Xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân, trong đó, tư pháp phải được

đề cao, ưu tiên hàng đầu Theo quy định tại điều 103 Hiến pháp 2013, Tòa án thực hiện việc xét xử và giữ quyền tư pháp Như vậy, Tòa án đóng vai trò trung tâm trong nhánh quyền lực tư pháp Để bản án, quyết định của Tòa án có hiệu

Trang 10

lực pháp lực thì cần có cơ chế bảo đảm thực hiện, theo đó, thi hành án đóng vai trò quan trọng trong cơ chế này

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền- mọi hoạt động, mọi điều đều tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, trên cơ sở tính chất nhân đạo cũng như sự điều chỉnh cho phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng, thì việc quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án trong một số trường hợp khi đáp ứng đủ điều kiện, thực hiện theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định là một trong những chủ trương quan trọng, chính sách thiết thực của Đảng, Nhà nước ta

2 Cơ sở thực tiễn của việc quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án

Thi hành án dân sự trước hết là vì quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành, do đó, việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án cho người phải thi hành án phải do người được thi hành án quyết định Tuy nhiên, trong một số trường hợp được người được thi hành án đồng ý hoặc người được thi hành án đề nghị hoặc đối với các khoản thi hành án thu cho ngân sách nhà nước thì Nhà

nước (Tòa án) có quyền quyết định việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án cho

người phải thi hành án

Như đã nói, bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có tính nghiêm minh khi có cơ chế đảm bảo thực thi trên thực tế Thế nhưng trên thực tế, có nhiều trường hợp việc thi hành không thể thực hiện được do người phải thi hành

án qua một thời gian dài vẫn không có tài sản để thi hành án và khả năng họ có tài sản để thi hành bản án, quyết định là không có Hay trong trường hợp khác, khi tài sản của người phải thi hành án có giá trị rất nhỏ, nhưng tổ chức thi hành

án lại đòi hỏi kinh phí cao và do đó hiệu quả thi hành sẽ rất thấp Nếu các cơ quan có thẩm quyền cứ buộc họ phải thực hiện nốt phần nghĩa vụ thì sẽ mất nhiều thời gian, công sức, mặt khác có thể không đem lại hiệu quả, đối với một

số trường hợp còn là không thể hiện được tính chất nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Trên cơ sở đó, để bảo đảm hiệu quả công tác thi hành án, LTHADS và văn bản hướng dẫn liên quan đã quy định về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án trong một số trường hợp cho người phải thi hành án

Trên cơ sở dựa vào tình hình thực tế, tình tình tài sản của người phải thi hành án dân sự, về thời gian và hiệu quả công tác thi hành bản án, quyết định

Ngày đăng: 12/07/2018, 17:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w