1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận dân sự 2 Bồi thường thiệt hại

26 2,3K 29

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 42,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định pháp lí xuất hiện sớm nhất trong lịch sử pháp luật dân sự trên Thế giới. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại là một loại trách nhiệm pháp lí. Tại Việt Nam, chế định này đã có lịch sử phát triển trong một thời gian. Quá trình lập pháp của Việt Nam cũng nhận thấy rõ vai trò của chế định này trong việc điều chỉnh các quan hệ trong những trường hợp gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác mà không xuất hiện giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi hợp đồng đã giao kết. Vì thế, đến Bộ luật dân sự 2015, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn, được quy định tại Phần thứ ba Nghĩa vụ và Hợp đồng, chương XX Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vậy bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 2015 được quy định như thế nào?

Trang 1

Đề số 25: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân

sự năm 2015- Những vấn đề lí luận và thực tiễn.

Lời mở đầu

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định pháp lí xuất hiện sớm nhấttrong lịch sử pháp luật dân sự trên Thế giới Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồnghay còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại là một loại trách nhiệm pháp lí.Tại Việt Nam, chế định này đã có lịch sử phát triển trong một thời gian Quá trìnhlập pháp của Việt Nam cũng nhận thấy rõ vai trò của chế định này trong việc điềuchỉnh các quan hệ trong những trường hợp gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tínhmạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác mà không xuất hiện giao kết hợpđồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc phạm vi hợp đồng

đã giao kết Vì thế, đến Bộ luật dân sự 2015, chế định bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn, được quy định tại Phần thứ baNghĩa vụ và Hợp đồng, chương XX Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng Vậy bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 2015 đượcquy định như thế nào?

Trang 2

Giải quyết vấn đề

I Một số vấn đề lí luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015:

1 Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Như đã nói, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệmpháp lí, nó thuộc dạng trách nhiệm dân sự Hiện nay, khái niệm cụ thể về “tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” chưa được các văn bản quy phạm phápluật hiện hành giải thích Tuy nhiên, trên những cơ sở pháp lí đã có và thực tiễn đã

áp dụng, có thể đưa ra khái niệm “ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng” như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại tráchnhiệm dân sự, theo đó, người có trách nhiệm bồi thường phải bồi thường thiệt hạicho những tổn thất gây ra cho người khác khi có những điều kiện phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mà giữa người gây thiệt hại với người

bị thiệt hại không có việc giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi gâythiệt hại không thuộc phạm vi hành vi thực hiện hợp đồng

Khái niệm trên được xây dựng từ cơ sở điều 274 Bộ luật dân sự 2015 về

nghĩa vụ: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung

là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ

có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc của nhiều chủ thế khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)” và khoản 5 điều 275 về căn cứ phát sinh nghĩa vụ: “Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” Có thể thấy, sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật chính là căn cứ

làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trong đó có trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng Với trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa

vụ, và từ nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại Từ đó, chúng ta thấy mối quan hệgiữ nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, dẫn đến khái niệm “nghĩa vụ

Trang 3

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” (còn gọi là “trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng”).

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ thể có thể là cánhân, pháp nhân, trong một số trường hợp khác có thể là Nhà nước: cơ quan nhànước, cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án… Trongnhững trường hợp cụ thể, các bên trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng có thể có một hoặc nhiều người tham gia, song, quy đổi chỉ gồm hai chủ thểchính là người bị thiệt hại (còn gọi là người có quyền) và người gây ra thiệt hại(còn gọi là người có nghĩa vụ) là các bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng Bên có nghĩa vụ phải thực hiện cho bên có quyền nghĩa vụ mà bên cóquyền yêu cầu hay do pháp luật quy định, tùy theo chủ thể, mối liên hệ chủ thể giữacác bên mà có thể là nghĩa vụ đơn người, nghĩa vụ riêng rẽ, nghĩa vụ liên đới…

Trong quan hệ pháp luật nói chung, khách thể là những lợi ích vật chất, lợiích tinh thần hoặc lợi ích xã hội khác mà chủ thể mong muốn đạt được khi tham giaquan hệ pháp luật, trong đó, lợi ích vật chất là vật, tiền, vàng bạc, giấy tờ có giá…;lợi ích tinh thần- lợi ích phi vật chất là văn hóa, sức khỏe, quyền tác giả…; lợi ích

xã hội khác là những hành động xã hội Như vậy, trong quan hệ bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng thì khách thể của quan hệ này luôn phải thể hiện dưới dạng

“hành động xã hội”, thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bịthiệt hại khi có sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” diễn ra đối với chủthể bị thiệt hại

2 Đặc điểm của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Trách nhiệm dân sự nói chung, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung mang tính chất củatrách nhiệm dân sự, hay nói cách khác, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng là một loại trách nhiệm dân sự Việc quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 4

bằng tài sản nhằm khôi phục tình trạng bị thiệt hại Hậu quả của việc áp dụng tráchnhiệm này là những bất lợi, thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà người gây rathiệt hại đã gây ra cho chủ thể khác Và như vậy, việc bồi thường thiệt hại khôngchỉ bảo đảm việc những thiệt hại được đền bù ổn thỏa mà còn mang tính giáo dụccao tới cộng đồng về việc tuân theo pháp luật, tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của người khác

Tiếp nữa, trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hai bên chủ thể(bên có trách nhiệm bồi thường và bên bị thiệt hại) chưa từng có quan hệ hợp đồng,hoặc có những thiệt hại xảy ra liên quan đến hợp đồng Điều này là căn cứ quantrọng để quyết định có là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay không Cuốicùng, thiệt hại bồi thường nói chung hay thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng phátsinh do hành vi trái pháp luật gây ra và luôn mang đến hậu quả bất lợi về tài sảncho người phải bồi thường Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người phải bồithường có thể không là người gây ra hậu quả, thiệt hại Ví dụ trong trường hợp conchưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại, hay con đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà không có tàisản để bồi thường thì trong trường hợp này, cha mẹ, người giám hộ, người đại diệntheo pháp luật đứng ra để bồi thường…

Vậy, việc gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật được dựa trên những căn cứnào để xác định lỗi của chủ thể phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho chủthể bị thiệt hại?

II Những điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015:

1 Cơ sở pháp lí:

Theo điều 584 Bộ luật dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi

thường thiệt hại: “1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà

Trang 5

gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác… 3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại…” Như vậy, một

chủ thể chỉ cần có “hành vi xâm phạm” đến quyền và lợi ích của chủ thể khác và

“gây thiệt hại” thì “phải bồi thường” hoặc trường hợp khác, thiệt hại không phải dochủ thể mà do tài sản thuộc sở hữu của chủ thể gây thiệt hại thì khi đó, chủ sở hữuhoặc người chiếm hữu tài sản lúc đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ởđây, nhà làm luật không quy định bằng những đại lượng cụ thể để tính mức độ thiệthại phải bồi thường, như vậy rất khó cho việc xác định giá trị phải bồi thường chochủ thể bị thiệt hại

Để tháo gỡ khó khăn trên, trong thời điểm chưa có hướng dẫn chi tiết ápdụng cho Bộ luật dân sự 2015, chúng ta có thể áp dụng tương tự pháp luật “Nghịquyết 03/2006/NQ-HĐTP ban hành ngày 08/07/2006 về hướng dẫn áp dụng một sốquy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Theomục I.1 trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải có các điều kiện sau:thiệt hại xảy ra, hành vi trái pháp luật, mối quan hệ giữa thiệt hại xảy ra với hành vitrái pháp luật , và lỗi của người gây thiệt hại Những điều kiện phát sinh tráchnhiệm trên là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường,người được bồi thường và mức bồi thường của bên phải bồi thường cho bên đượcbồi thường

2 Có thiệt hại xảy ra:

Thiệt hại có thể hiểu là những tổn thất xảy ra, tính được thành tiền, bao gồm:những mất mát, hư hỏng, hủy hoại về tài sản, nguồn thu nhập bị mất, chi phí nhằmngăn chặn, khắc phục thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhânphẩm, uy tín của cá nhân, pháp nhân

Trang 6

-Thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe là thiệt hại về vật chất, bao gồm:thiệt hại do tài sản bị xâm phạm thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm chi phí bồidưỡng chăm sóc, phục hồi sức khỏe, thuốc thang, cứu chữa, những thu nhập thực tế

bị mất, bị giảm sút khác do thiệt hại về sức khỏe… Về tính chất, thiệt hại về tài sản

có thể dễ dàng đo đếm được, biểu hiện cụ thể như bị mất tài sản, giảm sút tài sản,chi phí sửa chữa, hạn chế sửa chữa, chi phí khác gắn với khai thác, sử dụng tàisản… Còn những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cũng có thể quy đổi ra từ nhữngchi phí khám chữa Nói chung, loại thiệt hại vật chất dễ bồi thường hơn so với thiệthại do tổn thất về tinh thần

-Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại là những thiệt hại do tổnthất về tinh thần, bao gồm: chi phí ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế

bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại… Do tính chất màthiệt hại về tinh thần khó, thậm chí là không thể trị giá được bằng tiền, cũng thểphục hồi được Như vậy đối với bồi thường thiệt hại về mặt tinh thần, thì mục đíchchính là an ủi, động viên, cảm thông, chia sẻ thiệt hại Đối với cá nhân, là do sứckhỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tínhmạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gữi nhất của nạn nhân phải chịu đauthương, buồn phiền mất mát, và như vậy, họ cần phải được bồi thường một khoảntiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu đựng Đối với thiệt hại tinh thần của phápnhân, đó là những danh dự, uy tín bị xâm phạm, bị giảm sút hoặc mất đi sự tínnhiệm…vì bị hiểu lầm và cần phải được bồi thường thiệt hại một khoản tiền để bùđắp tổn thất mà pháp nhân đó phải chịu Theo Bộ luật dân sự, mức bồi thường thiệthại về tinh thần do các bên thỏa thuận, mức tối đa do pháp luật quy định

Như vậy, thiệt hại phải được xác định đúng để làm căn cứ cho việc xác địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại có phát sinh không, thiệt hại đó có thể là thiệt hạitrực tiếp hoặc thiệt hại gián tiếp, tuy nhiên việc xác định thiệt hại phải tôn trọngquy luật khách quan, có nghĩa là đánh giá khách quan từ thực tế chứ không được

Trang 7

suy diễn chủ quan từ bản thân người bồi thường hay bản Từ việc xác định đúngthiệt hại, đúng trách nhiệm bồi thường, sẽ là cơ sở cho việc ấn định mức giá bồithường cho người bị thiệt hại.

3 Có hành vi trái pháp luật:

Điều 14- khoản 1 và điều 15- khoản 2 Hiến pháp 2013 có quy định: “Ở nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân vềchính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảođảm theo Hiến pháp và pháp luật”, “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền củangười khác” và tại khoản 4 điều 3 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Việc xác lập,thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi íchquốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.Như vậy, bất cứ hành vi xâm phạm đến đến quyền được bảo vệ về tính mạng, danh

dự, sức khỏe, uy tín, tài sản của người khác đều là hành vi trái pháp luật, và phảichịu bồi thường thiệt hại

Có thể hiểu, hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người đượcthể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của phápluật, xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp phápcủa người khác và do đó nó xâm phạm đến các quy định chung được pháp luật bảo

vệ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hành vi gây thiệt hại có thể là hợp pháptrong trường hợp người thực hiện hành vi đó theo nghĩa vụ pháp luật quy định haynghĩa vụ khác hợp pháp, nói cách khác, có những trường hợp hành vi gây thiệt hạikhông bị coi là trái pháp luật: hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, tình thế cấpthiết, sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng… thì trong những trường đó mặc dù làhành vi trái pháp luật nhưng không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuynhiên, nếu vượt quá những giới hạn trên hay lỗi không phải hoàn toàn mà một phần

do bên phải bồi thường thì người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại

Trang 8

4 Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật:

Trong mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật,hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại và thiệt hại xảy ra phải là kếtquả tất yếu của hành vi trái pháp luật Nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả

và kết quả bao giờ cũng là hậu quả của nguyên nhân Chỉ khi nào, hành vi trái phápluật và thiệt hại xảy ra có mối liên hệ nội tại tất yếu thì người vi phạm mới phải bồithường thiệt hại Trong nhiều trường hợp, có nhiều người cùng gây thiệt hại chomột người thì việc xác định mối quan hệ nhân quả này có ý nghĩa xác định lỗi trựctiếp và phải bồi thường nhiều hơn so với những đối tượng còn lại; hay trong trườnghợp cả người bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều có lỗi, việc xác định mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra có ý nghĩa trong việc xácđịnh người gây thiệt hại có phải bồi thường hay không, nếu phải bồi thường thìmức bồi thường là bao nhiêu

Tuy nhiên việc xác định mối quan hệ trên nhiều khi khá khó khăn, bởi conngười không chỉ chịu tác động của những mối quan hệ mà còn chịu tác động củanhiều hiện tượng tự nhiên khác Vì thế, mối quan hệ trên chỉ có thể xem xét tronggóc độ xã hội- nơi mà hành vi trái pháp luật phát sinh và thời điểm con người phátsinh hành vi trái pháp luật và làm xảy ra hậu quả thiệt hại Mặt khác, chúng ta cầnphải xem xét khách quan, toàn diện, để phân tích các sự kiện có liên quan trongtrường hợp cụ thể, từ đó mới có thể kết luận chính xác về hành vi là nguyên nhân,gây ra hậu quả thiệt hại của người gây thiệt hại

5 Có lỗi của người gây thiệt hại:

Việc nhấn mạnh đến gây thiệt hại do “hành vi” trái pháp luật trong Bộ luật dân

sự 2015 giúp đảm bảo quyền được bồi thường của bên bị thiệt hại được tốt hơn,

điều đó có nghĩa là chỉ cần có “hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt

Trang 9

hại” thì phải bồi thường Thêm nữa, nếu quy định như Bộ luật dân sự 2005 “người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý…” là một điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường

thiệt hại là do lỗi của người gây thiệt hại thì chỉ đúng với thiệt hại do người gây ra.Tuy nhiên, lỗi không thể thể hiện thái độ chủ quan của chủ thể (ở đây là vật) vớihành vi gây thiệt hại( thiệt hại do vật gây ra) bởi vì không thể tìm được yêu tố lỗitrong một vật vô tri vô giác gây thiệt hại Như vậy, Bộ luật dân sự 2015 không đặt

nặng vấn đề lỗi của người gây thiệt hại, mà chỉ cần có “hành vi xâm phạm gây thiệt hại” thì sẽ phải bồi thường.

Tuy nhiên, theo quan điểm riêng, người viết cho rằng vấn đề lỗi của người gâythiệt hại vẫn là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mặc dù trongNghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP có chú ý: đối với trường hợp pháp luật có quy địnhviệc bồi thường thiệt hại kể cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường củangười gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bảnquy phạm pháp luật đó Nghĩa là trong dân sự, vấn đề lỗi trong bồi thường thiệt hạivẫn được bỏ ngỏ Đối với vấn đề về lỗi có thể áp dụng điều 634 lỗi trong tráchnhiệm dân sự tại mục 4 Chương XV: những quy định chung của Bộ luật dân sự

2015

Theo khoa học pháp lí, lỗi là thái độ tâm lí của người đối với hành vi gây thiệthại cho xã hội do người đó thực hiện đối với hậu quả thiệt hại cho xã hội của hành

vi đó, được biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý Điều 364 Bộ luật dân sự

2015 quy định: “ Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình

sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn để mặc cho thiệt hại xảy ra”; “Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được” Lỗi được quy định là điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự mà

Trang 10

trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung hay trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng nói riêng là một loại trách nhiệm dân sự nên lỗi cũng là điều kiệnlàm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Thế nhưng, lỗi trong trách nhiệmdân sự là lỗi suy đoán (việc suy đoán có thể đúng hoặc sai) bởi hành vi gây thiệt hại

là hành vi trái pháp luật, nên hành vi của người gây thiệt hại được suy đoán là cólỗi Và như vậy, vấn đề lỗi sẽ rất “mở” đối với người gây thiệt hại, bởi chỉ cầnngười gây thiệt hại chứng minh được họ không có lỗi thì họ không phải chịu tráchnhiệm bồi thường, như vậy, thiệt hại xảy ra ai sẽ bồi thường cho người bị thiệt hại?

Đó cũng là điểm tiến bộ hơn của Bộ luật dân sự 2015 so với Bộ luật 2005 khi

bỏ đi quy định “do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm…” (điều 604 Bộ luật dân sự 2005)

mà thay bằng “có hành vi xâm phạm…” (điều 584 Bộ luật dân sự 2015), điều nàygiúp vấn đề thiệt hại của người bị thiệt hại được bảo đảm được đền bù, bồi thườngthích đáng Tuy nhiên, một số điểm vẫn chưa thực sự thống nhất trong Bộ luật dân

sự 2015, nếu như đã bỏ quy định về lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại, như đã chứng minh ở trên, thì tại sao không sửa quy định tạikhoản 3 điều 586 Bộ luật dân sự 2015 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường

thiệt hại của cá nhân: “….nếu người giám hộ chứng minh được việc mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường” ? Điều

này cho thấy khi có thiệt hại xảy ra, người giám hộ mặc nhiên bị suy đoán là có lỗigây ra thiệt hại, nên chỉ cần người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi thìkhông phải bồi thường, mà trách nhiệm bồi thường nếu muốn, người bị thiệt hạiphải chứng minh ngược lại, song nhiều khi không thể chứng minh được, mặt khácngười bị thiệt hại đã bị thiệt hại, lại còn phải đi chứng minh, như vậy sẽ càng khókhăn, vất vả thêm cho họ Như vậy, không quy định người bị thiệt có nghĩa vụchứng minh là hợp lí Thế nhưng, nếu người giám hộ chứng minh được lỗi khôngphải của mình, thì ai sẽ là người đứng ra bồi thường những thiệt hại cho người bịthiệt hại?

Trang 11

Một số trường hợp được miễn lỗi: người chứng minh được mình không có lỗi,người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủhành vi… và do đó họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường khi gây ra thiệt hại.Trong những trường hợp trên, những người giám hộ, người đại diện, cơ quan hữuquan liên quan sẽ là người đứng ra chịu trách nhiệm, bởi những người này đã mắclỗi là không quản lí, chăm sóc, giáo dục, trông nom họ, nên họ phải bồi thường.

III Những quy định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015:

1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

Khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại, các bên có thể thỏa thuận

về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiệnmột công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, các bên cần tôntrọng thỏa thuận của nhau về bồi thường nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật,đạo đức xã hội và cần thực hiện đúng theo Điều 585 có quy định về nguyên tắc bồithường thiệt hại, có thể trình bày ngắn gọn như sau:

Thứ nhất, bồi thường phải toàn bộ và kịp thời Thiệt hại phải được bồi

thường toàn bộ nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản,sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào cácđiều luật tương ứng của BLDS quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại baogồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên

để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.Việc bồi thường toàn bộ là phù hợp với nguyên tắc công bằng cũng như mục đíchcủa chế định bồi thường thiệt hại Bồi thường kịp thời là việc Tòa án phải giảiquyết nhanh chóng yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định; trongtrường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thờitheo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.Việc bồi thường kịp thời giúp khắc phục nhanh chóng nhất tình trạng bị thiệt hại

Trang 12

của người bị thiệt hại, cũng như đối với những trường hợp người bị thiệt hại không

đủ điều kiện hay vượt quá khả năng để khắc phục thiệt hại sẽ có những giải phápkịp thời cho người bị thiệt hại

Thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện sau: “không có lỗi hoặc có lỗi vô ý” và “ thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”, nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường

so với khả năng kinh tế của họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộhoặc phần lớn số thiệt hại đó Nguyên tắc này đã quy định về việc được giảm mứcbồi thường, tuy nhiên điểm hạn chế của nó không quy định được giảm bao nhiêu,hay nói cách khác, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn phải bồi thườngbao nhiêu cho người bị thiệt hại Như vậy, trong trường hợp này, Tòa án khi raquyết định phải căn cứ vào những tình tiết, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể… để quyếtđịnh mức bồi thường được giảm

Thứ ba, mức bồi thường thiệt hại khi không còn phù hợp với thực tế thì các bên có thể yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế nghĩa là

do có sự thay đổi về tình hình kinh tế xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồithường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sựthay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nênmức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thayđổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại

Thứ tư, không được bồi thường thiệt hại khi lỗi là do bên bị thiệt hại hoặc do

bên bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lí để ngăn chặn, hạn chếthiết hại cho chính mình

2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Trang 13

Hành vi gây ra thiệt hại có thể do bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân…Song có những trường hợp người phải bồi thường không phải là người gây ra thiệthại Việc bồi thường thiệt hại phải do người có “khả năng” bồi thường và họ phảitham gia vào quan hệ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Tại điều 586 Bộ luật dân sự

2015 có quy định về năng lực trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, việc cánhân bồi thường thiệt hại phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tàisản, và khả năng có thể bồi thường của cá nhân Theo đó, người từ đủ 18 tuổi trởlên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người đãthành niên, người đã thành niên theo quy định của pháp luật là người có năng lực

hành vi dân sự đầy đủ, “năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự” (điều 19

BLDS 2015), như vậy họ phải chịu trách nhiệm do hành vi gây thiệt hại bất hợppháp của mình, vì thế tự họ đứng ra thực hiệc hiện nghĩa vụ bồi thường bằng tài sảncủa họ Thế nhưng, trên thực tế vẫn xuất hiện nhiều trường hợp mà người đã thànhniên từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng không có bất cứ khoản thu nhập nào, không có tàisản riêng để bồi thường, nói cách khác, họ không có khả năng về tài sản trên thực

tế, vì vậy trong trường hợp này, hoặc cha mẹ, người thân thích sẽ đứng ra tựnguyện bồi thường cho con, em mình hoặc là sẽ chờ đến khi người gây thiệt hại cókhả năng về tài sản để bồi thường thiệt hại; tuyệt đối trong trường hợp trên, khôngđược ép buộc cha mẹ, người thân thích phải bồi thường thay, vì sự tự nguyện trongdân sự được đề cao, người gây thiệt hại là con, em họ đã đủ năng lực trách nhiệmdân sự, tự họ chịu trách nhiệm

Khoản 2 điều 586 quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hạiđối với những người không đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bao gồm: người chưa

đủ 15 tuổi và người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Đối với người chưa đủ 15tuổi, cha mẹ phải dùng tài sản của cha mẹ để bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tàisản của cha mẹ không đủ để bồi thường thì lấy tài sản riêng của con ra để bồi

Ngày đăng: 08/12/2017, 19:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w