1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

99 423 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương V - Luật tổ chức VKSND năm 2002 gọi là "Kiểm sát thi hành án", thì Luật tổ chức VKSND năm 2014 được quy định tại Chương II Các công tác thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKSND và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHAN THỊ HẠNH NGÂN

HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60.38.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS VŨ THỊ HỒNG VÂN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Thị Hồng Vân – Phó hiệu trưởng Trường Đại học kiểm sát Hà Nội

Những thông tin, số liệu và trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chính xác

Tác giả luận văn

Phan Thị Hạnh Ngân

Trang 4

3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ HOẠT

ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái quát về thi hành án dân sự 7

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự: 7

1.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự 8

1.1.3 Ý nghĩa của thi hành án dân sự 9

1.2 Khái quát chung về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 11

1.2.1 Khái niệm hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 11

1.2.2 Đối tượng của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 12

1.2.3 Phạm vi của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 14

1.2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 15

1.2.5 Phương thức thực hiện hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2.1 Kiểm sát việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định; giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án 28

2.1.1 Kiểm sát việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định 28

2.1.2 Kiểm sát việc giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án 31

Trang 5

4

2.2 Kiểm sát việc tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án dân sự 33

2.2.1 Tiếp nhận yêu cầu THADS 33

2.2.2 Từ chối yêu cầu thi hành án 35

2.3 Kiểm sát việc ra quyết định thi hành án dân sự 36

2.4 Kiểm sát việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định thi hành án 39

2.5 Kiểm sát việc ủy thác thi hành án dân sự 40

2.6 Kiểm sát việc xác minh điều kiện thi hành án 44

2.7 Kiểm sát việc ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, tiếp tục thi hành án 46

2.8 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 48

2.8.1 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp bảo đảm 48

2.8.2 Kiểm sát biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 53

2.9 Kiểm sát việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước 55

2.10 Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIẾM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 3.1 Yêu cầu của cải cách tư pháp đối với hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 61

3.2 Thực trạng thực hiện hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016 63

3.2.1 Những kết quả đạt được 63

Trang 6

5

3.2.2 Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kiểm sát thi hành án

dân sự và nguyên nhân 68

3.3 Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 76

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện về pháp luật 76

3.3.2 Giải pháp về tổ chức, bảo đảm thực hiện 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Việt Nam được thành lập từ năm

1960, đến nay đã có 57 năm tồn tại, trưởng thành, phát triển và thực hiện được những chức năng, nhiệm vụ quan trọng Những nhiệm vụ quan trọng của viện kiểm sát (VKS), ngoài mũi nhọn thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì còn bao gồm những nhiệm vụ quan trọng trong công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp, một trong số những hoạt động đó là hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự (THADS)

THADS là giai đoạn tiếp nối cuối cùng của quá trình tố tụng dân sự

Điều 106, Hiếp pháp năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Toà án

nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”

Quy định này đã trở thành nguyên tắc cơ bản được ghi nhận xuyên suốt trong các Hiến pháp của Việt Nam (Điều 136 Hiến pháp năm 1992 và Điều 137 Hiến pháp năm 1980) Đây cũng chính là nguyên tắc cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành đúng theo quy định của pháp luật, điều này không chỉ thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật mà còn có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Vì vậy, việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật của Tòa án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế THADS là công tác rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng

Trang 9

2

trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên đương sự, những người có liên quan Trong quá trình thực hiện công tác THADS vẫn tồn tại những vướng mắc: một số ngành chưa thực sự quan tâm thực hiện quy chế phối hợp liên ngành, chưa kịp thời triển khai, quán triệt các nội dung thực hiện Luật THADS, nhất là những văn bản hướng dẫn thực hiện luật đến cán bộ, công chức làm công tác thi hành án một số bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật, nhưng chưa được chuyển giao kịp thời cho cơ quan thi hành án Bản án, quyết định của toà án chưa có hiệu lực pháp luật đang trong thời gian kháng cáo, kháng nghị đã chuyển giao cho cơ quan THADS thi hành Đối với bản án có hiệu lực từng phần, khi chuyển giao, toà án không kèm thông báo kháng cáo của đương sự, kháng nghị của VKSND Do đó, hiệu quả công tác chưa cao, một số vụ việc THADS chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm còn

để kéo dài, trong từng bước giải quyết thi hành án cũng còn vướng mắc

So với Luật tổ chức VKSND năm 2002, Luật tổ chức VKSND năm

2014 quy định nhiều điểm mới về công tác kiểm sát THADS cụ thể là: Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát THADS, kiểm sát thi hành án hành chính tại điều 28, Chương II ( so với Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã giảm 2 điều) Mặt khác, vị trí Chương trong Luật tổ chức VKSND năm 2014 phân bố hợp lý hơn so với Luật tổ chức VKSND năm 2002 Chương V - Luật tổ chức VKSND năm

2002 gọi là "Kiểm sát thi hành án", thì Luật tổ chức VKSND năm 2014 được

quy định tại Chương II (Các công tác thực hiện chức năng nhiệm vụ của

VKSND) và đổi tên thành “Kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; kiểm sát THADS, thi hành án hành chính” Việc thay đổi vị trí nói trên không đơn thuần là sự thay đổi về bố cục

mà thể hiện sự thay đổi về nhận thức, khẳng định công tác kiểm sát THADS

Trang 10

3

là một trong những khâu công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân Về nhiệm vụ, quyền hạn của công tác kiểm sát THADS Luật tổ chức VKSND năm 2014 phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của khâu công tác kiểm sát THADS và thi hành án hình sự (Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định công tác kiểm sát thi hành án gồm kiểm sát thi hành án hình sự và kiểm sát THADS) Có thể thấy rõ việc phân định rõ ràng như vậy càng nhấn mạnh tính quan trọng của VKS trong hoạt động THADS Để những bản án, phán quyết của Tòa có thể được thi hành một cách khách quan, đúng quy định của pháp luật thì vai trò của VKS có thể coi là quan trọng khi thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan THADS

Xuất phát từ những thực tế và từ việc nhận thức về vị trí,vai trò của VKS trong hoạt động THADS là vấn đề cần được quan tâm và cần có sự đổi mới về cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, để nâng cao chất lượng thi hành các bản án, phán quyết của Tòa án đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp Vì

vậy, việc chọn đề tài: “Hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự” để nghiên

cứu và xây dựng luận văn thạc sỹ luật học là cần thiết, có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Do yêu cầu, đòi hỏi khách quan về vai trò, vị trí của VKS trong tố tụng dân sự mà đã có nhiều bài viết trên các luận văn thạc sỹ, tạp chí chuyên ngành, chuyên đề tổng kết,… liên quan đến hoạt động này Một số bài viết

được biết đến như: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác

kiểm sát thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” đề tài khoa

học cấp bộ của Vụ Thi hành án dân sự, VKSND tối cao năm 2015, 2016;

“Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự” của

tác giả Phùng Thanh Hà, luận văn thạc sĩ năm 2014; “Đổi mới vị trí, vai trò

Trang 11

4

của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” của tác

giả Nguyễn Minh Hằng, sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2008;

“Quá trình hình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”, của tác giả Trần Văn Nam, luận án tiến sĩ

năm 2010;…

Những bài viết, công trình trên đều tập trung nghiên cứu vị trí, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự mà chưa có bài viết nào đề cập tới cụ thể, chi tiết hoạt động kiểm sát THADS của VKS Vì vậy, đến nay chưa có một công trình khoa học hoặc đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có

hệ thống về vấn đề hoạt động kiểm sát THADS được chính thức công bố

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề tài là làm rõ các cơ sở pháp lý và thực tiễn về hoạt động kiểm sát THADS; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của VKS trong hoạt động THADS, để xác định được những ưu điểm cùng với nguyên nhân của những thiếu sót trong hoạt động này, đồng thời có những căn cứ để phát huy và đưa ra những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện hoạt động kiểm sát THADS của VKS

4 Tính mới của đề tài

- Phân tích và làm rõ được cơ sở pháp lý và thực tiễn về vị trí, vai trò,

tổ chức và hoạt động của VKS trong hoạt động THADS Đáp ứng được nhu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, cùng với sự đổi mới của Luật tổ chức VKSND2014 cùng với Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014, làm rõ sự thay đổi của Luật tổ chức VKS về vai trò của VKS trong hoạt động THADS, để làm nổi bật được việc công tác kiểm sát THADS ngày càng được coi trọng và đổi mới

Trang 12

5

- Đề xuất những phương hướng đổi mới, khắc phục những lỗ hổng, thiếu sót trong hoạt động kiểm sát THADS của VKS trong giai đoạn đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về hoạt động kiểm sát THADS của VKS, thực trạng của hoạt động này và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn bao gồm những quy định pháp luật về hoạt động kiểm sát THADS của VKS cũng như vị trí, vai trò của VKS trong hoạt động THADS

6 Phương pháp và địa điểm nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của cơ quan tư pháp đồng thời kết hợp với việc sử dụng linh hoạt các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích: Được sử dụng chủ yếu để làm sáng tỏ những nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho các vấn đề nghiên cứu trở nên hợp lý,

dễ hiểu

- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh sự thay đổi của Luật THADS cũng như Luật tổ chức VKSND , từ đó có thể thấy được rõ hơn hoạt động kiểm sát THADS

- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để cung cấp một số số liệu liên quan đến vấn đề kiểm sát THADS của VKS trong thực tiễn áp dụng

Trang 13

6

Địa điểm nghiên cứu: Địa điểm nghiên cứu chính của đề tài là địa bàn thành phố Hà Nội

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ về pháp lý cũng như thực trạng hoạt động kiểm sát THADS của VKS

Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát THADS, đồng thời đảm bảo việc kiểm sát THADS một cách khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật

Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn Đồng thời là nguồn tài liệu

để phản ánh một số vấn đề thực tiễn giúp cho liên ngành VKS – Cơ quan THADS nghiên cứu khi thực hiện các công tác phối hợp

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương và kết cấu như sau:

Chương I: Một số vấn đề chung về thi hành án dân sự và hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Chương II: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Chương III: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Trang 14

7

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ HOẠT

ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái quát về thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự:

Quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án tuy rất quan trọng nhưng thực ra mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Trong giai đoạn này Tòa án mới chỉ làm rõ các tình tiết của vụ việc dân sự và áp dụng các quy phạm pháp luật quyết định quyền và nghĩa vụ của các đương sự Quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đã được Tòa án quyết định muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua việc thi hành án Trong đó, người có quyền thi hành án yêu cầu người có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ đối với mịnh và người có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình vì lợi ích của người có quyền thi hành án Do vậy, theo nghĩa chung thì THADS là thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án

THADS xuất phát và gắn liền với hoạt động xét xử của Tòa án Tuy nhiên, theo nghĩa một thuật ngữ pháp lý thì còn có nhiều ý kiến khác nhau về thi hành án dân sư Ý kiến thứ nhất cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hành chính, vì THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành

mà điều hành và chấp hành là đặc trưng của hoạt động hành chính Đồng thời, THADS ở nước ta lại không do Tòa án – cơ quan tư pháp tổ chức Ý kiến thứ hai cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hành chính – tư pháp vì THADS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành quyết định của Tòa

án – cơ quan tư pháp Hơn nữa, trong quá trình THADS còn phải tiến hành các hoạt động mang tính chất hành chính như chứng thực bản sao giấy tờ,

Trang 15

8

việc ủy quyền THADS,… Ý kiến thứ ba lại cho rằng THADS là một dạng của

hoạt động tư pháp vì thi hành án gắn liền với hoạt động xét xử, mang tính tài

sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện [5, tr

10] Theo quan điểm cá nhân thì ý kiến thứ ba là có cơ sở khoa học hơn cả

THADS gắn liền với hoạt động xét xử vì xét xử và THADS là quá trình

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Xét xử là tiền đề của

THADS, không có xét xử thì không có THADS Ngược lại, THADS tiếp nối

với xét xử làm cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế nên có tác dụng

củng cố kết quả xét xử THADS do cơ quan THADS - cơ quan tư pháp tổ

chức thực hiện Việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước do nhiều cơ quan

tư pháp thực hiện và Tòa án chỉ là một trong các cơ quan đó Cơ quan

THADS có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện quyền tư pháp của

Nhà nước nên cơ quan THADS là một trong các cơ quan tư pháp

Như vậy, có thể khẳng định: THADS là hoạt động đưa bản án, quyết

định về dân sự của Tòa án nhân dân ra thi hành Hoạt động này là giai đoạn

kết thúc của tố tụng dân sự, đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được

chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của tổ chức, cá nhân và

pháp chế xã hội chủ nghỉa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá

nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững và ổn định chính trị - xã hội, tăng

cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự

THADS mang tính tài sản – đặc trưng của quan hệ dân sự Trên thực tế,

phần lớn các bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành đều quyết định

các vấn đề về tài sản như chia thừa kế, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng, chia tài sản chung sau ly hôn,… Thông qua THADS, người phải thi

hành án phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của họ và người được thi hành

án sẽ nhận được các quyền, lợi ích về tài sản [5, tr 11]

Trang 16

9

THADS mang tính độc lập – đặc trưng của hoạt động tư pháp Thi hành

án là quá trình diễn ra phức tạp, trong đó cơ quan THADS thường phải chịu

áp lực, tác động từ nhiều phía Để đảm bảo hiệu quả của THADS thì cơ quan THADS và Chấp hành viên phải được độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình THADS [5, tr 11] Hoạt động THADS của cơ quan THADS được thực hiện dưới sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc; đồng thời hoạt động dưới sự kiểm sát của VKSND các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan THADS, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật

1.1.3 Ý nghĩa của thi hành án dân sự

- THADS góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương an toàn xã hội, tăng

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Hoạt động thi hành án nói chung, THADS nói riêng có một ý nghĩa, vai trò quan trọng trong hoạt động Nhà nước Thông qua hoạt động thi hành án, những phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước được trở thành hiện thực, công lý xã hội được thực hiện Quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết thúc khi bản án quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời và đầy đủ Nếu hoạt động THADS không được quan tâm và không có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, tác động đến toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại THADS đạt hiệu quả sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần lập lại kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngược lại, một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

mà không được thi hành trên thực tế cho thấy sự thiếu nghiêm minh của pháp

Trang 17

10

luật, dễ gây ra sự mất đoàn kết, xung đột kéo dài trong nhân dân, tạo kẽ hở để các phần tử phản động lợi dụng tuyên truyền lôi kéo nói xấu chế độ, kích động thù hận, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân

- Thi hành án là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án và

hoạt động tư pháp khác

Hoạt động điều tra, truy tố và xét xử diễn ra rất phức tạp và tốn kém, song những hoạt động đó có thể chỉ là con số không nếu như bản án, quyết định của Tòa án không được đưa ra thi hành trên thực tế Với ý nghĩa đó, THADS là một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự Thông qua thi hành án, kết quả của công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo Mặt khác, THADS còn là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn những phán quyết của Tòa án, phản ánh, trung thực chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử Vì nếu như bản án tuyên đúng với bản chất, hiện thực khách quan, có lý, có tình thì trong quá trình thi hành án sẽ thuận lợi hơn những trường hợp bản án, quyết định của Tòa án không đúng sự thật, không phù hợp với thực tế khách quan Thực tế cho thấy có nhiều vụ việc đương sự không tự nguyện thi hành hoặc gửi đơn khiếu nại, tố cáo đi nhiều nơi không phải vì cơ quan thi hành án làm sai mà vì không đồng tình với quyết định của Tòa án nên cố tình trì hoãn việc thi hành án

- THADS góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân

Đặc thù của THADS là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án và sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức có liên quan và sự đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng Trong hoạt động THADS, thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà còn là

Trang 18

11

trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng Thông qua công tác thi hành án, ý thức pháp luật của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được nâng lên

1.2 Khái quát chung về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Trong tố tụng dân sự, nếu như vị trí, vai trò của Tòa án và các bên đương sự được xác định rõ ràng và hiển nhiên thì vị trí, vai trò của VKS không phải lúc nào cũng rõ ràng và hiển nhiên như vậy Sở dĩ có tình trạng này là do quan niệm về quyền lực nhà nước, nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực ở mỗi quốc gia khác nhau, từ đó có những quy định khác nhau về

mô hình tổ chức, vị trí, vai trò của VKS, đặc biệt trong lĩnh vực dân sự Ở Việt Nam, là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, VKS có vị trí và vai trò tương đối đặc biệt trong tố tụng dân sự Theo

đó, VKS là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự Vị trí, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013; Điều 2, 4, 6 Luật tổ chức VKSND năm 2014; Điều 21, 46 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

1.2.1 Khái niệm hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Hoạt động kiểm sát THADS là một trong những chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND được quy định trong Luật tổ chức VKSND và Luật THADS So với kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực kiểm sát điều tra án hình sự, kiểm sát án dân sự thì kiểm sát THADS ra đời muộn hơn nên văn bản quy phạm pháp luật, kinh nghiệm cũng như mối quan hệ phối hợp liên ngành còn gặp nhiều khó khăn Để kịp thời phát hiện vi phạm, xử lý vi phạm để bản án, quyết định dân sự được thi hành đầy đủ, đúng pháp luật Quốc hội đã giao cho VKSND làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động THADS Trước năm 1993, công tác THADS do cơ quan

Trang 19

12

Tòa án các cấp đảm nhiệm nên Luật tổ chức VKSND năm 1960 chưa quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong hoạt động kiểm sát THADS Sau năm 1993, công tác THADS được chuyển từ Tòa án các cấp sang Bộ tư pháp nên nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong hoạt động kiểm sát THADS đã được ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND

Ngày 24/11/2014, Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật

tổ chức VKSND Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày kể từ ngày 01/6/2015 Cùng ngày Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết sô 82/2014/QH13 về việc thi hành Luật tổ chức VKSND 2014 Tại Điều 2 của Luật tổ chức VKSND

2014 qui định: VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Kiểm sát THADS là một trong những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định dân sự của Tòa án được thi hành đầy đủ, kịp thời, đúng pháp luật

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về hoạt động kiểm sát THADS như

sau: “Kiểm sát THADS là chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND,

là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan THADS, trong công tác THADS nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định được thi hành đầy đủ, kịp thời và đúng pháp luật”

1.2.2 Đối tượng của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Theo cách hiểu chung nhất, đối tượng của bất kỳ hoạt động của một chủ thể nào cũng đều là những cái (gì) mà hoạt động đó tác động đến nhằm đạt được mục đích, yêu cầu cụ thể đặt ra trước chủ thể đó Trong hoạt động

Trang 20

13

kiểm sát THADS, mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là nhằm bảo đảm các chủ thể tham gia vào quá trình THADS chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ của hoạt động thi hành các quyết định, bản án của Tòa án

Các mối quan hệ hình thành trong hoạt động THADS không chỉ phát sinh giữa cơ quan thi hành án với đương sự, giữa các đương sự với nhau, giữa

cơ quan thi hành án với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà còn hình thành mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến quá trình thi hành án Việc đảm bảo công tác tổ chức thi hành đạt chất lượng, hiệu quả thì không chỉ là kết quả của một chủ thể bất kỳ trong quá trình thi hành án

mà là của tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ đó Vì vậy, đảm bảo việc tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thi hành án là mục tiêu của hoạt động kiểm sát THADS Do đó, có thể xác định, đối tượng của công tác kiểm sát THADS là việc tuân theo pháp luật của TAND, Cơ quan THADS, Chấp hành viên, các cơ quan tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật của TAND, các quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay theo đúng quy định của pháp luật Sự tuân theo pháp luật của chủ thể trong hoạt động THADS bao gồm: sự tuân thủ pháp luật của tòa án trong việc chuyển giao các bản án, quyết định có hiệu luật thi hành, những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật; sự tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án trong việc ra các quyết định về thi hành án và các văn bản, thông báo liên quan về thi hành án; sự tuân thủ pháp luật của Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, quyết định tuyên bố phá sản của chủ doanh nghiệp; Sự tuân thủ pháp luật của các cơ

Trang 21

14

quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án

1.2.3 Phạm vi của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Phạm vi được định nghĩa là khoảng được giới hạn của một hoạt động, một vấn đề hay một cái gì, nên phạm vi của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác THADS được hiểu là giới hạn hoạt động mà VKSND tiến hành để kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hành vi, quyết định của các chủ thể tiến hành và tham gia THADS nhằm đảm bảo cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án một cách nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật Xác định phạm vi của hoạt động kiểm sát THADS là xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Việc xác định đúng phạm vi kiểm sát có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp VKS thực hiện hoạt động có hiệu quả, phân biệt được giữa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong THADS với kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, trong việc giải quyết các vụ việc dân sự,… góp phần thực hiện đúng, đầy đủ và có hiệu quả các chức năng, nhiệm

xử lý vật chứng, tài sản, việc kê biên, cưỡng chế thi hành án; hoạt động bán đấu giá tài sản để thi hành án; án phí, phí thi hành án và quyết định dân sự trong bản án hình sự; các bản án, quyết định hành chính của Tòa án; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án

Trang 22

15

của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định của Trọng tài thương mại; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Phạm vi về thời gian của hoạt động kiểm sát THADS được xác định từ thời điểm bắt đầu cho đến khi kết thúc việc thi hành án Phạm vi đó được bắt đầu từ khi bản án, quyết định được thi hành án có hiệu lực thi hành cho tới khi bản án, quyết định đó được thi hành xong

1.2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Cụ thể hóa nhiệm vụ của VKSND đã được hiến định trong Hiến pháp

2013, khoản 2 Điều 12 Luật THADS quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát THADS như sau:

- Kiểm sát việc cấp, chuyển giao, giải thích, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án;

- Yêu cầu Chấp hành viên, cơ quan THADS cùng cấp, cấp dưới ra quyết định về thi hành án, gửi các quyết định về thi hành án; thi hành đúng bản án, quyết định; tự kiểm tra việc thi hành án và thông báo kết quả kiểm tra cho VKSND; yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành án;

- Trực tiếp kiểm sát hoạt động THADS của cơ quan THADS cùng cấp

và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; ban hành kết luận kiểm sát khi kết thúc việc kiểm sát;

Trang 23

16

- Tham gia phiên họp của Tòa án xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phát biểu quan điểm của VKSND;

- Kiến nghị xem xét hành vi, quyết định liên quan đến thi hành án có vi phạm, pháp luật ít nghiêm trọng của Tòa án, cơ quan THADS cùng cấp hoặc cấp dưới, yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm; kiến nghị cơ quan, tổ chức liên quan có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp phòng ngừa;

- Kháng nghị hành vi, quyết định của Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ quan THADS cùng cấp, cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, thu hồi, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật

Ngoài ra, VKSND còn có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến công tác kiểm sát THADS; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS của cơ quan thi hành án cùng cấp

và cấp dưới

Như vậy, khi thực hiện hoạt động kiểm sát THADS, VKSND không chỉ

có nhiệm vụ đảm bảo trình tự, thủ tục THADS đúng quy định của pháp luật

mà còn có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của VKSND và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan THADS liên quan đến hoạt động thi hành án; khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì VKSND thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật, đảm bảo việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước; các quyền, lợi ích hợp pháp của cá

Trang 24

17

nhân, cơ quan, tổ chức trong quan hệ THADS

1.2.5 Phương thức thực hiện hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự

Phương thức thực hiện hoạt động kiểm sát THADS được hiểu là cách thức, phương pháp mà thông qua đó VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định

Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong hoạt động kiểm sát THADS đã nêu ở trên có thể xác định những phương thức đặc trưng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND là: trực tiếp kiểm sát, thực hiện quyền yêu cầu, thực hiện quyền kháng nghị, thực hiện quyền kiến nghị,…

- Trực tiếp kiểm sát

Nhằm để khắc phục những hạn chế của phương thức kiểm sát thường xuyên khi không bám sát tiến độ tổ chức thi hành án dẫn đến việc không phát hiện kịp thời được nhiều vi phạm, vi phạm kéo dài mà pháp luật cho phép VKSND được trực tiếp kiểm sát hoạt động của cơ quan THADS, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thi hành án

Theo quy định tại Điều 28 Luật tổ chức VKSND năm 2014, khi thực hiện hoạt động kiểm sát THADS, VKSND có quyền trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của Cơ quan thi hành án cùng cấp

và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án

Viện kiểm sát tiến hành trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật của

Cơ quan THADS cùng cấp và cấp dưới khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc thi hành án hoặc thấy cần thiết như: Thực hiện Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao, kế hoạch của Viện kiểm sát cấp trên, yêu cầu của Cấp ủy, Hội đồng nhân dân tại địa phương hoặc nhằm phòng ngừa tình trạng vi phạm Khác với kiểm sát thường xuyên, trực tiếp kiểm sát được

Trang 25

18

thực hiện theo chương trình, kế hoạch; trước khi tiến hành trực tiếp kiểm sát, VKSND phải ban hành quyết định trực tiếp kiểm sát, kế hoạch trực tiếp kiểm sát và khi kết thúc kiểm sát phải ban hành kết luận trực tiếp kiểm sát Hình thức, nội dung, kết cấu quyết định, kế hoạch, kết luận được ban hành đều có mẫu cụ thể được quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan Phương pháp tiến hành trực tiếp kiểm sát được nêu rõ trong kế hoạch kiểm sát

Pháp luật có quy định cơ quan THADS chỉ có trách nhiệm gửi cho VKS các quyết định thi hành án, quyết định về thi hành án mà không gửi tài liệu kèm theo để kiểm sát nên trực tiếp kiểm sát là phương thức hữu hiệu để ngăn chặn vi phạm của cơ quan THADS, Chấp hành viên Khi thực hiện phương thức trực tiếp kiểm sát, VKSND có thời gian, có điều kiện kiểm sát một cách toàn diện, chặt chẽ từng nội dung tài liệu trong hồ sơ thi hành án (cả quá trình từ khi nhận bản án, quyết định đến khi kết thúc thi hành án), từ đó

có thể phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm của cơ quan THADS, Chấp hành viên cũng như những cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động thi hành án để có những biện pháp ngăn chặn triệt để những vi phạm đó

Sau một năm kể ngày công bố kết luận trực tiếp kiểm sát, VKSND ban hành kết luận trực tiếp kiểm sát phải tiến hành phúc tra việc thực hiện kết luận kiểm sát Việc phúc tra phải có quyết định, kế hoạch gửi đơn vị được phúc tra Kết thúc việc phúc tra phải có kết luận việc phúc tra

- Thực hiện quyền yêu cầu

Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ “yêu cầu” là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”

Ở góc độ pháp lý, quyền yêu cầu là quyền năng quan trọng mà luật trao cho VKS để thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong THADS, theo đó, trong quá trình kiểm sát thi hành bản án, quyết định của Tòa án,

Trang 26

19

VKSND thực hiện quyền yêu cầu Chấp hành viên, cơ quan THADS cùng cấp, cấp dưới ra quyết định về thi hành án, gửi các quyết định về thi hành án; thi hành đúng bản án, quyết định; tự kiểm tra việc thi hành án và thông báo kết quả kiểm tra cho VKSND; yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp hồ

sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành án

Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động THADS, VKS có quyền yêu cầu TAND, cơ quan THADS cùng cấp, cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án:

+ Ra quyết định thi hành án theo đúng quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc ra quyết định phải đúng thời gian, theo thủ tục mà pháp luật quy định; nội dung quyết định thi hành án phải theo đúng bản án, quyết định đã tuyên; sau khi các điều kiện về hoãn, tạm đình chỉ thi hành án không còn phải

ra quyết định tiếp tục thi hành án; các quyết định thi hành án phải được ban hành đúng thẩm quyền thuộc Thủ trưởng cơ quan THADS; việc ra quyết định thi hành án phải tuân thủ quy định tại Luật THADS

Cụ thể, Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện ra quyết định thi hành

án các bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; bản án, quyết định của TAND tối cao gửi cho TAND cấp huyện; bản án, quyết định do cơ quan THADS nơi khác ủy thác

Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh ra quyết định thi hành án các bản

án, quyết định sơ thẩm của Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; bản

án, quyết định thuộc thẩm quyền ra quyết định của Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện mà xét thấy cần thiết lấy lên tỉnh để thi hành án; bản án, quyết định của TAND cấp cao gửi cơ quan THADS cấp tỉnh; bản án, quyết định do cơ quan THADS nơi khác ủy thác; bản án, quyết định dân sự của Tòa

Trang 27

20

án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định của trọng tài Thương mại Việt Nam

Thủ trưởng cơ quan Thi hành án cấp quân khu ra quyết định thi hành án các bản án, quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương; quyết định về tài sản trong bản án hình sự của Tòa

án quân sự Trung ương chuyển giao cho cơ quan Thi hành án cấp quân khu; bản án, quyết định của TAND tối cao gửi cho cơ quan Thi hành án cấp quân khu; bản án, quyết định do Tòa án nơi khác ủy thác

Thủ trưởng cơ quan THADS chỉ chủ động ra quyết định thi hành phần bản án, quyết định về án phí, lệ phí Tòa án, trả tiền tạm ứng án phí; hình phạt tiền; tịch thu tài sản, truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ; thu hồi đất theo quy định của Tòa án; quyết định

về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án

Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định THADS để đảm bảo về thời hạn ra quyết định thi hành án

+ Tự kiểm tra việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật

và thông báo kết quả cho VKS Để phát huy hiệu quả của việc tự kiểm tra, Cơ quan THADS, Chấp hành viên, các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án có trách nhiệm tự mình kiểm tra lại việc tổ chức thi hành bản án, quyết định cũng như trách nhiệm của cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ chỉ đạo, phối hợp với cơ quan THADS tổ chức thi hành án; trách nhiệm tôn trọng

và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, bản án, quyết định của cá nhân, tổ chức liên quan đến việc thi hành án

+ Cung cấp bản án, quyết định để làm rõ việc ra quyết định thi hành án

có đúng nội dung bản án, quyết định hay không Bao gồm: bản án, quyết định

Trang 28

21

của Tòa án về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại; bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong các bản án, quyết định của Tòa án

về hình sự; quyết định về phần tài sản trong các bản án, quyết định của Tòa án

về hành chính, quyết định tuyên bố phá sản; quyết định của Trọng tài Thương mại Việt Nam; bản án, quyết định khác do pháp luật quy định

+ Các cơ quan liên quan đến thi hành án cung cấp thông tin cần thiết để xác minh làm rõ sai phạm như: cơ quan thẩm định giá, Tổ chức bán đấu giá tài sản trong việc bán đấu giá tài sản thi hành án; Kho bạc; Ngân hàng, hay tổ chức tín dụng quản lý tài khoản của người phải thi hành án; cơ quan, tổ chức quản lý thu nhập của người phải thi hành án, cơ quan Thừa phát lại…

Quyền yêu cầu được VKS sử dụng rất rộng rãi và linh hoạt trong hoạt động kiểm sát THADS, thể hiện rất rõ trong mối quan hệ phối hợp giữa

các quan trong hoạt động THADS

Từ những quy định trong luật cũng có thể thấy quyền yêu cầu của VKS là một biện pháp ngăn ngừa, khắc phục vi phạm vô cùng kịp thời, những yêu cầu cần được thực hiện ngay, những vi phạm trong hoạt động thi hành án của cơ quan THADS, Chấp hành viên hay những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được phát hiện và khắc phục ngay tức khắc, bảo đảm quy trình, thủ tục thi hành án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

- Thực hiện quyền kiến nghị

Thuật ngữ “kiến nghị” được hiểu là: “nêu ý kiến đề nghị về một việc chung để cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết” Trong khoa học luật

tố tụng, kiến nghị là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị với các cơ quan tiến hành tố tụng khắc phục những vi phạm và thực hiện đúng những quy định

Trang 29

22

của pháp luật Dưới góc độ kiểm sát thì kiến nghị là quyền năng, là biện pháp pháp lý quan trọng của VKSND khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất Để thực hiện tốt chức năng của VKSND, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định quyền kiến nghị của VKSND, theo đó khoản 2 Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm

2014 quy định: Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan,

tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật

VKSND ban hành kiến nghị khi phát hiện một tình trạng vi phạm trong khi thi hành án (không phải những vi phạm nghiêm trọng, sơ hở đơn lẻ, cụ thể

ở một vụ việc) hoặc phát hiện cùng một nguyên nhân nhưng gây ra nhiều vi phạm thì VKSND kiến nghị để tránh những vi phạm tương tự tái diễn, vi phạm mà chưa đến mức phải kháng nghị yêu cầu hủy bỏ Kiến nghị là biện pháp mà VKSND áp dụng khi thấy cần thiết trong việc phòng ngừa vi phạm trong thi hành án

- Thực hiện quyền kháng nghị

Theo cách hiểu chung nhất, kháng nghị là sự bày tỏ ý kiến phản đối bằng văn bản chính thức Dưới góc độ khoa học kiểm sát, kháng nghị là quyền năng, là biện pháp pháp lý đặc biệt quan trọng và cần thiết để VKSND

Trang 30

có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc; căn cứ ra quyết định thi hành án không còn…, quyết định của Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị để hủy bỏ văn bản đó Cơ quan, người có thẩm quyền phải thực hiện kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật Kháng nghị với cơ quan THADS cùng cấp, cấp dưới, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm trong việc thi hành án; yêu cầu đình chỉ việc thi hành án, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án; nếu có dấu hiệu tội phạm thì

đề nghị khởi tố về mặt hình sự Theo quy định tại Điều 160 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014, VKS có quyền kháng nghị đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên cơ quan THADS cùng cấp

và cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức VKSND Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp là 15 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm

Kháng nghị phải chỉ rõ những vi phạm pháp luật và căn cứ pháp lý để xác định vi phạm, đồng thời nêu rõ yêu cầu kháng nghị là đình chỉ việc thi hành án, sửa đổi hay bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật, chấm dứt việc vi phạm pháp luật trong việc thi hành án Kháng nghị được gửi cho đối tượng bị kháng nghị, cơ quan chủ quản cấp trên của đơn vị bị kháng nghị và VKS cấp trên trực tiếp

Trang 31

24

Điều 161 Luật THADS năm 2014 có quy định Thủ trưởng cơ quan THADS có trách nhiệm trả lời kháng nghị của VKS đối với quyết định về thi hành án của mình hoặc của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị Trường hợp chấp nhận kháng nghị của VKS thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng cơ quan THADS phải thực hiện kháng nghị của VKS Quy định trên nhằm ràng buộc trách nhiệm trả lời của Thủ trưởng cơ quan THADS, của Chánh án Tòa án khi nhận được kháng nghị của VKSND Việc trả lời ở đây có ý nghĩa bắt buộc, nội dung trả lời: nếu đúng thì chấp nhận và thực hiện; nếu không đồng ý vẫn phải trả lời và báo lên cơ quan THADS cấp trên và VKSND cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết Quy định này còn nhấn mạnh trách nhiệm thực thi đúng pháp luật của cơ quan THADS, Tòa án cũng như trách nhiệm của VKSND khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động THADS, khi quyết định ban hành kháng nghị cần phải thận trọng, khách quan, đúng pháp luật Trong trường hợp đối tượng

bị kháng nghị không đồng ý với kháng nghị thì VKSND ban hành kháng nghị

có quyền báo cáo lên VKSND cấp trên trực tiếp kèm theo các tài liệu trong hồ

sơ thi hành án, nêu rõ quan điểm kháng nghị VKSND cấp trên có trách nhiệm xem xét để có kết luận và ban hành kiến nghị đối với cơ quan THADS cấp trên; hoặc hủy bỏ, rút, sửa đổi, bổ sung kháng nghị của VKSND cấp dưới Nếu kết luận và kiến nghị của VKS cấp trên vẫn không được cơ quan THADS cấp trên chấp nhận thì VKS có văn bản kiến nghị đến Bộ trưởng Bộ tư pháp

và báo cáo Viện trưởng VKSND tối cao

- Thực hiện quyền tham gia và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

VKSND thực hiện quyền tham gia và phát biểu quan điểm tại phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại các điều 61, 62, 63

Trang 32

Trường hợp xét thấy có đủ điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành

án (trong đó có việc xét miễn, giảm khoản tiền phạt) cho người phải thi hành

án thì VKS có văn bản đề nghị xét miễn, giảm; gửi cho Cơ quan THADS có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm Văn bản đề nghị xét miễn, giảm theo mẫu quy định, nêu rõ đối tượng, điều kiện và mức xét miễn, giảm

Kiểm sát viên được phân công có trách nhiệm chuẩn bị văn bản thể hiện quan điểm của VKS về hồ sơ xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, báo cáo lãnh đạo phê duyệt Văn bản nêu rõ ý kiến của Kiểm sát viên về việc đồng

ý hoặc không đồng ý và nêu rõ cơ sở pháp lý của các quan điểm đó Kiểm sát viên có trách nhiệm tham gia phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

và phát biểu ý kiến của VKS về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm

Sau phiên họp, Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo về kết quả phiên họp, đề xuất kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án không có căn cứ, trái pháp luật theo quy định tại Điều 64 Luật THADS 2014 Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Tòa án cấp dưới Việc kháng nghị phúc thẩm phải đúng thời hạn quy định tại Điều 64 Luật THADS 2014

Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo mẫu quy định; nội dung kháng nghị phải nêu rõ ngày, tháng, năm kháng nghị; số, ngày, tháng, năm và tên Tòa án đã ban hành quyết định bị kháng nghị; vi phạm pháp luật của Tòa án trong việc xét miễn, giảm; quan điểm của VKS đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét Quyết định

Trang 33

- Thực hiện quyền đề nghị xem xét khởi tố vụ án

Thông qua kiểm sát THADS và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS mà phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì đơn vị kiểm sát THADS thông báo cho Cơ quan điều tra VKSNDTC xem xét theo quy định của Ngành về tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra VKSNDTC

Văn bản gửi Cơ quan điều tra VKSNDTC nêu rõ nội dung sự việc thi hành án có dấu hiệu tội phạm, người có dấu hiệu đã thực hiện hành vi phạm tội, quan điểm đề nghị Văn bản đề nghị phải do lãnh đạo ký

VKS (hoặc đơn vị) có văn bản đề nghị có trách nhiệm theo dõi kết quả

xử lý của Cơ quan điều tra để tiến hành các hoạt động kiểm sát thi hành án phù hợp với quy định của pháp luật

Trang 34

27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tại Chương 1, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề chung về hoạt động THADS cũng như hoạt động kiểm sát THADS như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của các hoạt động này Việc phân tích, luận giải này đã góp phần khẳng định sự cần thiết và ý nghĩa quan trọng của hoạt động thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trong tố tụng dân sự cũng như hoạt động kiểm sát THADS

Trong chương này, tác giả cũng đã làm rõ các phương thức, nhiệm vụ, quyền hạn của hoạt động kiểm sát THADS Có thể thấy rằng, mặc dù ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật quy định trách nhiệm, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự ở mức độ khác nhau, song kiểm sát THADS là yêu cầu khách quan, gắn liền với chức năng và quá trình hình thành và phát triển của VKSND dù là mô hình cơ quan Công tố tổ chức trong Tòa án, Viện công tố hay VKSND Trách nhiệm, quyền hạn của VKSND trong hoạt động kiểm sát THADS có khi được mở rộng hoặc thu hẹp tuỳ theo quan niệm lập pháp của từng thời kỳ song đều được quy định tương đối rõ ràng, cụ thể Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn khi nghiên cứu pháp luật hiện hành về hoạt động thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, đồng thời thấy rõ pháp luật về hoạt động kiểm sát THADS

Với những nội dung được trình bày trong Chương 1 sẽ là cơ sở, tiền đề cho việc phân tích, đánh giá luật thực định, thực tiễn thực hiện hoạt động kiểm sát THADS và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện có hiệu quả hoạt động này của VKSND

Trang 35

28

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HOẠT

ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Có thể nói, Luật tổ chức VKSND 2014 là đạo luật có nhiều quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các công tác thực hiện năng, nhiệm vụ của VKSND, trên cơ sở kế thừa cơ bản các quy định của Luật tổ chức VKSND 2002 Luật tổ chức VKSND cũng như Luật THADS sau mỗi lần sửa đổi, bổ sung thì nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong hoạt động kiểm sát THADS được bổ sung hoàn thiện theo hướng tăng thêm nhiệm vụ, quyền hạn cho VKSND để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục vi phạm trong quá trình tổ chức thi hành án Đây cũng được coi như là một thành tựu trong công tác hoàn thiện pháp luật về kiểm sát THADS Do những tồn tại hạn chế của cơ quan THADS mà cần phải tăng cường sự giám sát để hạn chế vi phạm thiếu sót trong việc tổ chức thi hành án bảo đảm cho bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật không bị cản trở bởi chính cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án Đồng thời, pháp luật cũng yêu cầu VKSND các cấp nâng cao trách nhiệm hơn nữa trong việc duy trì trật tự pháp luật trong hoạt động THADS

2.1 Kiểm sát việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định; giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án

2.1.1 Kiểm sát việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định

Căn cứ các quy định: Điểm 11, 12 Điều 1, Điều 27, 28, 29, Điều 122,

123 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014, VKS kiểm sát việc cấp, thời hạn cấp, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay cho Cơ quan THADS, người được thi hành án, người phải thi hành án (sau đây gọi là đương sự) Ở

Trang 36

29

hoạt động này VKS tập trung kiểm sát đúng đối tượng, thời hạn và tính đầy

đủ việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án cho đương sự, cho Cơ quan THADS; việc gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan (nếu có) cho Cơ quan thi hành án của Tòa án và thủ tục giao nhận bản án, quyết định của hai cơ quan, cụ thể:

 Kiểm sát đúng đối tượng và thời hạn được cấp, chuyển giao:

Đối với các bản án, quyết định dân sự thì “Toà án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy định tại Điều 2 của Luật THADS phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi

“Để thi hành” Đối với “bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của

Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án; Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản” thì Toà

án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho Cơ quan THADS có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp

luật

Đối với những bản án, quyết định được thi hành ngay gồm; “ Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc” thì Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho Cơ quan THADS trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định Khác với các bản án, quyết định nói trên, trong trường hợp này để đảm bảo quyền lợi cho những người được cấp dưỡng, người lao động mà pháp luật đã quy định rút ngắn

Trang 37

vi tẩu tán tài sản phải thi hành án cũng như những hành vi cản trở việc thi hành án

 Kiểm sát tính đầy đủ

VKS kiểm sát việc Toà án gửi kèm theo (nếu có) bản sao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án; Kiểm sát việc chuyển giao vật chứng, tải sản tạm giữ kèm theo bản án, quyết định:

Kiểm sát các thủ tục nhận bản án, quyết định: Khi nhận bản án, quyết định do Toà án chuyển giao, Cơ quan THADS phải kiểm tra, vào sổ nhận bản

án, quyết định Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký của hai bên Trong trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì Cơ quan THADS phải thông báo bằng văn bản cho Toà án đã chuyển giao biết Trong hoạt động này VKS cần phải kiểm tra đối chiếu giữa các biên bản giao nhận giữa Tòa án và Cơ quan thi hành án với việc vào sổ tiếp nhận các bản án, quyết định; hoặc kiểm tra bản án, quyết định do đương sự cung cấp cho Cơ quan thi hành án với việc giao nhận bản

án của Tòa để phát hiện là tại sao đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng Tòa án không gửi hoặc chậm gửi cho cơ quan thi hành án hoặc không gửi kèm vật chứng, tài liệu kèm theo; thậm chí trong thực tế đã phát hiện bản án bị kháng cáo, kháng nghị nhưng Tòa vẫn cấp cho đương sự là bản

Trang 38

31

án có hiệu lực để thi hành; xác minh tại Tòa án đã ra bản án, quyết định để xác nhận các nhận định của VKS trước khi có kiến nghị hoặc yêu cầu…

Những vi phạm thường gặp của Tòa án trong việc cấp, chuyển giao bản

án, quyết định cho đương sự, Cơ quan THADS là: không gửi; gửi chậm; không gửi kèm tài liệu liên quan; gửi bản án, quyết định mà không gửi kèm vật chứng, tải sản tạm giữ; tiếp nhận vật chứng, tải sản nhưng không thực hiện đúng thủ tục…Khi phát hiện vi phạm VKS cần yêu cầu Tòa án đã bản

án, quyết định chuyển giao, cấp ngay bản án, quyết định cho đương sự, cho

Cơ quan THADS hoặc kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm

Các vi phạm về thủ tục giao nhận bản án, quyết định của Cơ quan thi hành án thường gặp như: không vào sổ kịp thời, không ghi chép đầy đủ theo quy định, không có đầy đủ chữ ký khi giao nhận, không thông báo lại Tòa án khi nhận qua đường bưu điện…thì VKS áp dụng quyền kiến nghị Cơ quan thi hành án khắc phục vi phạm

2.1.2 Kiểm sát việc giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án

VKS kiểm sát về đối tượng có quyền yêu cầu giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định; thẩm quyền trả lời các yêu cầu giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định và thời hạn giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án Khi nội dung mà bản

án, quyết định tuyên không rõ và khi có yêu cầu, kiến nghị của Cơ quan thi hành án hoặc đương sự, VKS cần kiểm sát chặt chẽ thời hạn theo quy định chung là 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, trường hợp phức tạp là 30 ngày; thời hạn trả lời kiến nghị của Tòa án đối với Cơ quan THADS về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (thời hạn là 90 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị); kiểm sát việc thụ

lý và giải quyết của Tòa án đối với yêu cầu của Cơ quan THADS, đương sự

Trang 39

VKS đối chiếu các văn bản yêu cầu của Cơ quan thi hành án, đương sự

về việc giải thích, đính chính, sửa chữa, bổ sung với văn bản trả lời của Tòa

án về giải quyết các yêu cầu đó để có thể thấy được những vi phạm mà Tòa án

và Cơ quan thi hành án sẽ gặp phải

Trong thực tế, những vi phạm thường gặp của Tòa án là: không có văn bản trả lời, giải thích; hoặc có văn bản trả lời, giải thích nhưng chậm; nội dung giải thích không đúng nội dung bản án, quyết định; không thụ lý và giải quyết kịp thời các yêu cầu của Cơ quan THADS, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án Trong những trường hợp này khi phát hiện vi phạm thì VKS có quyền yêu cầu hoặc kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm

Vi phạm của Cơ quan thi hành án khi gặp án tuyên không rõ là không làm văn bản yêu cầu Tòa giải thích; khi phát sinh các tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành

án thì không yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết để việc thi hành án kéo dài; hoặc ngược lại lợi dụng quyền được yêu cầu giải thích đã có văn bản yêu cầu Tòa giải thích (trong trường hợp bản án, quyết định đã rõ) nhằm kéo dài việc thi hành án VKS có quyền yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị (nếu có những

vi phạm nghiêm trọng) đối với Cơ quan THADS

Trang 40

33

2.2 Kiểm sát việc tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án dân sự

2.2.1 Tiếp nhận yêu cầu thi hành án dân sự

Căn cứ để kiểm sát việc tiếp nhận yêu cầu thi hành án là các điểm 13 Điều 1, Điều 30, 31 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014; Điều 4 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung luật THADS năm

2014

Đối với nội dung này theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật THADS năm 2014 thì việc yêu cầu thi hành án là quyền của đương sự Khi bản án, quyết định đã có lực pháp luật hoặc được thi hành ngay theo quy định của pháp luật thì đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án) có quyền yêu cầu được thi hành án; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức và người

có liên quan tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành, vì vậy khi đương sự có yêu cầu thì cơ quan, tổ chức và người có liên quan có trách nhiệm phải thi hành (trừ một số trường hợp do pháp luật quy định) Với quy định đổi mới này từ 01/7/2015 đương sự được thể hiện ý chí của mình bằng quyền yêu cầu thi hành án thay vì trước đây phải làm đơn yêu cầu thi hành án; khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án của đương sự thì cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm tổ chức thi hành và chỉ được từ chối yêu cầu thi hành án khi đảm bảo các điều kiện mà luật quy định, không được tùy nghi hay chủ quan mà từ chối

Theo quy định của pháp luật: Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, Cơ quan THADS phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu Ngày

Ngày đăng: 10/01/2018, 16:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Công Bình (chủ biên) (2012), Giáo trình luật thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật thi hành án dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
5. Nguyễn Văn Công (2012), “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự ở tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự ở tỉnh Bắc Giang”
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Năm: 2012
6. Đặng Ngọc Dư (2016), “Kỹ năng kiểm sát việc áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ năng kiểm sát việc áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự”
Tác giả: Đặng Ngọc Dư
Năm: 2016
7. Phùng Thanh Hà (2014), “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”
Tác giả: Phùng Thanh Hà
Năm: 2014
8. Lê Thị Hồng Hạnh (2015), “Việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”
Tác giả: Lê Thị Hồng Hạnh
Năm: 2015
9. Nguyễn Minh Hằng (2008), “Đổi mới vị trí, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, sách chuyên khảo, NXB. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới vị trí, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2008
10. Phan Huy Hiếu (2012), “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”
Tác giả: Phan Huy Hiếu
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Mai Hiên (2014), “Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc thi hành án”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc thi hành án”
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hiên
Năm: 2014
12. Phạm Thị Hoàn (2014), “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”
Tác giả: Phạm Thị Hoàn
Năm: 2014
13. Trương Đắc Linh (2008), “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức Viện kiểm sát trong chiến lược cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, số (14-16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức Viện kiểm sát trong chiến lược cải cách tư pháp”
Tác giả: Trương Đắc Linh
Năm: 2008
14. Lê Thùy Linh (2015), “Thỏa thuận thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thỏa thuận thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện hành”
Tác giả: Lê Thùy Linh
Năm: 2015
15. Trần Văn Nam (2010), “Quá trình hình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quá trình hình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”
Tác giả: Trần Văn Nam
Năm: 2010
16. Khuất Văn Nga (2004), “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành”, Tạp chí kiểm sát, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành”
Tác giả: Khuất Văn Nga
Năm: 2004
17. Võ Thị Phượng (2010), “Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong Tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong Tố tụng dân sự Việt Nam”
Tác giả: Võ Thị Phượng
Năm: 2010
18. Phạm Vũ Ngọc Quang (2004), “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
Tác giả: Phạm Vũ Ngọc Quang
Năm: 2004
19. Trung tâm từ điển ngôn ngữ (2003), “Từ điển Tiếng Việt”, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển Tiếng Việt”
Tác giả: Trung tâm từ điển ngôn ngữ
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2003
20. Ủy ban thường vụ Quốc, Báo cáo tổng hợp ý kiến các đại biểu Quốc hội khóa XII thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật TTDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp ý kiến các đại biểu Quốc hội khóa XII thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật TTDS
28. Vụ Thi hành án dân sự (2015, 2016), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Đề tài khoa học cấp bộ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”
1. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Khác
2. Bộ Chính trị, Kết luận 79 - KL/TW ngày 28/7/2010 về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w