1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG Á

20 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 117 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vụ việc trước tiên được đưa đến hạ tòa chuyên trách để xét xử; còn những vụ việc liên quan đến tính hợp hiến của luật và các văn bản dưới luật hoặc một hành vi của Chính phủ sẽ được

Trang 1

Chương 6.

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG Á

(5 tiết)

I Hệ thống pháp luật Nhật Bản.

1 Khái quát về hệ thống pháp luật Nhật Bản

Lịch sử hình thành và phát triển của HTPL Nhật Bản trải qua ba giai đoạn như sau:

- Giai đoạn pháp luật truyền thống Nhật trước (năm 1853): Pháp luật Nhật Bản chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, đặc biệt sự tiếp nhận đạo Khổng và Phật giáo Pháp luật Nhật Bản trong giai đoạn này mềm dẻo, mang tính định hướng những hành vi đúng, sai mà ít mang tính hà khắc

- Giai đoạn cải cách lần 1 hay còn gọi thời kỳ Minh trị (1853-1945): Nhà nước dân chủ phương Tây thiết lập thay thế cho nhà nước phong kiến và sự phát triển kinh tế nhanh chóng mặt đặt Nhật Bản vào vị trí hàng đầu của các quốc gia thương mại trên thế giới Tư tưởng pháp lí, văn bản pháp luật và dường như toàn

bộ xã hội Nhật Bản lúc này đã bị âu hóa Để hiện đại hóa pháp luật, người Nhật cho rằng việc pháp điển hóa và ban hành hàng loạt bộ luật sẽ dễ dàng gặt hái thành công hơn là việc quay sang tiếp nhận common law Vì vậy, từ cuối thập kỉ thứ 6 của thế kỉ XIX, các bộ luật của Pháp và Đức đã được biên dịch ở Nhật Các bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của Nhật đều được soạn thảo trên khuôn mẫu của Pháp; Bộ luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật tổ chức tòa án của Nhật chịu ảnh hưởng lớn của Đức

- Giai đoạn 3: cải cách lần hai (từ 1945 đến nay) Sau chiến tranh thế giới lần II, công cuộc cải tổ pháp luật Nhật được tiến hành Cuộc cải tổ do tinh thần dân chủ hóa của người Mỹ thúc đẩy, vì vậy pháp luật của Nhật sau cải tổ chịu ảnh hưởng

từ hệ thống pháp luật Mỹ Hiến pháp năm 1946 và Bộ luật tố tụng hình sự là minh chứng điển hình cho xu thế này Ngày nay, pháp luật Nhật Bản là sự lai tạp giữa hai dòng họ pháp luật là common law và civil law Tuy nhiên, xã hội Nhật

Trang 2

Bản vẫn giữ những nếp tư duy cũ Đại đa số người Nhật thậm chí đến nay vẫn chưa nhận thức được rằng họ làm chủ vận mệnh của mình, vẫn không thích tham gia vào các lĩnh vực hoạt động công quyền, vẫn giao phó những công việc

đó cho thiểu số người có quyền lực trong xã hội Quan điểm phổ biến đó làm cho các cơ quan nhà nước có xu hướng tùy tiện hơn trong việc thực thi chức năng của mình Người Nhật còn có thói quen né tránh kiện tụng vì cho rằng việc xuất hiện trước tòa, ngay cả các vụ việc dân sự cũng làm ảnh hưởng xấu đến danh dự của họ Vì vậy, công dân tốt có xu hướng tránh xa pháp luật Trên thực

tế, họ có xu hướng giải quyết những khúc mắc của mình bằng con đường hòa giải hơn là bằng con đường tranh tụng tại tòa

2 Hệ thống tòa án

Hệ thống tòa án Nhật gồm 4 cấp: Tòa án tối cao, tòa án cấp cao, tòa án quận và tòa án gia đình, tòa án rút gọn

- Tòa án tối cao:

+ Về thẩm quyền: Tòa án tối cao có thẩm quyền xét xử trên phạm vi cả nước và

là cấp phúc thẩm cuối cùng Các vụ việc trước tiên được đưa đến hạ tòa chuyên trách để xét xử; còn những vụ việc liên quan đến tính hợp hiến của luật và các văn bản dưới luật hoặc một hành vi của Chính phủ sẽ được chuyển tới Thượng tòa chuyên trách để thẩm tra và xét xử

+ Cơ cấu tổ chức của Tòa tối cao: Tòa có một chánh án và 14 thẩm phán với một Thượng tòa và ba hạ tòa chuyên trách Thượng tòa chuyên trách có 15 thẩm phán, còn mỗi hạ tòa chuyên trách có 5 thẩm phán Hội đồng xét xử của Thượng tòa chuyên trách gồm 9 thẩm phán, còn Hội đồng đó của hạ tòa chuyên trách gồm 3 thẩm phán

+ Nhân sự: Chánh án Tòa tối cao do Nhật Hoàng bổ nhiệm theo sự tư vấn của nội các Các thẩm phán Tòa tối cao được Nội các bổ nhiệm với sự phê chuẩn của Nhật Hoàng Chánh án Tòa tối cao có vị trí tương đương với Thủ tướng Chính phủ và các thẩm phán của tòa tối cao có vị trí tương đương với các bộ trưởng

Trang 3

Các thẩm phán Tòa tối cao được chọn ra từ những người có kiến thức pháp lí rộng và hiểu biết Tối thiểu 10 thẩm phán phải được chọn từ các thẩm phán của các tòa án cấp dưới, công tố viên, luật sư và các giáo sư luật hay trợ lí giáo sư luật ở các trường đại học; số còn lại có thể lấy từ những người không nhất thiết

là luật sư

- Tòa án cấp cao

+ Cơ cấu tổ chức: có 8 tòa án cấp cao đặt tại 8 thành phố lớn của Nhật là Tokyo, Osaka, Nagoya, Hiroshima, Fukuoka, Sendai, Sapporo, Takamatsu Mỗi tòa cấp cao có thẩm quyền xét xử trong phạm vi thành phố mà mình quản lí

+ Thẩm quyền của tòa án cấp cao là giải quyết phúc thẩm những vụ việc đã được xét xử bởi tòa án cấp quận, tòa án gia đình và tòa án rút gọn Tòa án cấp cao còn có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với vụ việc hành chính về bầu cử và

vụ việc liên quan đến biểu tình Riêng tòa án cấp cao Tokyo còn có thẩm quyền xét xử sơ thẩm của những quyết định của các tổ chức bán tư pháp như Ủy ban thương mại bình đẳng và Phòng sáng chế

+ Hội đồng xét xử của tòa án cấp cao gồm 3 thẩm phán Tuy nhiên, đối với những vụ việc có liên quan đến biểu tình hay xem xét lại tính hợp pháp của quyết định của các tổ chức bán tư pháp sẽ do Hội đồng gồm 5 thẩm phán giải xét xử

+ Nhân sự: Mỗi tòa cấp cao có một chánh án và các thẩm phán Chánh án được nội các chỉ định và được Nhật Hoàng phê chuẩn Thẩm phán của Tòa án cấp cao cũng như của các tòa án cấp dưới do Tòa án tối cao đề cử và Nội các bổ nhiệm

- Tòa án gia đình

+ Thẩm quyền: Tòa án gia đình được thành lập để chuyên xét xử và hòa giải các

vụ việc về gia đình, kể cả các vụ việc có liên quan tới vị thành niên Tòa án gia đình có thẩm quyền xét xử đối với tất cả những tranh chấp và mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, cũng như các vấn đề có liên quan đến luật gia đình Thường những vụ tranh chấp giữa vợ và chồng, giữa những người có quan

Trang 4

hệ họ hàng và những vụ việc li dị sẽ được giải quyết bằng thủ tục hòa giải; còn những vụ việc còn lại giải quyết bằng con đường xét xử Tòa án gia đình giải quyết những vụ án vị thành niên (dưới 20 tuổi) và những vụ án mà người phạm tội đã trưởng thành nhưng có hành vi xâm hại tới sức khỏe của vị thành niên + Tòa án này được bố trí cùng địa bàn nơi có tòa án quận hoặc nơi có chi nhánh tòa án cấp quận tọa lạc Ngoài ra, những nơi có nhu cầu, tòa án gia đình còn có các văn phòng đặt tại các địa phương (có 77 văn phòng ở các địa phương)

- Tòa án cấp quận

+ Thẩm quyền: Tòa án cấp quận giải quyết sơ thẩm hầu hết các vụ việc dân sự

và hình sự, trừ những vụ việc đặc biệt do các tòa án đặc biệt chuyển tới Tòa cũng có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ việc dân sự đã được xét xử bởi tòa án rút gọn

+ Cơ cấu tổ chức: Nhật có tới 50 tòa án cấp quận đặt tại 50 địa danh khác nhau (47 tỉnh có 47 tòa và ba tòa ở các thành phố Hakodate, Asahikawa, Kushiro) với

203 chi nhánh

+ Hội đồng xét xử: trừ những vụ việc mà theo luật phải xét xử bởi hội đồng gồm

ba thẩm phán hoặc vụ có mức phạt tử hình, tù chung thân kèm theo hoặc không kèm theo lao động cải tạo tối thiểu một năm, những vụ việc còn lại thường được xét xử bởi một thẩm phán

Trang 5

SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TÒA ÁN NHẬT BẢN

3 Nguồn luật

a Luật thành văn

- Luật thành văn là nguồn luật quan trọng nhất ở Nhật Bản, gồm các văn bản pháp luật do Nghị viện, Chính phủ, cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương ban hành Thẩm phán phải có bổn phận áp dụng luật thành văn trước các nguồn khác để giải quyết các vụ việc đưa đến tòa

- Trong luật thành văn, Hiến pháp được coi là văn bản đặc biệt, tối cao so với các văn bản khác Người Nhật coi Hiến pháp của họ là văn bản luật thiêng liêng điều chỉnh toàn bộ đất nước Nhật Đối với người Nhật, Hiến pháp Nhật Bản có vị trí giống như Bộ luật Napoleon đối với nước Pháp Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản được thông qua năm 1946 với ba nguyên tắc cơ bản

+ Một là chủ quyền nhân dân chứ không thuộc về Nhật Hoàng như hiến pháp năm 1889 Nghị viện Nhật Bản là cơ quan làm luật tối cao, gồm các nghị sĩ

do nhân dân bầu ra Trước đây, Nhật Hoàng có quyền lực tối cao nhưng nay chỉ đóng vai trò biểu tượng quốc gia và sự thống nhất của dân tộc Nhật Hoàng thực

Tòa án tối cao

Tòa án quận

Tòa án rút gọn Tòa án cấp cao

Tòa án gia đình

Trang 6

hiện hàng loạt những hành động dựa trên sự tư vấn của và phê chuẩn của Nội các như công bố việc sửa đổi Hiến pháp, luật, pháp lệnh, và điều ước quốc tế; triệu tập cuộc họp của Nghị viện, giải tán Nghị viện; chứng nhận việc bổ nhiệm các bộ trưởng, các quan chức Chính phủ và tiếp đại sứ nước ngoài Nhật Hoàng còn bổ nhiệm Thủ tướng và Chánh án Tòa tối cao nhưng việc này chỉ mang tính thủ tục vì thực tế, Thủ tướng do Nghị viện đề cử, Chánh án do Nội các đề cử

+ Hai là, nguyên tắc chủ nghĩa hòa bình và hợp tác hòa bình với các nước khác thể hiện ở Điều 9, Hiến pháp 1946 Điều khoản này tuyên bố từ bỏ quyền chiến tranh và sử dụng các lực lượng vũ trang như phương tiện để giải quyết tranh chấp quốc tế Tuy nhiên, điều khoản này của Hiến pháp không ngăn cản Chính phủ Nhật duy trì lực lượng quốc phòng tối thiểu cần thiết để tự vệ

+ Ba là, nguyên tắc tôn trọng quyền con người cơ bản ở chương II, Hiến pháp 1946 Để bảo vệ các quyền con người cơ bản đó, Hiến pháp trao quyền giám sát tư pháp cho hệ thống tòa án, quyền này trùm lên cả các hành vi do chính phủ thực hiện có ảnh hưởng tới quyền tự do của con người

- Ngoài Hiến pháp, luật thành văn còn được hợp thành bởi các văn bản pháp luật do Nghị viện và Chính phủ ban hành, trong đó phải kể đến Bộ luật dân

sự Nhật Bản Đây là bộ luật chịu sự ảnh hưởng cả từ Bộ luật dân sự Đức và Bộ luật dân sự Pháp, được cấu thành năm quyển, lần lượt có tiêu đề: phần chung, quyền, nghĩa vụ, gia đình, thừa kế Quyển 1 chứa đựng những quy định chung liên quan đến tất cả các chế định còn lại của Bộ luật và gồm sáu chương về tự nhiên nhân, pháp nhân, vật, hành vi pháp lí, giới hạn về thời gian và thời hiệu khởi kiện Quyển II quy định về quyền tài sản, không chỉ quy định về tài sản, quyền sở hữu đối với tài sản, mà còn quy định về quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản làm vật bảo đảm trong giao dịch dân sự Quyển III, quy định về luật nghĩa vụ Chương I gồm những quy định chung áp dụng với tất cả các nghĩa vụ được thiết kế tương tự như các điều khoản trong Chương III của quyển III của

Bộ luật dân sự Pháp Chương II, quy định về hợp đồng với tư cách là nguồn

Trang 7

quan trọng nhất của nghĩa vụ Hợp đồng theo quy định rất rộng, bao gồm nhiều loại hợp đồng cho tặng, mua bán, trao đổi, cho vay, kí gửi hàng hóa, thuê tài sản, thuê dịch vụ, hợp đồng lao động, đại lí, gửi tiền, hiệp hội, tiền góp hàng năm, thỏa hiệp và cả di chúc Các chương còn lại quy định về làm giàu bất chính, bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và các hành vi phi pháp Quyển IV

và V quy định về gia đình truyền thống của Nhật Bản trong đó có nhiều quy định lạc hậu ngay tại thời điểm Bộ luật đang được soạn thảo Ví dụ: Những quy định về gia đình nhiều thế hệ mà người đứng đầu có rất nhiều quyền lực và các thành viên khác trong gia đình phải thực sự chấp thuận của người đứng đầu trước những quyết định hệ trọng Trên thực tế, mô hình gia đình nhiều thế hệ của Nhật Bản chỉ còn tồn tại ở những vùng xa xôi hẻo lánh, còn những nơi khác đều tồn tại kiểu gia đình hai thế hệ (cha mẹ và con cái)

b Phán quyết của tòa

Trên thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tòa án ở Nhật Bản cho thấy, những trường hợp văn bản luật quy định chung chung, trừu tượng thì thẩm phán có vai trò làm sáng rõ nghĩa của các quy định trong quá trình thẩm phán áp dụng luật

để giải quyết các vụ việc Và cách giải thích luật đó của thẩm phán tiền bối thường được các thẩm phán khác áp dụng trong quá trình giải quyết những vụ việc tương tự Vì vậy, thực chất thẩm phán là người chính thức đem lại ngữ nghĩa cho luật thành văn

Về mặt lí thuyết, thẩm phán Nhật Bản không có nghĩa vụ phải tuân thủ tiền lệ pháp và cũng không có điều khoản pháp luật cụ thể nào của Nhật Bản quy định rằng các phán quyết trong quá khứ của tòa là tiền lệ pháp, là nguồn luật Ngay trong Điều 4 Luật tòa án quy định phán quyết của tòa án cấp cao hơn

có giá trị ràng buộc tòa án cấp dưới khi xét xử vụ việc tương tự trong tương lai nhưng đạo luật này không đưa ra khái niệm tiền lệ pháp và cũng không chỉ ra rằng các tòa án phải tuân thủ theo học thuyết tiền lệ pháp Theo Hiến pháp Nhật Bản, người thẩm phán phải thực hiện bổn phận của mình một cách độc lập, đúng

Trang 8

lương tâm, và chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật Tuy nhiên, thẩm phán có quyền giải thích luật, thay đổi nghĩa của các quy định pháp luật hoặc tạo ra các quy phạm pháp luật mới khi luật không quy định Trên thực tế, phán quyết của Tòa án tối cao thường được các tòa cấp dưới tôn trọng và tuân thủ như nguồn luật cơ bản và thuật ngữ tiền lệ pháp thường được sử dụng khi nói về phán quyết của tòa án tối cao Ngày nay, tiền lệ pháp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển pháp luật Nhật Bản hiện đại Một số lĩnh vực pháp luật như: luật đất đai, luật về cho thuê nhà, luật bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và luật hành chính…đều nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ phán quyết của tòa Điều đó được lí giải bởi thực tế là các bộ luật và luật có liên quan chỉ cung cấp các nguyên tắc pháp lí chung, vì vậy những lỗ hổng trong các văn bản pháp luật cần được tòa án lấp đầy trong quá trình xét xử Các quy phạm pháp lí mới, nảy sinh

từ phán quyết của tòa, vì vậy thường là chủ đề bàn luận của các học giả trong những bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lí Các bài viết bình luận về các phán quyết của tòa án chứa đựng những ý kiến, quan điểm của các học giả pháp lí, đến lượt mình lại thường có ảnh hưởng tới việc ra phán quyết của các tòa án khi giải quyết những vụ việc ở giai đoạn tiếp theo Mặc dù không chính thức thừa nhận học thuyết tiền lệ pháp, Nhật Bản có rất nhiều sách công bố phán quyết của tòa án do cả Nhà nước và tư nhân xuất bản Như vậy, ở Nhật Bản phán quyết của tòa là nguồn luật thực tế Phán quyết của tòa tối cao có giá trị ràng buộc các tòa cấp dưới, làm sáng tỏ các quy phạm của luật thành văn và lấp lỗ hổng của luật thành văn

c Tập quán pháp

- Ở Nhật Bản, tập quán pháp được hiểu là những quy tắc xử sự được xã hội tuân thủ mặc dù không được bất cứ cơ quan công quyền nào đặt ra Đây là những quy tắc phổ biến được hình thành một cách không chủ định do thói quen của xã hội Tập quán được coi là nguồn luật nếu tập quán đó liên quan tới những vấn đề chưa được pháp luật quy định đồng thời không trái với trật tự công cộng

Trang 9

hoặc trái với quy phạm đạo đức, không bị bãi bỏ bởi bất cứ quy định pháp luật nào do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc được pháp luật quy định cụ thể về việc áp dụng tập quán đó

- Về nguyên tắc, tập quán chỉ là nguồn luật phụ trợ và thẩm phán chỉ áp dụng tập quán pháp khi không có trong luật thành văn Ví dụ, Điều 92, Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định: “Nếu tập quán trái với luật thành văn mà luật thành văn không quy định về những vấn đề thuộc chính sách công, phán quyết có thể dựa vào tập quán nếu được các bên đương sự đồng ý” Thậm chí, trên thực tế, không phải mọi trường hợp, luật thành văn đều có vị trí quan trọng hơn tập quán pháp Ví dụ, theo Điều 1 Bộ luật thương mại Nhật Bản, tập quán thương mại sẽ được áp dụng nếu Bộ luật thương mại không quy định về vấn đề có liên quan và chỉ khi không có tập quán thương mại có liên quan thì mới áp dụng các quy định

có liên quan trong Bộ luật dân sự Thậm chí thẩm phán có thể dựa vào những tập quán không phù hợp với luật thực định nhằm đạt tới giải pháp thỏa đáng Ví dụ tiêu biểu là vụ việc trong lĩnh vực luật hôn nhân Theo Luật của Nhật, hôn nhân không có hiệu lực cho tới khi cuộc hôn nhân đó được đăng kí trước cơ quan nhà nước Vì điều 739, Bộ luật dân sự Nhật là quy phạm pháp luật ràng buộc nên tòa

án từ chối áp dụng tập quán trái với quy định này Tuy nhiên theo quan niệm truyền thống, hôn nhân được coi là hoàn tất bằng một thực tế đơn giản là một người đàn ông và một người đàn bà sống cùng nhau và được xã hội công nhận Nếu từ chối tất cả các hệ quả pháp lí với quan hệ vợ chồng nếu cặp vợ chồng đó không đăng ký kết hôn trong quãng thời gian dài thì không công bằng Các tòa

án Nhật Bản đã tuân thủ phán quyết nổi tiếng của Tòa phá án ra ngày 26/01/1915 xét xử cuộc hôn nhân loại này Tòa cho rằng nếu đó không là hôn nhân thực thì ít ra cũng gần như là hôn nhân, mối quan hệ vợ chồng được xã hội chấp nhận cũng được phép hưởng một vài hệ quả pháp lí mà luật thành văn dành cho những cuộc hôn nhân theo luật

d Nguyên tắc chung của pháp luật

Trang 10

- Trong tất cả các vụ việc, trừ những vụ việc hình sự, thẩm phán quyết định theo nguyên tắc chung của pháp luật khi không có nguồn luật nào khác có thể áp dụng Tuy nhiên, hiếm khi các thẩm phán chỉ dựa vào nguyên tắc chung của pháp luật vì ngày nay các vụ việc được đưa ra tòa thường là những vụ việc được luật thành văn quy định hoặc đã có tiền lệ pháp Trước đây, khi pháp luật thành văn còn nhiều lỗ hổng, tập quán pháp mang tính cổ xưa và phạm vi áp dụng tập quán bị giới hạn nghiêm trọng thì nhiều thẩm phán đã ra các phán quyết dựa trên các nguyên tắc chung của pháp luật Nhiều học giả cho rằng bản dịch ra tiếng Nhật của các bộ luật của Naponeon và những bộ luật mới được soạn thảo của Boissonade là cơ sở cho các nguyên tắc chung của pháp luật mà tòa án đã sử dụng để ra phán quyết Ngày nay, bảo đảm tính hợp hiến của bản án được xem là phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật được mọi người chấp nhận Nếu coi tất cả các cơ sở pháp lí mà tòa án dựa vào để ra bản án là nguồn luật thì khi đó nguyên tắc chung của pháp luật là một nguồn luật

e Ý kiến của các học giả pháp lí

- Các tác phẩm của các học giả có vai trò quan trọng trong việc hình thành luật thực định theo cách thức gián tiếp, vì các tác phẩm này cung cấp cơ sở lí luận cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật, cho việc tiến hành hoạt động lập pháp và dẫn dắt tư duy của thẩm phán trong quá trình xét xử Vì vậy, phán quyết của tòa và luật thành văn đều có nguồn gốc từ mảng lí luận khoa học pháp

lí có liên quan Hơn nữa, giai đoạn đầu của thời kì cải cách pháp luật, những bộ luật quan trọng của Nhật Bản đều dựa vào luật của các nước thuộc dòng họ Civil law Trong khi đó thẩm phán Nhật Bản lại không có kinh nghiệm trong giải thích các bộ luật với những quy phạm pháp luật được nhập khẩu từ phương Tây, vì vậy, họ đã phải dựa vào sự trợ giúp của các học giả là những người khá am hiểu

về luật nước ngoài Sau này, khi Mỹ thành hình mẫu cho Nhật soạn thảo các đạo luật về tiêu chuẩn lao động, về tố tụng hình sự, về chống độc quyền, về chứng khoán, thậm chí cả đối với việc soạn thảo và giải thích Hiến pháp năm 1946

Ngày đăng: 09/09/2019, 14:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w