1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của tòa án theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới ths luật 60 38 60

135 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 301,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, tại Việt Nam hiện naycác quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài và việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

MAI THU THỦY

XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

MAI THU THỦY

XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NÔNG QUỐC BÌNH

Hà nội – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Điểm mới và ý nghĩa của việc nghiên cứu 5

6 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA TÒA ÁN 7

1.1 Các khái niệm 7

1.1.1 Khái niệm ―quan hệ dân sự quốc tế‖ 7

1.1.2 Khái niệm ―thẩm quyền‖ và ―thẩm quyền xét xử của Tòa án‖ .12

1.1.3 Khái niệm ―xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án‖ 15 1.2 Xung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế và các nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án 18

1.2.1 Xung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế 18

1.2.2 Các nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án 20

1.3 Một số vấn đề cơ bản trong việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án 27

1.3.1 Thẩm quyền xét xử riêng biệt 27

1.3.2 Lựa chọn Tòa án thích hợp nhất (Forum shopping) 28

1.3.3 Thẩm quyền không thích hợp (Forum Non Conveniens) và Vụ kiện đang chờ xét xử (Lis Pendens) 30

Trang 4

1.4 Nguồn luật điều chỉnh việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế

của Tòa án 34

1.4.1 Pháp luật quốc gia 34

1.4.2 Điều ước quốc tế 36

1.4.3 Tập quán quốc tế 43

CHƯƠNG II.PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA TÒA ÁN 46

2.1 Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật Hoa Kỳ 46

2.1.1 Các Tòa án có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế tại Hoa Kỳ 46

2.1.2 Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật Hoa Kỳ 49

2.2 Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật Nhật Bản 61

2.2.1 Các Tòa án có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế tại Nhật Bản 61

2.2.2 Xác định thẩm quyền xét xử quốc tế của Tòa án theo pháp luật Nhật Bản 62

2.3 Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật Trung Quốc 74

2.3.1 Các Tòa án có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế tại Trung Quốc74 2.3.2 Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật Trung Quốc 78

2.4 Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật Liên bang Nga 82

2.4.1 Các Tòa án có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế tại Liên bang Nga 82

Trang 5

2.4.2 Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp

luật Liên bang Nga 83

CHƯƠNG III.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA TÒA ÁN TẠI VIỆT NAM 91

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án 91

3.1.1 Quan điểm, chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách tư pháp 91

3.1.2 Yêu cầu giải quyết kịp thời, hiệu quả các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế 92

3.2 Thực trạng việc xác định thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự quốc tế của Tòa án tại Việt Nam 93

3.2.1 Khái quát về các Tòa án và nguồn luật điều chỉnh việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Toà án tại Việt Nam 93

3.2.2 Thực trạng việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên 98

3.2.3 Thực trạng việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo Pháp luật Việt Nam 101

3.3 Một số định hướng và yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án 113

3.4 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án 114

3.4.1 Giải pháp trong ngắn hạn 114

3.4.2 Giải pháp trong dài hạn 119

KẾT LUẬN 123

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế, việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền cùng vớiviệc lựa chọn luật áp dụng và công nhận, thi hành phán quyết của Tòa án hoặc trọngtài nước ngoài được coi là những vấn đề cơ bản Mặt khác, tại Việt Nam hiện naycác quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài và việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là một trongnhững vấn đề lý luận và thực tiễn rất được quan tâm trong khoa học pháp lý vìnhững lý do sau:

Thứ nhất: Cơ chế pháp lý của việc giải quyết các vụ việc dân sự quốc tế nói

chung và việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự quốc tế nói riêng làlĩnh vực phức tạp cả về lý luận và thực tiễn Bởi vì nó không chỉ bó hẹp trong phạm

vi quốc gia mà luôn liên quan đến quan hệ với nước ngoài và có tính chất quốc tế

Thứ hai: Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu và rộng vào đời sống dân sự

quốc tế, vì vậy, các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nảy sinh ngày càng nhiều,đòi hỏi các Tòa án phải xác định đúng thẩm quyền giải quyết của mình, đảm bảoquá trình tố tụng diễn ra nhanh chóng và đúng pháp luật Mặt khác, các cá nhân, tổchức Việt Nam khi tham gia quan hệ dân sự quốc tế cũng cần phải có những kiếnthức cơ bản về thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án các quốc gia nhằm bảo

vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất

Thứ ba: Bộ luật Tố dụng dân sự của nước CHXHCN Việt Nam năm 2004 ra đời

là một bước đột phá trong việc đưa ba Pháp lệnh Tố tụng về dân sự, kinh tế và laođộng vào chung một Bộ luật đồng thời có nhiều điểm mới về thẩm quyền xét xử củaTòa án đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, các quy địnhcủa Bộ luật này vẫn còn nhiều bất cập và thực tế là chính các cơ quan pháp luậtcũng còn có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau liên quan đến thẩm quyền xét xửdân sự quốc tế của Tòa án được quy định tại Bộ luật này Bên cạnh đó, các Điềuước quốc tế về vấn đề này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Trang 7

Thứ tư, trong tiến trình thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

của Đảng và Nhà nước, một trong những yêu cầu quan trọng và có ý nghĩa quyếtđịnh là tạo lập nền tảng pháp lý làm cơ sở cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vàxây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam Cùng với việc xây dựng và hoànthiện pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ kinh tế - xã hội khác, việc tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoàitrong đó có chế định thẩm quyền xét xử các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài làmột đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa lớn

Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay đã trở thành một đòi hỏi có tính tấtyếu khách quan của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển Quá trình hội nhậpquốc tế đòi hỏi Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện Điều đó cũng

có nghĩa là, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ choquá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thìviệc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài nói chung và việc hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thẩmquyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng, là một yêu cầu tấtyếu khách quan và mang tính cấp thiết hiện nay

Trong bối cảnh mở rộng quan hệ quốc tế theo xu thế hội nhập của Việt Namhiện nay, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về việc banhành Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã ra chỉ đạo ―Cải cách tư phápphải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tưpháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam: tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nướcngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đápứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai…‖[1]

Tuy nhiên, do điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, khoa học Tư phápquốc tế Việt Nam phát triển muộn hơn nhiều so với các quốc gia khác trên thế giới, cácquy định điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung cũng như các quyđịnh về việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nóiriêng còn chưa thực sự phát triển và phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội

Trang 8

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã có nhiều công trình và bài viết nghiên cứuvấn đề ―Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế‖ theo những khía cạnh và cách tiếp cậnkhác nhau, tuy nhiên, hầu hết và chủ yếu đều tập trung vào phương thức và thủ tụcgiải quyết một hoặc một số lĩnh vực tranh chấp nhất định.

Cho đến nay, chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách toàndiện, đầy đủ và có hệ thống về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế củaTòa án theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới từ đó làm cơ sở để kiến nghịhoàn thiện chế định này trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tếcủa Việt Nam hiện nay

Những nội dung trình bày trên đây là cơ sở khoa học và thực tiễn để tác giảchọn nghiên cứu đề tài ―Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa ántheo pháp luật một số quốc gia trên thế giới‖

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xácđịnh thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật một số quốc giatrên thế giới trong mối liên hệ so sánh với pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó, đềxuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam vềviệc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

Với mục đích nêu trên, luận văn này tự đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Trình bày một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế;

- Phân tích pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án;

- Chỉ ra những bất cập, vướng mắc và hạn chế trong các quy định của phápluật Việt Nam hiện hành về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

và kiến nghị phương án sửa đổi cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cácquy định của pháp luật về xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

Trang 9

Với những mục đích, nhiệm vụ chính được nêu trên đây, trong điều kiện rất hạnhẹp về thời gian nghiên cứu, tài liệu tham khảo và trong khuôn khổ của một luậnvăn thạc sỹ, tác giả đã tự định ra cho mình phạm vi nghiên cứu phù hợp với một góc

độ tiếp cận như sau:

Thứ nhất: Luận văn chủ yếu nghiên cứu việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự

quốc tế của Tòa án dưới góc độ Tư pháp quốc tế, đặt trọng tâm vào khía cạnh xungđột pháp luật về thẩm quyền để xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự cóyếu tố nước ngoài của Tòa án

Thứ hai: Về mặt lý luận, việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của

Tòa án được dựa trên các nguồn luật chủ yếu và phổ biến là Điều ước quốc tế và

pháp luật quốc gia, trong đó, các Điều ước quốc tế bao gồm các Điều ước quốc tếsong phương và các Điều ước quốc tế đa phương nhưng luận văn mới chỉ có điềukiện nghiên cứu việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theomột số Điều ước quốc tế song phương tiêu biểu và theo pháp luật của 4 quốc gia làHoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên Bang Nga

Thứ ba: Do tiếp cận vấn đề dưới góc độ nghiên cứu các nguyên tắc, tiêu chí xác

định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật một số quốc giatrên thế giới nên luận văn không trình bày tất cả những nội dung về lý luận và thựctrạng pháp luật về thẩm quyền của mỗi quốc gia mà chỉ chủ yếu khai thác nhữngquy định chung nổi bật nhất về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế củaTòa án theo pháp luật của các quốc gia đó

Thứ tư: Những đề xuất, kiến nghị về vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam nêu ra

trong luận văn này cũng chủ yếu trên cơ sở và xuất phát từ những nhận xét, đánh giá

Trang 10

rút ra trong quá trình nghiên cứu các Điều ước quốc tế đa phương và pháp luật củacác quốc gia nêu tại Chương II của Luận văn này Tác giả xác định đây là kết quảnghiên cứu bước đầu và cần được tiếp tục bổ sung hoàn thiện hơn nữa trong quátrình nghiên cứu sau này.

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩaMác – Lê nin và quan điểm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về pháttriển kinh tế - xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế

Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phươngpháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lýnói riêng như: phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch

sử, phương pháp logic, phương pháp so sánh

Như đã trình bày ở trên, cho đến nay, chưa có một công trình, bài viết nàonghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về việc xác định thẩm quyềnxét xử dân sự quốc tế của Tòa án theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới từ đólàm cơ sở để kiến nghị hoàn thiện chế định này trong tiến trình cải cách tư pháp vàhội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay, vì vậy, có thể nói đây là công trìnhđầu tiên nghiên cứu về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa ántheo góc độ này

Luận văn có những điểm mới như sau:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về việc xác định thẩm quyền xét xửdân sự quốc tế của Tòa án;

- Trình bày và phân tích các nội dung về xác định thẩm quyền xét xử dân sựquốc tế của Tòa án theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới, cụ thể là theo pháp luậtHoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên bang Nga;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành

Trang 11

Tác giả cho rằng, đề tài nghiên cứu này có một số ý nghĩa như sau:

- Thứ nhất, góp phần làm phong phú hơn hệ thống lý luận về xác định thẩm

quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án;

- Thứ hai, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về việc xác định thẩm quyền

xét xử dân sự quốc tế của Tòa án trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế;

- Thứ ba, luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động nghiên cứu lý

luận và hoạt động thực tiễn của các cơ quan xây dựng và bảo vệ pháp luật, của các chuyêngia nghiên cứu, của các cá nhân, tổ chức tham gia vào các quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài và những người quan tâm tới vấn đề này

Nội dung và kết quả nghiên cứu được thể hiện trong luận văn theo kết cấu chung gồm: Mở đầu, 3 Chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo

Chương I – Những vấn đề lý luận chung về việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án;

Chương II – Pháp luật của một số quốc gia về xác định thẩm quyền xét xử dân

sự quốc tế của Tòa án;

Chương III – Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án tại Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN

XÉT XỬ DÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA TÒA ÁN 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm “quan hệ dân sự quốc tế”

Khái niệm ―quan hệ dân sự quốc tế‖ hay ―quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài‖ hiện vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi, không chỉ trong khoa học pháp lý ở ViệtNam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới Điều đó được lý giải bởi thực tế cho thấy

có sự khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, giữa những tư tưởng, quan điểm của cácnhà khoa học, luật gia thuộc các quốc gia với các hệ thống pháp luật khác nhau Sựkhác nhau này xoay quanh các vấn đề về phạm vi (nội hàm) của khái niệm quan hệdân sự, về cách thức xác định yếu tố nước ngoài trong loại quan hệ này, về vị trí của

nó là thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật nào (luật dân sự hay luật Tư phápquốc tế) Một trong các nguyên nhân dẫn đến những quan điểm khác nhau thể hiện

ở chỗ, tùy thuộc vào mục đích điều chỉnh của mỗi ngành luật, tùy thuộc vào ý đồcủa nhà làm luật hay nói rộng ra là của giai cấp thống trị

1.1.1.1 Khái niệm “quan hệ dân sự”

Để có thể hiểu khái niệm quan hệ dân sự quốc tế, trước hết xin đề cập sơ lược

về khái niệm ―quan hệ dân sự‖ Thế nào là quan hệ dân sự? Quan hệ dân sự lànhững quan hệ nào? Đây cũng là vấn đề gây tranh cãi đối với các nhà nghiên cứutrong và ngoài nước Đương nhiên, ai cũng ̣ cho r ằng, quan hệ dân sự là đối tượngđiều chỉnh của luật dân sự Nhưng quan hệ dân sự gồm những loại quan hệ nào, thìhiện còn rất nhiều ý kiến khác nhau Theo ý kiến của các chuyên gia Nhật Bản tạicác cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học về việc sửa đổi Bộ luật dân sự Việt Nam 1995,thì quan hệ dân sự là tất cả các quan hệ giữa con người (chủ yếu là cá nhân, phápnhân) với nhau; còn các quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước thì thuộc đối tượngđiều chỉnh của luật công Song cũng có ý kiến cho rằng, quan hệ dân sự phải hiểutheo nghĩa rộng, tức là bao gồm cả các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động,thương mại

Trang 13

Nói đến vấn đề này, không thể không nhắc đến sự phân loại pháp luật thành

―luật công‖ (công pháp - droit public) và ―luật tư‖ (tư pháp - droit privé) ở nhiềunước hiện nay Đối với đại đa số các nước chia pháp luật thành luật công và luật tư(điển hình là Pháp, Italia, Cộng hòa Liên bang Đức và các nước theo hệ thống CivilLaw), thì dân luật (luật dân sự) - cùng với luật thương mại, luật lao động - đượcxếp vào luật tư [12] Do đó, ở đây quan hệ dân sự được hiểu là đối tượng điều chỉnhcủa luật tư Nhưng ở các nước không có sự phân chia pháp luật thành luật công vàluật tư (điển hình là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, cũng như ViệtNam hiện nay), thì phạm vi quan hệ dân sự thường bao gồm quan hệ nhân thân vàquan hệ tài sản

Theo quan điểm của nhiều luật gia Việt Nam, thì phạm vi quan hệ dân sự (đốitượng điều chỉnh của luật dân sự) bao gồm ―những nhóm quan hệ xã hội giữangười với người, phát sinh trong cuộc sống hàng ngày Đó là: nhóm quan hệ tài sản

và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông, traođổi, tiêu dùng nhằm thỏa mãn những nhu cầu về mọi mặt của các chủ thể trongsản xuất, kinh doanh hoặc trong sinh hoạt, tiêu dùng của đời sống xã hội‖ [17] Nhưvậy, khái niệm quan hệ dân sự ở đây được hiểu theo nghĩa khá rộng, song không tráivới quy định tại Điều 1 của Bộ luật dân sự 2005 (chủ yếu bao gồm các quan hệ tàisản và quan hệ nhân thân) Phạm vi quan hệ tài sản - đối tượng điều chỉnh của luậtdân sự - cũng rất phong phú, là ―quan hệ giữa người với người thông qua một tàisản nhất định như tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng hoặc các quyền về tài sản‖[17] Còn phạm vi quan hệ nhân thân - đối tượng điều chỉnh của luật dân sự - ―lànhững quan hệ mà theo khoa học luật dân sự được hình thành từ một giá trị tinh thần củamột cá nhân hoặc một tổ chức và luôn gắn liền với cá nhân hoặc tổ chức

đó‖ [17]

Từ những phân tích trên đây, có thể đi đến nhận định rằng, khái niệm ―quan hệdân sự‖, theo quan điểm của đông đảo các luật gia, nhà nghiên cứu khoa học pháp lýcủa Việt Nam, được hiểu tương đối thống nhất là các quan hệ giữa con người vớinhau trong cuộc sống hàng ngày, các quan hệ về đời sống, sinh hoạt, tiêu dùng hoặc

Trang 14

sản xuất, kinh doanh trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí [17] Theo quanđiểm này, thì việc coi các quan hệ hôn nhân và gia đình là quan hệ dân sự cũnghoàn toàn có cơ sở Vì vậy, nhiều nước đưa các quan hệ hôn nhân và gia đình vào

Bộ luật dân sự (Pháp, Nhật Bản, Canada ), song cũng có nước đưa vào một đạoluật riêng (Việt Nam, Trung Quốc, Nga ) Tuy nhiên, dù để ở đâu, thì các quan hệhôn nhân và gia đình cũng là quan hệ dân sự (có tính chất dân sự) và thuộc đốitượng điều chỉnh của luật tư

Ở Việt Nam không có sự phân chia pháp luật thành luật công và luật tư Sựphân chia các ngành luật vẫn có rất nhiều ý kiến và ngay cả phạm vi của ngành luậtdân sự Việt Nam cũng vẫn có những quan điểm không thống nhất Các quan hệ hônnhân và gia đình, tuy được điều chỉnh bằng một đạo luật riêng (Luật Hôn nhân vàgia đình năm 1959, 1986, 2000), song trên các mức độ nhất định, vẫn được Bộ luậtdân sự điều chỉnh (tại các Điều 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, …) [2], tuy chỉ là sự điềuchỉnh có tính nguyên tắc

Rõ ràng là, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các quan hệ dân sự ngày càng

có vai trò quan trọng trong thực tiễn đời sống xã hội Do đó, ―việc điều chỉnh cácquan hệ xã hội có tính chất đặc trưng là cần thiết và phải có sự điều chỉnh bằng phápluật đối với các nhóm quan hệ xã hội đó Đây là một vấn đề không thể thiếu trongmột nền kinh tế hàng hóa‖ [17] Việc điều chỉnh các quan hệ dân sự còn đồng thời là

cơ sở để thực hiện mục đích duy trì, phát triển quan hệ xã hội trong các lĩnh vực tàisản, nhân thân và quan trọng hơn là duy trì một trật tự pháp lý trong trao đổi hànghóa, bảo đảm cho hoạt động của các chủ thể được tiến hành bình thường, với sự bảo

hộ cần thiết của Nhà nước trong những trường hợp nhất định

1.1.1.2 Khái niệm “quan hệ dân sự quốc tế”

Ngày nay, các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng, trong lịch sử tồn tại vàphát triển của xã hội loài người, ngoài những mối quan hệ phát sinh trong nội bộdân cư của một quốc gia, thì còn tồn tại và phát sinh nhiều mối quan hệ khác vượt rakhỏi phạm vi nội bộ dân cư của một quốc gia, đòi hỏi phải được pháp luật điềuchỉnh Đó là các quan hệ giữa những người thuộc các quốc tịch khác nhau, hoặc các

Trang 15

quan hệ của công dân nước này phát sinh trên lãnh thổ nước kia liên quan đến việcmua bán tài sản, giao kết hợp đồng, hôn nhân và gia đình, thừa kế, lao động v.v Đây là các quan hệ quốc tế hay quan hệ có yếu tố nước ngoài.

Chúng ta biết rằng, thuật ngữ ―yếu tố nước ngoài‖ (foreign elements) đượcghép với thuật ngữ ―quan hệ dân sự‖ (civil relations) thành thuật ngữ ―quan hệdân sự có yếu tố nước ngoài‖ (the civil relations containing foreign elements) Vấn

đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn Tư pháp quốc tế là xác định yếu tố nướcngoài trong các quan hệ dân sự, từ đó dẫn đến phân biệt những quan hệ dân sựthuộc phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với những quan hệ không thuộcphạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Trước hết, cần phân biệt hai thuật ngữ ―yếu tố nước ngoài‖ và ―nhân tố nướcngoài‖ mà trong các công trình nghiên cứu hoặc trong một số văn bản pháp luật củaViệt Nam đã từng sử dụng (như Thông tư số 11/TATC ngày 12 tháng 7 năm 1974của Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn một số vấn đề về nguyên tắc và về thủ tụctrong việc giải quyết những việc ly hôn có nhân tố nước ngoài) Nếu sử dụng thuậtngữ nhân tố nước ngoài, chữ nhân theo nghĩa Hán -Việt được hiểu là người (), thì

có thể dẫn đến việc hiểu ý nghĩa của thuật ngữ này chỉ theo nghĩa hẹp, tức là khiquan hệ dân sự có người nước ngoài tham gia Còn sử dụng thuật ngữ yếu tố nướcngoài, thì dẫn đến cách hiểu với đầy đủ ý nghĩa hơn

Ở các nước, quan điểm về yếu tố nước ngoài rất khác nhau, tuy nhiên quan điểmtương đối thống nhất của các luật gia trong và ngoài nước đều cho rằng, khi quan hệdân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được coi là quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài: thứ nhất, khi trong quan hệ đó có người nước ngoài hoặc pháp nhân nướcngoài tham gia; thứ hai, khi căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan

hệ đó xảy ra ở nước ngoài; thứ ba, khi tài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ở nướcngoài Như vậy, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể là quan hệ dân sự thuộcmột, hai hoặc cả ba trường hợp đó Đây cũng là quan điểm về yếu tố nước ngoài củapháp luật Việt Nam, cụ thể, theo Điều 758 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 thì:

―Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có

Trang 16

ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia làcông dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ

đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đếnquan hệ đó ở nước ngoài‖[2]

Việc xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự ở trường hợp thứ nhất làdựa vào yếu tố quốc tịch của chủ thể (là người nước ngoài hoặc pháp nhân nướcngoài) Khái niệm pháp nhân ở đây có thể hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm cảNhà nước Xét về mặt lý thuyết, thì Nhà nước cũng có thể tham gia vào một số quan

hệ dân sự trong trường hợp đặc biệt (chẳng hạn Nhà nước là người hưởng thừa kếđối với tài sản của công dân mình ở nước ngoài trong trường hợp người đó chếtkhông để lại di chúc, không cọ• ai thừa kế theo pháp luật)

Trong trường hợp thứ hai, yếu tố nước ngoài được xác định dựa vào nơi xảy racăn cứ pháp lý (sự kiện pháp lý) làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự ởnước ngoài, thực chất là dựa vào nơi xảy ra hành vi pháp lý Chẳng hạn, khi haicông dân Việt Nam giao kết với nhau hợp đồng dân sự trên lãnh thổ Pháp, làm phátsinh quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài

Trong trường hợp thứ ba, yếu tố nước ngoài được xác định dựa vào nơi tồn tạitài sản (nơi có vật) ở nước ngoài liên quan đến quan hệ dân sự Chẳng hạn, hai côngdân Việt Nam ly hôn với nhau tại Tòa án Việt Nam, nhưng vào thời điểm ly hôn họ

có tài sản chung ở nước ngoài

Xét về mặt bản chất, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng là quan hệ dân

sự, song nó khác cơ bản so với quan hệ dân sự thông thường (không có yếu tố nướcngoài) là ở chỗ, khi phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thì luôn dẫn đếnhiện tượng xung đột pháp luật; còn khi phát sinh quan hệ dân sự thông thường, thìkhông có xung đột pháp luật Đối với các quan hệ dân sự không thuộc trường hợpnào trong ba trường hợp nêu trên, về nguyên tắc chỉ cần một hệ thống pháp luật điềuchỉnh là đủ

Trang 17

1.1.2 Khái niệm “thẩm quyền” và “thẩm quyền xét xử của Tòa án”

1.1.2.1 Khái niệm “thẩm quyền”

―Thẩm quyền‖ là một khái niệm quan trọng, trung tâm của khoa học pháp lý

Có thể nói, không có thuật ngữ nào được sử dụng phổ biến trong pháp luật nhưthuật ngữ ―thẩm quyền‖ Trong pháp luật nước ngoài, chúng ta còn thường gặpthuật ngữ thẩm quyền ngay trong tên các văn bản pháp luật Tuy vậy, ngay trongvăn bản pháp luật nước ngoài, thường cũng không có định nghĩa khái niệm thẩmquyền, mặc dù thực chất vấn đề là quy định về thẩm quyền, ở nước ta cũng có tìnhtrạng đó Có lẽ một phần do sự phức tạp của khái niệm này nên khó đưa ra một địnhnghĩa đầy đủ về nó, tuy các quy định về thẩm quyền chiếm tỉ trọng lớn trong hệthống văn bản pháp luật và có vị trí đặc biệt quan trọng [22]

Thuật ngữ ―thẩm quyền‖ bắt nguồn từ tiếng la tinh ―competentia‖ có hai nghĩalà: i) Phạm vi các quyền hạn của cơ quan hoặc người có chức vụ nào đó; ii) Phạm vinhững kiến thức và kinh nghiệm mà ai đó có [22]

Trong tiếng Anh, thuật ngữ thẩm quyền là ―jurisdiction‖ hoặc ―competence‖,được dùng để chỉ quyền phán quyết về một vụ việc nào đó trong phạm vi pháp luậtcho phép

―Thẩm quyền‖ với nghĩa thẩm quyền pháp lý cũng không đơn nhất Do tínhphức tạp và tồn tại nhiều khái niệm gần gũi quan hệ chặt chẽ với nó, nên có rấtnhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thẩm quyền:

Một là, khái niệm thẩm quyền bao hàm các nhiệm vụ và các quyền hạn (cácquyền và nghĩa vụ) Quan điểm này lại khá phổ biến trong luật hành chính Cộnghoà Dân chủ Đức, Bungari, và khoa học pháp lý Xô Viết

Hai là, thẩm quyền bao hàm: một là, các chức năng, hai là, các quyền và nghĩa

vụ hoặc là quyền hạn Biến thể của quan điểm này là ý kiến coi chức năng và thẩmquyền là hai bộ phận tồn tại song song và độc lập với nhau

Ba là, có quan điểm coi thẩm quyền là tổng thể tất cả quyền, nghĩa vụ (quyềnhạn) và trách nhiệm Có lẽ là do tầm quan trọng của vấn đề trách nhiệm Quan điểmnày rất phổ biến ở Việt Nam [22]

Trang 18

Trong cuốn sách ―Khái quát chung về luật xung đột‖ (Conflicts in nutshell),David D.Giegel viết: ―Thẩm quyền là quyền lực giải quyết tranh chấp của Nhà nước

được thực hiện thông qua hệ thống Tòa án hoặc một số cơ quan có tính chất xét xử

(quasi-Judicial body) như Hội đồng trọng tài hoặc Hội đồng tài phán hành chính‖

Trong lĩnh vực luật quốc tế, theo Micheal Akehurst, có 3 bộ phận trong thẩmquyền của một Nhà nước: Quyền của Nhà nước thực hiện các hoạt động trong lãnh

thổ của một Nhà nước khác (executive jurisdiction); quyền của Tòa án trong Nhà

nước đó xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài (judicial jurisdiction); quyền của

Nhà nước áp dụng pháp luật nước mình trong khi giải quyết các vụ án có yếu tố

nước ngoài (legislative jurisdiction); và vấn đề khi nào thì các Nhà nước theo nghĩa

vụ pháp lý phải công nhận sự thực thi thẩm quyền của các Nhà nước khác [32]

Theo Từ điển tiếng Viêṭdo Viện ngôn ngữ học thuộc Viện khoa học xã hội ViệtNam xuất bản năm 1992 thì ―thẩm quyền‖ được hiểu là ―quyền xem xét đ ể kết luận

và định đoạt một vấn đề nhất đị nh‖ [21] Khái niệm ―thẩm quyền‖ thường đượchiểu gắn liền vơi hoaṭđông ̣ cua cơ quan , tổchưc , hoăc ̣ nhân viên Nha nươc Sư ̣̣

1.1.2.2 Khái niệm “Thẩm quyền xét xử của Tòa án”

Theo Từ điển Tiếng Việt thì ―xét xử‖, hiểu theo một cách chung nhất và khái

quát nhất là việc xem xét và xử các vụ án [21]

Theo từ điển Luật học được Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa ấn hành năm 1999

thì xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án [19]

Cũng theo cuốn từ điển trên, ―Tòa án là cơ quan thuộc hệ thống bộ máy Nhà

nước, đảm nhiệm chức năng xét xử‖

Như vậy, nói đến xét xử là nói đến hoạt động đặc trưng của Tòa án Đây cũng là

là một điều dễ hiểu bởi trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, Tòa án là cơ quan

duy nhất được trao thẩm quyền tư pháp – thẩm quyền xem xét, xét xử các vụ án

theo quy định của pháp luật

Trang 19

Tại Hoa Kỳ, quyền lực Nhà nước được phân chia thành 3 loại quyền là quyềnlập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Hiến pháp của Hoa Kỳ năm 1776 quyđịnh: ―Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án Tối cao và nhữngTòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp Các quan tòacủa Tòa án Tối cao và các Tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đờinếu luôn luôn có hành vi chính đáng, và trong thời gian đã nêu trên, họ được nhậnkhoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đitrong suốt thời gian đó…Quyền lực tư pháp căn cứ vào Hiến pháp này sẽ có hiệulực đối với tất cả các vụ việc trên phương diện luật pháp và công lý, các điều luậtcủa Hoa Kỳ, các hiệp ước đã hoặc sẽ ký dưới thẩm quyền của Chính phủ; đối vớicác trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, đối với cáctrường hợp liên quan tới luật pháp hàng hải và hải quân; đối với các tranh chấp màHoa Kỳ là một bên, đối với các cuộc tranh chấp giữa hai bang trở lên, giữa mộtbang với các công dân của bang khác, giữa các công dân của các bang khác nhau,giữa các công dân trong một bang tranh chấp đất đai do các bang khác nhau cấp,giữa một bang hoặc các công dân của bang đó với các bang khác (hoặc các côngdân và đối tượng của bang khác)‖ [20] Như vậy, Tòa án Tối cao và các Tòa án cấpdưới là các cơ quan có thẩm quyền xét xử tại Hoa Kỳ.

Hiến pháp Liên Bang Nga năm 1993 tại khoản 1, Điều 118 cũng quy định

―Hoạt động xét xử chỉ được thực hiện bởi Tòa án‖ [39]

Cũng giống như Hoa Kỳ và Liên Bang Nga ở trên hầu hết các quốc gia trên thế giới, tại Việt Nam, Toà án là cơ quan Nhà nư ớc được phân công thưc ̣ hành quyền xét xử bảo vệ pháp luật , bảo đảm lẽ phải và công bằng xã hội Theo quy đinḥ tại Điều 127 của Hiến pháp 1992 đươc ̣ sửa đổi , bổsung năm 2000 và Điều 1 LuâṭTổ chức Tòa án Nhân dân năm 2002 thì Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử mà không có bất kỳ môṭcơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền này , đólàthẩm quyền riêng biêṭcủa Tòa án

Trang 20

Kết hợp định nghĩa về ―thẩm quyền‖ với các định nghĩa về ―xét xử‖ và định nghĩa về ―Tòa án‖, cho phép chúng ta có thể định nghĩa về thẩm quyền xét xử của

Tòa án như sau: Thẩm quyền xét xử của Tòa án là quyền được xem xét giải quyết

các vụ án theo quy định của pháp luật , nó bao gồm tổng hợp các quyền mà pháp luâṭ cho phép Tòa án quyết đinḥ đối với các vấ n đềliên quan đến nôị dung vu ̣án hoăc ̣ đảm bảo cho viêc ̣ xét xửtrong giới haṇ hoăc ̣ phaṃ vi nhất đinḥ [7].

1.1.3 Khái niệm “xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án”

Trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế, các thủ tục giải một việc dân sự hay một tranhchấp dân sự có thể bao gồm: thương lượng, trung gian hòa giải, trọng tài và Tòa án.Thương lượng và hòa giải được biết đến như là những phương thức tự giải quyết(self – resolutio) còn trọng tài và Tòa án được coi là những phương thức tài phán(justice) trong đó Tòa án hay trọng tài là chủ thể được trao những thẩm quyền nhấtđịnh, hay nói cách khác, đây là những phương thức giải quyết mang tính thẩmquyền thông qua quyết định của trọng tài hay Tòa án Tuy nhiên, thẩm quyền củatrọng tài có điểm gì giống và khác biệt so với thẩm quyền của Tòa án?

Theo định nghĩa của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam – VIAC thì: ―Trọngtài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại đượctiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của phápluật Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi Hội đồng trọng tài thuộc mộtTrung tâm trọng tài nhất định hoặc bởi Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, tùythuộc vào quyền lựa chọn của các bên‖

Trọng tài có thẩm quyền giải quyết như thế nào đối với các vụ việc dân sự cóyếu tố nước ngoài? Ở các nước, các quy định về vấn đề này có những điểm thốngnhất và cũng có những điểm khác biệt Có quốc gia quy định thẩm quyền của trọngtài rất hạn chế (chỉ trong lĩnh vực thương mại, thậm chí đối với một số loại mặthàng trong thương mại) Có quốc gia quy định thẩm quyền của trọng tài rất rộng (kể

cả tranh chấp về hôn nhân gia đình, ví dụ như ở Hoa Kỳ) Có quốc gia phân địnhthẩm quyền trọng tài làm hai loại: thẩm quyền đối với lĩnh vực nội thương và thẩm

Trang 21

quyền đối với lĩnh vực ngoại thương Vì vậy, người ta thường gọi trọng tài là trọngtài kinh tế hoặc trọng tài thương mại [18].

Tuy nhiên, nhìn chung ở các nước, điểm thống nhất trong vấn đề này là ở chỗthẩm quyền chủ yếu của trọng tài là trong lĩnh vực thương mại Trọng tài không cóthẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác nhau về sở hữu, thừa kế, hôn nhân giađình và lao động (điều này được quy định rõ trong pháp luật)

Ngoài ra, thẩm quyền của trọng tài không được xác định theo lãnh thổ hay theo

sự phân cấp mà xác định theo sự lựa chọn của các đương sự

Như vậy, trong lĩnh vực pháp luật về thẩm quyền, chỉ có trọng tài và Tòa án lànhững chủ thể của thẩm quyền, tuy nhiên trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế, nói vềthẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là nói tới thẩm quyền của Tòa án tư pháp mộtnước nhất định đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Thẩm quyền này của Tòa án một nước phụ thuộc chủ yếu vào quy định củaĐiều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên về vấn đề này và pháp luật tố tụngdân sự của quốc gia đó Nhưng nhìn chung, thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự cóyếu tố nước ngoài của Tòa án các nước được chia thành: thẩm quyền xét xử chung

là thẩm quyền xét xử riêng biệt [1]

Thẩm quyền xét xử chung là thẩm quyền đối với những vụ việc mà Tòa án nước

đó có quyền xét xử nhưng Tòa án nước khác cũng có thể xét xử (điều này tùy thuộcvào Tư pháp quốc tế của các nước khác có quy định là Tòa án nước họ có thẩmquyền với những vụ việc như vậy hay không) Khi mà Tòa án nhiều nước đều cóthẩm quyền xét xử với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thì quyền xét xửthuộc về Tòa án nước nào phụ thuộc vào việc nộp đơn của các bên đương sự

Thẩm quyền xét xử riêng biệt là trường hợp quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có Tòa

án nước họ mới có thẩm quyền xét xử đối với những vụ việc nhất định Trongtrường hợp này, kể cả các bên chủ thể thỏa thuận Tòa án nước khác thì về nguyêntắc, Tòa án nước đó cũng cần phải từ chối thụ lý vụ việc để tôn trọng thẩm quyềnxét xử riêng biệt của quốc gia sở tại

Trang 22

Các quốc gia khi quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án nước mình về một vụviệc dân sự có yếu tố nước ngoài nào đó thường dựa trên cơ sở nghiên cứu, tìm tòi,tính toán kỹ lưỡng tính hợp lý mà không quy định một cách chung chung, tùy tiện[1].Tính hợp lý nằm ở chỗ vụ việc có liên quan gì tới quốc gia đó hay không (nhưquốc tịch, nơi cư trú của các bên chủ thể; sự kiện xác lập, thay đổi, chấm dứt quanhệ; đối tượng của quan hệ đang phát sinh tranh chấp).

―Xác định‖ theo Từ điển Tiếng Việt là việc ―đưa ra kết quả cụ thể, rõ ràng vàchính xác sau khi nghiên cứu, tìm tòi, tính toán‖ [21]

Trong một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, điều đầu tiên là Tòa án phải xácđịnh mình có thẩm quyền xét xử hay không Điều này dẫn tới vấn đề khi nào Tòa áncủa quốc gia có thẩm quyền xét xử và phán quyết vấn đề dựa vào quyết định màTòa án đó đạt được

Việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án khác hẳn với việcxác định hệ thống pháp luật cần được áp dụng để giải quyết nội dung thực chất củavấn đề phát sinh Việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là hành vi tố tụngđược thực hiện trước khi giải quyết vấn đề xung đột luật

Trong Tư pháp quốc tế hiện đại, thông thường, thẩm quyền xét xử dân sự quốc

tế do các quốc gia tự quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật của mình Song,các quốc gia còn ký kết với nhau các Điều ước quốc tế để điều chỉnh các vấn đề vềđộc quyền xét xử - xét xử riêng biệt, xét xử theo sự lựa chọn, mở rộng thẩm quyềnxét xử, khước từ quyền xét xử dân sự quốc tế Để xác định thẩm quyền xét xử dân

sự quốc tế của quốc gia mình, Tòa án tư pháp phải dựa vào các quy tắc, dấu hiệuđược pháp luật trong nước hoặc Điều ước quốc tế liên quan quy định

Từ những phân tích ở trên, trong bối cảnh khoa học pháp lý về Tư pháp quốc tế

chưa có một khái niệm thống nhất, xin được khái quát như sau: ―Xác định thẩm

quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án là hành vi tố tụng của Tòa án của một quốc gia cụ thể, căn cứ theo các quy định của pháp luật quốc gia và các Điều ước quốc

tế mà quốc gia là thành viên để quyết định rằng liệu mình có thẩm quyền giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài hay không?”

Trang 23

1.2 Xung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế và các nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

1.2.1 Xung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế

Trong thực tiễn sinh động của đời sống xã hội hiện nay, khi quan hệ hợp tácquốc tế trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh, biên giới(pháp lý) giữa các quốc gia ngày càng như bị ―thu hẹp‖ do sự xuất hiện và ngàycàng chiếm ưu thế của nhiều hình thức hợp tác liên kết các quốc gia ở những khuvực địa lý khác nhau, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng pháttriển mạnh mẽ, đa dạng và giữ vị trí đặc biệt trong cơ chế điều chỉnh pháp luật củamỗi quốc gia

Peter và Julia đều sống ở Đức Họ mua một tour du lịch trọn gói tới Arizona tạimột công ty du lịch tại Berlin Tour du lịch được tổ chức bởi một nhà điều hànhmang quốc tịch Đức và khách du lịch Đức là chỉ một phần của tour du lịch này.Trong khi ở Phoenix, Julia vô ý đóng cửa của xe buýt làm hỏng 2 ngón tay củaPeter Vậy, Peter có thể kiện Julia Tòa án nào?

Trên đây là một ví dụ về vụ việc dân sự quốc tế hay vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài - vụ việc liên quan tới nhiều quốc gia Các vụ việc như trên thường liênquan đến nhiều hệ thống pháp luật Nếu các quốc gia hữu quan chưa ký kết với nhauĐiều ước quốc tế về nguyên tắc áp dụng pháp luật thì có thể phát sinh hiện tượng làcùng một quan hệ tố tụng dân sự quốc tế sẽ có nhiều Tòa án của quốc gia có thẩmquyền xét xử Hiện tượng này trong khoa học Tư pháp quốc tế được gọi là xung độtthẩm quyền xét xử (conflict jurisdiction)

Vấn đề ―xung đột thẩm quyền xét xử‖ trong Tư pháp quốc tế các nước đượchiểu rất khác nhau và mang nhiều tính ước lệ, tại nhiều nước châu Âu, xung độtthẩm quyền xét xử bao hàm các vấn đề xác định thẩm quyền xét xử và cả việc côngnhận, thi hành phán quyết của Tòa án nước ngoài Cách hiểu này đồng nghĩa vớikhái niệm tố tụng dân sự quốc tế hiện hành tại Việt Nam [6] Theo một phạm vi hẹphơn, xung đột thẩm quyền xét xử là hiện tượng các Tòa án các nước khác nhau đềucùng có khả năng xét xử và có thẩm quyền đối với một vụ việc dân sự có yếu tố

Trang 24

nước ngoài Hệ quả của hiện tượng này, nếu không được giải quyết, là khả năng cácTòa án của các nước khác nhau cùng giải quyết một vụ việc và có thể có nhữngphán quyết trái ngược nhau.

Xung đột thẩm quyền là hiện tượng phổ biến trong lý luận và thực tiễn giảiquyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài Điều này xuất phát từ những lý do sau:

Thứ nhất: sự khác nhau giữa pháp luật của các quốc gia

Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội Vìvậy, pháp luật có mối liên quan hết sức biện chứng với kinh tế, chính trị, đạo đức vàNhà nước Chế độ kinh tế của mỗi nước, đường lối, chính sách của mỗi giai cấpthống trị, những quan niệm, quan điểm của mỗi cộng đồng, mỗi giai cấp về cáithiện, cái ác, về sự công bằng, nghĩa vụ, danh dự và về những phạm trù khác thuộcđời sống tinh thần của xã hội đều rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau

Với tư cách là một thành tố của thượng tầng kiến trúc và là công cụ cơ bản điềuchỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật ở mỗi nước và mỗi khu vực trên thế giới đượcquyết định bởi các quan hệ kinh tế - xã hội, bởi đường lối chính trị của mỗi giai cấpcầm quyền, bởi hệ thống đạo đức, truyền thống lịch sử, tôn giáo rất không giốngnhau đã tạo nên sự khác nhau về pháp luật, kể cả nội dung lẫn ngôn ngữ pháp lý Vídụ: tại các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law), khi cómột tranh chấp dân sự quốc tế xảy ra, nguyên đơn phải yêu cầu Tòa án nơi bị đơn

cư trú thụ lý vụ án Còn tại các quốc gia theo hệ thống án lệ (Common Law) thìthẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự quốc tế thuộc về Tòa án nơi bị đơn cómặt tại đó

Thứ hai: Tính chất đặc thù của các vụ việc dân sự quốc tế

Như đã phân tích ở trên, quan hệ dân sự quốc tế hay quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài là các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân gia đình, lao độngthuộc một, hai hoặc cả ba trường hợp sau đây: thứ nhất, khi trong quan hệ đó cóngười nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài tham gia; thứ hai, khi căn cứ pháp lýlàm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài; thứ ba, khitài sản liên quan đến quan hệ đó tồn tại ở nước ngoài Như vậy, các vụ việc dân sự,

Trang 25

dân sự - kinh tế - thương mại - hôn nhân gia đình - lao động có yếu tố nước ngoài

dù muốn hay không cũng liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau và cóthể thuộc thẩm quyền xét xử của nhiều Tòa án quốc gia khác nhau, do vậy dẫn đếnxung đột về thẩm quyền

Cũng cần phải phân biệt hai khái niệm ―xung đột về thẩm quyền‖ và ―xungđột pháp luật‖ Ví dụ: tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tếgiữa một người Đức và một người Pháp Nếu quy phạm xung đột xác định rằngpháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là pháp luật Đức thì điều đó không cónghĩa nhất thiết Tòa án Đức phải có thẩm quyền đối với vụ việc Trong trường hợpnày, có thể Tòa án Pháp có thẩm quyền xét xử còn luật áp dụng là luật của Đức Vìvậy, cần khẳng định lại một lần nữa rằng việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa

án và việc xác định pháp luật áp dụng là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau Trong ví

dụ nêu trên, căn cứ vào pháp luật quốc tế và pháp luật của quốc gia mình, Tòa ánĐức và Tòa án Pháp xác định xem mình có thẩm quyền giải quyết hay không, saukhi đã xác định được Tòa án có thẩm quyền, thì tiếp tục đến giai đoạn thứ hai là xácđịnh pháp luật áp dụng trên cơ sở quy phạm xung đột

1.2.2 Các nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

Để tránh trường hợp xung đột thẩm quyền trong việc giải quyết các vụ việc dân

sự quốc tế, nhiệm vụ của Tư pháp quốc tế là định ra những nguyên tắc nhằm xácđịnh thẩm quyền xét xử của Tòa án một quốc gia nhất định (trong các Điều ướcquốc tế) hoặc Tòa án cụ thể của quốc gia (trong pháp luật quốc gia), được gọi lànguyên tắc xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử (the rules of the choice of forum)hay nguyên tắc thẩm quyền (jurisdictional rules)

Như đã đề cập trên đây, việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền cùng với lựa chọnluật áp dụng và vấn đề công nhận, thi hành phán quyết của Tòa án hoặc trọng tàinước ngoài trở thành ba vấn đề cơ bản của Tư pháp quốc tế Trong lý luận về Tưpháp quốc tế ở Việt Nam cũng như các quốc gia khác, việc lựa chọn Tòa án xét xử

và chọn luật áp dụng có mối liên hệ mật thiết với nhau, cái này thường dẫn tới cáikia; còn trong vấn đề thứ ba, người ta tìm kiếm một cơ chế mà phán quyết do Tòa

Trang 26

án một nước hay trọng tài tuyên bố có hiệu lực và được thi hành trên lãnh thổ mộtnước khác Vì vậy, các nguyên tắc thẩm quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong

Tư pháp quốc tế và có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc xung đột luật Cácnguyên tắc xung đột luật được thiết kế để gạt bỏ những xung đột giữa luật pháp củacác nước khác nhau bằng việc chỉ ra Tòa án nào có thẩm quyền và pháp luật nướcnào cần áp dụng (quy tắc về xác định luật áp dụng) Chức năng của các nguyên tắcnày là đảm bảo sự hợp lý của các giải pháp trong các vụ kiện có yếu tố nước ngoàihoặc liên hệ với pháp luật nước ngoài Nguyên tắc thẩm quyền có mục đích và nộidung là xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia cụ thể đối với các vụ việc Đốitượng của nguyên tắc thẩm quyền là xác định thẩm quyền phù hợp, còn nguyên tắcchọn luật được thiết kế để tạo nên sự áp dụng luật thích hợp nhất mà các bên đềumong muốn được áp dụng

Các nguyên tắc thẩm quyền có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt độnggiải quyết giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án các quốcgia Trước hết, khi bắt đầu quá trình này, nguyên tắc thẩm quyền được áp dụng đểxác định thẩm quyền giải quyết vụ việc Sau đó, Tòa án có thẩm quyền sẽ xác địnhluật lựa chọn được áp dụng để giải quyết vụ việc Như vậy, việc xác định thẩmquyền luôn có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động chọn luật áp dụng để giải quyếttranh chấp, bởi vì, trong thực tế các Tòa án thường có xu hướng chọn luật quốc giamình để áp dụng trong những vụ án thuộc thẩm quyền của mình (nguyên tắc lexfori) Hơn nữa, nguyên tắc thẩm quyền rất cần thiết trong hoạt động hợp tác tư phápgiữa các quốc gia để thống nhất các nguyên tắc xung đột thẩm quyền và nhằm đạtđược một cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng và đơn giản

Tại đa số các quốc gia trên thế giới, vấn đề xây dựng các nguyên tắc thẩm quyềntrong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là một vấn đề hết sứcquan trọng Theo nguyên tắc về thẩm quyền quốc tế của Pháp, vấn đề tiếp theo việcxác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Pháp là vấn đề Tòa án cụ thểnào của Pháp là Tòa án có thẩm quyền giải quyết thích hợp hơn cả [34] Vấn đềphân định thẩm quyền xét xử các vụ việc giữa các Tòa án khác nhau theo

Trang 27

luật tố tụng trong nước là vấn đề thẩm quyền địa hạt và liên quan đến yếu tố truyềnthống, được gọi là các quy tắc thẩm quyền.

Điều này hoàn toàn có những điểm đồng nhất với Pháp luật Việt Nam, cũng như

lý luận chung của Tư pháp quốc tế Đối với vụ kiện dân sự có yếu tố nước ngoài,Tòa án phải giải quyết hai vấn đề: i) Vụ việc đó có thuộc thẩm quyền của Tòa ánquốc gia mình không hay thuộc thẩm quyền của Tòa án quốc gia khác và ii) nếu vụviệc thuộc thẩm quyền của Tòa án quốc gia mình thì Tòa án nào là Tòa án cụ thể cóthẩm quyền giải quyết Các vấn đề này định ra hai cấp độ xác định thẩm quyền củaTòa án: cấp độ quốc tế (xác định quốc gia mà Tòa án nước đó có thẩm quyền bằngviệc áp dụng các quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia và Điều ước quốc tế)

và cấp độ quốc gia (xác định một Tòa án cụ thể theo pháp luật quốc gia đã được lựachọn để trực tiếp giải quyết vụ việc)

Trong Tư pháp quốc tế hiện đại, các nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân

sự quốc tế của Tòa án có thể tìm thấy trong các Điều ước quốc tế và Pháp luật quốcgia Ở phạm vi quốc gia, mỗi quốc gia đều tự định ra những quy tắc nhất định đểxác định thẩm quyền của mình trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài Các nguyên tắc này có thể giống nhau, có thể khác nhau; và trongtrường hợp có sự khác biệt thì nhiệm vụ của Tư pháp quốc tế là phải có nhữngnguyên tắc cụ thể nhằm giải quyết xung đột về thẩm quyền và xác định Tòa án củamột quốc gia phù hợp nhất để giải quyết vụ việc Do các vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài thường liên quan đến ít nhất hai nước nên trong thực tế, nhiều quốc gia

đã ký kết với nhau những Điều ước quốc tế (song phương hoặc đa phương) nhằmquy định những nguyên tắc thống nhất và cụ thể trong việc phân định thẩm quyềnxét xử tư pháp của mỗi nước

Các dấu hiệu thường được dùng làm căn cứ để xác định thẩm quyền xét xử dân

sự quốc tế thường là: i) dấu hiệu quốc tịch của đương sự; ii) dấu hiệu mối liên hệcủa vụ việc với lãnh thổ của quốc gia có Tòa án; iii) dấu hiệu sự thỏa thuận của cácbên đương sự; và iv) áp dụng tương tự các nguyên tắc thẩm quyền đối với các vụ

Trang 28

việc dân sự không có yếu tố nước ngoài được quy định trong pháp luật quốc gia cóTòa án.

1.2.2.1 Nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án dựa trên dấu hiệu quốc tịch của đương sự

Một yếu tố quan trọng góp phần cấu tạo nên quốc gia là cư dân sống trên lãnhthổ quốc gia và việc tổ chức Nhà nước có mối quan hệ qua lại với cư dân đó Mỗiquốc gia có những tập hợp dân cư khác nhau và có mối quan hệ giữa cư dân vớiNhà nước cũng rất khác nhau Mối quan hệ phức tạp này trong khoa học pháp lý gọi

là quốc tịch

Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bềnvững về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhấtxác định công dân của một Nhà nước và trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa

vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân

Theo từ điển Oxford của Anh: ―Quốc tịch là sự quy thuộc của một người vào

một quốc gia nào đó‖.

Theo từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì ―Quốc tịch là sự quy thuộc vềmặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệqua lại giữa Nhà nước và cá nhân Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân làcông dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài Về phần mình,công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối vớiNhà nước‖

Theo các chuyên gia Hoa Kỳ thì quốc tịch là một đặc tính phát sinh từ sự kiệnquy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó

Luật Quốc tịch Lào khẳng định: ―Quốc tịch Lào thể hiện mối quan hệ phápluật và chính trị, ràng buộc một người nào đó với Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhândân Lào và là cơ sở xác định người đó có địa vị là công dân Lào‖ [9]

Nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án dựa trên dấuhiệu quốc tịch của đương sự là một nguyên tắc khá phổ biến được nhiều quốc giatrên thế giới sử dụng để xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

Trang 29

mình Theo nguyên tắc này, đương sự mang quốc tịch của quốc gia nào thì Tòa áncủa quốc gia đó có thẩm quyền giải quyết xuất phát từ quyền tài phán đương nhiêncủa quốc gia đối với công dân của mình Có thể xác định thẩm quyền xét xử dân sựquốc tế của Tòa án theo quốc tịch của nguyên đơn hay bị đơn hay quốc tịch chungcủa các bên, việc xác định này có thể dẫn tới có 2 Tòa án thuộc 2 quốc gia cùng cóthẩm quyền xét xử Cần chú ý rằng nếu đương sự không có quốc tịch thì không thể

áp dụng quy tắc này Nếu đương sự có nhiều quốc tịch thì tất cả các Tòa án màđương sự có quốc tịch đều có thẩm quyền xét xử, và thẩm quyền xét xử trongtrường hợp này sẽ được xác định theo nơi đương sự khởi kiện Nguyên tắc nàythường được áp dụng nhằm xác định thẩm quyền của Tòa án trong các vụ việc liênquan đến các dấu hiệu nhân thân, ví dụ như xác định cha mẹ cho con Nguyên tắcnày cũng có ý nghĩa quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vấn đềxung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế ở các nước xây dựng hệ thống luật xungđột theo nguyên tắc ―Luật quốc tịch‖ (Lexpatriae) [5]

1.2.2.2 Nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án dựa trên dấu hiệu mối liên hệ của vụ việc đối với lãnh thổ quốc gia có Tòa án

Dấu hiệu mối liên hệ của vụ việc đối với lãnh thổ quốc gia có Tòa án cũng đượccoi là một trong những căn cứ chính để xác định thẩm quyền Theo quy định củapháp luật nhiều nước, Tòa án có thẩm quyền xét xử đối với vụ việc có mối liên hệnhất định với lãnh thổ quốc gia mình như đương sự cư trú, thường trú hoặc hiệndiện trên lãnh thổ quốc gia đó, tài sản liên quan đến tranh chấp tồn tại trên lãnh thổquốc gia đó hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệtranh chấp xảy ra trên lãnh thổ này

Nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án dựa trên dấu hiệu “nơi cư trú”, “nơi thường trú” của đương sự

Về khái niệm ―nơi cư trú‖, pháp luật các quốc gia hiện cũng không có cáchhiểu đồng nhất với nhau Chẳng hạn, như Nhật Bản đưa ra một định nghĩa tương đốiphức tạp, trong đó có 3 khái niệm khác nhau là cá nhân cư trú thường xuyên, cánhân cư trú không thường xuyên và cá nhân không cư trú Cụ thể là:

Trang 30

- Cá nhân cư trú thường xuyên là cá nhân đã sống tại Nhật Bản ít nhất 5 năm trở lên hoặc có ý định sinh sống lâu dài tại Nhật Bản;

- Cá nhân cư trú không thường xuyên là cá nhân không có ý định cư trúthường xuyên tại Nhật nhưng đã sống tại Nhật trong khoảng thời gian từ 1 năm tới dưới 5năm;

- Cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi định cư tại Nhật Bản và sống

tại Nhật Bản ít hơn 1 năm

Các cá nhân nước ngoài đến Nhật Bản sẽ được coi là có nơi cư trú tại Nhật Bảntrừ khi các hợp đồng lao động hoặc các giấy tờ khác chỉ rõ rằng họ sẽ ở lại NhậtBản ít hơn một năm [67]

Theo pháp luật Thụy Điển, nơi cư trú (domicile) thường đồng nghĩa với nơithường trú (habitual residence) Thuật ngữ ―residence‖ không được định nghĩanhưng theo mục 1, Chương 10, Bộ luật Tố tụng tư pháp, nếu một người có đăng kýdân sự ở Thụy Điển, nơi người đó đăng ký đầu tiên của tháng 11 năm đó sẽ đượccoi là nơi thường trú của người này Hơn nữa, một người không xác định được nơithường trú trong hay ngoài Thụy Điển có thể bị kiện ở nơi người đó đang tạm trú(sojourning) Nếu người đó là công dân Thụy Điển và tạm trú ở bên ngoài ThụyĐiển hoặc không xác định được nơi tạm trú thì người này sẽ bị kiện tại Tòa án nơithường trú hoặc tạm trú cuối cùng tại Thụy Điển [37]

Theo nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án dựa trêndấu hiệu ―nơi cư trú‖, ―nơi thường trú‖ của đương sự, đương sự cư trú ở đâu thìTòa án ở đó có thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên, Tòa án các nước thường căn cứvào dấu hiệu ―nơi cư trú‖, ―nơi thường trú‖ của bị đơn để xác định thẩm quyền xét

Trang 31

và pháp luật có mối liên hệ gần gũi nhất với thực tế này sẽ có những thuận lợi nhấtđịnh khi giải quyết tranh chấp.

Các quốc gia thường quy định Tòa án nước mình có thẩm quyền xét xử dân sựđối với một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ việc này có mối liên hệ gầngũi với lãnh thổ của quốc gia mình, ví dụ: sự hiện diện của đương sự trên lãnh thổcủa quốc gia, vật bị tranh chấp tồn trại trên lãnh thổ quốc gia; sự hiện diện pháp lýgắn với nội dung tranh chấp được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia [6]

1.2.2.3 Nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án dựa trên dấu hiệu sự thỏa thuận của các đương sự

Dấu hiệu sự thỏa thuận của các bên đương sự mặc dù trên thực tế không đượccoi là căn cứ chính để xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế, song pháp luậtmột số nước cũng cho phép Tòa án có thẩm quyền đối với những vụ việc dân sự cóyếu tố nước ngoài nếu các bên đương sự thỏa thuận đưa vụ việc dân sự ra giải quyếttại Tòa án nước đó, mặc dù không có mối liên hệ nào giữa vụ việc với bản thânnước này

Trước đây, việc xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế theo sựlựa chọn của các bên không được coi là phổ biến trong Tư pháp quốc tế các nước.Việc Tòa án một nước có thẩm quyền chỉ căn cứ duy nhất vào dấu hiệu sự lựa chọncủa các bên đương sự rất ít khi xảy ra Tuy nhiên, pháp luật của một số nước thừanhận khả năng này Ví dụ: ở Anh, Tòa án tư pháp có thẩm quyền đối với những vụviệc dân sự nếu các bên đương sự thảo thuận đưa ra Tòa án Anh giải quyết, dùkhông hề tồn tại bất kỳ một mối liên hệ nào giữa vụ việc với bản thân nước Anh [6].Tuy nhiên cho đến nay, cơ chế khuyến khích các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa

án cụ thể đã được chú trọng không chỉ trong pháp luật quốc gia mà cả trong cácĐiều ước quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp.Trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, pháp luật cácnước cho phép các bên đương sự được lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp,nếu sự lựa chọn đó phù hợp với pháp luật Trong một tranh chấp dân sự - thươngmại có yếu tố nước ngoài, nếu các bên có thỏa thuận về việc chọn Tòa án cụ thể

Trang 32

(Tòa án hoặc một Tòa án cụ thể của một nước nhất định) thì đây sẽ là căn cứ đầutiên để xác định Tòa án này có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó.

Ngoài những nguyên tắc chung nêu trên, khoa học Tư pháp quốc tế các nướccũng thừa nhận việc áp dụng tương tự các nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa

án đối với các vụ việc dân sự trong nước cho các vụ việc dân sự có yếu tố nướcngoài trong trường hợp pháp luật của các quốc gia thiếu vắng các quy định riêngbiệt xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

1.3 Một số vấn đề cơ bản trong việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc

tế của Tòa án

1.3.1 Thẩm quyền xét xử riêng biệt

Mặc dù có các quy tắc xác định thẩm quyền của Tòa án dựa trên những mối liên

hệ nhất định như quốc tịch, nơi cư trú, thường trú của đương sự hay sự liên hệ gầngũi của vụ việc đối với quốc gia có Tòa án hay sự lựa chọn của các bên, pháp luậtcủa hầu hết các quốc gia đều có những quy định về thẩm quyền xét xử riêng biệtcủa Tòa án đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Thẩm quyền xét xử riêng biệt là trường hợp quốc gia sở tại tuyên bố chỉ có Tòa

án nước họ mới có thẩm quyền xét xử đối với những vụ việc nhất định Nếu Tòa ánnước khác vẫn tiến hành xét xử đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xửriêng biệt, hậu quả là bản án, quyết định được tuyên bởi Tòa án nước này sẽ khôngđược công nhận, cho thi hành tại quốc gia sở tại Trong trường hợp này, kể cả cácbên chủ thể thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước khác thì về nguyên tắc, Tòa án nước

đó cũng cần phải từ chối thụ lý vụ việc để tôn trọng thẩm quyền xét xử riêng biệtcủa quốc gia sở tại [5]

Thẩm quyền riêng biệt trong việc xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nướcngoài là thẩm quyền duy nhất luôn thuộc về Tòa án của một quốc gia trong nhữngtrường hợp đặc biệt Thông thường, quốc gia ấn định cho Tòa án của quốc gia mình

có thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với những vụ việc có tính chất quan trọng, ảnhhưởng tới an ninh, trật tự của quốc gia (ví dụ: Việt Nam xác định thẩm quyền xét xửriêng biệt đối với các vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất

Trang 33

động sản có trên lãnh thổ Việt Nam) hay nhằm mục đích bảo vệ cho các cá nhân,pháp nhân, một lĩnh vực ngành nghề nào đó trong nước (ví dụ: Liên Bang Nga xácđịnh thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vậnchuyển mà người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi nhánh tại Liên bang Nga)[11] Vì thế, để chắc chắn rằng vụ việc có thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt củaquốc gia nào đó hay không, chỉ cần xem xét pháp luật của các quốc gia có mối liên hệmật thiết tới vụ việc đó.

1.3.2 Lựa chọn Tòa án thích hợp nhất (Forum shopping)

Mặc dù vấn đề lựa chọn Tòa án thích hợp nhất (Forum shopping) không phảimột vấn đề phát sinh chỉ riêng trong việc xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nướcngoài, tuy nhiên, tính chất độc đáo và đặc điểm của quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài làm cho vấn đề này trở nên đặc biệt quan trọng

Sự thiếu vắng một Tòa án phi quốc gia có thẩm quyền bắt buộc trong việc xét

xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài làm cho tính quốc tế của việc giải quyếtcác vụ kiện dân sự có yếu tố nước ngoài càng thể hiện rõ Trong thế giới khôngđồng nhất về mặt pháp lý và văn hóa của chúng ta, các thẩm phán có chung quốctịch với một bên dường như sẽ là thiếu công bằng cho phía bên kia Tuy nhiên cácthẩm phán từ một nước thứ ba tương đối trung lập nói chung sẽ không có thẩmquyền để giải quyết một vụ kiện trừ khi đó là kết quả của sự thỏa thuận của các bêntrong vụ kiện đó [26]

Thông thường, nguyên đơn trong một vụ kiện có quyền lựa chọn nộp đơn khởikiện tới một trong một số các Tòa án khác nhau của cùng một hệ thống Tòa án hoặccủa các hệ thống Tòa án khác nhau Chính sự khác nhau này sẽ dẫn đến việc cácTòa án có thể phải tuân thủ theo các quy tắc tố tụng khác nhau Việc lựa chọn mộtTòa án trong đó để nộp đơn khởi kiện là hoàn toàn theo quan điểm và sự cân nhắccủa nguyên đơn để bảo đảm rằng Tòa án này là phù hợp đáng kể và bảo vệ tốt nhấtcho quyền và lợi ích của mình Bị đơn trong vụ kiện cũng có quyền tương tự

Khi đánh giá các Tòa án, các bên trong vụ việc có thể xem xét cả hai yếu tốthẩm quyền xét xử và thủ tục tố tụng Trong phạm vi thẩm quyền xét xử, các quy

Trang 34

định về xung đột thẩm quyền phát sinh giữa các khu vực pháp lý khác nhau, cảtrong nước và quốc tế, dẫn đến việc lựa chọn Tòa án có thích hợp nhất Ngay cảtrong một khu vực nhất định có sự đồng nhất của pháp luật về nội dung, thì vấn đềlựa chọn Tòa án thích hợp nhất vẫn có thể tiếp tục phát sinh và phát triển mạnh.Trong mọi vụ kiện, một loạt các yếu tố thủ tục mà có thể ảnh hưởng đến việc lựachọn Tòa án thích hợp nhất có thể được xét đến, không phụ thuộc vào các vấn đềliên quan đến luật nội dung Giống như luật nội dung, tính không thống nhất trongpháp luật tố tụng là nguyên nhân của vấn đề lựa chọn Tòa án có thẩm quyền thíchhợp nhất.

Theo ngôn ngữ pháp lý thông thường, vấn đề ―lựa chọn Tòa án thích hợp nhất‖

đề cập đến sự theo đuổi của một bên về Tòa án thẩm quyền theo lãnh thổ có thểmang lại cho mình cơ hội lớn nhất để chiếm ưu thế trong một vụ kiện [26]

Nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án dựa trên các căn cứ sau đây:

- Tòa án không thuận tiện cho bị đơn, cho người làm chứng của bị đơn

- Tòa án tại quốc gia mà bị đơn có thể phải mất thêm các chi phí về giấy phép

du lịch, y tế, hoặc thị thực nhập cảnh

- Tòa án nơi mà các thẩm phán, hoặc pháp luật có thể ưu tiên và có lợi nhất

cho trường hợp vụ kiện của nguyên đơn

Bị đơn có thể tiến hành các biện pháp sau để tìm kiếm một sự thay đổi về thẩm quyền xét xử vụ việc:

- Bị đơn có quyền yêu cầu Tòa án đang thụ lý/giải quyết vụ việc phải từ chốithẩm quyền và kiến nghị chuyển vụ án cho một Tòa án được cho là thuận tiện/thích hợphơn;

- Nếu một vụ kiện đã được nộp đơn tại một Tòa án nhất định, bị đơn có thểtìm kiếm lệnh chuyển vụ kiện đến một Tòa án có thẩm quyền khác, yêu cầu nguyên đơnkhông tiếp tục vụ kiện tại Tòa án đầu tiên mà thay vào đó đưa

vụ kiện tới xét xử tại Tòa án mà bị đơn cho là thuận tiện hơn

Trong cả hai trường hợp trên, bước đầu tiên là phải xác định xem Tòa án trong trường hợp đầu tiên là Tòa án đương nhiên hay Tòa án có kết nối gần gũi nhất với

Trang 35

các hành động và các bên Tòa án khi xét xử cũng phải xem xét xem có Tòa án nàothích hợp hơn để xét xử vụ kiện không theo học thuyết của sự tôn trọng Theo họcthuyết này, Tòa án phải tôn trọng thẩm quyền của Tòa án nước ngoài khi thụ lý vụ

án Một Tòa án xem xét một cách cân bằng lợi ích của các bên, không những tạithời điểm nguyên đơn bắt đầu được phép theo đuổi các vụ kiện tại một Tòa ánkhông có lợi cho bị đơn, mà cả khi vụ kiện của nguyên đơn không được phép xét xửtại Tòa án này

Nói chung, một Tòa án sẽ không chấp thuận đơn yêu cầu chuyển vụ việc tới mộtTòa án khác hoặc thông qua một lệnh cấm thụ lý, nếu việc này sẽ làm mất đi mộtcách không chính đáng những lợi thế mà nguyên đơn có được tại Tòa án đầu tiên.Tuy nhiên, cần có một sự liên kết thực sự và đáng kể giữa các Tòa án có thẩmquyền thụ lý vụ kiện và nguyên nhân của vụ kiện để cung cấp một số lập luận chốnglại việc bị đơn theo đuổi vụ kiện tại các nước có ít hoặc không có mối liên hệ với vụviệc hoặc với các bên trong vụ việc [48]

Vấn đề ―lựa chọn Tòa án thích hợp nhất‖ cũng dẫn đến các vấn đề khác trong

Tư pháp quốc tế đó là thẩm quyền thích hợp (Forum Conveniens) và thẩm quyềnkhông thích hợp (Forum Non Conveniens)

1.3.3 Thẩm quyền không thích hợp (Forum Non Conveniens) và Vụ kiện đang chờ xét xử (Lis Pendens)

1.3.3.1 Thẩm quyền không thích hợp (Forum Non Conveniens)

Thẩm quyền không thích hợp (Forum Non Conveniens) (tiếng Latin gọi là ―Tòa

án không chấp thuận‖ – Forum not agreeing) (FNC) là một học thuyết pháp lý chủ yếuđược phổ biến tại các nước theo hệ thống luật Common Law cho Tòa án một quyền tự

do theo nhận định của mình từ chối thực hiện thẩm quyền xét xử trong một số trườnghợp nhất định Tòa án sẽ xem xét một số yếu tố để quyết định xem nó có phù hợp đểthực hiện thẩm quyền xét xử trong một vụ việc cụ thể hay không Các yếu tố liên quanđến lợi ích tư nhân có thể được xem xét bao gồm, ví dụ, nơi cư trú hoặc nơi thành lậpcủa các bên, yếu tố dễ dàng tiếp cận với chứng cứ, các mối liên hệ giữa các tranh chấpvới Tòa án có thẩm quyền và pháp luật áp dụng Các yếu tố

Trang 36

lợi ích công cộng có thể được đưa ra xem xét chủ yếu ở Hoa Kỳ, bao gồm khốilượng công việc của Tòa án và gánh nặng nghĩa vụ bồi thẩm đoàn.

Tòa án không thích hợp không phải là một học thuyết thống nhất Mỗi quốc giathuộc hệ thống Common Law có những điều kiện riêng của mình khi thực hiện bácđơn kiện dựa trên học thuyết này Nguồn gốc của học thuyết được tìm thấy chủ yếutại Scotland vào thế kỷ XVIII Cho đến giữa thế kỷ XX, các trường hợp ngoại lệ làrất hạn chế và việc bác đơn chỉ được đưa ra khi Tòa án là ―áp bức hoặc không cócăn cứ để tiến hành vụ kiện‖ đối với bị đơn Trong nửa cuối của thế kỷ XX, họcthuyết Tòa án không thích hợp đã phát triển rộng rãi ở các nước khác nhau thuộc hệthống Common Law Một số hình thức của học thuyết Tòa án không thích hợp hiệntại đã được thông qua bởi hầu hết các nước Common Law, thường dựa vào tiền lệtiêu biểu của Anh về vấn đề này [31]

Các trường hợp tiêu biểu của Anh là trường hợp Tập đoàn Hàng Hải Spiliada vàCông ty TNHH Cansulex, trong đó Thượng viện Anh đã thiết lập một phân tíchgồm hai bước Đầu tiên, bị đơn phải chứng minh rằng có một Tòa án khác rõ ràngthích hợp hơn trong việc giải quyết vụ việc, ví dụ, ―trong trường hợp này vụ kiện

có thể được xét xử một cách phù hợp hơn vì lợi ích của tất cả các bên và vì công lý.‖Thứ hai, nếu bị đơn đã chứng minh rằng vụ kiện hiển nhiên sẽ dẫn tới việc bác đơntheo học thuyết Tòa án không thích hợp, nguyên đơn có thể chỉ ra có những chi tiết

mà vì thế nguyên tắc công lý đòi hỏi rằng các Tòa án Anh thực hiện thẩm quyền củamình Đây là một phương thức phân tích và thử nghiệm rộng hơn nhiều so với cácviệc phân tích Tòa án là ―áp bức hoặc không căn cứ để tiến hành vụ kiện‖ vàphương thức này yêu cầu tất cả các yếu tố có liên quan đến lợi ích của các bên vànguyên tắc công lý phải được xem xét

Học thuyết Tòa án không thích hợp theo pháp luật của Australia khá thú vị bởi

vì nó có phạm vi hẹp hơn so với học thuyết này của Anh Năm 1988, Tòa án Tốicao Australia, trong vụ việc Công ty Oceanic Sun Line Special Shipping và Fay, đã

từ chối thực hiện theo sự ―cải tiến‖ của học thuyết Tòa án không thích hợp theoPháp luật Anh được phản ánh trong vụ Spiliada Thực hiện theo quan điểm ban đầu

Trang 37

mang tính chất truyền thống của học thuyết này là kiểm tra có việc Tòa án là ―ápbức hoặc không có căn cứ để tiến hành vụ kiện‖ hay không, Tòa án Tối cao Úc đãkiểm tra liệu rằng mình có phải là ―Tòa án rõ ràng không phù hợp‖ hay không.Như vậy, thay vì tìm kiếm rằng liệu có là một ―Tòa án rõ ràng thích hợp hơn‖ ởnước ngoài hay không như là các học thuyết hiện đại của Anh và Hoa Kỳ, họcthuyết của Australia tập vào việc Tòa án của Australia là ―rõ ràng không phù hợp‖,tức là, sẽ bất công trầm trọng, gây thiệt hại, hoặc đe doạ gây thiệt hại cho bị đơn nếuTòa án Australia thụ lý giải quyết vụ việc [31].

1.3.3.2 Vụ kiện đang chờ xét xử (Lis Pendens)

Một yếu tố Tòa án nói chung sẽ lưu ý, trong việc áp dụng ngoại lệ của họcthuyết Tòa án không thích hợp (Forum Non Conveniens), là liệu có một vụ kiệnsong song giữa các bên tại một quốc gia khác hay không? Nếu Tòa án nước ngoài

đã thụ lý vụ kiện dường như là thích hợp để xét xử vụ kiện đó, và phán quyết có thểđược công nhận tại quốc gia sở tại, thì sự tồn tại của một vụ kiện song song sẽ làmột yếu tố mạnh mẽ ủng hộ cho việc đình chỉ hoặc bác bỏ đơn yêu cầu áp dụng

―Tòa án không thích hợp‖ Nhưng việc bác bỏ hoặc đình chỉ vụ việc không phải lànghĩa vụ của Tòa án, mà Tòa án hoàn toàn có thể quyết định tiếp tục thụ lý/giảiquyết nếu cho rằng sẽ là tốt hơn nếu vụ việc được thụ lý, giải quyết tại Tòa án mình

Để tránh trường hợp tố tụng song song, các nước theo hệ thống luật Common Lawđôi khi sử dụng lệnh cấm ―chống lại kiện tụng‖ - antisuit, theo đó Tòa án ra lệnhcấm bị đơn nộp đơn hoặc theo đuổi kiện tụng ở nước ngoài Những lệnh cấm đơnphương này đã bị chỉ trích là một sự can thiệp thù địch tới lĩnh vực tư pháp của mộtquốc gia nước ngoài Chúng rõ ràng không phải là cách để giải quyết xung đột thẩmquyền một cách thỏa đáng nhất [31]

Hầu hết các nước theo hệ thống luật Civil Law không tuân theo học thuyết Tòa

án không thích hợp, và cũng không được sử dụng các lệnh cấm antisuit Để hạn chếnhững vụ kiện song song, họ áp dụng một quy tắc được gọi là vụ kiện đang chờ xét

xử (Lis Pendens) Theo quy tắc này, nếu hai Tòa án cùng thụ lý một vụ việc giữacác bên, trong đó nguyên nhân kiện là giống nhau thì Tòa án thụ lý sau phải đình

Trang 38

chỉ hay bác đơn đối với vụ kiện đó trên cơ sở lợi ích của Tòa án thụ lý đầu tiên Đó

là quy tắc ―thụ lý đầu tiên‖, cho phép chỉ có Tòa án đầu tiên thụ lý được đưa raquyết định giải quyết vụ kiện dựa trên các ưu thế của mình Quy tắc này được ápdụng rất rộng rãi để giải quyết các trường hợp khiếu kiện song song trong lãnh thổcác nước theo hệ thống luật dân sự Một số quốc gia cũng áp dụng nó trong thiệnchí với Tòa án nước ngoài, nếu Tòa án thụ lý thứ hai cho rằng một quyết định đượcđưa ra trong vòng một khoảng thời gian hợp lý tại Tòa án nước ngoài có thể sẽ đượccông nhận tại quốc gia mình

Tại Liên minh Châu Âu, một quy tắc Lis Pendens chặt chẽ đã được đưa ra trongcác công ước Brussels và Lugano Điều kiện cho việc áp dụng quy tắc này là có hai(hoặc hơn) vụ kiện được đang chờ xét xử trong hai (hoặc hơn) các quốc gia khácnhau là thành viên công ước, cả hai vụ kiện đều liên quan đến các bên nhất định vànguyên nhân của vụ kiện là giống nhau Nếu thẩm quyền của Tòa án thụ lý đầu tiênchưa được thiết lập, Tòa án thụ lý thứ hai sẽ phải đình chỉ các thủ tục tố tụng của

nó Và khi Tòa án đầu tiên đã thiết lập rằng nó có thẩm quyền đối với vụ kiện, Tòa

án thụ lý thứ hai sẽ phải từ chối thẩm quyền

Một trong những vấn đề được nêu ra bởi việc áp dụng của điều khoản LisPendens của Công ước Brussels và Lugano, là định nghĩa điều kiện ―nguyên nhângiống nhau của vụ kiện‖: Liệu một vụ kiện theo đó nguyên đơn đưa ra yêu cầu vềbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có nguyên nhân giống trường hợp một bị đơnyêu cầu Tòa án xác định rằng mình không có nghĩa vụ với nguyên đơn? [55]

Khoa học pháp lý và Pháp luật Việt Nam chưa có các học thuyết quy định cụ thể

về lựa chọn Tòa án có thẩm quyền thích hợp nhất, từ chối thẩm quyền với lý dothẩm quyền không thích hợp, ngoại trừ một vài quy định về từ chối hoặc đình chỉxét xử mới được đưa vào Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

Trang 39

1.4 Nguồn luật điều chỉnh việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án

Theo lý luận của Tư pháp quốc tế, hiện nay, nguồn của Tư pháp quốc tế baogồm các loại sau đây: Pháp luật của mỗi quốc gia; Điều ước quốc tế; Thực tiễn Tòa

án và trọng tài (hay còn gọi là án lệ); Tập quán quốc tế [5]

Để xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế, Tòa án luôn luôn áp dụng cácquy phạm thực chất và hơn nữa thường là những quy phạm pháp luật đơn phươnghay một bên Quy phạm xác định thẩm quyền xét xử là quy phạm tố tụng, quy phạmthực chất Theo nghĩa này, nó không như quy phạm xung đột chỉ dừng lại ở việc chỉ

ra hệ thống pháp luật, trong đó quy định về thẩm quyền xét xử mà nó trực tiếp trảlời cho câu hỏi trong trường hợp cụ thể, Tòa án có thẩm quyền xét xử hay không.Quy phạm về thẩm quyền xét xử quốc tế do mỗi quốc gia ban hành là quy phạmđơn phương hay một bên vì nó chỉ xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án bản thânnước đã xây dựng ra các quy phạm đó Xuất phát từ những nguyên tắc chủ quyềnquốc gia mà các Tòa án chỉ xét xử dựa trên các quy định về thẩm quyền của quốcgia mình, đồng thời cũng không có quốc gia nào có quyền xây dựng các quy định đểxác định thẩm quyền xét xử của Tòa án các quốc gia khác Tuy nhiên, các quốc giahoàn toàn có thể cùng nhau ký kết các Điều ước quốc tế về việc xác định thẩmquyền xét xử, theo đó trong các Điều ước quốc tế này, các quốc gia có thể xây dựngcác quy phạm hai bên để xác định thẩm quyền xét xử quốc tế của Tòa án tư phápmỗi bên [6]

1.4.1 Pháp luật quốc gia

Quan hệ dân sự quốc tế là các quan hệ dân sự - kinh tế- thương mại- hôn nhângia đình và lao động có yếu tố nước ngoài phần lớn phát sinh giữa các thể nhân vàpháp nhân Chính vì vậy, các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật quốcgia giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong việc xác định thẩm quyền xét xử dân sựquốc tế của Tòa án Pháp luật quốc gia là nguồn để xác định thẩm quyền xét xử dân

sự quốc tế của Tòa án bao gồm: các văn bản quy phạm pháp luật và tiền lệ pháp(case law)

Trang 40

Hình thức tiền lệ pháp hiện nay vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống phápluật các nước tư sản, nhất là ở các nước theo hệ thống Common Law (như Anh, HoaKỳ).

Các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác định thẩm quyền xét xử dân sựquốc tế của Tòa án, tùy theo đặc điểm của từng quốc gia, có thể được tập trungtrong một đạo luật riêng biệt (ví dụ: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003 của LiênBang Nga, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 của nước Cộng hòa XHCN ViệtNam…) hoặc được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau (ví dụ:

Bộ luật Dân sự năm 1804 của Pháp…)

Như đã phân tích ở trên, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau là rấtkhác nhau, vì vậy, việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án củacác quốc gia cũng rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, dẫn đến có trường hợp

vụ việc dân sự quốc tế không có Tòa án quốc gia nào giải quyết, lại có trường hợpmột vụ việc dân sự mà Tòa án của nhiều quốc gia cùng có thẩm quyền giải quyết.Đối với những vụ việc dân sự mà Tòa án của nhiều quốc gia cùng có thẩm quyềngiải quyết, các Tòa án, trên cơ sở cân nhắc những lợi ích của quốc gia mình cũngnhư lợi ích của các quốc gia có Tòa án cùng có thẩm quyền khác trong việc giảiquyết vụ kiện, áp dụng các quy tắc về ―Tòa án thích hợp‖ (Forum Conveniens),

―Tòa án không thích hợp‖ (Forum Non Conveniens) hay vụ kiện đang chờ xét xử(Lis Pendens) để quyết định việc có thụ lý, giải quyết vụ việc một vụ việc dân sựquốc tế nhất định hay không

Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 2, Điều 413 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm

2004 thì: ―Tòa án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giảiquyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Tòa án nước ngoài đã thụ lý vụviệc dân sự đó và bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài về vụ việc dân sự đóđược công nhận và cho thi hành tại Việt Nam‖

Cũng cần chú ý rằng, trường hợp một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền xét xửcủa Tòa án thuộc nhiều quốc gia khác nhau, nhưng trong đó, một quốc gia đã ấnđịnh rằng vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án của quốc gia mình

Ngày đăng: 04/11/2020, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w