công ty đại chúng Trong khi đó, CĐTS là lực lượng nòng cốt cho huy động vốn từ công chúng đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, quyền của CĐTS lại phụ thuộc bởi trách
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HUỲNH THỊ TRÚC LINH
SO SÁNH CHẾ ĐỊNH BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG
NAM Á
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HUỲNH THỊ TRÚC LINH
SO SÁNH CHẾ ĐỊNH BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG
NAM Á
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 938 0101.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC MINH
TS NGUYỄN AM HIỂU
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trình bày trong luận án là khách quan, trung thực, tài liệu tham khảo được trích dẫn rõ ràng Những kết luận của luận án chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình của tác giả nào khác
Nghiên cứu sinh
Huỳnh Thị Trúc Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 12
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu về luật so sánh 12
1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 14
1.2.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về cổ đông thiểu số và bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 14
1.2.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam và ở một số quốc gia Đông Nam Á 23
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về giải pháp và kiến nghị bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam và ở một số quốc gia Đông Nam Á 29
1.2.4 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 32
1.3 Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 34
1.3.1 Cơ sở lý thuyết 34
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 36
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu 37
Kết luận chương 1 39
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 41
2.1 Khái quát về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 41
2.1.1 Khái niệm cổ đông 41
2.1.2 Khái niệm cổ đông thiểu số 44
Trang 52.1.3 Sự cần thiết, vai trò, ý nghĩa và mục đích bảo vệ cổ đông thiểu
số trong công ty cổ phần 49
2.2 Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 59
2.2.1 Định nghĩa pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 59
2.2.2 Đặc điểm pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 61
2.2.3 Cấu trúc pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 62
2.2.4 Khái quát hệ thống pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của một số quốc gia Đông Nam Á 63
2.3 Các vấn đề cơ bản về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 66
2.3.1 Chế định bảo vệ cổ đông thiểu số ở phương diện quyền của cổ đông thiểu số 67
2.3.2 Chế định bảo vệ cổ đông thiểu số qua các thiết chế quản lý nội bộ của công ty 68
2.3.3 Chế định bảo vệ cổ đông thiểu số qua các thiết chế hỗ trợ ngoài công ty 68
2.3.4 Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần qua tòa án và trọng tài 69
2.4 Các yếu tố chi phối, tác động đến chế định pháp luật bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 69
2.4.1 Yếu tố chính trị, pháp lý 69
2.4.2 Yếu tố kinh tế 70
2.4.3 Yếu tố quốc tế 72
Kết luận chương 2 74
CHƯƠNG 3: SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 76
3.1 Bảo vệ cổ đông thiểu số bằng quyền của cổ đông thiểu số 76
3.1.1 Quyền nhận cổ tức 76
3.1.2 Quyền ưu tiên mua cổ phần chào bán 79
Trang 63.1.3 Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần 81
3.1.4 Nhóm quyền quản trị của cổ đông thiểu số 85
3.1.5 Quyền được thông tin và yêu cầu về minh bạch hóa của cổ đông thiểu số 94
3.2 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua các thiết chế quản lý nội bộ 107
3.2.1 Đại hội đồng cổ đông 109
3.2.2 Hội đồng quản trị 112
3.2.3 Giám đốc độc lập 114
3.2.4 Ban kiểm soát - kiểm soát viên độc lập 115
3.3 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua thiết chế hỗ trợ ngoài công ty 117
3.4 Bảo vệ cổ đông thiểu số thông qua tòa án và trọng tài 119
Kết luận chương 3 124
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 128
4.1 Quy phạm giải thích khái niệm cổ đông thiểu số trong văn bản pháp luật 129
4.2 Quy định về quyền của cổ đông thiểu số 130
4.3 Quy định về Đại hội đồng cổ đông 137
4.4 Quy định về Ban kiểm soát 139
4.5 Quy định về giám đốc độc lập 140
4.6 Thiết chế khác bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần 141
Kết luận chương 4 143
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BCTC Báo cáo tài chính
BKS Ban kiểm soát
CĐTS Cổ đông thiểu số
CTCP Công ty cổ phần
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
GĐ/TGĐ Giám đốc/Tổng giám đốc
HĐQT Hội đồng quản trị
IFC Tổ chức tài chính quốc tế
LDN Luật doanh nghiệp
NCS Nghiên cứu sinh
OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
OEDC Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TAND Tòa án nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài Luận án
Hiện nay, hầu hết các công ty cổ phần ở Việt Nam đều có sự tham gia
đa dạng của các nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt
là đối với các công ty cổ phần đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Với đặc trưng đối vốn của mình, trong công ty cổ phần luôn có nhu cầu giải quyết lợi ích giữa những người nắm nhiều vốn (cổ đông lớn) và người có ít vốn (CĐTS) Thực trạng này phổ biến ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển
Ở các nước Đông Nam Á bảo vệ nhà đầu tư nhỏ cũng là một trong những nhiệm vụ mà các quốc gia này cùng hướng đến Bảo vệ nhà đầu tư là một trong các chỉ số mà Ngân hàng thế giới sử dụng để đánh giá xếp hạng về
sự phát triển nền kinh tế quốc gia Báo cáo Môi trường kinh doanh 2019 của Ngân hàng Thế giới cho thấy trong khối ASEAN, tính chung, Việt Nam tăng
13 hạng từ vị trí 82 lên vị trí 69 (với điểm số 68,36) trên bảng xếp hạng 190 quốc gia Việt Nam đứng sau Singapore (xếp hạng 2), Malaysia (xếp hạng 15), Thái Lan (xếp hạng 27) và trước Philippine (xếp hạng 124) Đạt được mục tiêu của Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh bằng mức độ môi trường kinh doanh ngang bằng các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan trong thời gian tới là rất khó khăn vì chúng ta phải so sánh với những nước có mức độ bảo vệ cổ đông rất tốt, đứng đầu thế giới[89]
Giống như nhiều nước khác, khái niệm CĐTS chưa được ghi nhận trong các quy định của pháp luật Việt Nam Về thực trạng bảo vệ CĐTS trong bảng xếp hạng với các quốc gia trong khu vực thì Việt Nam luôn đứng ở nhóm cuối cụ thể là những nước trong khu vực Những đề xuất giải pháp về bảo vệ CĐTS được các bài viết đề cập khá nhiều nhưng hiệu quả chưa cao Chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và thực tiễn quản trị công ty đặc biệt là các
Trang 9công ty đại chúng Trong khi đó, CĐTS là lực lượng nòng cốt cho huy động vốn từ công chúng đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán
Bên cạnh đó, quyền của CĐTS lại phụ thuộc bởi trách nhiệm bảo đảm của người quản lý và các cổ đông lớn trong thực thi cơ chế quản trị công ty Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay pháp luật, điều lệ và quy chế quản trị công
ty chưa đồng bộ và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng như quy tắc ràng buộc nghĩa vụ của cổ đông lớn và người quản lý công ty Hơn nữa thực tiễn vận hành của pháp luật cho thấy có các hành vi do cổ đông lớn vi phạm lợi ích CĐTS, như biểu quyết về tỷ lệ hưởng cổ tức, đề cử thành viên HĐQT, BKS,
bổ nhiệm GĐ công ty,… bên cạnh đó, còn có các hành vi do người quản lý công ty như lạm dụng vị trí, vi phạm nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng Do vậy, cần có cơ chế pháp lý về bảo vệ CĐTS, thiết lập cơ chế bảo vệ gắn với đặc trưng mối quan hệ của CĐTS và cổ đông lớn và những người quản lý công ty Tuy nhiên, sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của cổ đông xét theo khía cạnh mục đích của công ty
Với đặc trưng CĐTS thường có ít cơ hội tham gia quản lý, quyết định các vấn đề quan trọng của công ty Các quyền của CĐTS về tài sản, quản trị công ty, tiếp cận thông tin cũng chưa được thực thi đầy đủ do người quản lý hoặc các cổ đông lớn vi phạm, đối xử không công bằng Về phương diện đáp ứng yêu cầu hội nhập, so với pháp luật của nhiều nước, đặc biệt là những nước phát triển tại khu vực ĐNA như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines thì các quy định về bảo vệ CĐTS trong CTCP ở nước ta vẫn còn những điểm chưa tương thích Cơ chế bảo vệ CĐTS cũng hoạt động chưa có hiệu quả, nhất là việc xử lý các vi phạm quyền lợi của nhà đầu tư – CĐTS Thực tiễn nêu trên cho thấy, cần phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo vệ quyền lợi của CĐTS, đồng thời tham khảo so sánh thực tiễn pháp luật nước ngoài, trong đó so sánh với pháp luật một số nước Đông Nam Á là hết sức cần thiết
Trang 10Đồng thời trong bối cảnh hội nhập, trong đó có hội nhập pháp luật, luôn
là vấn đề quan trọng và cần thiết tại mỗi quốc gia Hội nhập pháp luật không thể diễn ra nếu không dựa trên nền tản của so sánh pháp luật Từ kết quả của
so sánh, người ta có thể dễ dàng hài hòa hóa pháp luật, nhất thể hóa pháp luật
để tạo ra những mẫu số chung trong giao lưu và hội nhập pháp luật khu vực
và thế giới
Cộng đồng ASEAN đã thiết lập cộng đồng kinh tế Để có sân chơi chung, nhất thiết phải hướng tới sự tương thích pháp luật Để có sự tương thích này phải là kết quả của sự cọ sát, đối chiếu so sánh rồi lấp đi những khác biệt căn bản để tìm kiếm “tiếng nói chung” trong điều chỉnh pháp luật và từ
đó hy vọng sẽ hình thành pháp luật của cộng đồng, áp dụng thống nhất tại các quốc gia thành viên (theo mô hình EU)
Trong bối cảnh đó, để hội nhập kinh tế, việc so sánh pháp luật về công
ty nói chung và về CĐTS nói riêng là việc làm cần thiết trong nghiên cứu khoa học pháp lý nói chung và trong luật so sánh ở Việt Nam nói riêng
Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định pháp luật bảo vệ CĐTS theo hướng
so sánh với một số nước ĐNA trở nên cấp thiết không chỉ đối với việc thúc đẩy sự phát triển của các CTCP mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành nhằm tạo hành lang pháp lý cho toàn bộ hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện những quy định trên còn cần thiết cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Pháp luật kinh tế cũng như đối với các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào CTCP Đó chính là lý do tác giả
chọn đề tài: “So sánh chế định bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
theo pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số quốc gia Đông Nam Á” cho luận
án tiến sĩ của mình
Trang 112 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án phân tích, xây dựng và làm rõ một số vấn đề về bảo vệ CĐTS trong CTCP trên phương diện lý luận và thực tiễn theo quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu với các quy định của một số quốc gia ĐNA Từ đó tác giả đưa ra những đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ CĐTS trong CTCP, thúc đẩy hoạt động đầu tư thành lập công ty để nâng cao hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong quá trình LDN năm 2020 vừa được Quốc hội thông qua Bên cạnh đó, luận án cung cấp kiến thức về CĐTS, quyền của CĐTS cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh, trong quá trình học tập và nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, Luận án đánh giá về những quan điểm hiện hành và từ đó
xây dựng nội dung lý luận về CĐTS, nêu lên ý nghĩa của việc bảo vệ CĐTS, khái quát về pháp luật bảo vệ CĐTS của Việt Nam;
Thứ hai, Luận án phân tích các quy định về quyền của CĐTS theo quy
định của LDN năm 2014, đưa ra những đánh giá, so sánh với các quy định trước đây và các sửa đổi, bổ sung mới trong LDN năm 2020 vừa được Quốc hội thông qua, cùng với việc so sánh đối chiếu với pháp luật của Thái Lan, Malaysia, Philippines, Singapore để thấy được những nét tương đồng và khác biệt;
Thứ ba, Luận án đề xuất một số khuyến nghị để tham khảo phục vụ
hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam nhằm bảo vệ CĐTS trên cơ sở những nguyên tắc và thông lệ quốc tế về quản trị công ty
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của Luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật về bảo vệ CĐTS trong CTCP, thực tiễn áp dụng, thực tiễn thi hành pháp luật về việc bảo đảm quyền của
Trang 12CĐTS, các thiết chế quản lý nội bộ trên cơ sở đối chiếu với pháp luật các nước Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines
Đối với các CTCP, tác giả quan tâm lưu ý hơn tới các CTCP đã niêm yết
cổ phiếu tại thị trường chứng khoán của Việt Nam và một số quốc gia ĐNA (Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines) Điều này xuất phát từ lý do: Thứ nhất, các công ty niêm yết là sự thể hiện mang tính tiêu biểu của lực lượng kinh
tế một nước, thực trạng về hoạt động kinh doanh của nó, và suy cho cùng, cũng
là thể hiện trình độ quản lý của nước đó Thứ hai, sở hữu và điều hành trong công ty niêm yết được tách rời rõ nét Vì lợi ích của cổ đông và lợi ích công cộng, các công ty niêm yết của các nước cần được quản lý chặt chẽ hơn cả Tất
cả các điều luật thực định về bảo vệ cổ đông đặc biệt là CĐTS của công ty niêm yết ở mỗi nước có thể đưa ra một bức tranh tổng quan về trình độ quản lý đối với chủ thể kinh doanh của nước đó
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đông Nam Á bao gồm các quốc gia: Indonesia, Myanma, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Philippines, Lào, Campuchia, Đông Timor, Brunei, Singapore Trong 11 quốc gia này, NCS tập trung nghiên cứu những nước đang phát triển nhất ở ĐNA thuộc nhóm nước ASEAN 4 gồm Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines Các quốc gia này cũng là những nước đã và đang bước vào hàng ngũ công nghiệp hóa mới Việc lựa chọn bốn quốc gia nêu trên để nghiên cứu
so sánh với Việt Nam trong việc bảo vệ CĐTS, bởi những lý do:
- Hội nhập và thống nhất pháp luật: Ngày nay, người ta đã quen với khái niệm “pháp luật của Liên minh Châu Âu”, “pháp luật của khối ASEAN”,
và trên phạm vi toàn cầu hệ thống pháp luật của WTO quả thực là lĩnh vực pháp luật chung của toàn thế giới Để có được những pháp luật như vậy, trên thực tế đã phải trải qua nhiều hoạt động nghiên cứu so sánh để đi tìm cái chung của các hệ thống pháp luật, sự tiến bộ của từng hệ thống pháp luật, sự
Trang 13cố gắng và độ lượng của từng quốc gia trong những “ngôi nhà chung” về pháp luật đó Như vậy, theo nghĩa đó, luật so sánh có mục đích là thống nhất pháp luật, hay khoa học pháp lý hiện đại gọi là “nhất thể hoá pháp luật” - điều kiện thuận lợi để giao lưu và hợp tác quốc tế
Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines có nền văn hóa gần gũi với Việt Nam, cùng chịu ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước; vì thế trong các hoạt động mọi người hợp tác, chia sẻ, đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển là rất hiệu quả Những nước này có những điểm tương đồng trong quá trình phát triển của mình từ khi độc lập cho đến nay và cũng là những nước mà quá trình toàn cầu hóa có những tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
- Lý do tiếp theo cho việc lựa chọn bốn quốc gia này làm đối tượng nghiên cứu (Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines) là do các khu vực của họ có nguồn gốc pháp lý khác nhau: Malaysia theo truyền thống luật chung, nhưng cũng quy định về luật sharia Hệ thống pháp luật Thái Lan dựa trên luật dân sự, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống luật chung Singapore thuộc về hệ thống luật Anh, hệ thống pháp luật Philippines chứa đựng thành tố của civil law, common law, luật tập quán và Hồi giáo, trong khi
hệ thống pháp luật Việt Nam bị ảnh hưởng bởi nền tảng xã hội chủ nghĩa và luật dân sự Pháp Do đó, mục tiêu của luận án có thể được tóm tắt là minh họa tầm quan trọng của bối cảnh đối với hoạt động của pháp luật, dựa trên ví dụ
so sánh bảo vệ pháp lý và thực tế của các CĐTS ở Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Philippines
- Theo số liệu của Tổng cục thống kê, lũy kế đến tháng 8 năm 2018 có gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam thì Singapore, Malaysia, Thái Lan nằm trong top 10 đối tác đầu tư lớn nhất vào Việt Nam [104], tuy không ở mức độ lớn như Hàn Quốc (đứng vị trí thứ nhất 61.08 tỷ
Trang 14đô), Nhật Bản (đứng vị trí thứ hai 55,84 tỷ USD), Singapore (đứng vị trí thứ
ba 45,89 tỷ đô), nhưng Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines đều là thành viên ASEAN như Việt Nam Là thành viên của một liên minh kinh tế, các quốc gia có trách nhiệm hướng tới hài hòa hóa pháp luật
4 Phương pháp nghiên cứu, hướng tiếp cận nghiên cứu của Luận án
4.1 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp so sánh: là phương pháp được sử dụng xuyên suốt
trong quá trình nghiên cứu, cụ thể: nghiên cứu so sánh giữa quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước ĐNA để làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về CĐTS và cơ chế pháp lý bảo vệ CĐTS cũng như các giải pháp góp phần hoàn thiện những hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện nay
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu về so sánh pháp luật ở một số nước ĐNA ở một mức độ nhất định và mục đích chính là áp dụng so sánh như là một phương pháp nghiên cứu vì mã số và chuyên ngành đào tạo là Luật kinh
tế không phải là Luật so sánh
+ Phương pháp phân tích: được sử dụng ở hầu hết các chương của luận
án để làm rõ các khái niệm về mặt lý luận được giải quyết tại chương 1, 2 của luận án
+ Phương pháp tổng hợp: Để đảm bảo tính logic, tính hệ thống trong
quá trình nghiên cứu, đề tài cũng sử dụng phương pháp tổng hợp xuất phát từ bản chất của nội dung cần nghiên cứu và thực tiễn áp dụng để có cái nhìn khái quát, tổng luận các vấn đề
* Tổng hợp kết quả phân tích các khái niệm CĐTS, các lý thuyết để xây dựng các khái niệm cho phù hợp với điều kiện Việt Nam
* Tổng hợp kết quả nghiên cứu phân tích pháp luật về cơ chế bảo vệ CĐTS ở Việt Nam với cơ chế bảo vệ CĐTS ở một số nước ĐNA: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippine
Trang 15* Tổng hợp kết quả phân tích, so sánh pháp luật một số nước ĐNA như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippine để rút ra những bài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam và có tính tương đồng hơn giữa các nước về chế định bảo vệ CĐTS trong CTCP
Nội dung so sánh chế định bảo vệ CĐTS trong CTCP bao gồm: i) khái niệm CĐTS; ii) việc bảo đảm quyền CĐTS; iii) bảo vệ cổ đông qua các thiết chế quản lý nội bộ; iv) bảo vệ CĐTS thông qua các hiệp hội; v) bảo vệ cổ đông thông qua tòa án và trọng tài Việc xác lập tiêu chí so sánh trên có mối quan hệ chặt chẽ với cơ chế quản trị nội bộ công ty cũng như pháp luật và nguyên tắc quản trị công ty Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế - OECD năm
1999 đã ban hành bộ quy tắc quản trị công ty Theo đó khuyến nghị việc áp dụng các nguyên tắc bảo đảm quyền cơ bản của cổ đông cũng như đối xử công bằng và trách nhiệm của HĐQT, Tổ chức OECD cũng đưa ra các nguyên tắc yêu cầu công khai, minh bạch của công ty và tăng cường tiếp cận thông tin của cổ đông; bảo đảm kiểm soát giao dịch của cổ đông lớn và người quản lý công ty
Như vậy, để có cơ sở làm căn cứ đối chiếu pháp luật bảo vệ CĐTS giữa các nước cần dựa vào những tiêu chí, chuẩn mực chung về quản trị công ty tốt, đặc biệt là các nguyên tắc quản trị công ty của OECD đã ban hành Các tiêu chí để đối chiếu so sánh chế định bảo vệ CĐTS giữa Việt Nam với Thái Lan, Singapore, Malaysia và Philippines cũng sẽ thực hiện theo nội dung các nguyên tắc quản trị công ty của OECD, trọng tâm nghiên cứu là nội dung 3 nguyên tắc về bảo đảm quyền cơ bản của CĐTS và trách nhiệm của HĐQT sẽ được sử dụng làm tiêu chí so sánh trong luận án
4.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Tiếp cận hệ thống: luận án phân tích và đánh giá các vấn đề về CĐTS
trong CTCP đặt trong mối quan hệ cân bằng với cổ đông lớn và trong lợi ích chung của công ty
Trang 16Tiếp cận liên ngành: vấn đề bảo vệ CĐTS được nghiên cứu dưới sự
phối hợp của những ngành khoa học xã hội khác như luật học so sánh, ngành kinh tế học (liên quan đến lĩnh vực quản trị công ty)
Tiếp cận lịch sử: quan điểm lịch sử cụ thể được thực hiện trong quá
trình nghiên cứu, khi phân tích đánh giá từng mặt của mối quan hệ này được quán triệt trong những bối cảnh lịch sử và những điều kiện cụ thể nhìn nhận dưới góc độ logic phát triển
5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án
Thứ nhất, Luận án nhận diện được các xu hướng, cách tiếp cận mới ở
một số quốc gia ĐNA và ở Việt Nam trong bảo vệ CĐTS trong CTCP Cụ thể: luận án đã tóm lược nội dung và tổng quan kết quả nghiên của một số công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án về các phương diện: Nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực trạng pháp luật cũng như những giải pháp và kiến nghị về bảo vệ CĐTS trong CTCP ở Việt Nam
và ở một số quốc gia ĐNA Trên cơ sở đó tác giả đã có một số nhận xét, đánh giá về kết quả nghiên cứu khoa học này, chỉ ra những thành tựu nghiên cứu được kế thừa và những vấn đề được tiếp tục nghiên cứu và phát triển trong luận án
Thứ hai, Về phương diện nghiên cứu lý luận trong chương 2 của luận
án đã tổng quát, phân tích và luận bàn một số vấn đề về pháp luật bảo vệ CĐTS trong CTCP, trong đó phân tích, luận bàn về các vấn đề trên các phương diện: khái niệm CĐTS, định nghĩa, cấu trúc pháp luật về bảo vệ CĐTS trong CTCP, khái quát hệ thống pháp luật về bảo vệ CĐTS của một số quốc gia ĐNA cũng như các vấn đề cơ bản về bảo vệ CĐTS trong CTCP (bảo
vệ CĐTS ở phương diện quyền của CĐTS; chế định bảo vệ CĐTS qua các thiết chế quản lý nội bộ của công ty; qua các thiết chế hỗ trợ ngoài công ty và bảo vệ CĐTS trong CTCP qua tòa án và trọng tài)
Trang 17Thứ ba, Trong chương 3 của luận án đã so sánh pháp luật Việt Nam về
bảo vệ CĐTS trong CTCP với pháp luật một số quốc gia ĐNA, trên các phương diện: i) bảo vệ CĐTS ở phương diện quyền của CĐTS; ii) bảo vệ CĐTS qua các thiết chế quản lý nội bộ của công ty; iii) bảo vệ CĐTS qua các thiết chế hỗ trợ ngoài công ty; iv) bảo vệ CĐTS trong CTCP qua tòa án và trọng tài Trên cơ sở phân tích so sánh với pháp luật của Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore Luận án đã rút ra nhận định là: pháp luật các nước
có nhiều điểm tương đồng tuy nhiên do môi trường chính trị, nền kinh tế, văn hóa khác nhau cũng có những quy định khác nhau, nhưng nhìn chung các quy định về pháp luật bảo vệ CĐTS đều hướng tới mục tiêu chung là đều bảo vệ CĐTS qua các biện pháp cụ thể để thu hút đầu tư và để hoàn thiện pháp luật
về bảo vệ CĐTS trong CTCP ở Việt Nam hiện nay
Thứ 4, Trong chương 4 của luận án đã đưa ra một số khuyến nghị hoàn
thiện pháp luật về bảo vệ CĐTS trong CTCP ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án là công trình nghiên cứu làm giàu thêm lý luận về bảo vệ CĐTS trong CTCP hiện nay dưới nhiều góc độ như: làm rõ hơn quan niệm về CĐTS, nhận diện CĐTS, lý do bảo vệ CĐTS cũng như mục đích, ý nghĩa của việc bảo vệ CĐTS Luận án còn phân tích các phương thức bảo vệ CĐTS ở Việt Nam trên cơ sở so sánh với các nước Thái Lan, Singapore, Philippines nhằm đưa ra những khuyến nghị để tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý doanh nghiệp cũng như cho chính CĐTS trong quá trình bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Luận án cũng là tài liệu nghiên cứu, học tập cho sinh viên chuyên ngành kinh tế
Trang 187 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về bảo vệ cổ
đông thiểu số trong công ty cổ phần
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công
ty cổ phần
Chương 3: So sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật một số quốc gia
Đông Nam Á về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Chương 4: Một số khuyến nghị cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp
luật bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu về luật so sánh
Luật so sánh cũng như các ngành khoa học pháp lý khác là cung cấp tri thức pháp luật cho người nghiên cứu Luật so sánh trước hết cho chúng
ta cái nhìn toàn diện về hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới thông qua việc giới thiệu các gia đình pháp luật khác nhau, bên cạnh đó còn giúp cho người nghiên cứu có thêm những tri thức về hệ thống pháp luật của quốc gia mình Ngoài ra, Luật so sánh còn cung cấp tri thức về văn hóa pháp lý của các nước
Về đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh
Hiện nay, đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh vẫn chưa có sự thống nhất mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn:
Hai học giả người Đức là Zweigert và Kotz trong tác phẩm “Giới
thiệu về Luật so sánh” cho rằng: “Luật so sánh là hoạt động trí tuệ mà pháp
luật là đối tượng và so sánh là quá trình hoạt động” Cùng với việc xác định đối tượng so sánh là các hệ thống pháp luật khác nhau, các học giả này
khẳng định: “Luật so sánh là so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau
trên thế giới” [153]
Peter de Cruz, tác giả của “Luật so sánh trong thế giới thay đổi” cho rằng Luật so sánh “Luật so sánh trong thế giới thay đổi” cho rằng Luật so sánh “nghiên cứu có hệ thống các truyền thống pháp luật và các quy phạm
pháp luật đó trên cơ sở so sánh” [168]
Các học giả XHCN không đưa ra khái niệm về Luật so sánh mà xác định đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh bằng phương pháp liệt kê Đối tượng nghiên cứu được liệt kê dựa trên kinh nghiệm so sánh pháp luật của các
Trang 20học giả, theo đó, những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của Luật so sánh bao gồm: văn hóa pháp lý, kỹ thuật pháp lý, hệ tư tưởng pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, chế định pháp luật, quy phạm pháp luật
Cũng sử dụng phương phương pháp liệt kê giống như các nhà xã hội học XHCN nhưng Michael Bogdan [159, tr.55] liệt kê rõ ràng và thuyết phục hơn Ông đã xác định đối tượng của Luật so sánh bao gồm:
+ Tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa các hệ thống pháp luật hoặc các chế định của các hệ thống pháp luật thông qua việc so sánh giữa chúng
+ Giải thích nguồn gốc, đánh giá cách giải quyết vấn đề hay phân nhóm các hệ thống pháp luật hoặc tìm ra những vấn đề trọng tâm của các hệ thống pháp luật từ kết quả so sánh
Về phương pháp nghiên cứu luật so sánh
Bên cạnh việc đề cập đối tượng của Luật so sánh thì một nội dung không thể không bàn tới là phương pháp nghiên cứu của Luật so sánh Đây là phương pháp không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu của Luật so sánh Nhờ vào việc áp dụng các phương pháp so sánh pháp luật mà người nghiên cứu có khả năng làm sáng tỏ được đặc điểm chung và đặc điểm riêng của từng hệ thống pháp luật Những phương pháp so sánh pháp luật thường được sử dụng bao gồm: phương pháp so sánh lịch sử (dựa vào các giai đoạn lịch sử nhất định để lý giải những điểm tương đồng và khác biệt giữa các vấn đền cần so sánh); phương pháp so sánh quy phạm (là phương pháp so sánh quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, văn bản pháp luật của hệ thống pháp luật này với quy phạm, chế định hay văn bản pháp luật tương ứng trong hệ thống pháp luật khác); phương pháp so sánh chức năng (là phương pháp so sánh các giải pháp được sử dụng trong các xã hội khác nhau để giải quyết cùng quan hệ xã hội tồn tại ở các xã hội đó) [66, tr.28]
Với yêu cầu hội nhập đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để chủ
Trang 21động hơn trong việc hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Trong lĩnh vực học thuật, có sự xuất hiện của các công trình chuyên khảo về Luật so sánh được dịch thuật từ các giáo trình kinh điển của nước ngoài, tiêu biểu như sách Luật
so sánh (1994) của Michael Bogdan (Thụy Điển) được dịch bởi tác giả Lê
Hồng Hạnh và Dương Thị Hiền; hay sách Những hệ thống pháp luật chủ yếu
trên thế giới hiện nay của Rène David (Pháp) Đây là những tài liệu có giá trị
trên thế giới trong lĩnh vực này và bước đầu được sử dụng để nghiên cứu và giảng dạy về Luật so sánh ở Việt Nam Ngoài ra, các tác giả và cơ sở nghiên cứu của Việt Nam cũng đã công bố các công trình trong chuyên ngành này
như Giáo trình Luật so sánh của Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo
trình Luật so sánh của Võ Khánh Vinh (2002), Tìm hiểu Luật so sánh của
Viện Nhà nước và Pháp luật (1993)
Ngoài ra ở Việt Nam, đối với việc nghiên cứu Luật so sánh còn được thể hiện ở nhiều dự án quốc tế, nước ngoài như: Star Việt nam và GIG của Hoa kỳ; Jica Nhật bản; Sida Thụy điển; Sida, NDL của Canada; GTZ, GIZ, FES, KAS của Đức, Nhà pháp luật Việt pháp, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu á ADB, IMF, IFC, UNDP và DANIDA của Đan Mạch
1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
1.2.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về cổ đông thiểu số và bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về cổ đông thiểu số
Tư cách của cổ đông trong CTCP được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau Các tác giả như Julian Velasco [195], Arianna Pretto – Sakmann [126] chưa có sự khẳng định người sở hữu cổ phần trong CTCP là chủ sở hữu công ty hay không Từ góc nhìn truyền thống, các ông công nhận các cổ đông là chủ sở hữu của công ty
Trang 22Hiện nay, có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu đã đưa ra một số dấu hiệu nhận biết về loại CĐTS như:
Tác giả Bùi Xuân Hải [23, tr.172], tác giả đã đưa ra dấu hiệu nhận biết CĐTS như: căn cứ vào số lượng cổ phần mà cổ đông sở hữu: (i) căn cứ vào tỷ
lệ cổ phần do các cổ đông nắm giữ, người nào càng sở hữu nhiều vốn là nắm giữ tỷ lệ cổ phần do công ty phát hành càng lớn sẽ càng có quyền quyết định nhiều vấn đề trong công ty từ đó có thể phân biệt đâu là CĐTS, cổ đông lớn; (ii) căn cứ vào loại cổ phần mà cổ đông sở hữu - cụ thể; dựa vào việc cổ đông
sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, loại cổ phần này sẽ mang lại cho người nắm giữ nó có nhiều phiếu biểu quyết hơn so với các loại cổ phần khác vì thế
cổ đông đó có thể quyết định các vấn đề của công ty (nhất là các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐQT) Trong Luận án TS của Nguyễn Thị Thu Hương, CĐTS được hiểu là cổ đông sở hữu một lượng cổ phần nhỏ trong tổng số vốn điều lệ và không có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty CĐTS
là cổ đông có quyền biểu quyết thiểu số Điều lệ công ty phải căn cứ vào cấu trúc vốn của mình để quy định rõ tỷ lệ sở hữu cổ phần của CĐTS [29, tr.39] Bên cạnh đó, tác giả Phan Hoàng Ngọc trong luận án TS của mình cũng đưa
ra 3 tiêu chí nhận diện CĐTS là: cổ đông không có quyền biểu quyết mang tính chất kiểm soát, chi phối đối với công ty; tự bản thân đơn lẽ cổ đông không thể bầu chọn được các thành viên của HĐQT công ty; các cổ đông không có vai trò thực tế, hay tiếng nói không có giá trị trong việc điều hành công ty [41, tr.39]
Theo Vincent Siaw (Thái Lan) trong luận án TS [183, tr.189] đã có đưa
ra dấu hiệu để nhận biết về CĐTS là: CĐTS nghĩa là một cổ đông cá nhân đầu
tư và sở hữu dưới 10% cổ phần của một công ty niêm yết công khai, và là người không có được kiểm soát trong công ty đó
Với những dấu hiệu này, chúng ta đã có cái nhìn chung nhất về
Trang 23CĐTS Chính vì ít vốn nên không có khả năng chi phối trong mọi quyết định của công ty cổ phần với đặc trưng là công ty đối vốn Với những kết quả nghiên cứu đã có, NCS sẽ kế thừa và thấy đủ cơ sở để nhận diện CĐTS trong luận án của mình
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu lý luận về bảo vệ cổ đông thiểu số
Các nghiên cứu về đối tượng xâm phạm đến quyền của CĐTS trong CTCP
Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra hai nhóm chủ thể có khả năng chèn ép, xâm phạm đến quyền lợi của CĐTS Đó là: (i) người quản lý công
ty, (ii) cổ đông nhiều vốn trong công ty
Thứ nhất, sự lạm quyền của người quản lý công ty: Trong một nghiên
cứu, Henry Hansmann và Reinier Kraakman đã kết luận rằng mỗi công ty đều có những mối quan hệ ẩn chứa sự xung đột lợi ích ở một mức độ khác nhau, trong đó có mối quan hệ giữa các cổ đông, thành viên với người được thuê, được bổ nhiệm để quản lý công ty [139, tr.1-2] Do vậy, người quản lý công ty cho dù họ có là cổ đông hay không thì họ có rất nhiều cơ hội để tư lợi Vì vậy, các cổ đông trong công ty đều phải đối mặt với các rủi ro, thiệt hại do chính những người quản lý, điều hành công ty đó có thể gây ra Trước
đó, trong tác phẩm Của cải của các Dân tộc (The Wealth of Nations), nhà
kinh tế học nổi tiếng Adam Smith cũng đã cho rằng người quản lý công ty sẽ
dễ dàng thực hiện việc có lợi cho bản thân hơn là cho những người khác trong công ty [117, tr.800]
Trong nửa cuối của thế kỷ 20, có học thuyết về đại diện là đáng quan tâm Theo thuyết này, nếu cổ đông và người quản lý công ty đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì người quản lý công ty sẽ luôn hành động vì lợi ích của bản thân hơn là cho người khác [160]
Cũng vì xu thế này nên ở Châu Á, trong sự dịch chuyển từ các công ty gia đình với cơ chế quản lý nội bộ sang các CTCP có cơ chế cổ đông phân
Trang 24tán, đã bắt đầu xuất hiện xu hướng phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý Việc tách bạch này đã mang đến cho cơ cấu tổ chức quản lý công ty nhiều lợi ích và tác động tích cực vào nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, việc này cũng có hạn chế là các cổ đông, người chủ thực sự của công ty trở nên bị động vì họ thường không có khả năng và cũng không thể tham gia vào công việc quản lý công việc kinh doanh hằng ngày của công ty, vì thế nó tạo khoảng trống để những người quản lý công ty có thể lợi dụng và thu về các lợi ích cá nhân, gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong công ty, đặc biệt là lợi ích của cổ đông công chúng Trong bài viết
của tác giả Hà Thị Thanh Bình [4], “sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản
lý, điều hành trong quản trị công ty”, vấn đề tách bạch quyền sở hữu và quản
lý, điều hành được coi là gốc rễ của vấn đề quản trị công ty Cụ thể: Pháp luật nên quy định một số nguyên tắc: phải có thành viên độc lập, tách bạch HĐQT
vị trí chủ tịch HĐQT và GĐ điều hành, có cơ chế giám sát chặt chẽ các giao dịch có tính chất tư lợi (các giao dịch có liên quan đến cổ đông lớn và những người quản lý công ty), có cơ chế đảm bảo quyền lợi của CĐTS và cơ thế thực hiện quyền khiếu nại của cổ đông (quyền khởi kiện phái sinh), cần cụ thể hóa các quy định về điều kiện và trách nhiệm của người quản lý công ty
Thứ hai, việc chiếm ưu thế của cổ đông lớn: Với số lượng cổ phần chi
phối, cổ đông lớn rất dễ thực hiện những việc đem lại lợi ích cho bản thân nhiều hơn từ đó có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của CĐTS
Trong chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright [12] có đưa ra nhận định: các cổ đông sở hữu đa số cổ phần và những nhà quản lý được chọn của
họ (người bên trong) thường có một vài vấn đề về thông tin và kiểm soát Những người sở hữu cổ phần thiểu số nằm ngoài nhóm kiểm soát (người ngoài) rất dễ bị thiệt hại trước sự chiếm hữu thông tin của những người bên trong Từ “bòn rút” đã được dùng để mô tả hành động chuyển nguồn lực công
Trang 25ty vào tay cá nhân của những người bên trong trước sự thiệt hại của người bên ngoài Vấn đề này cũng được Giáo sư Claessens cho rằng các cổ đông lớn thường xâm phạm đến quyền lợi của các CĐTS [174]
Do vậy, CĐTS là người cần được bảo vệ trước hành vi xâm phạm lợi ích của những người quản lý và các cổ đông lớn trong CTCP
Các nghiên cứu về nguyên tắc bảo vệ CĐTS
Tổ chức hợp tác kinh tế (OECD) cũng khẳng định về khả năng chèn ép, xâm phạm quyền lợi CĐTS của các cổ đông lớn và OECD đã kêu gọi phải đối
xử bình đẳng giữa các cổ đông trong các hội thảo, hội nghị về quản trị công ty
và đã ban hành Bộ nguyên tắc về Quản trị công ty (Coporate Governance
principles) được đánh giá cao với các nguyên tắc bảo vệ cổ đông và đối xử
bình đẳng giữa các cổ đông [164]
Trong bài viết của TS Bùi Xuân Hải [20], TS Nguyễn Thị Thu Hương [29, tr.51] đều đề cập đến nguyên tắc bảo vệ CĐTS và cùng thống nhất quan
điểm: i) theo nguyên tắc công bằng, bình đẳng và hợp lý: Pháp luật phải bảo
vệ cổ đông nói chung trên nguyên tắc bình đẳng mà không có sự phân biệt cổ đông lớn hay CĐTS; cổ đông định chế hay cá nhân; cổ đông nhà nước hay tư nhân; cổ đông trong nước hay nước ngoài Các cổ đông cùng loại trong những tình huống như nhau phải được đối xử và bảo vệ như nhau Còn sự hợp lý có nghĩa là việc bảo vệ phải xuất phát và đặt trong mối quan hệ với các bên và với lợi ích của công ty, việc bảo vệ cổ đông phải vì sự phát triển lành mạnh,
bền vững của công ty; ii) theo nguyên tắc đối vốn: với đặc trưng là công ty đối vốn nên tỷ lệ sở hữu vốn của cổ đông càng cao thì càng có nhiều quyền
quyết định trong công ty Tuy nhiên, cổ đông sở hữu đa số phần vốn của công
ty có thể lợi dụng vị thế của mình để trục lợi, xâm hại đến quyền lợi của các
cổ đông khác Do vậy, nguyên tắc bảo vệ CĐTS nhằm mục đích đảm bảo và duy trì quyền lợi cho tất cả các bên CĐTS không thể lợi dụng các quyền của mình để gây hại, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, ổn định của công ty
Trang 26Các nghiên cứu lý luận về quyền của CĐTS
CĐTS phải là người góp vốn vào CTCP nên họ có đầy đủ những quyền được ghi nhận đối với cổ phần họ đang nắm giữ Tuy nhiên, với vị thế khiêm tốn bởi số vốn ít ỏi và khả năng hạn chế khi tham gia vào các quyết định của công ty, là đối tượng dễ bị chèn ép, lợi dụng bởi các cổ đông lớn và người điều hành doanh nghiệp nên quyền của CĐTS phải là những quyền đặc biệt hơn quyền của các loại cổ đông khác
Quyền của CĐTS còn được bảo vệ trong việc mua bán, sáp nhập công
ty, dưới góc độ nghiên cứu này tác giả Cao Đình Lành (2014) đã hoàn thành
luận án TS với đề tài Bảo đảm quyền CĐTS trong mua, bán, sáp nhập công
ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam Luận án đã làm rõ được một số vấn đề
lý luận cơ bản về các hình thức mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, sự cần thiết, cách thức và biện pháp bảo đảm quyền CĐTS trong mua bán, sáp nhập CTCP, đồng thời tác giả cũng phân tích toàn diện pháp luật về bảo vệ quyền CĐTS trong mua bán, sáp nhập CTCP và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền CĐTS trong việc mua bán, sáp nhập CTCP
Tác giả Phạm Duy Nghĩa [40] trong bài viết về mua bán, sáp nhập công
ty đã nghiên cứu về đối tượng mua bán, quản trị công ty trong đó quan tâm nhất là bảo vệ cổ đông nhất là các CĐTS, bao gồm một số quyền cơ bản sau: (i) có thông tin đủ, đúng, kịp thời, (ii) tự do chuyển nhượng cổ phần mà không
bị làm khó dễ bởi thủ tục chuyển nhượng cũng như đăng ký cổ phiếu, (iii) mua
cổ phiếu phát hành thêm tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang nắm giữ với những điều kiện thương mại bình đẳng trong cùng loại cổ phần, (iv) dự họp hoặc ủy quyền dự họp các ĐHĐCĐ, (v) khởi kiện quản lý công ty nếu những người này
có dấu hiệu vi phạm nghĩa vụ Đây là những nội dung quan trọng, bởi khi thông tin không kịp thời thì năng lực phản ứng của các CĐTS hầu như rất thấp
Trang 27Theo TS Quách Thúy Quỳnh thì: “Quyền của cổ đông là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để bảo vệ CĐTS bởi vì nó là phương tiện duy nhất mà
cổ đông có thể tự mình sử dụng” [49]
Cũng vì những quy định của pháp luật Việt Nam chưa bảo vệ triệt để nhà đầu tư nhỏ - CĐTS nên Nguyễn Thị Thu Hương trong Luận án TS của mình đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ CĐTS trong CTCP ở Việt Nam, phân tích thực trạng các quy định của pháp luật về bảo vệ CĐTS trong CTCP ở Việt Nam qua các nhóm quyền và các cơ chế bảo vệ CĐTS, đồng thời chỉ ra được những bất cập, chồng chéo và hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ CĐTS trong CTCP và đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ CĐTS ở Việt Nam bao gồm các nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật, nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật và các giải pháp hỗ trợ khác [29, tr.22-23]
Các nghiên cứu về căn cứ xác định phạm vi quyền của CĐTS
Để xác định phạm vi quyền của CĐTS có thể tìm đến nhiều nguồn tài liệu khác nhau Trong cuốn sách Cẩm nang quản trị công ty [57] có đề cập đến vấn đề này, tài liệu đã đưa ra những căn cứ để xác định phạm vi quyền của cổ đông nói chung và CĐTS nói riêng như sau:
Căn cứ vào các quy định của pháp luật, đặc biệt là pháp luật về doanh nghiệp, trong đó phải lưu ý đến loại cổ phần và lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ để xác định quyền của CĐTS
Căn cứ vào các tài liệu nội bộ của công ty: điều lệ doanh nghiệp; nghị quyết, quyết định của ĐHĐCĐ; quy chế nội bộ; Quy tắc quản trị công ty; quy tắc đạo đức kinh doanh
Về căn cứ xác định phạm vi quyền của CĐTS có hai quan điểm khác nhau như sau: Quan điểm thứ nhất: quyền của CĐTS được ghi nhận rõ ràng
Trang 28trong các quy phạm pháp luật, trong Điều lệ, Nghị quyết Đại hội cổ đông, và trong các nội quy, quy chế của công ty Quan điểm thứ hai: quyền của cổ đông nói chung và CĐTS nói riêng có thể còn tìm thấy trong các quy tắc quản trị doanh nghiệp, trong quy tắc đạo đức nghề nghiệp Đây là các xác định phạm vi quyền rộng hơn so với quan điểm thứ nhất
Để bổ sung cho căn cứ xác định quyền của CĐTS Nguyễn Thị Thu Hương trong luận án TS của mình còn bổ sung thêm một căn cứ xác định quyền nữa là căn cứ vào thỏa thuận cổ đông (nếu có)[29, tr.10]
Các nghiên cứu về bảo vệ CĐTS bằng cách CĐTS tự bảo vệ mình
Trong luận án của Cao Đình Lành [32, tr.67] có nêu quan điểm CĐTS phải tự bảo vệ mình Các CĐTS cần nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của mình trước khi tham gia công ty để biết được khi quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm thì trước tiên CĐTS sẽ tự thực hiện các hành vi để bảo vệ Cụ thể: CĐTS cần hiểu để thực hiện cơ chế chất vấn, giám sát những người quản lý, điều hành của công ty, hoặc CĐTS cũng cần có sự tư vấn của các chuyên gia như kiểm toán độc lập, luật sư … là những người có trình độ chuyên môn về pháp luật, về tài chính kế toán để có được những phương án bảo vệ mình tốt nhất; hoặc CĐTS liên kết lại để tự bảo vệ mình như tập hợp lại thành nhóm cổ đông để thực hiện những quyền mà pháp luật trao cho, thực hiện quyền bầu dồn phiếu để cử đại diện vào HĐQT, BKS, hoặc các CĐTS có thể tập hợp lại thành nhóm hay câu lạc bộ, hiệp hội của những nhà đầu tư thiểu số sẽ giúp các CĐTS bảo vệ quyền lợi của mình được tốt hơn
Các nghiên cứu bảo vệ CĐTS bằng cơ chế kiểm soát bên trong CTCP
Trong tác phẩm Cẩm nang quản trị công ty được phối hợp xuất bản bởi
IFC và Ủy ban Chứng khoán nhà nước, có đưa ra quan điểm [8, tr.269]: Việc bảo vệ các quyền của cổ đông là vấn đề cốt lõi trong quản trị công ty và là một nhân tố rất quan trọng đối với các công ty hoạt động tại thị trường mới
Trang 29nổi hoặc các nền kinh tế chuyển đổi Việc bảo vệ các quyền này có thể được thực hiện từ bên trong (tức là thông qua các quy định quản trị nội bộ và các đảm bảo bởi LDN và các quy định pháp luật khác) và từ bên ngoài (tức là thông qua các tổ chức bên ngoài)
Trong bài viết Quyền của CĐTS theo pháp luật Việt Nam, tác giả
Quách Thúy Quỳnh nhận định [49, tr.19]: Quyền lợi của CĐTS được bảo vệ thông qua các quy định, quy chế và các thông lệ quản trị công ty nhằm xác định các quyền của cổ đông, quy định các cơ cấu tổ chức nội bộ trong công ty (hay còn gọi là các cơ chế kiểm soát bên trong), các cơ chế kiểm soát bên ngoài và đảm bảo các biện pháp cưỡng chế thực thi
Vậy, cơ chế kiểm soát bên trong là cơ chế nào? Trong luận án của Nguyễn Thị Thu Hương [29, tr.97], Phan Hoàng Ngọc [41, tr.59] các tác giả
có bàn về cơ chế bảo vệ quyền lợi của cổ đông bằng các thiết chế bảo vệ nội
bộ Đó là ĐHĐCĐ, HĐQT, Giám đốc, BKS, kiểm toán nội bộ
Các nghiên cứu bảo vệ CĐTS bằng cơ chế kiểm soát bên ngoài CTCP
Các thiết chế bên ngoài CTCP đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ CĐTS có thể kể đến như sau [29]: Nhà nước; Ủy ban chứng khoán; Tòa án và hệ thống cơ quan tư pháp; Kiểm toán độc lập; Cơ quan báo chí;
Tổ chức luật sư, hiệp hội đầu tư chứng khoán Các nước Malaysia, Singapore, Thái lan, Philippines trong khu vực thực hiện rất tốt cơ chế kiểm soát bên ngoài này
Các quan điểm khác về bảo vệ CĐTS trong CTCP
TS Bùi Xuân Hải còn đưa ra quan niệm về “luật mềm” (soft law) Theo quan niện của phương Tây, luật mềm được hiểu bao gồm các quy tắc quản trị công ty (code of corporate governance), các quy tắc về đạo đức kinh doanh (codes of ethics, business ethics) và các quy tắc nghề nghiệp mà kiểm toán viên,
kế toán viên phải tuân thủ Những quy tắc này có thể áp dụng hoặc không áp dụng trong công ty [144]
Trang 301.2.2 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số ở Việt Nam và ở một số quốc gia Đông Nam Á
Những nghiên cứu, đánh giá hiện có về thực trạng pháp luật về quyền của CĐTS
Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ CĐTS được phân tích, bàn luận trong bài viết của tác giả Quách Thúy Quỳnh về quyền của CĐTS theo quy định của pháp luật Việt Nam, đăng trên tạp chí luật học số 4/2010 tr 18… tác giả đã phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về quyền của CĐTS và chỉ ra những tồn tại, bất cập cần được bổ sung sửa đổi chủ yếu xoay quanh các quyền của cổ đông phổ thông quy định trong LDN năm
2005 Gần đây nhất là luận án TS của Phan Hoàng Ngọc (2018), Pháp luật
về bảo vệ CĐTS của CTCP ở Việt Nam: nghiên cứu so sánh với Nhật Bản
và Hoa Kỳ, tr 142 -145 nội dung của bài viết cũng so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với Nhật Bản và Hoa Kỳ
để từ đó đề xuất quyền của cổ đông yêu cầu công ty mua lại cổ phần theo nguyên tắc cụ thể phải thực hiện trình tự định giá cổ phiếu, cần phải nghiêm cấm việc chiết khấu, giảm giá cổ phiếu do địa vị thiểu số của cổ đông hay thiếu tính thanh khoản mua bán của thị trường; quyền của cổ đông tham gia quản trị công ty bằng cách trao thêm quyền cho CĐTS có nhiều năng lực pháp luật như quyền đàm phán và cử đại diện đảm bảo cho mình có mặt trong Ban giám đốc, quyền tiếp tục lao động với công ty và quyền được nhận
cổ tức theo định kỳ (xem phụ lục 1)
Theo luận án TS của Vincent Siaw viết về Protection of minority
shareholders in public listed companies in Thailand, cho rằng quyền cổ đông
được quy định theo đạo luật PCA, SEC và theo nguyên tắc OECD bao gồm quyền của cổ đông được đảm bảo theo phương thức đăng ký quyền sở hữu, quyền chuyển nhượng cổ phần và quyền chia sẻ lợi nhuận của công ty
Trang 31Trong việc nhận thức về bảo vệ CĐTS theo khảo sát lấy ý kiến cổ đông trực tiếp của tác giả thì phần lớn những người được phỏng vấn đều trả lời công ty niêm yết công khai cần phải hướng đến lợi ích của các bên có liên quan như nhân viên công ty, chủ nợ, đối tác của công ty Điều này hỗ trợ cho
mô hình các bên liên quan về quản trị doanh nghiệp và phong trào trách nhiệm xã hội của công ty Thái Lan
1.2.2.1 Đánh giá của các tổ chức quốc tế
Các thành phần của Chỉ số Bảo vệ nhà đầu tư thiểu số
Chỉ số bảo vệ nhà đầu tư thiểu số thuộc Báo cáo Doing Business của
WB cung cấp dữ liệu về 38 khía cạnh liên quan đến quản trị doanh nghiệp, được chia thành 02 nhóm, mỗi nhóm gồm 03 chỉ số thành phần (Bảng 1)
(xem phụ lục 2)
Nhóm Chỉ số mức độ quản lý xung đột lợi ích tập trung đo lường mức
độ bảo vệ cổ đông trước việc người GĐ lạm dụng tài sản của công ty vì lợi ích cá nhân thông qua ba khía cạnh phản ánh sự xung đột về lợi ích, gồm: tính minh bạch trong giao dịch với người có liên quan (Extent of Disclosure Index); khả năng cổ đông khởi kiện và yêu cầu người quản lý chịu trách nhiệm trước pháp luật về tội vụ lợi (Extent of Director Liability Index); khả năng cung cấp bằng chứng và trợ cấp chi phí pháp lý khi cổ đông khởi kiện (Ease of Shareholder Suits Index) Giao dịch với người có liên quan (related-party transaction) là giao dịch mà trong đó, chủ thể có lợi ích về kinh tế hoặc lợi ích cá nhân nào đó ở cả hai bên tham gia giao dịch; ví dụ: người quản lý của một doanh nghiệp thực hiện giao dịch cung cấp sản phẩm/dịch vụ với một doanh nghiệp khác được sở hữu 100% bởi vợ hoặc chồng của người đó Loại giao dịch này không phải luôn luôn nguy hại, tuy nhiên, thường là cơ hội tốt
để xảy ra tình trạng vụ lợi – một hình thức lạm dụng quyền lực, do đó, cần phải có quy định pháp lý điều chỉnh Trong ví dụ ở trên, vụ lợi có thể xảy ra
Trang 32bằng cách áp giá cung cấp sản phẩm/dịch vụ trong hợp đồng cao hơn so với giá thị trường để người vợ/chồng hưởng lợi từ việc đẩy cao chi phí Một kết quả nghiên cứu của WB đã cho thấy rằng việc bảo vệ nhà đầu tư trước hành động vụ lợi có mối liên hệ tích cực với sự phát triển của thị trường vốn
Nhóm Chỉ số thứ hai – Quản trị cổ đông – cung cấp cách nhìn tổng quan hơn về quản trị doanh nghiệp Từ vấn đề về quyền của nhà đầu tư, bảo
vệ cổ đông khỏi ảnh hưởng của pha loãng cổ phiếu (share dilution), cơ cấu sở hữu (ownership structure) và sự kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp đến vấn đề thù lao của người quản lý doanh nghiệp và minh bạch hóa trong kiểm toán doanh nghiệp đều được bao hàm trong nhóm chỉ số này [101]
Đồng thời, tại Báo cáo Doing Business 2018, Việt Nam đứng thứ 81/190 nền kinh tế về Chỉ số bảo vệ CĐTS, tăng 06 bậc so với thứ hạng tại Báo cáo Doing Business 2017, tuy nhiên điểm số của Chỉ số này vẫn giữ
nguyên ở mức 55/100 điểm [101] (xem phụ lục 3)
1.2.2.2 Những đánh giá về thực tiễn bảo vệ CĐTS ở Việt Nam hiện nay
Trong các tài liệu về thực tiễn bảo vệ CĐTS ở Việt Nam, đáng chú ý có Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty trong chương trình tư vấn của IFC tại châu
Á và Thái Bình Dương, thực hiện bởi Tổ chức tài chính quốc tế và Diễn đàn quản trị công ty toàn cầu phối hợp với Ủy ban chứng khoán nhà nước Việt Nam Cùng với đó, những tình huống xâm phạm quyền và lợi ích của CĐTS năm nào cũng được nhiều báo, tạp chí đăng tải Đây là nguồn dữ liệu quan trọng giúp NCS có được những số liệu, câu chuyện thực tế để từ đó có cơ sở đánh giá khách quan về tính hiệu quả của các quy định pháp luật
Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản
Theo báo cáo thẻ điểm quản trị công ty ASEAN 2015-2016 về phần quyền của cổ đông tại ĐHĐCĐ được tổng kết về mặt mạnh, mặt yếu như
sau [60]: (xem phụ lục 4)
Trang 33Thực tiễn áp dụng quyền cổ đông, đảm bảo đối xử công bằng
Theo nguyên tắc “Đối xử Bình đẳng đối với cổ đông”, đặc biệt là quy trình, thủ tục cuộc họp ĐHĐCĐ thì không được gây trở ngại đối với các cổ đông Bên cạnh đó, cần nên cấm những giao dịch nội gián và không minh bạch với bên thức ba để không gây thiệt hại cho các cổ đông không có lợi ích liên quan trong công ty
Về phần này ở Việt Nam vẫn thấp so với mức điểm chung của khu vực chủ yếu vì các thông báo mời họp ĐHĐCĐ không được công bố bằng tiếng Anh Chỉ có một vài công ty cung cấp đầy đủ chi tiết tiểu sử của các ứng viên HĐQT trong tài liệu mời họp Ngoài ra thông báo mời họp bằng tiếng Anh thường được đăng tải muộn hơn so với phiên bản bằng tiếng Việt Điều này
có thể khiến các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong việc tiếp cận kịp thời thông tin về doanh nghiệp Về các chính sách liên quan đến các giao dịch trọng yếu với các bên liên quan, rất ít công ty có quy định yêu cầu một ban các thành viên HĐQT độc lập xem xét các giao dịch trọng yếu và yêu cầu các thành viên HĐQT có xung đột về lợi ích không được bỏ phiếu biểu quyết trong các cuộc họp thảo luận về các giao dịch này để tránh xung đột lợi ích Hơn nữa, hầu như không có doanh nghiệp Việt Nam nào có khẳng định tính công bằng và minh bạch trong giao dịch với bên có liên quan Việc thiếu những bằng chứng trên đặt ra vấn đề về bảo vệ CĐTS khỏi những thiệt hại gây ra bởi các giao dịch trọng yếu Bên cạnh đó cũng có rất ít bằng chứng cho thấy các công ty có quy định yêu cầu thành viên HĐQT báo cáo về giao dịch
cổ phiếu của họ trong vòng 3 ngày làm việc [60] (xem phụ lục 5)
Quyền xem xét và trích lục số sách, tài liệu của CĐTS
CĐTS phải liên kết tạo thành nhóm để có quyền tiếp cận những thông tin của công ty Tuy nhiên, trên thực tế, cổ đông không thể có được những hóa đơn, chứng từ cụ thể lưu giữ ở phòng Tài chính – kế toán vì bộ phận này
Trang 34không cho tiếp cận Pháp luật cũng không có những quy định cụ thể do vậy CĐTS khó có thể tập hợp chứng cứ cho những vi phạm của Ban điều hành,
gây khó khăn trong việc khởi kiện
Luật công ty của 4 nước Thái Lan, Malysia, Singapore, Philippines cũng đều quy định quyền quan trọng cho bất cứ cổ đông nào kiểm tra và sao lại những hồ sơ của công ty tại những thời điểm hợp lý[77, tr.56-57]
Những vi phạm của cổ đông lớn
+ Cổ đông lớn lạm quyền để thâu tóm và chiếm đoạt tài sản của công ty
- Cổ đông lớn lợi dụng thông tin nội bộ trong giao dịch chứng khoán
- Cổ đông lớn chi phối đại diện của CĐTS trong HĐQT và BKS
- Cổ đông lớn thâu tóm và chiếm đoạt tài sản của công ty thông qua việc công ty phát hành thêm cổ phần, thực hiện thưởng cổ phần và ưu đãi mua cổ phần
Ví dụ: CTCP Vận tải xăng dầu (VIPCO) cho phép cổ đông lớn mua với giá 15.000 đồng/cổ phiếu, còn các CĐTS lại phải mua với giá 40.000 đồng/cổ phiếu (cao gấp 2,67 lần so với cổ đông lớn)[110]; hoặc trường hợp CTCP bê tông X.M khi phát hành cổ phiếu mới, các cổ đông hiện hữu đều được mua với giá bằng nhau 20.000 đồng/cổ phần nhưng tỷ lệ mua lại khác nhau: cổ đông sáng lập mua với tỷ lệ 1:1, cổ đông khác mua với tỷ lệ 2:1 (bằng ½ cổ đông sáng lập)[23, tr.207]
+ Cổ đông lớn thông qua HĐQT chi phối công ty
HĐQT chi phối BKS: Báo cáo của BKS chủ yếu là khen HĐQT, Ban
GĐ, rất ít thông tin có ích cho cổ đông Bản chất của hiện tượng này, hiểu cho đến cùng là sự vi phạm nguyên tắc đối xử bình đẳng của các cổ đông [3, tr.318]
Một số bất cập trong việc thực thi cơ chế thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường tòa án vẫn không phải
Trang 35là lựa chọn hàng đầu của CĐTS Chủ yếu CĐTS yêu cầu Tòa hủy Nghị quyết của ĐHCĐ do những vi phạm về trình tự, thủ tục họp mà vẫn thiếu vắng những vụ kiện đòi hỏi quyền lợi chính đáng của CĐTS Nhiều ý kiến cho rằng nên mở rộng quyền khởi kiện phái sinh cho CĐTS Việt Nam
Thực tiễn CĐTS tự bảo vệ mình
CĐTS trong CTCP hóa từ doanh nghiệp nhà nước: CĐTS thường là
người lao động trong công ty được quyền mua cổ phần tính theo thâm niên và
vị trí công tác Thành viên HĐQT, BKS thường kiêm nhiệm giữ những vị trí điều hành quan trong trong công ty như: TGĐ, kế toán trưởng, trưởng phòng tổng hợp… Do vậy, ĐHĐCĐ diễn ra thường theo kịch bản đã được chuẩn bị
từ trước, các CĐTS đang làm việc tại công ty thường không dám phát biểu, chất vấn HĐQT, Ban GĐ mặc dù có thể họ biết rõ là có sai phạm Tâm lý dè dặt, sợ bị trù úm gây khó dễ trong công việc hàng ngày khiến họ không dám thực hiện quyền lợi chính đáng của mình Chỉ có các CĐTS là người đã nghỉ hưu, cổ đông đã chuyển công tác sang đơn vị khác mới thoải mái chất vấn Ban điều hành
CĐTS trong các CTCP chưa niêm yết chứng khoán trên thị trường chứng khoán: Các CĐTS trong loại công ty này không có gì rằng buộc với Ban
điều hành nên họ rất thoải mái khi đặt câu hỏi, chất vấn và muốn làm rõ mọi vấn đề Họ thường dễ bức xúc khi bị chèn ép, lạm quyền Tuy nhiên, các công
ty thuộc loại này thường hay che giấu thông tin, phớt lờ quyền lợi của CĐTS
CĐTS trong các công ty đại chúng: Thông thường CĐTS là các nhà
đầu tư ngắn hạn, chủ yếu họ “lướt sóng” để tìm kiếm lợi nhuận bằng việc mua cổ phiếu lúc giá xuống và chờ bán khi giá lên Do vậy, những người này thường mang đúng nghĩa là “người ngoài” Họ không quan tâm nhiều đến hoạt động của công ty Thậm chí họ cũng chẳng đi dự họp ĐHĐCĐ Họ phó mặc tất cả cho HĐQT, Ban điều hành Phần lớn họ đều có suy nghĩ nếu
Trang 36mình có tích cực, có chủ động nhiều đến đâu thì cũng không làm gì được vì với lượng cổ phần ít ỏi cũng sẽ bị các cổ đông lớn áp đảo do vậy họ mang tâm lý bỏ mặc
Nhận xét: Qua thực trạng nghiên cứu pháp luật và thực tiễn bảo vệ
CĐTS ở Việt Nam, thông qua các vi phạm đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành, tình trạng bảo vệ CĐTS ở Việt Nam là đáng lo ngại Cổ đông lớn, Ban GĐ các CTCP công khai tước bỏ những quyền lợi chính đáng của cổ đông, vi phạm nguyên trọng các quy định của LDN, Điều lệ Công ty Thực trạng này đặt ra một câu hỏi lớn cho việc đi tìm giải pháp hiệu quả cho bảo vệ
Thứ nhất, đối xử công bằng giữa các cổ đông Các quan điểm đều nhận
định cần phải đối xử bình đẳng, đảm bảo hài hòa giữa quyền, lợi ích của cổ đông lớn và CĐTS Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền của cổ đông Nó tạo ra một nền dân chủ cổ phần, các cổ đông cùng loại sẽ mang lại cho cổ đông sở hữu chúng các quyền và nghĩa vụ như nhau, không phân biệt cổ đông là cá nhân hay tổ chức, cổ đông trong nước hay cổ đông nước ngoài, cổ đông lớn hay CĐTS
Thứ hai, tôn trọng nguyên tắc đối vốn trong CTCP Nguyên tắc đối vốn
là một trong những nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của
Trang 37CTCP Thực chất nguyên tắc này là quyền và nghĩa vụ của cổ đông phụ thuộc vào số cổ phần mà cổ đông đó sở hữu Cổ đông nào sở hữu nhiều cổ phần thì quyền quyết định càng cao trong công ty Do vậy, bảo vệ CĐTS là bảo vệ người ít vốn nhưng vẫn phải tôn trọng nguyên tắc đối vốn này
Thứ ba, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung Quy định của pháp luật còn có một số điểm chưa
hợp lý cần sửa đổi bổ sung nhằm bảo vệ CĐTS Việc sửa đổi, bổ sung này phải được xem xét một cách tổng thể đảm bảo tính đồng bộ thống nhất với hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, LDN, Luật chứng khoán, Luật kiểm toán độc lập…
Thứ tư, bảo vệ cổ đông nhưng phải gắn với việc tạo điều kiện cho công tác quản trị, điều hành công ty, cho sự phát triển của công ty Cần đảm
bảo hài hòa lợi ích giữa cổ đông và CTCP Giữa cổ đông và công ty có mối quan hệ mật thiết với nhau về lợi ích và là cái đích mà cả hai cùng hướng tới Tránh tình trạng bảo vệ CĐTS mà gây ảnh hưởng chung đến lợi ích của công ty và ngược lại
Thứ năm, đảm bảo sự phù hợp với thông lệ quốc tế Trong hội nhập
kinh tế quốc tế, pháp luật quốc gia phải phù hợp với các quy định của pháp luật và tập quán thương mại quốc tế Trong lĩnh vực bảo vệ CĐTS, chúng ta
có thể tham khảo các quy định trong Bộ quy tắc quản trị công ty của OECD
để có những quy định hài hòa với chuẩn mực chung và tiến tới xây dựng một môi trường đầu tư lành mạnh, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài
Các nghiên cứu về giải pháp phát huy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ CĐTS
Thứ nhất, Hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp
- Khái niệm CĐTS
Theo Luận án TS của tác giả Phan Hoàng Ngọc, có đưa 3 tiêu chí để
Trang 38nhận diện CĐTS: i) cổ đông không có quyền biểu quyết mang tính chất kiểm soát, chi phối đối với công ty, ii) tự bản thân đơn lẻ bản thân không thể bầu chọn được các thành viên HĐQT công ty, iii) các cổ đông không có vai trò thực tế, hay tiếng nói không có giá trị trong việc điều hành công ty [41, tr.39]
- Hoàn thiện quy định về bảo vệ quyền của CĐTS
+ Mở rộng thêm quyền cho CĐTS
Trong bài viết “Quyền của CĐTS theo pháp luật Việt Nam” [49, tr.19], tác giả Quách Thúy Quỳnh đưa ra ý kiến về hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp như sau:
- Cải thiện quyền biểu quyết của CĐTS: công ty muốn hạn chế sự lạm quyền của cổ đông lớn có thể phát hành một số loại cổ phần hạn chế quyền biểu quyết (nhưng có kèm theo ưu đãi khác)
- Tăng cường quyền tiếp cận thông tin của cổ đông
- Sửa đổi quy định về tỉ lệ bỏ phiếu thông qua các quyết định của ĐHCĐ: các quyết định quan trọng của công ty cần có sự tán thành của đa số CĐTS, (công
ty đại chúng cần có sổ CĐTS) CĐTS cần chứng minh quan điểm của mình
- Tăng cường quyền khắc phục của cổ đông, kiện phái sinh
Theo tác giả Margaret Chew (2017), Minority shareholders’ rights and remedies, LexisNexis Singapore, Malaysia, Hong Kong, Indian, tr.41, có phân tích nếu công ty sai phạm vượt quá thẩm quyền thì cổ đông có quyền khởi kiện giao dịch có liên quan đến sai phạm vượt quá thẩm quyền đó của công ty hoặc khi một cổ đông theo đuổi quyền khởi kiện phái sinh theo luật chung thì biện pháp khắc phục là những biện pháp có ảnh hưởng trực tiếp, tích lũy hoặc sinh lợi cho công ty chứ không phải cho cổ đông
+ Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của BKS: Theo hướng
tăng thẩm quyền cho BKS và quy định trách nhiệm cho BKS khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trang 39+ Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của HĐQT: Có
các quy định nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm dụng quyền lực của HĐQT
Thứ hai, xây dựng cơ chế thực thi pháp luật hiệu quả
Tiến hành cải cách và cải tổ lại hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo hướng gọn, nhẹ, tránh gây phiền phức cho hoạt động của doanh nghiệp Khi xảy ra tranh chấp, cần có sự hỗ trợ từ phía nhà nước thì các cơ quan này phải có trách nhiệm can thiệp Đó là cơ quan đăng
ký kinh doanh, Ủy ban chứng khoán nhà nước, các Sở giao dịch chứng khoán Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả, giải quyết tốt các mâu thuẫn, tranh chấp cổ đông trong CTCP Nâng cao công tác kiểm toán độc lập, Bộ Tài chính kết hợp với Hội hành nghề kiểm toán cần xiết chặt quản lý chất lượng kiểm toán, chứng chỉ hành nghề kiểm toán độc lập vì đây là công cụ hữu hiệu bảo vệ CĐTS
Thứ ba, đảm bảo cơ chế tự bảo vệ của CĐTS
Quyền và lợi ích của CĐTS chủ yếu do chính các CĐTS tự bảo vệ Vì thế, khi các CĐTS nhận thức được các quy định của pháp luật và quyền lợi hợp pháp của mình thì trước tiên họ sẽ tự thực hiện các hành vi để bảo vệ mình
Các giải pháp khác
Để tăng hiệu quả bảo vệ CĐTS, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung LDN, các bài viết còn đưa ra một số giải pháp như sau: Hoàn thiện quy định về quản trị doanh nghiệp, kiểm toán Thành lập Câu lạc bộ CĐTS theo ý tưởng của Nguyễn Đình Cung Đối với các tổ chức nghề nghiệp (hiệp hội trong ngành chứng khoán, VCCI…) [104]
1.2.4 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.2.4.1 Các kết quả nghiên cứu đã đạt được
(i) Về khía cạnh lý luận
Các nghiên cứu hiện có đã chỉ ra khá rõ nguyên tắc, đối tượng, cơ chế
Trang 40bảo vệ CĐTS trong CTCP NCS sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu đó trong luận án của mình Cụ thể là:
Những đặc điểm nhận diện CĐTS trong các nghiên cứu đã được công bố
Lý luận về quyền của cổ đông, và quyền của CĐTS trong CTCP, căn
cứ xác định phạm vi quyền của CĐTS
Những quan điểm về cơ chế bảo vệ CĐTS trong CTCP, nguyên tắc bảo
vệ CĐTS trong CTCP
(ii) Về khía cạnh thực trạng pháp luật
Thực trạng pháp luật: các tài liệu đã cho thấy các tác giả đã phân tích, đánh giá hiện trạng quy định pháp luật về bảo vệ CĐTS, chủ yếu xoay quanh quyền của cổ đông phổ thông được quy định trong LDN 2005 Một số bài viết đăng tải trên các tạp chí có đề cập đến kinh nghiệm của một số nước về một khía cạnh nào đó trong bảo vệ CĐTS: như chế định kiện phái sinh, đại diện tố tụng… và gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam
Thực tiễn thực thi pháp luật: có nhiều bài viết về thực tiễn những vi phạm của CTCP trong thực hiện quyền của CĐTS cũng như những ví dụ về chèn ép, xâm phạm quyền của CĐTS Đáng chú ý có kết quả điều tra xã hội học về quản trị CTCP và Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty có nhiều số liệu liên quan đến bảo vệ CĐTS Hơn nữa, hàng năm có những đánh giá về môi trường đầu tư ở Việt Nam của các tổ chức quốc tế có xếp hạng chỉ tiêu bảo vệ nhà đầu tư Những con số này sẽ minh chứng cho việc đánh giá thi hành pháp luật ở Việt Nam về bảo vệ CĐTS
(iii) Về khía cạnh giải pháp, đề xuất
Đã có những quan điểm thống nhất về định hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ CĐTS trong CTCP ở Việt Nam