1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

27 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 169,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, công tác triển khai các quy hoạch quản lý chất thảirắn tại các địa phương còn chậm; việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựngkhu xử lý, nhà máy xử lý chất thải rắn còn gặp nh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA MÔI TRƯỜNG

MÔN HỌC: NGUYÊN LÝ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN

VÀ MÔI TRƯỜNG

MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ

DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Cà Mau, tháng 12 năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

I Tổng quan về cộng đồng và quản lý môi trường dựa vào

cộng đồng………4

1.1. Khái niệm cộng đồng ……… 4

1.1.1. Định nghĩa ……….4

1.1.2. Những thành phần cơ bản của cộng đồng ……… 5

1.1.3. Tổ chức cộng đồng ………5

1.1.4. Quản lý dựa vào cộng đồng ……….7

1.2. Sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý môi trường 12

1.2.1.Khái niệm ……….12

1.2.2 Vai trò của cộng đồng với kinh tế chất thải ……….12

1.2.3 Các giai đoạn tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý môi trường ……….……… 15

CHƯƠNG 2 SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀO VIỆC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ ……… 16

II Sự tham gia của cộng đồng vào việc quản lý chất thải rắn đô thị……16

2.1 Quản lý chất thải rắn đô thị ……… 16

2.2 Các nguyên tắc trong quản lý chất thải rắn đô thị dựa vào cộng đồng ……….……… 16

2.3 Thực trạng quản lý rác thải dựa vào cộng đồng ở Việt Nam……….17

2.3.1 Cơ sở của việc áp dụng mô hình quản lý rác thải có sự tham gia của cộng đồng ở Việt Nam ……… ….17

2.3.2 Một số hình thức tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý chất thải rắn đô thị ……….….18

2.4 Một số hình thức tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý chất thải rắn trên thế giới ……… …… 21

2.5 Kinh nghiệm xã hội hóa bảo vệ môi trường ở một số nước trên thế giới ….……….23

2.6 Những tồn tại trong hoạt động quản lý rác thải dựa vào cộng đồng……… …….25

III Bài học kinh nghiệm trong việc quản lý chất thải dựa vào cộng đồng ở Việt Nam ……… …26

MỞ ĐẦU

Trang 3

Dân số nước ta đang mạnh mẽ cùng với sự đô thị hóa và hình thành, pháttriển của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy pháttriển kinh tế – xã hội của đất nước, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùnghàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng và cũng làm gia tăng nhanh chóng lượngchất thải rắn phát sinh Chất thải rắn tăng nhanh chóng về số lượng, với thànhphần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý.

Công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nước ta thời gian qua chưa được ápdụng theo phương thức quản lý tổng hợp, chưa chú trọng đến các giải pháp giảmthiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải dẫn đến khối lượngchất thải rắn phải chôn lấp cao, không tiết kiệm quỹ đất, tại nhiều khu vực chấtthải chôn lấp ở các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên, hiện đã và đang là nguồn gây ônhiễm môi trường Ngoài ra, công tác triển khai các quy hoạch quản lý chất thảirắn tại các địa phương còn chậm; việc huy động các nguồn lực đầu tư xây dựngkhu xử lý, nhà máy xử lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn; đầu tư cho quản

lý, xử lý chất thải rắn còn chưa tương xứng; nhiều công trình xử lý chất thải rắn

đã được xây dựng và vận hành, nhưng cơ sở vật chất, năng lực và hiệu suất xử

lý thải rắn chưa đạt yêu cầu đã gây những tác động tổng hợp tới môi trường, sứckhỏe cộng đồng và phát triển kinh tế – xã hội

Áp lực giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế và pháttriển bền vững đất nước đặt ra cho các cơ quan quản lý cần đánh giá thực tế tìnhhình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệuquả công tác quản lý chất thải rắn nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác bảo vệmôi trường theo tinh thần Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23tháng 6 năm 2014

Rác thải nếu được thu gom và xử lý đúng mức thông qua tái chế, tái sửdụng…sẽ mang lại các giá trị kinh tế nhất đình, đồng thời tạo được viện làm chongười dân, nhưng để thu gom, xử lý rác thải có hiệu quả thì cần phải có sự thamgia của cộng đồng Cộng đồng đóng vai trò quan trọng, quyết định trong việc xãhội hóa thu gom rác thải, vì vậy tôi chọn để tài “mô hình quản lý chất thải rắn đôthị dựa vào cộng đồng”

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Trang 4

I.Tổng quan về cộng đồng và quản lý môi trường dựa vào cộng đồng 1.1 Khái niệm cộng đồng

1.1.1 Định nghĩa

Có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng Thông thường, cộng đồngđược hiểu là tập hợp những người có chung lịch sử hình thành, có chung địa bànsinh sống, có cùng luật lệ và quy định hay tập hợp những người có cùng nhữngđặc điểm tương tự về kinh tế - xã hội và văn hoá (Phạm Huỳnh Thanh Vân,2007)

Nói cách khác cộng đồng ở đây là một tập hợp công dân cư trú trong mộtkhu vực địa lý, hợp tác với nhau về những lợi ích chung và chia sẻ những giá trịvăn hóa chung

Theo định nghĩa trên cộng đồng có những cái chung: địa lý, văn hóa vàlợi ích Xác định đúng đắn một cộng đồng sẽ tạo ra sức mạnh của sự tham gia,tính đồng nhất và khả năng duy trì lâu dài của một hoạt động phong trào

Đồng nhất về địa lý: yêu cầu cộng đồng phải cùng chung sống trong vùngđịa lý sinh thái, cùng một đơn vị hành chính Ví dụ cùng một làng, xã, cùng sống

ở một vùng cửa sông, ở ven biển, ven sông hay trên núi

Đồng nhất về lợi ích: trong trường hợp bảo về môi trường thì lợi ích vềmôi trường cần xác định rõ Ví dụ cộng đồng cùng chịu thiên tai (lũ, lụt, trượt lởđất), cùng chia sẻ nguồn nước và chịu ảnh hưởng ô nhiễm của nguồn nước đó,cùng khai thác nguồn lợi của một thủy vực như đầm, phá, vịnh, cửa sông…

Đồng nhất về văn hóa: tùy trường hợp mà tìm kiếm những giá trị văn hóachung để tổ chức sự tham gia Ví dụ cộng đồng được xác định theo dân tộc, theonghề nghiệp (cộng đồng nông nghiệp, ngư nghiệp, chăn thả gia súc, làng nghềthủ công, các doanh nghiệp…)( Lê Vui, 2006)

Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ cộng đồng đã được sử dụng khá phổ biếntrong đời sống kinh tế xã hội Cộng đồng có thể là một nhóm nhỏ dân cư (ví dụnhư cộng đồng dân cư ở một thôn, xã, cộng đồng những người tái chế chất thảicủa một thôn, một xã…), hoặc có thể là cộng đồng dân cư của một dân tộc,nhiều dân tộc cùng chung các điểm tương đồng (cộng đồng người Việt Nam ở

Trang 5

nước ngoài, cộng đồng quốc tế những nước nói tiếng Pháp, cộng đồng các nướcASEN,… (Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007).

Cộng đồng là một tập hợp người có sức bền cố nội tại cao, với những tiêuchí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ýchí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộngđồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác trongcộng đồng (Phạm Hồng Tung, 2009)

1.1.2 Những thành phần cơ bản của cộng đồng

Nhà tài trợ: đó là một nhà lãnh đạo hoặc cơ quan, cộng đồng, nhóm dân

cư, doanh nghiệp, Trách nhiệm của họ là nhận diện các vấn đề và đưa ra đánhgiá Người triệu tập/nhà lãnh đạo: Có thể là nhà lập pháp, Chủ tịch UBND, đạibiểu hội đồng nhân dân, người đứng đầu trong cộng đồng được kính trọng, Với trách nhiệm tập họp mọi người bàn bạc cùng nhau (quá trình đồng thuậncủa tất cả các đối tác tham gia); viết văn bản thỏa thuận của tất cả các đối tác;đảm bảo sự phát triển bền vững, hiệu quả và quá trình tiến hành lâu dài của dự

án Nhóm trung lập: đó là trường đại học, trung tâm đồng thuận, các tổ chức dân

sự, chương trình mở rộng, Các nhóm trên chính là nhóm làm việc cộng đồng,trong quá trình thực hiện dự án cần phải có sự phối hợp đồng bộ và có sự phânchia trách nhiệm rõ ràng cho các nhóm.(Đỗ Thị Kim Chi, 2006)

Trang 6

- Cộng đồng có quan niệm chung về các vấn đề quan hệ xã hội, có chungmục tiêu, quan điểm chung về giá trị, cùng tham gia vào quá trình ra quyếtđịnh(cộng đồng các nước ASEAN, các nước Pháp ngữ,…).

Tổ chức cộng đồng là một khối liên kết của các thành viên trong cộngđồng vì những mối quan tâm chung và hướng tới một quyền lợi chung, hợp sứcvới nhau để tận dụng tiềm năng, trí tuệ của nhau để cùng thực hiện một hoặcnhiều vấn đề (Hồ Thanh Mỹ Phương, 2006)

Ở Việt Nam, hiện đang có các loại tổ chức cộng đồng sau đây: (PhạmHuỳnh Thanh Vân, 2007)

- Tổ chức cộng đồng thành lập theo pháp luật về hội, như liên hiệp hội,tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ;

- Tổ chức cộng đồng dưới dạng nhóm tự quản như: bản, ấp, nhóm dự án,nhóm sở thích, câu lạc bộ, tổ hoà giải, tổ dân phố,… Các tổ chức này không cóluật quy định thành lập hay cấm thành lập;

- Tổ chức cộng đồng thành lập theo quy định pháp lý về kinh tế, hợp tác,như: tổ hợp tác, hợp tác xã,… Một số đặc điểm của cộng đồng người Việt Nam(Mai Văn Tài, 2006)

- Chưa phát triển nếp sống theo pháp luật, còn nhiều tục lệ ngoài luật

- Văn hóa nông nghiệp, nông thôn còn sâu đậm; thiếu hoặc chưa hoàn hảovăn hóa đô thị, văn hóa khoa học – công nghệ, văn hóa môi trường; hay dễ dãi,tùy tiện

- Ứng xử tình trước, lý sau, duy tình hơn duy lý

- Tín ngưỡng có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đức tin, lối sống hàng ngày

- Tiếng phổ thông (tiếng Việt) có nhiều phương ngữ khác nhau, dễ gâyhiểu lầm; còn nhiều bà con dân tộc ít người chưa thạo tiếng phổ thông; không ítngười dù được học hành chu đáo nhưng nói và viết tiếng phổ thông vẫn chưachuẩn Với một số đặc điểm như đã nêu trên của cộng đồng đòi hỏi nhà quản lýkhi tổ chức các hoạt động thu hút sự tham gia của người dân vào bảo vệ môitrường phải biết rõ về cộng đồng: Họ là ai? Họ có những thói quen, tập quán,

Trang 7

phong tục, tín ngưỡng thế nào? Tức là phải hiểu rõ đặc trưng văn hóa cộngđồng, nhất là tập quán sản xuất và lịch thời vụ của họ.

1.1.4 Quản lý dựa vào cộng đồng.

Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng: có nhiều cách hiểu khác nhau về

sự tham gia của cộng đồng:

Paul (1987) cho rằng, phát triển cộng đồng là một quá trình tích cực màcộng đồng tác động đến hướng và việc thực hiện dự án phát triển nhằm nâng caophúc lợi của họ về mặt thu nhập, phát triển cá nhân, niềm tin cá nhân hoặc cácgiá trị khác mà họ mong muốn

Tổ chức phát triển Quốc tế Canada (CIDA) quan niệm tham gia cộng đồng

là thu hút các nhóm đối tượng mục tiêu vào các khâu của chu trình dự án từ thiết

kế, thực hiện và đánh giá dự án với mục tiêu nhằm xây dựng năng lực của ngườinghèo để duy trì được cơ sở hạ tầng và kết quả mà dự án đã tạo ra được trongquá trình thực hiện, và tiếp tục phát triển sau khi tổ chức hay cơ quan tài trợ rútkhỏi dự án Cách tiếp cận này được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực, các

dự án trên thế giới

*Vì sao cần có sự tham gia của cộng đồng?

“Mỗi người đều có quyền sống trong một môi trương lành mạnh và cónghĩa vụ bảo vệ môi trường Để khẳng định quyền hạn này và đáp ứng nghĩa vụnày, các công dân phải được tiếp cận với thông tin, được quyền tham dự trongquá trình ra quyết định và có sự công bằng trong các vấn đề môi trường Thôngtin đảm bảo rằng cộng đồng có thể tham gia trong một tình huống có thể thôngbáo và tiếp cận với sự công bằng để đảm bảo rằng sự tham gia diễn ra trên thực

tế và không chỉ trên giấy tờ” (UN/ECE 2000)

*Tham gia của cộng đồng là gì?

Là cách thức làm việc với cộng đồng mà các quyết định sẽ chỉ thực hiệnkhi nó đem đến một môi trường trong lành và đáp ứng các nhu cầu của cộngđồng địa phương cho một cuộc sống tốt đẹp hơn (UN/ECE 2000) Sự tham giacủa cộng đồng tạo cho họ có cơ hội hình thành một quan điểm về một kế hoạch

Trang 8

và giúp chính quyền biết được quan điểm này trước khi ra quyết định, nghĩa làmột sự thông tin 2 chiều thực sự.

Luật Môi trường Việt Nam có nêu rõ “ Bảo vệ môi trường là sự nghiệpcủa toàn dân” Trong khi phải đương đầu với các vấn đề suy thoái môi trườnggia tăng do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng Các địaphương cần phát huy vai trò tối đa của cộng đồng trong mọi hoạt động bảo vệmôi trường

Một giải pháp hiệu quả để duy trì công tác bảo vệ môi trường, giảm ônhiễm là nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ để dân chúng nhận biết và hiểuđược các vấn đề của họ, tạo điều kiện để họ tự nguyện tham gia vào các hoạtđộng bảo vệ môi trường; và kết hợp chặt chẽ biện pháp này để họ tự nguyệntham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường; và kết hợp chặt chẽ với cácbiệnpháp quản lý của chính quyền các cấp

Muốn nâng cao vai trò của tác nhân cộng đồng trong công việc quản lýmôi trường cần phải tuân thủ phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”,phải xã hội hóa công tác quản lý và bảo vệ môi trường, đơn giản hóa các kháiniệm môi trường để người dân dễ hiểu, dễ thực hiện; cần xây dựng các chươngtrình hành động bảo vệ môi trường có tính khả thi cao và dễ duy trì liên tục, lâudài Khi nào người dân thấy được lợi ích và trách nhiệm của mình trong việcquản lý và bảo vệ môi trường thì khi đó họ mới thực hiện các hành vi đó

Nhận biết, bàn, làm, kiểm tra là sáng tạo của Việt Nam trong quá trìnhthúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Áp dụngquy trình này vào tổ chức sự tham gia của cộng đồng vào bảo vệ môi trường,cần xác định rỏ nội dung và mối tương quan của 5 bước (Trương Văn Trưởng,2010)

Bước 1 – Nhận: Để huy động sự tham gia của cộng đồng về bảo vệ môitrường, cần làm rõ khi tham gia, cộng đồng nhận được những gì, họ sẽ được lợi

gì Có thể cụ thể hóa các lợi ích như: lợi ích vật chất, ví dụ được vay vốn; lợi íchtinh thần, ví dụ danh tiếng của làng; lợi ích về chất lượng môi trường sống, ví dụ

có nước sạch, rác được quản lý, giảm bệnh tật…

Trang 9

Bước 2 – Biết: Tăng cường nhận thức của cộng đồng qua các câu hỏi liênquan đến sự tham gia của họ vào một nhiệm vụ, dự án, chương trình cụ thể.Bằng cách giải đáp 6 câu hỏi sau: Nhiệm vụ đó là gì? Tại sao lại có nhiệm vụ

đó, tại sao họ cần tham gia? Tham gia vào nhiệm vụ đó như thế nào? Thực hiệnnhiệm vụ đó ở đâu? Thực hiện nhiệm vụ khi nào? Bao lâu? Những ai được/phảitham gia? Bước 3 – Bàn: Tổ chức cho cộng đồng bàn bạc về các giải pháp mà

họ sẽ thực hiện khi tham gia vào chương trình/dự án/nhiệm vụ; bàn bạc vềnhững gì họ sẽ nhận được và trách nhiệm của họ trong chương trình/dựán/nhiệm vụ

Bước 4 – Làm: Tổ chức cho cộng đồng thực hiện các giải pháp, các nhiệmvụ

Bước 5 – Kiểm tra: Tổ chức cho cộng đồng hoặc đại diện cộng đồng cóthể kiểm tra tiến trình thực hiện nhiệm vụ, kết quả của dự án, quyền lợi họ đượcnhận Những hình thức như các tổ tình nguyện, tổ tự quản… có thể được thànhlập

Để giúp cho việc thực hiện quy trình 5 bước, có thể tổ chức các hình thứchọp, truyền thông, tập huấn…

Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả của các hoạt động nâng cao nhận thức cộngđồng, cần chú ý đến một số khía cạnh sau:

- Nội dung các chương trình đào tạo hoặc các hoạt động: cần gắn liền vớitình hình cụ thể của địa phương để người tham gia các chương trình đào tạohoặc hoạt động thấy được những lợi ích thiết thực do các hoạt động hoặcchương trình này đem lại

- Cần quan tâm đến lối sống, phong tục tập quán đặc thù cùa địaphương.Có nắm được đặc trưng của dân cư thì mới hiểu được điều cơ bản nhấttrong hoạt động của địa phương, từ đó có cơ chế quản lý, tổ chức và kiểm soáthoạt động thông qua cơ chế tự điều chỉnh là hiệu quả nhất Lối sống nông thônmang tính chất tập thể cao, trong đó mỗi thành viên lệ thuộc chặt chẽ vào cộngđồng Mỗi người sinh ra là đã có vị trí mặc định trong làng xóm và phong cáchsống gần như tương tự nhau Còn lối sống đô thị có cấu trúc và tính chất khác

Trang 10

hẳn, nó được hình thành trên nền tảng phức hợp, đa thành phần, đa dân tộc của

đô thị trên toàn bộ cơ sở vật chất, điều kiện sống hoạt động nghề nghiệp và mốiquan hệ xã hội của tất cả các nhóm cư dân sống trên địa bàn đô thị (NguyễnViệt Dũng- Nguyễn Danh Tĩnh, 2006)

Với những đặc thù về lối sống của từng địa phương, các hoạt động muốntăng cường dự tham gia của cộng đồng dân cư cũng cần lưu ý đến khía cạnh nàytrong công tác tổ chức Ví dụ: tổ chức các khóa tập huấn, tuyên truyền: có thểlinh động tổ chức vào những giờ thuận tiện trong sinh hoạt của người dân tại địaphương; chọn phương tiện truyền thông thích hợp; lồng ghép các chương trìnhvào các hoạt động văn hóa, lễ hội của địa phương Phối hợp và phát huy hiệuquả các phương tiện truyền thông đại chúng (tivi, đài phát thanh truyền hình,báo chí, tờ rơi…) trong việc kêu gọi sự tham gia của cộng đồng

* Quá trình phát triển sự tham gia của cộng đồng

Trước những năm 80, các hoạt động, các chương trình có mục tiêu phục vụcộng đồng đều được đề xuất, xây dựng và tổ chức thực hiện từ cơ quan trungương Thời kỳ này, người ta mới khuyến khích sự tham gia của các ngành vàochương trình hay hoạt động Sự hiện diện của các cộng đồng còn rất ít Vì thếtính bền vững của chương trình hay hoạt động không được đảm bảo Khi kếtthúc chương trình hay hoạt động do Chính phủ hay nhà đầu tư tài trợ, các kếtquả của nhiều dự án không được duy trì và phát huy tốt ở các địa phương (HồThanh Mỹ Phương, 2006)

Cách tiếp cận sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động, các chươngtrình được phát triển mạnh mẽ vào những năm 80 – 90 của thế kỷ 20, đặc biệt là

áp dụng cho các chương trình của tổ chức phi Chính phủ, chương trình thí điểmliên quan nhiều đến cộng đồng như phát triển đô thị và nông thôn, xoá đói, giảmnghèo, phát triển nông nghiệp và nông thôn, chương trình bảo vệ môi trường,các quỹ xã hội, v.v… Với cách tiếp cận này, các Chính phủ, các nhà đầu tư vànhất là các nhà tài trợ ở các nước phát triển đã đưa ra các sáng kiến thúc đẩy sựtham gia của cộng đồng Kết quả cho thấy tính bền vững được tăng cường,

Trang 11

nhưng quy mô còn hạn hẹp và tính đồng thời trong tham gia của cộng đồng vàocác khâu của chương trình, hoạt động còn hạn chế.

Cách tiếp cận phát triển định hướng cộng đồng hay còn gọi là phát triểndựa trên cộng đồng được áp dụng phổ biến từ năm 2000 Các chương trình, dự

án phát triển định hướng cộng đồng có đặc điểm là trao cho cộng đồng quyềnkiểm soát quá trình ra quyết định và đóng góp nguồn lực vào việc lập kế hoạch,thiết kế, thực hiện, vận hành, bảo trì những cơ sở hạ tầng Các chương trình pháttriển định hướng cộng đồng ở thời kỳ này có quy mô lớn hơn so với chươngtrình có sự tham gia của cộng đồng và không chỉ dừng lại ở sự tham gia mà tăngcường sự quản lý của cộng đồng và sự tham gia của chính quyền địa phương,gắn kết với cải cách ở mức độ rộng hơn và tính thực thi cao hơn Mức độ traothẩm quyền khác nhau trong các chương trình, dự án Mức trao thẩm quyền thấpnhất là các tổ chức nhà nước và nhà đầu tư quản lý nguồn vốn đầu tư và thựchiện các hoạt động, nhưng có lấy ý kiến tham vấn của tổ chức cộng đồng Mứctrao thẩm quyền cao là tổ chức cộng đồng tham gia vào kiểm soát các quyếtđịnh đầu tư, quản lý các nguồn vốn đầu tư và chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạtđộng Mức trao quyền cho tổ chức cộng đồng phụ thuộc vào các yếu tố: (Đỗ Thị

Kim Chi, 2004)

- Năng lực và sự sẵn sàng của cộng đồng để huy động và tổ chức;

- Sự sẵn sàng và phương pháp mà các cấp chính quyền cao hơn trao quyềncho cấp dưới;

- Sự hạn chế của khung pháp lý đối với cộng đồng trong việc tiếp nhậnquyền kiểm soát các nguồn vốn nhà nước hay nhà tài trợ phát triển chính thức(ODA);

- Khoảng cách xa xôi của các cộng đồng có thể gây khó khăn cho việcthực hiện;

- Trình độ học vấn của cộng đồng cũng ảnh hưởng đến việc chuẩn bị tàiliệu của chương trình, dự án và báo cáo;

- Tính chất của công việc sẽ tiến hành

Trang 12

Tuy nhiên, phát triển định hướng cộng đồng không phải là thích hợp vàmang lại hiệu quả với mọi trường hợp Có các trường hợp mà tư nhân hay tổchức công đảm nhiệm tốt hơn, mang lại ích lợi lớn hơn cho địa phương…

Việc phát triển định hướng cộng đồng thích hợp khi các nhóm cộng đồng

có lợi thế cạnh tranh, như các hàng hóa, dịch vụ quy mô nhỏ đòi hỏi sự hợp táccủa địa phương (ví dụ thu gom chất thải tại địa phương), các hàng hóa sử dụngchung (như thủy lợi), các hàng hóa công (bảo dưỡng đường sá, công trình hạtầng của thôn, xã) và các chương trình hay hoạt động mà vấn đề giao việc quản

lý ở cấp thấp nhất thích hợp (Nguyễn Việt Dũng- Nguyễn Danh Tĩnh, 2006)

1.2 Sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý môi trường

1.2.1 Khái niệm

Là phương thức bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề môi trường cụthể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và tổ chức cần thiết để giảiquyết vấn đề đó Phương pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tập trung cảitạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trường như dự

án tái tạo năng lượng, phục hồi lưu vực, Và đồng quản lý tài nguyên đó thôngqua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phichính phủ và cộng đồng dân cư

1.2.2 Vai trò của cộng đồng với kinh tế chất thải

- Kinh tế chất thải là một phạm trù đề cập đến những khía cạnh kinh tếtrong quá trình xử lý chất thải, từ khâu phát sinh, phân loại, thu gom, vậnchuyển, tái sử dụng, tái chế, chôn lấp chất thải cũng như áp dụng các công cụkinh tế trong quản lý chất thải Dân chúng trong cộng đồng đều trực tiếp haygián tiếp liên quan đến các khâu này với tư cách hoặc là chủ thể của hoạt động,hoặc/và là đối tượng thụ hưởng hay đối tượng chịu tác động của các hoạt động

đó về mặt kinh tế hay vệ sinh, sức khỏe, hoặc cả hai Chính vì vậy, tổ chức cộngđồng có vai trò quan trọng đối với các thành viên của mình thông qua các quyđịnh của cộng đồng (Trương Thành Nam, 2007)

- Phát triển sự tham gia của cộng đồng về kinh tế chất thải chính là mởrộng vai trò quản lý của quần chúng nhân dân đối với chất thải Mở rộng chuyển

Trang 13

dịch năng lực quản lý chất thải về khía cạnh kinh tế từ trung ương tới địaphương, từ cấp lãnh đạo đến người dân, tăng cường sự tham gia của mọi ngườidân đối với rác thải Mọi người dân được tham gia vào quá trình xác định lợi ích

và ra quyết định, tăng cường mối quan hệ cộng tác giữa chính quyền trung ươngvới các cấp địa phương trong vấn đề quản lý chất thải mang lại hiệu quả kinh tế,

xã hội cao nhất Vai trò của cộng đồng và tham gia cộng đồng về kinh tế chấtthải thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, tính phức tạp, đa dạng về nhiều mặt của kinh tế chất thải cần

huy động sự tham gia của nhiều người và nâng cao trách nhiệm của tất cả mọingười trong xã hội, bất kể họ thuộc đối tượng nào Việc phát sinh chất thảikhông chỉ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động xã hội khác

mà ngay cả trong sinh hoạt hàng ngày Trung bình, lượng chất thải sinh hoạtchiếm từ 50 –70 % tổng lượng thải của một địa phương hay quốc gia Mọi ngườidân đều tham gia vào quá trình phát sinh chất thải này dưới các giác độ khácnhau Các hoạt động liên quan đến phân loại tại nguồn hay vận chuyển chất thảicũng thu hút nhiều nhóm đối tượng khác nhau: nhóm những người nội trợ tronggia đình, nhóm những người nhặt rác, nhóm những người thu gom rác cấp tổdân phố, thôn/xã, nhóm những người thuộc Công ty Môi trường Đô thị,…

Thứ hai, cộng đồng đảm bảo cho hoạt động quản lý chất thải phát triển

bền vững, bởi lẽ:

Họ có kiến thức về địa bàn sinh sống, làm việc, chính vì vậy họ nắm rõcác đặc thù, điều kiện cũng như vấn đề văn hóa, xã hội ở địa bàn, nắm rõ cácnhu cầu cũng như các phương tiện hiện có để quản lý chất thải ở địa phương Họ

là những người triển khai mọi hoạt động, chính sách, chiến lược, chương trình.Các quyết định có sự tham gia của cộng đồng sẽ trở nên có cơ sở thực tiễn vàđây là căn cứ đảm bảo cho tính khả thi của các quyết định về quản lý chất thải

về mặt kinh tế Chẳng hạn, việc đề ra phí thu gom chất thải rắn không thể nào ápdụng một mức như nhau cho tất cả các địa phương, mà phải phân cấp cho cácđịa phương quyết định trên cơ sở lấy ý kiến cộng đồng

Ngày đăng: 07/09/2019, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w