Hiện nay, quá trình đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến gia tăng dân số và mật độ dân cư. Từ đó làm cho lượng rác thải tăng lên vượt quá năng lực thu gom và xử lý của các công ty môi trường đô thị địa phương.Chính quyền địa phương các cấp, luôn luôn phải tìm các biện pháp giải quyết vấn đề lâu dài này. Tuy nhiên, cho đến nay tại chưa đa số các biện pháp đều mang tính giải quyết tình thế, chưa có biện pháp nào được xem là có tính hiệu quả, ổn định lâu dài và phù hợp với quá trình phát triển bền vững của các đô thị Việt Nam. Chính vì vậy người ta phải đi tìm các biện pháp hiệu quả và triệt để hơn và xử lý rác thải kết hợp sản xuất địên năng có thể là một trong những biện pháp cần tìm.Trong thời gian thực tập tại phòng công nghệ môi trường – Viện Vật lý và Điện tử được tiếp xúc với biện pháp xử lý rác thải kết hợp sản xuất điện năng, em nhận thấy rằng đây là một biện pháp rất hay. Biện pháp này cho phép xử lý rác thải với số lượng lớn, thời gian nhanh chóng, xử lý khá triệt để và nó còn cho phép tận thu để tạo điện năng. Ngoài vấn đề xử lý rác thải biện pháp này còn cho phép giải quyết một bài toán khác đó là vấn đề năng lượng. Tuy nhiên, biện pháp này cũng là một biện pháp khá mới và hiện nay chưa thực sự phổ biến. Việc xem xét đến tính hiệu quả và sự phù hợp của biện pháp này ở nước ta là rất quan trọng.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, quá trình đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến gia tăng dân
số và mật độ dân cư Từ đó làm cho lượng rác thải tăng lên vượt quánăng lực thu gom và xử lý của các công ty môi trường đô thị địaphương
Chính quyền địa phương các cấp, luôn luôn phải tìm các biệnpháp giải quyết vấn đề lâu dài này Tuy nhiên, cho đến nay tại chưa
đa số các biện pháp đều mang tính giải quyết tình thế, chưa có biệnpháp nào được xem là có tính hiệu quả, ổn định lâu dài và phù hợpvới quá trình phát triển bền vững của các đô thị Việt Nam Chính vìvậy người ta phải đi tìm các biện pháp hiệu quả và triệt để hơn và xử
lý rác thải kết hợp sản xuất địên năng có thể là một trong những biệnpháp cần tìm
Trong thời gian thực tập tại phòng công nghệ môi trường – ViệnVật lý và Điện tử được tiếp xúc với biện pháp xử lý rác thải kết hợpsản xuất điện năng, em nhận thấy rằng đây là một biện pháp rất hay.Biện pháp này cho phép xử lý rác thải với số lượng lớn, thời giannhanh chóng, xử lý khá triệt để và nó còn cho phép tận thu để tạo điệnnăng Ngoài vấn đề xử lý rác thải biện pháp này còn cho phép giảiquyết một bài toán khác đó là vấn đề năng lượng Tuy nhiên, biệnpháp này cũng là một biện pháp khá mới và hiện nay chưa thực sự
-1
Trang 2phổ biến Việc xem xét đến tính hiệu quả và sự phù hợp của biện phápnày ở nước ta là rất quan trọng Với mong muốn được vận dụngnhứng kiến thức chuyên ngành Kinh tế - Quản lý tài nguyên và môitrường, em đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là:
“Bước đầu nghiên cứu hiệu quả mô hình xử lý chất thải rắn
đô thị kết hợp sản xuất điện năng tại bãi rác Nam Sơn - ”.
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá hiệu quả phương pháp xử lý chất thải rắn đô thị kếthợp sản xuất điện năng tại bãi rác Nam Sơn từ đó đề xuất các giảipháp cho nghiên cứu và triển khai phương pháp xử lý tuy còn mớinhưng khá triển vọng này
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các tác động tới môi trường, kinh tế - xã hộicủa mô hình dự án xử lý chất thải rắn đô thị kết hợp sản xuất điệnnăng tại bãi rác Nam Sơn Bên cạnh đó đề tài phân tích lợi ích và chiphí mở rộng có tính đến các chi phí và lợi ích môi trường của dự án
Phương pháp nghiên cứu:
Tổng hợp, thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu, báo cáo
Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích
Phương pháp xây dựng mô hình
Kết cấu chuyên đề:
-2
Trang 3Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của xử lý chất thải rắn đôthị kết hợp sản xuất điện năng
Chương II: Hiện trạng chất thải rắn đô thị Hà Nội và hoạt độngcủa bãi rác Nam Sơn
Chương III: Đánh giá hiệu quả và khả năng áp dụng mô hình xử
lý chất thải rắn đô thị kết hợp sản xuất điện năng tại bãi rác NamSơn, Hà Nội
-3
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU 6
LỜI CAM ĐOAN 7
LỜI CẢM ƠN 8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG .9
I TỔNG QUAN VỀ RÁC THẢI RẮN ĐÔ THỊ 9
1 Khái niệm, nguồn gốc về chất thải rắn đô thị 9
2 Các thuộc tính của chất thải rắn đô thị 10
3 Các tác động của chất thải rắn đô thị 11
4 Các phương pháp xử lý chất thải rắn đô thị 12
II CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG 14
1.Quá trình phân huỷ kỵ khí trong xử lý chất thải rắn đô thị 14
2.Quy trình công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị kết hợp sản xuất điện năng …15
3 Quá trình phát triển của xử lý chất thải rắn đô thị theo công nghệ AD 18
4 Khả năng áp dụng công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị kết hợp sản xuất điện năng ở Việt Nam 22
-4
Trang 5III PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ XỬ
LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN
NĂNG 24
1 Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA) 24
1.1 Khái niệm CBA 24
1.2 Mục đích của CBA 25
2 Nội dung của phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) 26
3 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá 28
3.1 Lợi nhuận ròng (lợi nhuận tuyệt đối của dự án) (NPV) 28
3.2 Lợi nhuận tương đối của dự án (BCR) 29
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ HÀ NỘI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BÃI RÁC NAM SƠN 31
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÀ NỘI 31
II TÌNH HÌNH PHÁT SINH VÀ THU GOM RÁC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 32
III GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HIỆN TRẠNG BÃI RÁC NAM SƠN .36
1 Giới thiệu chung về bãi rác Nam Sơn 36
2 Quy trình xử lý rác thải tại bãi rác Nam Sơn 37
II NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG HOẠT ĐỘNG HIỆN NAY CỦA BÃI RÁC NAM SƠN
38
-5
Trang 6CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT H
ỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TẠI BÃI RÁC NAM SƠN, HÀ
NỘI 43
I GIỚI THIỆU MÔ HÌNH DỰ ÁN XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TẠI BÃI RÁC NAM SƠN, HÀ NỘI 43
1 Những thông tin chung về mô hình dự án 43
2 Nguyên lý và quy trình hoạt động 44
II CÁC TÁC ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH DỰ ÁN XỬ LÝ RÁC THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TẠI BÃI RÁC NAM SƠN, HÀ NỘI 46
1 Tác động tới môi trường 46
1.1 Các tác động tích cực 46
1.1.1 Những tác động tích cực tới môi trường khu vực quanh bãi rác Nam Sơn 46
1.1.2 Những tác động gián tiếp tới môi trường thủ đô Hà Nội 47
1.2 Các tác động tiêu cực 48
1.2.1.Các tác động tiêu cực của việc thực hiện mô hình dự án trong giai đoạn chuẩn bị thi công và thi công tới môi trường 48
1.2.2 Những tác động khi dự án đi vào hoạt động 50
2 Tác động tới kinh tế - xã hội 50
3 Đánh giá chung các tác động của mô hình dự án 52
-6
Trang 7III, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH XỬ LÝ RÁC ĐÔ THỊ
KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TẠI BÃI RÁC NAM SƠN 53
1 Các tham số và giả thiết trong tính toán 53
2 Xác định và đánh giá các chi phí 53
3 Xác định và đánh giá các lợi ích 57
3.1 Lợi ích lượng hóa được bằng tiền 57
3.2 Những lợi ích không thể hay chưa lượng hóa được bằng tiền 60
III TÍNH TOÁN CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ 61
1 Giá trị hiện tại ròng (NPV) 61
2 Tỷ suất lợi ích - chi phí (BRC) 62
3 Phân tích rủi ro và độ nhậy cho mô hình dự án 62
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 66
KẾT LUẬN 68
Phụ lục 1:Bảng khung giá đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp 69
Phụ lục 2: Bảng giá than dùng cho sản xuất điện 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU Bảng Tên bảng Trang Bảng 1 Thành phần chủ yếu của rác thải rắn Hà Nội 32
-7
Trang 8Bảng 2 Khối lượng rác phát sinh và thu gom trên địa
bàn Hà Nội
34
Bảng 3 tổng hợp dự báo các tác động của mô hình dự án 52Bảng 4 Tổng hợp các chi phí của mô hình 57Bảng 5 Giá trị hiện tại các lợi ích của dự án 61Bảng 6 Phân tích rủi ro và độ nhạy cho mô hình 64Bảng 7 Tổng hợp các chi phí – lợi ích và các chi tiêu
đánh gía của mô hình
Hình 4 Sơ đồ quy trình hoạt động của mô hình công
nghệ xử lý chất thải rắn đô thị kết hợp phát điện tại bãi rác Nam Sơn
45
LỜI CAM ĐOAN
-8
Trang 9Em xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này do chính em thựchiện, không sao chép từ bất cứ một tài liệu nào.
Nếu sai em xin chịu mọi trách nhiệm và các hình thức kỷ luậtcủa nhà trường
Trang 10Do kiến thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu tương đối ngắnnên trong đề tài nghiên cứu này của em không tránh khỏi những thiếusót Vì vậy em kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến giúp
em hoàn thành chuyên đề một cách tốt nhất
-10
Trang 11CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG
I TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
1 Khái niệm, nguồn gốc chất thải rắn đô thị
Trong quá trình sản xuất của mình, con người đã không ngừng
sử dụng các nguồn tài nguyên là các nguyên liệu đầu vào để tạo ra sảnphẩm Sau đó các sản phẩm này được con người sử dụng trong sinhhoạt hoặc lại là đầu vào cho một quá trình sản xuất khác Tuy nhiên,trong các quá trình sản xuất và tiêu dùng con người đều không sửdụng được hết lượng vật chất đầu vào hay có một phần vật chất đượccon người thải ra Phần thải ra này được gọi chung là chất thải
Theo đó chất thải thường không có hay không còn giá trị sửdụng nữa nhưng điều này cũng chỉ mang tính tương đối Ngày nay khi
mà công nghệ phát triển thì một số loại chất thải có thể được tái sửdụng
Chất thải được tạo ta từ nhiều nguồn khác nhau, có thể từ côngnghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hay phát sinh từ quá trình sinh hoạt của -
11
Trang 12con người Đây cũng là cơ sở để người ta phân biệt chất thải Ngoài rangười ta cũng có thể phân biệt chất thải theo nơi phát sinh cụ thể cóthể là thành thị hay nông thôn Chất thải rắn đô thị là chất thải đượcsinh ra trong thành phố, không tính đến chất thải công nghiệp và nôngnghiệp Như vậy, chất thải rắn đô thị được phát sinh trong quá trìnhsinh hoạt và các hoạt động dịch vụ tại các đô thị, bao gồm rác trongcác khu dân cư, thương mại, chợ, các cơ quan như giấy, giấy bìa,rác trong vườn, thức ăn thừa và các chất hữu cơ
Ngày nay, chất thải rắn đô thị ngày càng đa dạng, thành phầnhoá học cũng phức tạp hơn, thể tích và khối lượng thải ra là rất lớn,đặc biệt là việc phát sinh một số loại chất thải có mức độ ô nhiễm caogây hậu quả lâu dài và rất khó xử lý Do đó xử lý chất thải này là mộtchiến lược quan trọng của các nhà quản lý để làm giảm độc tính vàthể tích chất thải rắn ra môi trường
2 Các thuộc tính của chất thải rắn đô thị
Cũng như chất thải nói chung chất thải rắn đô thị cũng có cácthuộc tính lý học, hoá học, sinh học
Vấn đề mà người ta quan tâm khi xem xét thuộc tính vật lý củaloại chất thải này là việc tính toán khối lượng và thể tích phát sinh của
nó Từ đó tạo cơ sở cho việc tính toán các phương án lưu giữ, thugom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị
-12
Trang 13Trong các thuộc tính trên người ta quan tâm nhất đến thuộc tínhhóa học của chất thải, cụ thể là các thành phần hoá học, các tương tácphản ứng hoá học của các chất có trong chất thải Việc xem xét thuộctính hóa học đề ta có thể biết được mức độ độc hại, các ảnh hưởng,tác hại tới con người đặc biệt là các tác hại nguy hiểm của chất thảirắn đô thị Chất thải rắn đô thị chủ yếu chứa giấy, rác vườn, rác thức
ăn, và một số loại rác hữu cơ khác, có thể có cả nhựa Nói chungchất thải rắn đô thị không có những tác hại ngay hay không gây độchại ở mức độ nghiêm trọng, tuy vậy trong một thời gian dài nếukhông được quan tâm xử lý đúng mức thì mức độ ô nhiễm là không
hề nhỏ thậm chí là khá nguy hiểm
Thuộc tính sinh học của chất thải rắn đô thị cũng được người taquan tâm và tìm hiểu Một số thành phần trong loại chất thải này cónhững đặc thù sinh học riêng ví dụ như là thức ăn thừa, một phần xácđộng vật thải ra sau quá trình giết mổ Những thành phần này thôngqua quá trình biến đổi sinh học có thể tạo ra các tác động rất nghiêmtrọng như các loại vi khuẩn, vi rút nguy hiểm hay các dịch bệnh Việctìm hiểu quá trình sinh học cũng giúp góp phần tìm hiểu đầy đủ hơncác tác động có ảnh hưởng xấu đến con người của chất thải rắn đô thị
Mặt khác, việc tìm hiểu các thuộc tính, hoá học, sinh học sẽ giúp
ta hiểu rõ về bản chất, các nguyên lý hoạt động của các thành phần
-13
Trang 14trong chất thải rắn đô thị Từ đó chúng ta sẽ thuận lợi hơn trong việcnghiên cứu các cách thức xử lý đối với loại chất thải này.
3 Các tác động của chất thải rắn đô thị
Như khái niệm đã đề cập ở trên chất thải rắn đô thị được phátsinh trong quá trình sinh hoạt và các hoạt động dịch vụ tại các đô thị,bao gồm rác trong các khu dân cư, thương mại, chợ, các cơ quan như giấy, giấy bìa, rác trong vườn, thức ăn hữu cơ Từ đó có thể thấyloại chất thải này có tác động rất đa dạng đối với đời sống của các bộphận dân cư ở đô thị
Tác động dễ nhận thấy nhất đó là chất thải làm ảnh hưởng xấuđến cảnh quan đô thị làm giảm mỹ quan đô thị Chúng ta có thể thấy
rõ điều này ở Hà Nội Trong vài năm gần đây do sự phát triển nhanhchóng kinh tế - xã hội thủ đô nước ta đã có những thay đổi rõ rệt,hàng hóa đa dạng hơn, nhiều dịch vụ phát triển, người dân Hà Nộingày càng được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của mình Tuy vậy, cómột mặt trái mà ai cũng có thể nhận ra đó là việc rác thải tràn ngậpkhắp nơi, đặc biệt là tại các khu chợ, khu tập thể dân cư, trên đườngphố Rất nhiều người nước ngoài đã có ấn tượng không tốt về điềunày khi đến Hà Nội Việc môi trường cảnh quan bị ảnh hưởng làmgiảm hình ảnh của các đô thị, gây cảm giác khó chịu cho con người
-14
Trang 15Không chỉ làm mất mỹ quan đô thị, chất thải rắn đô thị ngày naycòn gây ra sự ô nhiễm đến môi trường sống Không khí, đất, nước, cóthể nói tất cả các yếu tố tự nhiên đều bị ảnh hưởng do tác động tiêucực từ rác thải Chất thải rắn đô thị thường có mùi hôi thối, khó chịunhất là khi để lâu ngày Trong thành phần của loại chất này, chiếmphần lớn là các loại rác hữu cơ, các thức ăn thừa, vì vậy khi để lâungày hay trong điều kiện không khí ẩm nóng sẽ thối rữa và bốc mùihôi thối Không chỉ gây ô nhiễm cho không khí rác thải rắn đô thị còngây ô nhiễm nước và đất Nếu không được thu gom và xử lý kịp thờirác thải sẽ phân huỷ và ngấm xuống đất gây ô nhiễm đất và nướcngầm, đặc biệt khi gặp mưa các chất gây ô nhiễm sẽ hòa vào cácnguồn nước và làm ô nhiễm môi trường nước Tuy mức độ ô nhiễmcủa chất thải rắn đô thị hiện tại không phải quá nghiêm trọng nhưngnếu sự ô nhiễm kéo dài sẽ dẫn đến những hậu quả chưa lường trướcđược.
4 Các phương pháp xử lý chất thải rắn đô thị
Xử lý chất thải rắn đô thị là vấn đề quan tâm chiến lược của tất
cả các nhà quản lý Người ta đã tiến hành nghiên cứu và triển khainhiều phương pháp xử lý rác thải Hiện nay có bốn phương phápchính xử lý chất thải rắn đô thị, đó là: chôn lấp, ủ thành phân hữu cơ(Compost), thiêu đốt, và ủ tạo khí gas
-15
Trang 16Phương pháp chôn lấp rác thải là người ta tiến hành chôn rác
thải vào bên trong đất và phủ, che lấp bề mặt Phương pháp này chophép giải quyết khá tốt vấn đề môi trường trong ngắn hạn với chi phíkhá thấp và khá phù hợp với các nước đang phát triển như nước ta.Tuy vậy, phương pháp này cũng tồn tại những nhược điểm như:không xử lý triệt để được rác thải, tốn diện tích để tạo khu chôn lấp,
có ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh khu chôn lấp (gây ônhiễm môi trường không khí, đất, nước mặt và nước ngầm)
Một phương pháp khá phù hợp với đô thị tại các nước đang phát
triển là ủ thành phân hữu cơ (Compost), bản chất của phương pháp
này là sử dụng các quá trình sinh học trong điều kiện yếm khí, vệ sinhtốt từ đó sẽ làm rác thải chuyển hoá thành phân hữu cơ Tại các nướcđang phát triển như nước ta, thành phần rác thải chứa tới 70 - 80% làcác loại rác dễ phân huỷ như thực vật, thức ăn thừa, rác vườn, làđiều kiện thuận lợi để áp dụng phương pháp này Mặt khác , chi phícho cách xử lý này là thấp, giá thành của phân hữu cơ thu được khácao, đó là những ưu điểm của phương pháp này
Phương pháp thứ ba đó là phương pháp thiêu đốt, khi dùng
phương pháp này rác thải sẽ bị đốt cháy đến mức hầu như không thểcháy được nữa Quá trình đốt cháy sẽ tạo ra nhiệt năng, người ta sửdụng nguồn năng lượng này phục vụ cho các mục đích khác nhau.Đây chính là một trong những ưu điểm của phương pháp này, bên -
16
Trang 17cạnh đó khi thiêu đốt rác thải được xử lý khá triệt để, đảm bảo tốt vềkhía cạnh môi trường Khi sử dụng cách này sẽ không cần một diệntích đất lớn như phương pháp chôn lấp, tuy nhiên phương pháp nàyđòi hỏi đầu tư ban đầu cũng như chi phí vận hành lớn Đây chính làhạn chế của phương pháp này và sẽ thật khó cho các đô thị ở các nướcđang phát triển áp dụng rộng rãi phương pháp này.
Một cách xử lý khác và được sử dụng khá rộng rãi đó là phương
pháp ủ tạo khí gas Đây là phương pháp phân huỷ rác thải trong môi
trường thiếu oxy, tạo nên các quá trình chuyển hoá sinh học và kếtquả là sinh khí bao gồm hỗn hợp khí mêtan và cacbon dioxit đồngthời tạo ra cặn bã thể lỏng và rắn khác Phương pháp này sẽ thực sựphát huy hết tác dụng khi thành phần của rác chủ yếu là rác thải hữu
cơ vì thế đối với xử lý rác thải đô thị thì đây là cách khá hữu hiệu.Một ưu điểm nữa của phương pháp này là sản phẩm khí gas thu đượcsau quá trình phân huỷ, nếu được thu hồi hiệu quả thì khí này có thểđược sử dụng như một dạng khí đốt Tuy vậy, để có được điều này thìcần có một sự đầu tư cũng không nhỏ
Hiện nay, đã xuất hiện một phương pháp mới đó là xử lý chất
thải kết hợp sản xuất điện năng Trên thế giới cũng như ở nước ta,
việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp này vẫn chưa thực sự phổbiến Mặc dù vậy cách xử lý chất thải đô thị này đang hứa hẹn là một
-17
Trang 18phương pháp hiệu quả, giải quyết được nhiều vấn đề với chi phí hợplý.
II CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG
1 Quá trình phân huỷ kỵ khí trong xử lý chất thải rắn đô thị
Phân huỷ kỵ khí là làm phân huỷ rác thải hữu cơ khi không cóoxy Quá trình phân huỷ kỵ khí sinh ra 55% khí CH4, 45% khí CO2
và một phần bã bùn Quá trình này được viết tắt là AD (AnaerobicDigestion)
Hiện nay, những hệ AD cho chất thải rắn đô thị được sử dụngrộng rãi trên thế giới, đặc biệt từ cuối những năm của thập kỷ 90 Cơ
sở của công nghệ này được hình thành chủ yếu ở Châu Âu với cácnhà khoa học tiên phong của Đức và Đan Mạch
Có nhiều hệ AD khác nhau như hệ mesophilic và hệthermophilic,hệ AD cho chất thải có độ rắn cao và độ rắn thấp, hệnhiều giai đoạn hay một giai đoạn (multi-stage và single stage), hệ
Trang 19Thuận lợi của công nghệ AD là việc nó đã được pháp lý côngnhận ở Hà Lan và Châu Âu Mục tiêu đến 2010, 15% năng lượng điện
sẽ được thay thế bằng năng lượng thu được từ rác thải và nó sẽ đượcbán với giá thông thường Và đó cũng là mục tiêu của Anh
Trong tương lai, năng lượng sẽ được lấy từ rác Có 2 cách xử lýrác: đó là đốt cháy rác và xử lý bằng phân huỷ kỵ khí (AD) Tuynhiên, đốt rác không thể lấy được năng lượng khi rác bị ẩm ướt Còn
sử dụng phương pháp AD cho phép chúng ta nhận được năng lượng
cả khi rác bị ẩm ướt
Mặc dù cũng qua quá trình phân huỷ rác và tạo khí nhưngphương pháp ủ tạo khí gas có tốc độ không nhanh bằng, chi phí cũngkhá cao nhất là khi xử lý rác với khối lượng và thể tích lớn Việc thuđược năng lượng là một ưu điểm nổi bật so với các phương phápkhác
2 Quy trình công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị kết hợp sản xuất điện năng
Cơ sở của công nghệ xử lý này là áp dụng quá trình phân huỷ kỵkhí nhằm thu được khí gas sinh ra và tận dụng sản xuất điện năng
Như đã trình bày ở trên quá trình phân huỷ kỵ khí các vật liệuhữu cơ là quá trình không có oxy mà chỉ có các các vi sinh vật kỵ khí
AD là kết quả của một chuỗi các tương tác chuyển hoá giữa các nhóm -
19
Trang 20vi sinh vật khác nhau Nó xuất hiện trong ba giai đoạn: thuỷ phân, axithoá và metan hoá Nhóm thuỷ phân là các vi sinh vật cất giấu enzim,thuỷ phân các vật liệu pôlyme thành mônôme như đường, axit amin.Nhóm vi khuẩn thứ hai, biến đổi vi khuẩn axêton thành axit béo, H2
và axit axêtic Nhóm vi khuẩn thứ ba biến H2, CO2, acetic thành CH4.Quá trình AD diễn ra trong các lò phản ứng kín với các thông số thểtích chiều cao phù hợp với khối lượng rác thải và cần được giữ ở nhiệt
Trang 21Hình 1: Sơ đồ công nghệ phân hủy kỵ khí AD.
Nguồn: Theo tài liệu “Anaerobic digestion of biodegradableorganics in municipal solid waste” của tác giả Shefali Verma
Hầu hết rác thải khi được vận chuyển tới nơi xử lý là rác hỗnhợp nên không thể xử lý ngay được mà phải trải qua một giai đoạn làtiền xử lý Giai đoạn tiền xử lý bao gồm việc phân loại rác và tách cácthành phần không thể phân huỷ được, sau đó tiến hành nghiền nhỏnhững phần rác đã qua phân loại Rác nhận được bởi hệ AD là nguồn
đã được phân tách hoặc được phân loại bởi máy móc Sự phân táchđảm bảo các vật liệu như thuỷ tinh, kim loại, đá đã được loại bỏ Sau
đó rác được nghiền nát trước khi vào các lò phản ứng AD
Trong các lò này rác được pha loãng tới tiêu chuẩn cho phéptrong một thời gian nhất định và trải qua quá trình chuyển hoá chất
-Tiền
xử
lý (phân
loại
rác)
Chuyển hóa chất
thải Thủy phân Axit hóa Mêtan hóa
Xử lý bã
Hình thành (sinh) khí gas
Phân bón cho cây trồng
Rác
thải
21
Trang 22thải Bộ xử lý nhiệt được thiết kế để điều khiển nhiệt trong các lòphản ứng tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình phân huỷ.
Sau các quá trình phân huỷ hỗn hợp khí gas sẽ được sinh ra Khígas nhận được trong các lò AD được thu hồi qua một đường ống dẫngas
Một phần rác sau khi phân huỷ chuyển thành dạng bã bùn lẫnnước Công nghệ AD cho phép thu hồi phần bã này qua giai đoạn xử
lý bã Phần bã này giàu dĩnh dưỡng có thể bón cho đất và cây trồng.Nước lẫn trong phần bã này được lọc và tái sử dụng Đây cũng là một
ưu điểm của phương pháp này
Công nghệ xử lý rác thải đô thị kết hơp sản xuất điện năng baogồm các giai đoạn của công nghệ AD và giai đoạn sản suất điện năng.Hỗn hợp khí gas sau khi được thu hồi từ hệ AD sẽ được đốt trong cácmáy phát điện này để tạo ra điện Điện thu được có thể sử dụng ngaycho khu xử lý rác thải đô thị và có thể tích trữ để bán ra bên ngoài
Nguyên lý của công nghệ sản xuất điện từ rác thải đô thị đượctrình bày trong sơ đồ nguyên lý tại hình 2:
h÷u c¬
Sinh khí siêu tốc trong các
lò AD
Phát điện bằng mắy diesel chạy gas
Trang 23Hình 2: Sơ đồ nguyên lý của công nghệ xử lý rác thải kết hợp phát điện.
1.Đường ống dẫn rác thải đã được nghiền và trộn với nước.
2.Đường khí metan dẫn sang hệ thống phát điện.
3.Đường hồi lưu của nước về tiếp tục cho công tác phân loại và nghiền rác.
Nguồn: Theo thuyết minh nhiệm vụ nghiên cứu khoa học về bảo vệmôi trường, đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình công nghệ xử lýchất thải rắn đô thị kết hợp sản xuất điện năng” - Viện Vật lý và Điệntử
3 Quá trình phát triển của xử lý chất thải rắn đô thị theo công nghệ AD
-23
Trang 24Công nghệ AD là một trong những công nghệ ra đời từ lâu nhất.Biogas đã được sử dụng để làm nóng nước tắm ở Assyria vào thế kỷ
10 trước công nguyên và ở Ba Tư cũ vào thế kỷ 16 Công nghệ ADphát triển cùng với những nghiên cứu khoa học , và vào thế kỷ 17, JanBaptista Van Helmont đã thiết lập một loại khí gas dễ bén lửa từnhững vật liệu hữu cơ mục nát Vào năm 1776, Count AlessandroVolta đã chỉ ra rằng có một mối quan hệ giữa số lượng vật liệu hữu cơmục nát và số lượng gas dễ cháy được sản sinh Năm 1808 SirHumphry Davy đã chứng minh rằng có sự sản sinh ra khí methan từphân của vật nuôi
Sự công nghiệp hoá của AD bắt đầu từ năm 1859 cùng với nhàmáy đầu tiên tại Bombay, Ấn Độ Năm 1895, AD đã xâm nhập vàonước Anh nơi mà biogas thu được từ kế hoạch xử lý nước cống vànăng lượng này được cung cấp thắp sáng đèn phố Exeter Hơn nữavới sự phát triển của vi khuẩn cũng là một thuận lợi cho AD Nhữngnghiên cứu bởi Buswell và các đồng nghiệp trong những năm củathập kỷ 30 đưa ra các vi khuẩn kỵ khí và các điều kiện có vai trò đẩymạnh quá trình sản xuất mêtan
Trước năm 1920, hầu hết các hệ AD được hiểu như một bể kỵkhí Từ đó sự hiểu biết về việc kiểm soát quá trình của AD và lợi íchcủa nó ngày càng tăng lên, cùng với nó nhiều thiết bị và công nghệhiện đại đã xuất hiện Lúc này công nghệ AD đã tạo được những cơ -
24
Trang 25sở vững chắc, những thiết kế về công nghệ này sau đó được truyền bátrên toàn thế giới Tuy vậy công nghệ này đã bị lãng quên sau chiếntranh thứ hai.
Đến những năm của thập kỷ 70, sự quan tâm đối với công nghệ
AD lại tăng lên cùng với sự phát triển của những hệ AD đơn giản ởcác nước Nam á như Trung Quốc, Ấn Độ Tại Châu Âu, Bắc Mỹ vàliên bang Xô Viết đã có những nghiên cứu hệ AD cho quá trình tạomêtan trong các chương trình tìm các nguồn năng lượng mới
Ngày nay, công nghệ AD được biết đến với hai ưu điểm: giá trịnăng lượng cao và thân thiện với môi trường, tránh được các vấn đề
mà việc chôn lấp rác thải gặp phải Chính vì lý do thứ hai nên nhiềunước đã quan tâm đến phương pháp này trong xử lý rác thải Tại Châu
Âu công nghệ này đang phát triển rất mạnh mẽ,được sử dụng rất rộngrãi trong các nông trại, trong công nghiệp hay trong xử lý rác thải rắn
đô thị Các nhà máy áp dụng công nghệ AD được xây dựng tại nhiềuquốc gia khác nhau, đặc biệt là ở các nước như Đức, Hà Lan, ĐanMạch Tuy không phát triển mạnh mẽ và rộng rãi như ở Châu Âunhưng công nghệ AD cũng đã có những cơ sở cho sự phát triển củamình ở Bắc Mỹ
Tuy vậy phương pháp này không phải không có những tháchthức Chi phí cho phương pháp này không hề thấp và hiện nay côngnghệ này cũng chưa được áp dụng phổ biến như là một trong những
sự lựa chọn hàng đầu trong xử lý rác thải
-25
Trang 26Mặc dù vậy đây là phương pháp rất hứa hẹn trong tương lai,nhất là khi các nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và môi trườngngày càng ô nhiễm.
Hiện nay trên thế giới phương án xử lý chất thải rắn kết hợp sảnxuất điện năng là một xu thế lớn Nó được viết là “Waste To Energy”
hay WTE, có thể tạm dịch ra tiếng Việt là “Biến rác thải thành năng
lượng” Bản chất của xu thế này là kết hợp rất nhiều công nghệ đểkhép kín chu trình sinh học của chất thải, biến đổi rác từ tác nhân gây
ô nhiễm thành ra một nguồn năng lượng Vấn đề còn lại là tuỳ hoàncảnh mỗi nước, mỗi địa phương nên kết hợp các loại công nghệ nàolại với nhau để có một hệ thống hiệu quả, kinh tế và bền vững
Phần lớn các đô thị trên thế giới đều công bố thành phần rác thảihữu cơ trong tổng lượng chất thải rắn của đô thị là trên 50% Rác hữu
cơ chính là thực phẩm dư thừa, lá cây, vỏ củ, giấy, Nói rộng ra làphụ phẩm của các quá trình sinh hoạt đô thị Theo tính toán của cácnhà khoa học thì sinh khối một năm của cả trái đất lớn hơn khoảngbảy lần năng lượng của toàn nhân loại tiêu thụ trong năm Rác thảihữu cơ là một phần của sinh khối ấy Chúng ta thải loại rác chính làchúng ta đang thải loại và lãng phí năng lượng
Dự án Sông Hằng của Ấn Độ có mục tiêu biến rác thải trongtoàn bộ lưu vực sông Hằng thành năng lượng để làm cho con sôngđang ô nhiễm lấy lại sự linh thiêng tôn giáo
-26
Trang 27Dự án WTE của Los Angeles cũng nhằm tiết kiệm cho thànhphố này 20% năng lượng, bằng cách thu hồi khí metan trong rác thảithành phố.
Tại Singapor công ty xử lý rác thải hàng đầu đã đổi tên thànhWaste to Energy Ltd, và có mục tiêu thu lại năng lượng từ mọi nguồnthải, rác thải rắn và cả nước thải đô thị nữa
Có 4 phương pháp tận thu năng lượng từ rác thải sinh hoạt:
- Đốt rác lấy nhiệt để làm hơi nước trong các nồi hơi cấp sứcnóng sưởi các toà nhà chung cư hoặc cấp hơi nước nóng 500C dùngchạy máy phát nhiệt điện
- Chế biến rác thải thành dầu bôi trơn, dầu diezen, hoặc dầubiodiessel,
- Xây dựng hầm biogas cỡ nhỏ hoặc vừa để lấy khí đốt và làmphân bón,
- Xây dựng hầm biogas lớn tập trung lấy khí sinh học phát điện Phương pháp thứ nhất đòi hỏi phải đầu tư cao Thực chất là xâydựng các nhà máy nhiệt điện, công nghệ rất phức tạp vì cần rất nhiều
kỹ thuật liên quan về cơ và điện Các nhà máy nhiệt điện ấy phát điệnmột phần bằng than dầu và một phần bằng rác Các loại lò đốt kiểu cũchỉ có hiệu suất dưới 10% Còn loại lò tiên tiến nhất hiện nay là lòtầng sôi cũng chỉ đạt hiệu suất đến 17-18% Suất đàu tư thường đến
300 triệu USD trên 1MW điện và xử lý cho 1000T rác một ngày Điềunày vượt quá khả năng đầu tư của các thị xã và thành phố, ngay cảthành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng không có -
27
Trang 28vốn Các nhà máy xử lý rác như vậy đạt đến qui mô dự án cấp quốcgia.
Phương pháp thứ hai còn đang trong giai đoạn nghiên cứu tiềnkhả thi Các loại dầu mỡ bôi trơn hoặc dầu biodiessel từ rác thải mớichỉ được sản xuất ở qui mô nhỏ và rất kén chọn thành phần rác thải
Phương pháp thứ ba rất hiệu quả cho các khu vực nông thôn Đã
có nhiều dự án trên thế giới và Việt Nam về thực hiện xử lý rác thảitheo hướng này, ủ rác thành phân compost và lấy khí dùng cho đunnấu Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm, ví dụ thiếu ráccũng đồng thời thiếu gas Đôi khi người dân vẫn phải dùng thêm chấtđốt khác Mặt khác khi nhiều rác quá lại phải thải gas ra ngoài, cànggây ô nhiễm môi trường khí và các nguy cơ cháy nổ khác Nănglượng gas thu được từ các loại hầm này không có tính chuyển đổi vàkhả năng thương mại năng lượng của các hầm biogas/compost sẽ bịhạn chế Hơn nữa, phương pháp này không tiếp cận được một nguồnrác khổng lồ của các đô thị lớn Khí gas sinh ra từ các hầm biogaskhông được dân đô thị ưa sử dụng vì khó khăn trong vận chuyển vàchất lượng gas không cao Do đó, phương án các hầm biogas vừa lấykhí đốt vừa lấy phân compost chỉ thích hợp để xử lý rác thải sinh hoạt
ở các vùng nông thôn hoặc cận thành thị với qui mô nhỏ hoặc vừa
Phương pháp cuối cùng tiếp cận với nguồn rác khổng lồ của các
đô thị và cho sinh ra một lượng năng lượng lớn Tuy vậy cần áp dụnghai loại công nghệ tiến tiến để tăng tính khả thi của phương pháp: -
28
Trang 29Thứ nhất: áp dụng phương pháp sinh gas siêu tốc qua lớp bùnchảy ngược, để sao cho với thể tích các bình bể xử lý vừa phải mà vẫntiêu được một lượng rác lớn (ví dụ đối với Hà Nội là khoảng 1000 tấnchất thải hữu cơ/1ngày đêm).
Thứ hai: dùng gas thu được đốt trực tiếp các động cơ đốt trong
để phát điện Như vậy có thể tránh được việc đầu tư các tổ hợptourbin lớn, không phù hợp với hoàn cảnh Việt nam
4 Khả năng áp dụng công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị kết hợp sản xuất điện năng ở Việt Nam
Môi trường của nước ta hiện nay bị ô nhiễm nặng Khắp nơitrong các thành phố, thị xã, trị trấn, khu dân cư, thậm chí các làngxóm xa xôi đều tràn ngập rác thải Đâu đâu cũng thấy rác Các biệnpháp xử lý hiện hành là thu gom và chôn lấp Tuy nhiên, lượng rácthải hàng ngày thường vượt quá năng lực thu gom của các công tymôi trường đô thị địa phương, do các bãi rác thải tập trung của địaphương hầu hết là bị quá tải
Các ví dụ dưới đây cho thấy sự kém hiệu quả của một số biệnpháp đang được sử dụng:
Bãi rác Nam Sơn Hà Nội: quá tải, gây ô nhiễm ra xung quanh,nước rỉ từ rác làm huỷ hoại ruộng của tất cả các xã lân cận, chi phívận chuyển cao vì nằm xa Hà nội, cũng vì chưa có một biện pháp đặchiệu để xử lý rác thải
-29
Trang 30Bãi rác thải Tràng Cát - Hải Phòng nhiều lần bị nhân dân quanhvùng biểu tình không cho tiếp tục chôn lấp vì gây ô nhiễm nặng nềkhu vực lân cận.
Nhà máy chế biến rác thành phân vi sinh Nam Định, theo côngnghệ hiện đại của Pháp, nhưng công suất nhỏ, chỉ xử lý được khoảng1/5 rác thải tại thành phố này
Các bể biogas tại các hộ gia đình có tác dụng tốt trong qui mônhỏ, nhưng vốn đầu tư cao so với thu nhập của một hộ dân, nên khôngphải hộ nào cũng có
Lạng Sơn là một ví dụ tốt về xử lý rác thải đô thị, nhưng cầnmột quĩ đất rất lớn để chôn lấp Do đó, mô hình này không phù hợpvới các đô thị khác vì chiếm nhiều đất
Một số nghiên cứu đã xây dựng lò đốt rác thí nghiệm Nhưnghoạt động không hiệu quả, sự cháy không được duy trì, vì các chất dễcháy như giấy vụn, que cành, gỗ dăm, plastic, đã được người bới ráclấy đi gần hết
Chính vì các lẽ đó có thể thấy ở nước ta rác thải nhiều và cácbiện pháp xử lý hiện hành chưa hiệu quả, nên người ta phải nghiêncứu và tìm kiếm các giải pháp khác hiệu quả hơn, triệt để hơn Đó là
lý do hiện nay đã xuất hiện một số nghiên cứu về công nghệ xử lý rácthải rắn đô thị kết hợp sản xuất điện năng
Tuy những nghiên cứu và hiểu biết về công nghệ này còn rấtmới nhưng ở nước ta bước đầu cũng đã có một số thành công trong -
30
Trang 31mô hình xử lý nước thải áp dụng phương pháp phân huỷ tạo khímêtan như: mô hình ở nhà máy bia Hà Nam, mô hình ở nhà máy giấyYên Bình tỉnh Yên Bái Những mô hình kể trên đều được các nhàkhoa học thuộc Viện Vật lý điện tử nghiên cứu và triển khai.
Từ những nghiên cứu trên lý thuyết và trong phòng thí nghiệm,kết hợp với kinh nghiệm thực tế trong khi xây dựng các công trình xử
lý nước thải có thể nói chúng ta đã tạo ra được những cở sở tốt cho sựphát triển công nghệ phân huỷ kỵ khí trong xử lý chất thải rắn đô thị
III PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ KẾT HỢP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG.
1 Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA)
1.1 Khái niệm CBA
Bất kỳ một hoạt động trong cuộc sống, trên mọi lĩnh vực chúng
ta luôn đứng giữa hai điều kiện để so sánh đó là: cái được và cái mất
Từ sự so sánh người ta sẽ lưa chọn một phương án tối ưu Tổng hợplại khi so sánh giữa thuận lợi và khó khăn là sự so sánh giữa lợi ích vàchi phí Trong thực tế người ta quy đổi những cái lợi và cái mất vềtiền tệ, từ đó đưa ra các chỉ tiêu so sánh Đó là bản chất của phươngpháp phân tích chi phí và lợi ích
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi hoạt động và quyết định phụthuộc vào từng chủ thể kinh tế khác nhau Trên góc độ cá nhân (như -
31
Trang 32các nhà đầu tư, doanh nghiệp,…) mục tiêu hàng đầu và chi phốinhững quyết định của họ là lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận Khi lợinhuận cao cá nhân sẽ quyết định đầu tư.
Cá nhân thường sử dụng phương pháp phân tích tài chính trong
hỗ trợ ra quyết định trên cơ sở cân nhắc các dòng tiền thu và chi
Tuy vậy, không phải tất cả sự đầu tư hay những hoạt động củanhà đầu tư đều mang lại lợi ích cho nền kinh tế trên phương diện xãhội và môi trường, thực chất nó chỉ mang lại lợi ích cho nhà đầu tưhay cho một số cá nhân Hay nói cách khác cá nhân thường chống lạichi phí và lợi ích của xã hội
Trên góc độ nhà quản lý vĩ mô, việc xem xét những hoạt động
và quyết định kinh tế không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận mà còn phảinhìn thấy và phân biệt được lợi ích - chi phí của cá nhân và xã hội
Do đó, các nhà quản lý phải đánh giá các yếu tố tích cực và tiêucực những hoạt động kinh tế một cách đầy đủ trên các phương diện xãhội và môi trường Từ đó giúp cho các nhà quản lý có thẩm quyền raquyết định có cho phép hay không đối với một dự án, một chiến lượchay một chính sách kinh tế phát triển kinh tế Như vậy, CBA là phântích chi phí – lợi ích từ quan điểm xã hội khác với phân tích tài chính(Thu – Chi) từ quan điểm cá nhân
-32
Trang 33Như vậy, CBA là phương pháp dùng để đánh giá các hoạt độngphát triển trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường.
1.2 Mục đích của CBA
Mục đích quan trọng nhất và rộng lớn nhất là hỗ trợ cho việc ranhững quyết định có tính xã hội Cụ thể thông qua việc thực hiệnCBA để phân bổ hiệu quả hơn nguồn lực của xã hội
Trong đề tài này mục đích của CBA là làm rõ những chi phí vàlợi ích mở rộng của mô hình dự án xử lý chất thải rắn đô thị kết hợpsản xuất điện năng tại bãi rác Nam Sơn, , từ đó xem xét tính hiệu quảcho việc ứng dụng mô hình xử lý rác thải này tại Hà Nội nói riêng vànước ta nói chung
2 Quy trình thực hiện phân tích chi phí - lợi ích (CBA):
Để tiến hành phương pháp phân tích chi phí chúng ta phải qua các bước sau:
Bước 1: Quyết định lựa chọn lợi ích chi phí thuộc đối tượng nào.
Phân định chi phí và lợi ích là bước đầu tiên có vai trò hết sức quan trọng vì đây là một cơ sở để có một cách nhìn khá toàn diện đối với phân bổ nguồn lực và mỗi một sự phân định sẽ có một thay đổi vềchi phí và lợi ích
Bước 2: Lựa chọn danh mục các dự án thay thế.
-33
Trang 34Bất cứ một dự án nào trong thực tế thì cũng có nhiều phương án lựa chọn khác nhau Khi chúng ta có nhiều phương án lựa chọn khác nhau thì cơ hội để lựa chọn phương án tối ưu nhất là lớn nhất Tuy nhiên tuỳ dự án mà có hoặc không có bước này.
Bước 3: Liệt kê các ảnh hưởng vật chất và lựa chọn các chỉ
số đo lường.
Trong phân tích các dự án đặc biệt là các dự án liên quan tới môi trường, đánh giá những xu hướng tiềm năng từ đó xem xét các chỉ số để tính toán là vấn đề đòi hỏi một kỹ thuật cao đối với người làm phân tích
Những tác động tới môi trường của các dự án thường là những ảnh hưởng vật chất, nhưng trong thực tế việc mà chúng ta nhận dạng được và phát hiện đầy đủ những tác động đó là vấn đề không đơn giản
Bước 4: Dự đoán và tính toán những khả năng biến đổi về lượng và ảnh hưởng của chúng suốt quá trình tồn tại của dự án.
Trên cơ sở liệt kê và xác định những ảnh hưởng tiềm năng vấn
đề quan trọng là những ảnh hưởng tiềm năng đó phải được lượng hóa như thế nào qua các nguyên lý và các chỉ tiêu.Tóm lại, từ dự báo tiềm năng của các chỉ tiêu tiềm năng CBA phải lượng hóa các tác động
Bước 5: Lượng hoá bằng tiền đối với tất cả các tác động.
Trên cơ sở bước 4 chúng ta đã quy đổi về lượng, đến bước này chúng ta phải tiền tệ hóa số lượng đó từ đó đưa vào mô hình phân tích
và tính toán
-34
Trang 35Khi tiền tệ hóa chúng ta gặp phải 2 khả năng sau:
+ Những lượng hay những chỉ số về số lượng có giá trên thị trường
+ Những lượng hay những chỉ số về số lượng không có giá trên thị trường Tuy nhiên hoàn toàn có thể xác định được thông qua giá tham khảo
Bước 6: Quy đổi giá trị tiền tệ
Quy đổi giá trị tiền tệ là việc bất cứ một dự án nào cũng phải làm bởi lẽ tất cả các dự án được tiến hành trong thời gian nhiều năm Nhưng khi chúng ta đưa vào tính toán lại xác định cho một năm cụ thể do đó phải quy đổi tất cả các dòng tiền tệ về thời điểm tính toán
Thời điểm để so sánh thường tính là năm dự án bắt đầu hoạt động Các giá trị về lợi ích và chi phí khi đưa về thời điểm này so sánh được gọi là giá trị hiện tại
Để quy đổi các giá trị hiện tương lai về giá trị hiện tại, cần lựa chọn tỷ lệ chiết khấu thích hợp Khi xác định tỷ số này đơn giản nhất
là căn cứ vào hệ số do chính phủ đề ra có thể lấy từ phòng quản lý ngân sách, từ Bộ tài chính hay kho bạc,… Trong khi tính toán hệ số này còn phải được điều chỉnh theo lạm phát
Giả sử FV là giá trị tương lai sau t năm với lãi suất hàng năm là
r (r được tính bằng %) thì giá trị hiện tại thu được là:
PV = r t
FV
) 1 (
Trong đó: t : là thời gian hoạt động của dự án, t= 1, 2, … n năm -
35
Trang 36r: là tỷ lệ chiết khấu.
Bước 7: Tổng hợp các kết quả và chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả
Bước này được tiến hành sau khi đã tính toán quy đổi giá trị tiền
tệ Việc đánh giá hiệu quả căn cứ vào 3 chỉ tiêu: NPV, IRR, B/C Đây
là bước cơ bản để khẳng định dự án có nên tiến hành hay không
Bước 8: Phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy của dự án là phân tích khả năng đối phó của
dự án khi có những diễn biến có thể xảy ra, chẳng hạn như sự thay đổilãi suất hay lạm phát,…
Bước 9: Tiến cử những phương án có lợi ích cho xã hội lớn nhất
Trên cơ sở phân tích ở bước 7 và 8 chúng ta sắp xếp các thứ tự
ưu tiên đối với từng phương án lựa chọn Phương án nào có tính khả thi nhất thì sắp xếp ưu tiên nhất và cứ như vậy cho đến các hết đối vớitất cả các phương án đã tính toán theo thứ tự ưu tiên giảm dần
Phương án được ưu tiên nhất trong tiến cử là phương án đem lại lợi ích cao nhất và hiệu quả nhất cho xã hội Tất nhiên không một phương án nào có thể đạt được yêu cầu ở tất cả các chỉ tiêu nhưng nhìn chung phương án được ưu tiên sẽ đạt được các chỉ tiêu mong muốn như ý đồ ban đầu đưa ra
3 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá:
-36
Trang 373.1 Giá trị hiện tại ròng (NPV).
1 ) 1 (
1 ) 1 (
1 ) 1 (
SV (Salvage value): Giá trị thanh lý tài sản ở cuối đời
dự án bao gồm cả vốn lưu động đã bỏ ra ban đầu
r : Tỷ lệ chiết khấu
n : Số năm hoạt động cả đời dự án
-37
Trang 38Nguyên tắc quyết định:
Nếu dự án cho NPV 0 thì dự án được coi là khả thi
Nếu dự án cho NPV < 0 thì dự án không khả thi bị loại bỏ
Nếu trong trường hợp một dự án có nhiều phương án mà các phương án này đều cho NPV > 0 phương án nào cho NPV lớn nhất thìđược chọn
3.2 Tỷ suất lợi ích – chi phí (BCR):
n t
t t t
r
EC C C
r
EB B C
B
1 0
1
) 1 (
) (
) 1 (
) (
n: Số năm hoạt động cả đời dự án
Trang 39CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BÃI RÁC NAM SƠN
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÀ NỘI.
Thủ đô Hà Nội có diện tích 92097 km2 bao gồm 9 quân nộithành và 5 huyện ngoại thành Dân số Hà Nội khoảng 3082000 ngườitrong đó 47% nông thôn và 53% thành thị
Trong gần 20 năm đổi mới, kinh tế thủ đô nhanh chóng vượt rakhỏi khủng hoảng, tăng trưởng với tốc độ khá, từng bước phát triển -
39
Trang 40theo hướng bền vững, các thành phần, các ngành, lĩnh vực kinh tế đềuphát triển So với năm 1990, GDP năm 2005 của Hà Nội tăng gấp 5,1lần (mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,45%), thu ngân sáchtăng gấp hơn 50 lần Đời sống nhân dân được cải thiện, GDP bìnhquân đầu người tăng từ 3,25 triệu đồng/người lên 10,04 triệuđồng/người năm 2004 (tăng 3,1 lần), năm 2005 con số này đã là 18,2triệu đồng/người.
Hiện nay Hà Nội đã trở thành trung tâm du lịch của cả nước, làđầu mối phân phối khách cho các địa phương phía Bắc Hàng năm,
Hà Nội đã thu hút được 800 - 900 nghìn khách du lịch Từ năm 1990đến 2005, lượng khách du lịch quốc tế hàng năm bình quân 25%,doanh thu ngoại tệ tăng 29,3%/năm
Hợp tác kinh tế quốc tế tại thủ đô cũng ngày càng được mởrộng Đến năm 2005 Hà Nội đã mở rộng ngoại giao với 180 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
Với tốc độ phát triển nhanh, toàn diện, Hà Nội đã thực sự trởthành một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước Mặc dù chỉchiếm 3,8% dân số,0,3 diện tích cả nước năm 2005, thành phố đã làm
ra trên 8% GDP, trên 10% giá trị sản lượng công nghiệp, trên 8% kimngạch xuất khẩu, chiếm 13,8% tổng thu ngân sách Nhà nước, gần11% vốn đầu tư toàn xã hội của cả nước; bình quân đầu người đạt gầngấp 2,4 lần cả nước
II TÌNH HÌNH PHÁT SINH VÀ THU GOM RÁC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
-40