Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức...6 CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ CỦA TRIẾT HỌC VỚI NGÀNH XÂY DỰNG...8 2.1... LỜI NÓI ĐẦUTrong q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TP HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC LIÊN HỆ ĐẾN NGÀNH
XÂY DỰNG
Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học
NGÔ THỊ THẢO
MSHV: ………
TP HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 2
1.1.Vật chất 2
1.1.1 Định nghĩa vật chất 2
1.2 Ý thức 4
1.2.1 Kết cấu của ý thức 4
1.2.2 Nguồn gốc của ý thức 4
1.2.3 Bản chất của ý thức 5
1.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 6
CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ CỦA TRIẾT HỌC VỚI NGÀNH XÂY DỰNG 8
2.1 Nguồn gốc và cơ sở ngành 8
2.2 Đặc thù cơ bản của ngành 8
2.3 Mối liên hệ giữa triết học và ngành khoa học Xây dựng 9
CHƯƠNG III : QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH XÂY DỰNG HIỆN NAY 11
3.1 Quá trình phát triển 11
3.1.1 Lịch sử phát triển 11
3.1.2 Các giai đoạn phát triển 11
3.2 Nhân tố của ngành 12
3.2.1 Xã hội: 12
3.2.2 Chính trị: 13
3.2.3 Kinh tế: 13
3.2.4 Khoa học kỹ thuật và công nghệ: 14
3.3 Những thành tựu và thách thức đối với ngành xây dựng tại Việt Nam 14
3.3.1 Thành tựu 14
3.3.2 Thách thức 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Lênin và các khoa học là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể làđiều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học Triết học nói chung, Mác-Lênin nói riêng cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng
Mác-sự phát triển của các khoa học cụ thể Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọngtrong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ
Ngày nay khi đời sống kinh tế của chúng ta ngày càng phát triển thì cuộcsống sinh hoạt của con người ngày càng được coi trọng hơn Việc thưởng thứccuộc sống không chỉ dừng lại ở việc đủ nữa mà bây giờ nhu cầu của con người sẽ
nâng lên một tầm cao hom sự đầy đủ là tỉnh thẩm mĩ, mọi thứ phải đẹp, phải sang
trọng Chính vì vậy mà vai trò của ngành Xây dựng ngày càng trở lên quan trọnghơn Nhu cầu về xây dựng ngày càng lớn mà ngành Xây dựng là ngành có tính thờiđại; mỗi năm, mỗi tháng lại có các công trình mới và nhu cầu của con người cũngđược cập nhật liên tục theo sự phát triển đó mà theo Chủ nghĩa Mác – Lênin đãkhẳng định mối quan hệ giữ triết học và khoa học tự nhiên nói chung ngành xâydựng nói riêng là một tất yếu khách quan.Triết học và ngành xây dựng là nhữnghình thái đặc biệt của nhận thức khoa học, giữa chúng có sự gắn bó chặt chẽ, hữu
cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình vận động và phát triển Mỗibước phát triển quan trọng của khoa học tự nhiên đều kéo theo sự phát triển mớicủa chủ nghĩa duy vật, ngược lại, mỗi một hình thức phát triển mới của triết học lại
có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo, mở đường cho sựphát triển của ngành xây dựng
Khi quy mô và yêu cầu của thị trường thay đổi, nhà đầu tư luôn hướng tớiviệc tìm kiếm, lựa chọn cơ cấu đầu tư danh mục theo các ngành nghề trọng điểm,các doanh nghiệp đầu ngành, có lịch sử phát triển ổn định và có sức cạnh tranhcao Ngành xây dựng luôn có sự phát triển nhanh và ổn định, thu hút rất nhiều sựquan tâm và chiến lược dài hạn của các nhà đầu tư Đổ có thể nắm bắt quá trình vàhiển vọng phát triển của ngành xây dựng, chứng ta cần có sự tìm hiểu kỹ lưỡngcho sự lựa chọn của mình
Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài " Mối quan hệ biện chứng của vật chất và ý thức
liên hệ đến ngành Xây dựng "
Trang 5CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT
Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học, Lênin một mặt muốn chỉ rõ vậtchất là khái niệm rộng nhất ,muốn phân biệt tư cách là phạm tù triết học,là kết quảcủa sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể,với những" hạt nhâncảm tính".Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính
cụ thể có thể cảm thụ được Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được nhữngquan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểuhiện cụ thể của nó [2, tr.61]
Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có, không thể tiêu diệt được, nó tồn tại bênngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức con người, vật chất là một thực tạikhách quan Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ ,"thượng đế"củatôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó,trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và
do đó các các đối tượng vật chất có thật ,hiện thực đó có khả năng tác động vàogiác quan để gây ra cảm giác, và nhờ đó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắmbắt sự vật này Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt củavấn đề cơ bản của triết học
Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh và tồntại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt muốn nhấn mạnhtính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với vật chất ,và mặt kháckhẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người Nó không chỉphân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt CNDVvới nhị nguyên luận [2, tr.63]
Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,
nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội ,cóý nghĩa
Trang 6trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vàovào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới vi mô Nó giúp chúng ta cóthái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động
cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ Vận động có 5 hìnhthức vận động chính là Cơ – Hoá – Lý – Sinh - Xã hội.Các hình thức vận động này
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,một hình thức vận động này thực hiện là tácđộng qua lại với những hình thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồmvận thấp nhưng không thể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thứcvận động thấp
Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chấtkhông vận động ,tức vật chất tồn tại Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sựtồn tại của mình Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau củavật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộctính của nó Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thốnghành tinh khổng lồ
Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác địnhgồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫnnhau gây ra nhiều biến đổi Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bêntrong ,vận động vật chất là tự thân vận động
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoàivật chất Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảotoàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thứcvận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận độngkhác thay thế Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vậtchất thì vĩnh viễn tồn tại
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó khôngloại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có nó thì không
có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng phong phú và đadạng Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng đối của các vật thể ,khảnăng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất Nếuvận động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định ,là sự bảotoàn tính quy định sự vật hiện tượng Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vậnđộng trong thăng bằng ,trong sựổn định tương đối Trạng thái đứng im còn đượcbiểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biếnđổi ,chỉ là tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định Vận động riêngbiệt có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cânbằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi, chuyển hoá nhau
Trang 71.2 Ý thức
1.2.1 Kết cấu của ý thức
Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm vềý thưc theo các trường phái khácnhau Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sảnphẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua laođộng và ngôn ngữ Mác nhấn mạnh rằng tinh thần ý thức là chẳng qua chỉ là cái vậtchất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó Ý thức là mộthiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chítrong đó tri thức là quan trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hìnhthành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhậnthức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâuvào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ýthức nhờđó mà tăng hơn Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng có ýnghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin…Quan điểm đóchính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng.Tuy nhiên việc nhấnmạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vaitrò tình cảm ý chí [2, tr.71]
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độclập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự khẳng định cáitôi riêng biệt tách rời xã hội Trái lại CNDVBC tự ý thức là ý thức hướng về nhậnthức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài Khi phản ánh thếgiới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối lập mình với thế giới đó là sựnhận thức mình như là một thực thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành viđạo đức và vị trí xã hội Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hộiđòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêuchuẩn mà xã hội đề ra Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp chocon người tựý thức bản thân
1.2.2 Nguồn gốc của ý thức
• Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khixuất hiện con người và bộ óc Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nóichung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện conngười ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lýthần kinh bộ não người Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vìý thức là chứcnăng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức Sựphụ thuộc ý thức vào hoạt động bộnão thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiênkhông thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vìóc chỉ là cơquan phản ánh Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh ,nóphát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên Sự xuất hiện của xã hộ loài ngườiđưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liềnvới việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội
• Nguồn gốc xã hội
Trang 8Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con ngườidưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH
Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tựnhiên ,thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người.Nhờ nó mà conngười và xã hội loài người mới hình thành và phát triển.Lao động là phương thứctồn tại cơ bản đầu tiên của con người ,đồng thời ngay từđầu đã liên kết con ngườivới nhau trong mối quan hệ khách quan, tất yếu; mối quan hệ này đến lượt nó nảysinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu"cần phải nói vớinhau một cái gì" Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữđược coi là cái vỏ vậtchất của tư duy,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả năngbiểu hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác động tới giácquan của con người và gây ra cảm giác Nhờ có nó mà con người có thể giaotiếp ,trao đổi,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông qua đó màý thức cá nhân trởthành ý thức xã hội ,và ngược lại Chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá tức làquá trình hình thành thực hiện ý thức ,chính nhờ nó mà con người có thểđi sâu vàobản chất của sự vật ,hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn
bộ quá trình phát triển lịch sử
1.2.3 Bản chất của ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõ ý thức có bản tính phảnánh, sáng tạo và bản tính xã hội Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tinbên ngoài, là biểu thị nội dung được từ vật gây tác động vàđược truyền đi trong quátrình phản ánh Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phảilấy kháh quan làm tiền đề, bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới kháchquan [2, tr.73]
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo cải biến
và thống trị tự nhiên của con người vàđã trở thành mặt không thể thiếu của hoạtđộng đó Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cáchthụđộng nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu nhập thông tin gắn liềnvới quá trình xử lý thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng giántiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động, tác động vào thế giới đó Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời,không cóphản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh làđiểm xuất phát là cơ sở của sáng tạo
Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin,là sự thống nhất mặt khách quan chủquan của ý thức
Ý thức chỉđược nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của conngười.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội ý thứctrước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gìđang diễn ra ởthế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội.Dođóý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồntại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng nóý thức xã hội ,Bản tính
xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thốngnhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vậtchất và nhân tốý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người
Trang 91.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Lênin đã chỉ ra rằng, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đốitrong phạm vi hạn chế:trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thứcluận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là cái có sau [2, tr.77] Ngoàigiới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối Nhưvậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhấtcủa thế giới cần có sựđối lập tuyệt đối giữa vật chất vàý thức trong khi trả lời cáinào có trước cái nào quyết định Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bảntrong triết học ,lẫn giữa vật chất vàý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duyvật Song sự đối lập giữa vật chất vàý thức chỉ là sự tương đối như là những nhân
tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là hoạtđộng thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên ,thâm nhậpvào sự vật, không có khả năng tự biến thành hiện thực, nhưng thông qua hoạt độngthực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiệnthực hoá những mục đích mà nóđề ra cho hoạt động của mình Điều này bắt nguồn
từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bảntính đó mà chỉ có con người cóý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tựnhiên ,bắt nó phục vụ con người Như vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vậtchất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức Mặtkhác đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chấtvàđời sống tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú vàđadạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá Khẳng định tính tương đốicủa sự đối lập giữa vật chất vàý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố cóvai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người Trái lại, Triết họcMác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chấtvàý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhấtcủa nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức
Trong hoạt động của con người, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờcũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt động của conngười vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham giavào hoạt động của con người, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinhthần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp
mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổsung cụ thể hoá mục đích chủ trương biện pháp đó Hoạt động nhận thức của conngười bao giờ cũng hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầusống Hơn nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụthuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện cókhẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết học Mác-Lêninđồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần,tính năng động chủquan Nhân tốý thức có tác động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất Hơnnữa ,trong hoạt động của mình ,con người không thể tạo ra các đối tượng vậtchất,cũng không thể thay đổi được những quy luật vận động của nó Do đó,trongquá trình hoạt động của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ
có thể đề ra những mục đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép
Trang 10CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ CỦA TRIẾT
HỌC VỚI NGÀNH XÂY DỰNG
2.1 Nguồn gốc và cơ sở ngành
Khoa học tự nhiên, cũng giống như triết học, sự ra đời và phát triển cảu nó được dựa trên cơ sở phát triển và đời sống vật chất-kinh tế xã hội và ngay từ đầu khoa học tự nhiên cũng đã phải có sự liên hệ chặt chẽ hữu cơ với triết học, nó đượcxây dựng trên cơ sở nhận thức luận duy vật chính triết học cung cấp,trang bị cho khoa học tự nhiên thế giới quan, phương pháp luận để nghiên cứu khoa học, khám phá thế giới hiện thực Với tư cách là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất, triết học đã đi trước khoa học tự nhiên trên nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực và bằng những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, triết học đã không ngừng vạch đường đi cho khoa học tiến lên và giúp cho khoa học tự nhiên có phương pháp, công cụ nhận thức để giải quyết, khắc phục những khó khăn, chứng ngại trên con đường phát triển của mình
Khoa học tự nhiên nói chung và ngành khoa học xây dựng nói riêng là một ngành nghiên cứu tạo ra những sản phẩm đặc trưng cho mỗi giai đoạn lịch sử phát triển nhất định Ngành xây dựng tạo ra những sản phẩm có tính riêng biệt, đặc thù Mỗi sản phẩm củangành xây dựng là mang trong đó một nét riêng, thể hiện đặc trưng của mộtvùng miền, khu vực, nền văn hóa, dân tộc, quốc gia và vị trí địa lý tựnhiên
Mặc dù ngành khoa học xây dựng là công việc của các nhà nghiên cứu khoa học xây dựng, nhưng ngành khoa học xây dựng thì không thể được tạo ra thuần túy
từ các thành tựu của ngành khoa học xây dựng Ngành khoa học xây dựng là một công trình sáng tạo khoa học vượt ra ngoài khuôn khổ của bản thân ngành khoa học xây dựng, nó đòi hỏi dựa trên tính gợi mở của ý tưởng và phong thái tư duy triết học nói riêng, của những giá trị phải gắn liền với những nhu cầu và khả năng hoạt động thực tiễn của xã hội đó Đối với các ngành khoa học xây dựng tư duy triết học góp phần làm sáng tỏ những khả năng và triển vọng phát triển của các ngành khoa học xây dựng, tạo tiền đề để xây dựng những lý thuyết chuyên sâu, vạch ra những mối quan hệ để xây dựng những ngành khoa học bổ trợ cho nhau
nó củng cố mối quan hệ giữa các nhà khoa học xây dựng hiện đại và các nhà triết học duy vật biện chứng Còn đối với thực tiễn và văn hóa, nó trang bị cho con người những công cụ tinh thần để hoạch định các chiến lược lâu dài ứng xử với thếgiới xung quanh, tạo nên bức tranh sinh động và văn hóa ổn định đến tư duy ngànhkhoa học xây dựng của xã hội
2.2 Đặc thù cơ bản của ngành