1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luan van thac si phuong phap van

107 938 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những biện pháp tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chương
Tác giả Lê Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Viết Chữ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Phương pháp dạy học Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 625 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hoạt động dạy học nhằm tích cực hoạt động hoá tự học cho HS Chơng 2: Tự học trong môn văn và việc tích cực hóa hoạt động tự học cho HS THPT qua bài học tác phẩm văn chơng... Liên t

Trang 1

Lê thị thu hằng

những biện pháp tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ

Trang 2

Tác giả luận văn xin đợc bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy, cô.

Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 10 năm 2009 Tác giả luận văn

Lê Thị Thu Hằng

Lê Thị Thu Hằng

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan : Luận văn thạc sĩ với đề tài “Những biện pháp tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai.

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng cá nhân mình !

Hà Nội, tháng 10 năm 2009

Ngời cam đoan

Lê Thị Thu Hằng

Trang 4

Nh÷ng ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n

Gi¸o viªn : GV

Häc sinh : HS

Trung häc phæ th«ng: THPT

S¸ch gi¸o khoa : SGK

Trang 5

1.2.1 Quan niệm về sự tích cực trong tự học của HS THPT 221.2.2 Tầm quan trọng của việc tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT 241.2.3 Những điều kiện để tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT 261.2.4 Những hoạt động dạy học nhằm tích cực hoạt động hoá tự học cho HS

Chơng 2: Tự học trong môn văn và việc tích cực hóa hoạt động tự học cho HS THPT qua bài học tác phẩm văn chơng

Trang 6

2.2.6 Hớng dẫn HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả lĩnh hội tác phẩm 56

Phần mở đầu

Trang 7

Cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Cái quan trọng nhất là rèn luyện bộ

óc, rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp học tập, phơng pháp tìm tòi, phơng pháp vận dụng kiến thức, phơng pháp vận dụng tốt nhất bộ óc của mình.” GS Phan Trọng Luận khi chủ biên sách “Phơng pháp dạy học văn” cũng viết: “Muốn tác phẩm trở thành một yếu tố thực sự trong cơ chế dạy học văn, tác phẩm phải chuyển hoá từ một tác phẩm bên ngoài thành đối tợng hứng thú, quan tâm của bản thân HS” và

“ Trong dạy học văn, nếu cái chủ quan của HS cha gặp cái chủ quan của nhà văn thì cha có hiệu quả học văn” Muốn thực hiện đợc những điều trên, ta phải phát huy đợc năng lực tự học cho các em, “chúng ta phải có cách dạy khác, phải dạy cho HS biết suy nghĩ bằng trí óc của mình” (Nghiên cứu giáo dục, số 28, 1973)

Định hớng đổi mới phơng pháp dạy và học đã đợc xác định trong Nghị quyết Trung ơng 4 khoá VII (1 – 1993), Nghị quyết Trung ơng 2 khoá VIII (12 – 1998) và

đợc cụ thể hoá trong Luật Giáo dục (12 – 1998) cũng nh trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo Luật Giáo dục, điều 24.2 đã ghi: “Phơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Nhà trờng phải giúp HS thay đổi t tởng và phơng pháp học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại ngày nay Muốn học tập không ngừng, học tập cả đời thì phải biết cách

tự học, biết phát huy cao độ tiềm năng của bản thân Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt lõi thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại

Nếu chúng ta tiếp cận đợc mục đích của giáo dục “ai ai cũng đợc học hành và

đ-ợc học thờng xuyên suốt đời” thì nền giáo dục sẽ tạo ra đđ-ợc một nguồn sức mạnh to

Trang 8

lớn Chính vì vậy, mục đích cuối cùng phải đạt của giáo dục là HS phải biết cách tự học.

1.2 Do sự thay đổi chơng trình SGK với việc nhấn mạnh vào tự học.

Cốt lõi của cuộc cách mạng phơng pháp hiện nay là xây dựng năng lực tự học cho ngời học Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, sự thách thức trớc nguy cơ tụt hậu đang đòi hỏi đổi mới giáo dục, trong đó căn bản là đổi mới phơng pháp dạy

và học Đây không phải vấn đề của riêng nớc ta mà là vấn đề đang đợc quan tâm ở mọi quốc gia trong chiến lợc phát triển nguồn nhân lực

Hiện nay, giáo dục nớc ta đã có một số cải cách để nâng cao chất lợng giáo dục, trong đó có việc thay đổi chơng trình SGK Thay vì chú trọng kiến thức, đi theo lôgic của ngời soạn, các nhà biên soạn đã chú trọng tới hệ thống kĩ năng và logic hiểu của

HS Cách trình bày sách và hệ thống câu hỏi đều nhằm mục đích giúp HS có thể tự học qua việc tự đọc SGK Giảng dạy tác phẩm văn chơng đợc thay thế bằng đọc hiểu tác phẩm văn chơng Chính vì vậy, dạy học văn cũng phải thay đổi phơng pháp cho phù hợp SGK, trong đó chú trọng tới việc hình thành thói quen tự học cho HS

1.3 HS THPT ít có thói quen tự học Các giờ dạy học tác phẩm văn chơng

tự sự hiện đại cha phát huy đợc năng lực tự học của HS.

HS THPT cha ý thức đợc tầm quan trọng của tự học Hiện nay, trong nhà trờng THPT đang xảy ra thực trạng HS không hứng thú với học tập hoặc mải mê học thêm ở ngoài, không có thời gian tự học ở trên lớp, các em cũng bị biến thành những “cái máy nghe”, không đợc tự mình tiếp cận kiến thức Điều này là mối nguy hiểm tiềm tàng Nếu HS không tự học thì kiến thức cung cấp bao nhiêu cũng là vô ích

Thực tế dạy học văn nói chung và dạy tác phẩm tự sự hiện đại nói riêng vẫn chịu

ảnh hởng nặng nề của phơng pháp giáo điều, cha phát huy đợc năng lực tự học Dạy học văn vẫn theo lối thuyết trình, kết quả đánh giá tuỳ thuộc vào khả năng tái hiện lợng kiến thức nhiều hay ít theo lời thầy giảng hoặc theo SGK, khả năng độc lập, tìm tòi của

HS không có cơ hội phát triển

ở bài học tác phẩm văn chơng tự sự hiện đại, phơng pháp thuyết trình truyền thống vẫn chiếm đa số các bài dạy Chính vì vậy, dẫn tới tình trạng HS thờ ơ với bài giảng, thụ động, ngại t duy, làm mất khả năng tự học, tự nghiên cứu Điều đó đòi hỏi

Trang 9

phải đổi mới phơng pháp dạy học nhằm khắc phục tình trạng thụ động trong tiếp nhận tri thức “Làm thế nào để tiếp cận đợc mục đích của giáo dục? Làm thế nào để phát huy hết tiềm năng, để có khả năng đối mặt đợc với nhiều tình huống và biết làm việc đồng

đội? Trớc những thách thức của thời đại làm thế nào để phát huy đợc năng lực tự học,

tự nghiên cứu của ngời học là những vấn đề cụ thể của bài toán giáo dục.” [6; tr.3]

Vì vậy, đặt vấn đề hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua bài học tác phẩm tự sự hiện đại là việc làm cần thiết, phù hợp với xu thế đổi mới phơng pháp giáo dục Nó đáp ứng mục tiêu giáo dục nh Nghị quyết II của Ban chấp hành Trung ơng

Đảng khoá VIII đã ghi: “Đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp t duy sáng tạo của ngời học, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thờng xuyên và rộng khắp trong toàn dân.”

Tuy thực trạng giáo dục còn nhiều khó khăn nhng ta vẫn có nhiều tiền đề để hiện thực hoá vấn đề luận văn đa ra Về lí luận; tự học đã, đang đợc quan tâm nghiên cứu Dạy HS tự học là một phơng phơng pháp dạy học tích cực, đã xuất hiện và đợc tổng kết ở nhiều quốc gia trên thế giới Về thực tiễn, cả GV và HS đều tiềm tàng sự tích cực, sáng tạo và khả năng tự học

Nh vậy, việc rèn luyện thói quen tự học cho HS THPT qua bài học tác phẩm tự

sự hiện đại nằm trong mục tiêu của giáo dục hiện đại, đồng thời góp phần đổi mới

ph-ơng pháp dạy học văn Từ đó, giúp HS có thói quen tự học, biết vận dụng các kĩ năng

đó vào học tập trong nhà trờng và trong suốt cuộc đời

2 Lịch sử vấn đề

Đã có nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về vấn đề này Điều đó chứng tỏ đây

là vấn đề quan trọng, đã đợc nhiều nền giáo dục lu tâm từ lâu

2.1.ở nớc ngoài

Tại Cộng hoà dân chủ Đức trớc đây, nhóm tác giả do R.Retzke chủ biên đã viết cuốn “Học tập hợp lí” Trong đó, các tác giả đề cập tới vấn đề bồi dỡng năng lực tự nghiên cứu cho HS mới vào trờng Cũng tại đây, trong tài liệu “Nghiên cứu học tập nh thế nào”, tác giả HeBơcSmit – man đã trình bày một số vấn đề về phơng pháp nghiên cứu và tự học để đạt kết quả cao Năm 1982, “Tự học nh thế nào” của Rubakin (Nguyễn Đình Côi dịch) đã ra đời Đây là một tài liệu quý, rất có ích cho bạn đọc trong

Trang 10

việc tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện Sau đó ít lâu, cuốn “Phơng pháp dạy và học tập hiệu quả” của Carl Rogers do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho GV và HS câu hỏi: dạy - học cái gì và dạy - học nh thế nào?

2.2 ở trong nớc

Từ năm 1973, cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã nhắc nhở chúng ta: “Phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sáng tạo, phải xây dựng một phơng pháp giảng dạy văn thích hợp ” Từ đó, quán triệt cách dạy, cách học tích cực hơn, hớng về phía ngời học nhiều hơn

Ngày 6/1/1998, cuộc hội thảo: “Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo”

đợc tổ chức tại Hà Nội Trong hội thảo này, Bộ trởng Bộ Giáo dục & Đào tạo cùng các nhà nghiên cứu, các giáo s đầu ngành đã có những ý kiến, quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học Bộ trởng Nguyễn Thị Bình phát biểu : “Năng lực tự học – tự

đào tạo đều tiềm ẩn trong mỗi con ngời Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo ở trờng lớp với quan tâm tự học tự đào tạo thì đó là con đờng ngắn nhất để tạo ra nội lực cần thiết cho sự phát triển một con ngời và cho đất nớc”

Ngay sau hội thảo, có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, các giáo s về vấn

đề này Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 2/1998 đã đăng tải một số bài viết trong hội

thảo nh: “Tự học – chìa khoá vàng của giáo dục” của GS Phan Trọng Luận, “Vì năng lực tự học sáng tạo của HS” của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân Liên tiếp trong các số tạp chí sau đó là hàng loạt các bài viết về tự học: “Khơi dậy và phát huy năng lực tự học sáng tạo của ngời học trong giáo dục và đào tạo” (Thái Văn Long), “Vị trí của tự học,

tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục và đào tạo” (GS Trần Bá Hoành), “Hồ Chí Minh với vấn đề tự học” (GS Đăng Quốc Bảo) Ngoài ra, xuất hiện một số cuốn sách đề cập tới lĩnh vực này nh “Tôi tự học” (Nguyễn Duy Cần), “Tự học là một nhu cầu của thời đại” (Nguyễn Hiến Lê), “Luận bàn về kinh nghiệm tự học” (GS Nguyễn Cảnh Toàn) Các cuốn sách này đã đúc kết kinh nghiệm quý báu của các tác giả về tự học

Sau khi tạp chí “Tự học” của trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học ra đời, có nhiều nhà khoa học và công trình nghiên cứu đã tham gia luận bàn về vấn đề này nh:

“Quá trình dạy tự học” (Nguyễn Cảnh Toàn), “Dạy học giải quyết vấn đề” (Vũ Văn Tảo), “Phơng pháp giáo dục tích cực lấy ngời học làm trung tâm” (Nguyễn Kì) Các tác

Trang 11

giả đã cung cấp lí thuyết về tự học, thiết kế một số bài học cụ thể, tuy nhiên các cuốn sách còn nặng về lí thuyết mà cha đi vào biện pháp cụ thể Năm 2002, GS Nguyễn Cảnh Toàn cho xuất bản cuốn “Học và dạy cách học” nhằm cụ thể hoá lí thuyết của cuốn “Quá trình dạy tự học”.

Ngoài ra, trong cuốn “áp dụng dạy và học tích cực trong môn văn học”, nhóm tác giả: GS Trần Bá Hoành, TS Nguyễn Trí, PGS Cao Đức Tiến, TS Nguyễn Trọng Hoàn đã nhấn mạnh : nội dung dạy học phải tập trung vào HS, không chỉ quan tâm tới

lí thuyết mà còn phải chú trọng các kĩ năng thực hành vận dụng kiến thức, năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn

GS Phan Trọng Luận cũng viết một số bài về vấn đề tự học: “Tự học – chuyện

cũ mà mới”, “Dạy cho sinh viên tự học và học sáng tạo” Các bài viết đã nêu lên sức mạnh to lớn của tự học với mọi ngời và các biện pháp giúp sinh viên tự học

Nh vậy, có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về tự học Tuy nhiên, hầu hết các bài viết đều nặng về lí thuyết, cha đi cụ thể vào tìm hiểu biện pháp giúp HS tự học trong giờ tác phẩm văn chơng Sau khi khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy “Những biện pháp tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng” là vấn đề mới, cha có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu

3 Mục đích nghiên cứu

Xác lập các hoạt động, những biện pháp tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng” Qua đó, góp phần nâng cao chất lợng dạy học văn ở nhà trờng phổ thông

4 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: Những biện pháp tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng

T liệu: trong nớc

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng của việc tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng

Trang 12

- Đề xuất biện pháp để tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng.

- Thể nghiệm vận dụng các biện pháp tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng

6 Phơng pháp nghiên cứu

- Tổng hợp lí luận

- Phân tích

- Thực nghiệm

7 Đóng góp của khoá luận

Góp phần đổi mới phơng pháp dạy học văn ở trờng THPT

Chỉ ra những thao tác cụ thể để GV thực hiện những biện pháp tích cực hoá hoạt

động tự học của học sinh trung học phổ thông qua giờ học tác phẩm văn chơng

8 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Khoá luận gồm 3 chơng:

Chơng 1: Tự học và vấn đề tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT

Chơng 2: Tự học trong môn văn và việc tích cực hóa hoạt động tự học cho HS THPT qua bài học tác phẩm văn chơng

Chơng 3: Thiết kế thể nghiệm bài học tác phẩm văn chơng

Phần Nội dung

Ch ơng 1

Tự học và vấn đề hình thành thói quen tự học cho HS THPT

Trang 13

1.1 Tự học

1.1.1 Một số quan niệm tiêu biểu về tự học

Tự học là gì? Các nhà nghiên cứu: Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Trọng Luận, Nguyễn Trọng Hoàn, đều cố gắng đi tìm một kiến giải thoả đáng về khái niệm này Nhóm 1: Có tác giả cho rằng tự học là một hình thức tổ chức dạy học Hoạt

động tự học có thể diễn ra dới sự tổ chức, điều khiển của GV nh trong các PP dạy học tích cực hoặc có thể diễn ra dới sự điều khiển gián tiếp của GV nh một hình thức tổ chức dạy học trong mối quan hệ với các hình thức khác

Nhóm 2: Có tác giả lại xem hoạt động tự học nh là một phơng thức tự đào tạo, tự nâng cao trình độ học vấn của ngời học PGS Lê Khánh Bằng cho rằng: “Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học” TS Hà Thị Đức khẳng định: “Tự học là hình thức hoạt

động cá nhân, do bản thân ngời học nỗ lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập trên lớp hay ngoài lớp , có thể diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trờng và trong suốt cả cuộc đời” [14, tr.12] TS Lê Ngọc Trà cho rằng bản chất của tự học là tự làm việc với chính mình, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn bè, với nhóm và đợc thầy khơi gợi, h-ớng dẫn

Đây đều là các ý kiến đúng về khái niệm tự học Nó cho ta cái nhìn rõ hơn về

khái niệm này để từ đó lấy làm cơ sở xây dựng phơng pháp dạy học tích cực

1.1.2 Khái niệm tự học

Trong hệ thống ý kiến nh trên, tác giả luận văn nhất trí với hệ thống ý kiến thứ hai ở đó, ta xem tự học nh một phơng thức tự đào tạo Có thể lấy ý kiến của Giáo s Nguyễn Cảnh Toàn để chính xác hoá khái niệm này: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và có khi…cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (nh trung thực, nhẫn nại, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại,…biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.” [15; tr.59-60)

Nh vậy, để sử dụng hình thức tự học, ngời học chủ yếu phải tự học bằng SGK, các tài liệu học tập liên quan và kế hoạch, điều kiện, phơng tiện của mình để đạt đợc mục

Trang 14

tiêu học tập Bản chất của nó là ngời học biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Tự học có những đặc điểm sau [8; tr.9]:

• Tự học có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân

• Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học

3 Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Đây là một chu trình liên tục, diễn ra theo hình xoắn ốc mà ở đó điểm kết thúc của chu trình này là điểm khởi đầu của chu trình khác Sau mỗi chu trình kiến thức của ngời học lại đợc nâng lên một tầm mới

Tự học có các mức độ nh sau :

Mức độ 1: Có SGK và có GV giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần GV và

HS nhìn mặt nhau và có thể trao đổi thông tin trực tiếp bằng lời nói trực tiếp, chữ viết trực tiếp ngay trên bảng, trên giấy, bằng ánh mắt, nét mặt, cử chỉ Bằng hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc, HS học giáp mặt với GV trên lớp và về nhà tự học có hớng dẫn Đây là mức độ tự học đơn giản nhất

Mức độ 2: Có SGK và có GV ở xa hớng dẫn bằng tài liệu hoặc các phơng tiện viễn thông khác Hớng dẫn tự học chủ yếu là hớng dẫn t duy, hớng dẫn tự phê bình trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Đây là tự học có hớng dẫn

Mức độ 3: Có SGK rồi ngời đọc tự đọc lấy mà rút ra kiến thức, kinh nghiệm về t duy HS phải tự mình vận dụng nội lực của bản thân để giải quyết công việc học tập

Đây là tự học ở mức độ cao nhất

Tóm lại, tự học là hoạt động của cá nhân ngời học Xác định rõ điều này để ta thấy rõ hơn vai trò chủ động của ngời học Dạy học dù có hay đến đâu cũng không thể thay thế đợc việc tự học của học sinh GV giỏi đến mấy cũng không thể làm hộ học

Trang 15

sinh Tự học cũng là công việc khó khăn, phải trải qua nhiều mức độ, nhiều đòi hỏi Phấn đấu đạt đợc mức độ tự học cao nhất là mục tiêu cần đạt tới của ngời học.

1.1.3 ý nghĩa của tự học đối với mỗi ngời

Tự học có vai trò quan trọng với con ngời Lịch sử đã chứng minh rằng có nhiều tấm gơng thành công do tự học Các danh nhân, nhà văn hoá, nhà chính trị, nhà khoa học lớn thành công đều do tự học Bác Hồ đã từng căn dặn chúng ta: “ Cách học tập, phải lấy tự học làm cốt, phải biết tự động học tập ” Lênin nói: “ Học, học nữa, học mãi” Anhxtanh cũng nói: “ Kiến thức chỉ có đợc qua t duy của con ngời ” Gibbon khẳng định: “Mỗi ngời đều phải nhận hai thứ giáo dục, một thứ do ngời khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn - do chính mình tạo lấy.”

Tự học là con đờng khắc phục nghịch lí: Học vấn thì vô tận mà tuổi học đờng thì

có giới hạn Dù cố gắng thì thời gian ngồi trên ghế học đờng cũng có giới hạn nghiêm ngặt của nó Không phải ai cũng có điều kiện học tập chính quy ngay lập tức Tự học,

tự bổ túc kiến thức, cập nhật hoá thông tin là con đờng tất yếu Nếu không tự mình sẽ vô hiệu hoá chính mình

Tự học là con đờng cứu giúp cho mỗi con ngời trớc mâu thuẫn giữa khát vọng học vấn cao đẹp với hoàn cảnh ngặt nghèo của cuộc sống cá nhân Không phải ai cũng

đợc may mắn đến trờng Vậy họ phải lấy tự học để bù đắp Nhiều vĩ nhân đã thành đạt

từ trong cuộc đấu tranh vơn lên bằng con đờng tự học

Tự học là con đờng thử thách, rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi ngời trên con đờng lập nghiệp Không ai thành đạt mà không có chí lớn Tự học là biểu hiện chí lớn lập nghiệp của mỗi con ngời trên con đờng hoà nhập vào cộng đồng Có nhiều ngời thành đạt nhờ tự học nh các giáo s, nhà giáo nhân dân Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Trí Viễn, Lê Đình Kị, Có ng… ời là giáo s danh tiếng nhng vốn liếng chỉ bắt đầu từ lớp mời

Có ngời cha hề đi tu nghiệp tại nớc ngoài lần nào nhng kết quả tự học đã đợc nhà nớc công nhận và phong tặng các danh hiệu cao quý

Tự học là con đờng tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con ngời trên con đờng học vấn thờng xuyên của cả cuộc đời Tâm lí học đã nhấn mạnh đến tính năng động của chủ thể trong nhận thức hiện thực khách quan S phạm học hiện đại cũng đề cao nguyên lí: học là công việc của từng cá thể Tri thức thu nhận đợc qua quá trình tự lực

Trang 16

t duy mới là tri thức bền vững Quá trình tự học khác với quá trình học thụ động, nhồi nhét kiến thức Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức tự học là kết quả của sự hứng thú, tìm tòi, của lựa chọn Kiến thức tự học bao giờ cũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo.

Tự học đang trở thành chìa khoá vàng trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay Tốc độ thông tin ở cấp vũ trụ, nhu cầu luân chuyển tri thức diễn ra dữ dội đòi hỏi mỗi thành viên trong cộng đồng phải có khả năng thích ứng, hoà nhập, tự khẳng định cá nhân trong guồng máy văn hoá, kinh doanh, lập nghiệp Điều đó đòi hỏi mỗi thành viên phải không ngừng tự bổ túc tri thức bằng con đờng tự học Tự học là con đờng tự khẳng định, là con đờng sống và thành đạt của những ai muốn vơn lên đỉnh cao trí tuệ của thời đại thông tin siêu tốc ngày nay

Tự học - chiếc chìa khoá vàng cần đợc mài sáng thêm trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc hiện nay Tự học là con đờng dân chủ hoá giáo dục và khoa học một cách có hiệu lực nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong sự nghiệp đi nhanh, đón đầu lên đỉnh cao khoa học công nghệ hiện

đại Muốn mỗi ngời có thể đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá thì phải huy động tiềm năng của mỗi công dân Tự học, tự vơn lên trong cuộc sống và hoạt động xã hội của bản thân là con đờng tích luỹ và đầu t chất xám, trí tuệ cho sự nghiệp chung của

đất nớc trong vận hội mới ngày nay

Tóm lại, tự học là vấn đề then chốt của giáo dục đào tạo, là vấn đề có ý nghĩa văn hoá, khoa học, xã hội và chính trị sâu sắc

1.1.4 Khả năng tự học của con ngời

Trong luận án: “Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua bài học văn học sử”, ThS Vũ Thị Sáu đã khẳng định: ai cũng có thể tự học có kết quả, trừ những ngời bị khuyết tật tâm thần Khả năng tiềm ẩn đó đã trở thành tài nguyên quý của loài ngời

Có thể lấy nhiều ví dụ để chứng minh cho khả năng tự học của con ngời Từ xa

ông cha ta đã có truyền thống hiếu học Xã hội thời đó cha có các trờng chuyên nghiệp nhng vẫn có những ngời tài thuộc đủ chuyên môn khác nhau: thầy thuốc, thầy giáo, nhà quân sự, Họ đều thành nghề và thành tài nhờ con đ… ờng tự học chứ không phải

Trang 17

nhờ vào lối học khoa cử thời đó Trong số đó không ít những ngời bình thờng nh nh các

ông đồ đi thi không đỗ nên ở nhà tự học mà trở thành thầy thuốc, thầy giáo giỏi

Thời chiến tranh, đất nớc ta chìm trong khó khăn, không có đủ thời gian và điều kiện để đào tạo học sinh nhng chúng ta vẫn yên tâm về chất lợng HS tốt nghiệp phổ thông Để đạt đợc điều đó, phần lớn là do công tự học của HS

Tự học không phải là công việc khó khăn với mọi ngời, không phải chỉ ngời tài mới làm nổi Bản thân mỗi con ngời khi ý thức đợc về vai trò của tự học và tự tin vào năng lực bản thân đều có thể bắt tay vào thực hiện

1.1.5 Khả năng tự học của HS THPT

Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả giáo trình “Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học s phạm” do Lê Văn Hồng chủ biên (NXB ĐHQGHN 2001) và Luận án “Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua bài học văn học sử” của ThS Vũ Thị Sáu, ta

có thể khẳng định: bớc vào THPT, HS có sự nhảy vọt về tâm sinh lí Bên cạnh sự lớn mạnh về thể chất, các em dần phát triển hoàn thiện về năng lực trí tuệ, khả năng học tập, khả năng tự nhận thức cũng nh tâm lí cảm thụ nghệ thuật và năng lực văn

1.1.5.1 Năng lực trí tuệ của HS THPT

Tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức

Về tri giác: đã có tính mục đích Quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai và không tách khỏi t duy ngôn ngữ

Về ghi nhớ: ghi nhớ có tính chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Vai trò của ghi nhớ trừu tợng, ghi nhớ có ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt HS đã tạo đợc

sự phân hoá trong ghi nhớ Các em biết tài liệu nào cần ghi nhớ từng câu, từng chữ, tài liệu nào cần hiểu mà không cần nhớ

HS có khả năng t duy lí luận, t duy trừu tợng một cách độc lập sáng tạo T duy của các em chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho

HS thực hiện thao tác t duy, nắm đợc các mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội

Tóm lại, ở HS THPT những đặc điểm chung của con ngời về mặt trí tuệ thông ờng đã đợc hình thành và còn tiếp tục đợc hoàn thiện Việc giúp HS phát triển hết khả năng nhận thức là việc quan trọng của GV

Trang 18

1.1.5.2 Đặc điểm hoạt động học tập

Hoạt động học tập của HS THPT đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều Muốn nắm đợc chơng trình một cách sâu sắc đòi hỏi phải có t duy lí luận HS càng trởng thành, kinh nghiệm sống càng phong phú Các em ý thức đợc rằng mình đang đứng trớc ngỡng cửa cuộc đời Do vậy, thái độ có ý thức của các em với hoạt động học tập càng phát triển Hứng thú nhận thức của HS THPT mang tính chất rộng rãi, sâu và bền vững hơn so với HS THCS Thái độ học tập đợc thúc đẩy bởi động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, ý nghĩa xã hội của môn học

Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của HS THPT trong hoạt động học tập

1.1.5.3 Đặc điểm nhân cách, vốn sống

• Tự ý thức phát triển

Sự hình thành tự ý thức ở HS THPT là một quá trình lâu dài, trải qua những mức

độ khác nhau Khi lên THPT, quá trình phát triển tự ý thức ở HS diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính đặc thù riêng Các em có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng

Đặc điểm quan trọng là sự tự ý thức của các em xuất phát từ yêu cầu cuộc sống

và hoạt động, địa vị trong tập thể, những mối quan hệ với thế giới xung quanh Nó buộc

HS phải ý thức đợc nhân cách của mình

Nội dung của tự ý thức cũng phức tạp HS không chỉ nhận thức về cái tôi trong hiện tại mà còn nhận thức về cái tôi trong xã hội, trong tơng lai Các em có thể hiểu mình ở những phẩm chất nhân cách bộc lộ rõ, cao hơn là những phẩm chất phức tạp, biểu hiện những quan hệ nhiều mặt của nhân cách HS không chỉ có nhu cầu đánh giá

mà còn có thể đánh giá sâu sắc về chính mình và ngời cùng sống

• Sự hình thành thế giới quan

Suốt thời gian học tập ở phổ thông, HS đã lĩnh hội đợc những tâm thế, thói quen

đạo đức nhất định Dần dần, những điều đó đợc ý thức và quy định vào các hình thức, các tiêu chuẩn, nguyên tắc hành vi xác định Nhng chỉ đến giai đoạn này, khi nhân cách đã đợc phát triển tơng đối cao thì các em mới xuất hiện nhu cầu đa những tiêu

Trang 19

chuẩn, nguyên tắc, hành vi đó vào một hệ thống hoàn chỉnh Khi đã có đợc hệ thống quan điểm riêng HS không chỉ hiểu về thế giới khách quan mà còn đánh giá đợc nó, xác định đợc thái độ với thế giới

• Giao tiếp

Cùng với sự trởng thành nhiều mặt, quan hệ phụ thuộc vào cha mẹ đợc thay bằng quan hệ bình đẳng, tự lập Trong giao tiếp nhóm, HS thể hiện rõ sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hoá hoạt động riêng của mình

1.1.5.4 Tâm lí cảm thụ nghệ thuật và năng lực Văn

• Năng lực cảm thụ thẩm mĩ

Hứng thú với nghệ thuật của HS đã ổn định và sâu sắc hơn Các em đợc tiếp xúc với nhiều loại hình nghệ thuật Nhu cầu thởng thức, đánh giá nghệ thuật ngày một tăng Năng lực cảm thụ cái đẹp của HS phát triển cao hơn và đạt đợc nhiều bớc tiến mới HS muốn tìm hiểu thế giới xung quanh, muốn bồi bổ phẩm chất, vẻ ngoài của mình để mình trông đẹp hơn trong mắt ngời khác.Vì thế, trong học văn, HS THPT đã có khả năng thởng thức, nhận biết và lí giải cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chơng Các em

đã có sự cảm nhận riêng, đã đa ra đợc một số nhận xét độc đáo khi lĩnh hội tác phẩm văn chơng Nó chứng tỏ sự độc lập, nhu cầu tự khẳng định cao và sự nhạy bén khi các

• Năng lực diễn đạt

Việc sử dụng ngôn ngữ của HS tiến bộ lên nhiều Các em có thể diễn đạt những gì mình hiểu, làm ngời khác hiểu những gì mình cần truyền đạt Năng lực diễn đạt tốt không chỉ giúp HS hoàn thành các bài làm văn mà còn có tác dụng trong cuộc sống và

Trang 20

nhiều môn học khác Đây là năng lực ngày càng hoàn thiện hơn trong quá trình HS tiếp cận các tác phẩm văn chơng, trong quá trình đọc sách, tài liệu và giao tiếp.

Với những đặc điểm trên ta nhận thấy HS THPT vô cùng nhạy cảm và đang trong

thời kì hoàn thiện mọi mặt Các em có nhu cầu cao về hiểu biết và nhận thức Hơn nữa, với khả năng học tập và trí tuệ nh vậy, các em hoàn toàn có thể tiến hành hoạt động tự học, tự nghiên cứu, nhất là trong môn văn

Tự học là khái niệm không xa lạ với mọi ngời Đó chính là hoạt động tự lực của cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ học tập, từ đó tạo ra bớc phát triển mới cho bản thân mình Bất kì ai cũng đã và sẽ trải qua việc tự học bởi tự học có ý nghĩa quan trọng với mỗi con ngời Kiến thức nhân loại mênh mông nhng không phải ai cũng có điều kiện học tập chính quy Tự học còn là con đờng chiếm lĩnh tri thức sâu sắc nhất Hơn nữa, trong mỗi con ngời đều tiềm tàng khả năng tự học, chỉ có điều ta có ý thức và biết vận dụng nó không

Với HS THPT cũng vậy Tự học là công việc cần thiết ngay cả khi đợc học tập chính quy Càng luyện rèn việc tự học sớm càng tốt Phải bỏ đi thành kiến HS THPT cha đủ năng lực tự học, tự nghiên cứu Đó là suy nghĩ sai lầm Các em đã có đủ các tiền

đề tâm sinh lí để thực hiện việc tự học Nhất là với HS ngày nay, khả năng trí tuệ, học tập của các em đều nâng cao Môi trờng đa thông tin cũng trợ giúp nhiều trong công tác tự học

Tuy vậy, có một thực tế, tiềm năng trí tuệ của HS cha đợc khai thác hết Không phải HS không có khả năng mà do các em cha có điều kiện để phát huy Do đó, sinh ra

sự thiếu tự tin ở chính bản thân mình, làm cho quá trình học tập và rèn luyện năng lực phẩm chất nhân cách của HS cha đợc nh mong muốn Vì vậy, phải tạo điều kiện tốt nhất để HS phát huy hết khả năng độc lập, sáng tạo của mình HS vốn là một chủ thể tích cực, nhanh nhạy, tự giác nên cần có sự huy động một cách có cơ sở khoa học phù hợp với quy luật cảm thụ của văn học, những năng lực chủ quan của bản thân HS chủ

động, tích cực tham gia vào quá trình giảng dạy Đó là công việc phù hợp với lứa tuổi

HS THPT đồng thời cũng là con đờng đổi mới phơng pháp dạy học

1.2 Tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT

1.2.1 Quan niệm về sự tích cực trong tự học của HS THPT

Trang 21

Đó là một loại hoạt động ổn định, trở thành nhu cầu của con ngời Tích cực trong tự học của HS là việc các em thờng xuyên tự mình nghiên cứu tài liệu, tự mình phát hiện kiến thức, tự mình nắm bắt kiến thức, tự mình dàn ý hoá vấn đề, tự mình vận dụng chuyển hoá kiến thức dới sự định hớng, điều khiển của GV Tích cực trong tự học là cơ sở vững chắc cho sự phát triển tự học, tự nghiên cứu suốt cả cuộc đời với những đòi hỏi cao hơn, khắt khe hơn.

Tích cực trong tự học ở HS có những biểu hiện sau [16; tr.271]

- Các em rất chú ý học, hăng hái tham gia vào mọi hoạt động học tập tại lớp (phát biểu ý kiến, ghi chép, )

- Các em hoàn thành tốt bài tập đợc giao; có đọc, làm thêm các bài tập khác

- Các em ghi nhớ tốt những điều đã học, hiểu bài, có thể trình bày lại nội dung bài theo ngôn ngữ riêng

- Các em hứng thú trong học tập, có quyết tâm vợt khó khăn trong học tập

- Các em có thói quen vận dụng kiến thức vào thực tiễn và tỏ ra sáng tạo trong học tập

Về mức độ tích cực tự học của HS, ta có thể dựa vào những biểu hiện sau:

- HS tự giác học tập chứ không phải bị ép buộc bởi các nhân tố khác: gia đình, bạn bè, xã hội,

- Thực hiện yêu cầu của GV bằng hết khả năng

- Sự tích cực học tập thờng xuyên, liên tục, ngày càng theo xu hớng tăng dần

- HS có nghị lực trong học tập, tỏ ra kiên trì, vợt khó

Muốn hình thành đợc sự tích cực trong tự học cho HS cần phải trải qua một quá trình lâu dài với sự tác động của nhiều yếu tố cả nội và ngoại lực Phải luyện tập một cách từ từ Không thể mong ngay lập tức HS đã có những biểu hiện tự học nh trên Mỗi biểu hiện đều cần một quá trình rèn luyện Do vậy, GV phải có một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động gia đình, nhà trờng, xã hội Bản thân HS cũng nên xác định cho mình một thái độ học tập tích cực Coi hình thành đợc thói quen tự học cho HS là kết quả, mục tiêu của việc đào tạo Có nh vậy, việc học tập, giảng dạy mới không rơi vào sự gò ép

Có thể mô hình hoá quá trình tự học của HS nh sau [11; tr.84]

Trang 22

Sơ đồ cấu trúc quá trình học tập

1.2.2 Tầm quan trọng của việc tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT

Tự học có vai trò quan trọng với việc hình thành kiến thức, lối sống cho HS

Tự học sẽ tạo ra một nhịp sống mới cho HS Trong tự học, tính độc lập của HS sẽ

đợc phát huy cao độ Quá trình tìm tòi tri thức sẽ lôi cuốn HS, tạo cơ sở cho HS làm chủ đợc tri thức, lối sống và hành vi của mình T duy của HS sẽ đợc phát triển theo chiều hớng tốt HS đợc lôi cuốn vào niềm đam mê khám phá, phát hiện và sáng tạo Từ hạnh phúc vì phát hiện ra chân lí các em sẽ thay đổi thói quen ỷ lại Tự học giúp HS phân bố thời gian làm việc hợp lí, tạo điều kiện để làm việc khoa học và sống có ích hơn

Tự học sẽ hình thành ở HS một phong cách lao động tốt Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền công nghệ thông tin Nếu HS không thích ứng với nhịp sống của xã hội, không đáp ứng đợc yêu cầu của xã hội về phân bố nhân lực thì sẽ bị đào thải Biết cách tự học, HS

sẽ rèn đợc thói quen làm việc độc lập, khoa học làm tiền đề cho công việc lao động mai sau HS sẽ hình thành phong cách lao động tự chủ, quyết đoán, tự tin trong suy nghĩ, làm việc, sáng tạo - một phong cách của con ngời lao động hiện đại

Tự học sẽ tạo bớc đệm cho nghề nghiệp và sự hoà nhập trong tơng lai Theo thống

kê, trong 10 năm trở lại đây, trên 80% HS THPT khá giỏi đều vào các trờng đại học và sẵn sàng đơng đầu với những khó khăn trên con đờng lập nghiệp Những HS ngay từ khi học phổ thông đã biết tự học chắc chắn sẽ thành đạt hơn trong cuộc sống Thực tế

đã chứng minh không ít những tấm gơng thành đạt đều biết nghiên cứu từ những năm còn thơ ấu

Tự học góp phần thể hiện nhân cách trởng thành và tính độc lập, tự chủ cao trong học tập của HS THPT Việc phát triển năng lực học tập, năng lực t duy cho HS THPT là vấn đề đáng quan tâm ở mọi quốc gia Trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay học tập bằng phơng pháp ghi nhớ và tái hiện tỏ ra không còn hiệu quả cao nữa Tính độc lập, sáng tạo của HS không đợc kích thích, khơi gợi Cần phải có một cách thức đào tạo khác để phát huy sự chủ động của HS, tự học là một trong những cách đó Vào thế kỉ

Hoạt động nhận thức Kết quả của hoạt

Sự chú ý có tính chủ

định,lòng ham hiểu biết, say mê.

Hoạt động trí tuệ:

Lĩnh hội tài liệu

Thông hiểu tài liệu.

Ghi nhớ kiến thức.

Luyện tập,vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Ôn tập,khái quát hoá,

hệ thống hoá kiến thức đã học.

Tự kiểm tra

Biểu tượng Thông hiểu Nắm vững sự kiện, khái niệm.

Hình thành kĩ năng,

kĩ xảo, thói quen.

Hệ thống hoá kiến thức.

Phát hiện mức độ nắm vững kiến thức

Trang 23

XXI , cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ phát triển cha từng thấy Muốn thích nghi với hoàn cảnh xã hội mới, con ngời không thể hạn chế sự học trong phạm vi trờng học Thời gian học ở lớp, ở trờng bao giờ cũng có hạn trong khi tri thức thì vô tận Giải quyết mâu thuẫn này không có cách nào khác là phải tự mình học kiến thức, cách học Jean Piaget đã chỉ rõ: “Mục đích của tự chủ trí tuệ không phải là biết nhắc lại hay bảo tồn những chân lí đã có Vì một chân lí mà ngời ta tái xuất chỉ là một nửa chân

lí Đó là phải học cách chiếm lĩnh bản thân mình cái chân lí đó” Việc chú trọng đến vai trò của HS chính là đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng tiến bộ Cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã từng căn dặn: “Chơng trình SGK phải đảm bảo dạy cho HS những nguyên lí cơ bản, toàn diện về các mặt đức dục, trí dục, mĩ dục, đồng thời tạo cho các

em điều kiện phát triển óc thông minh, khả năng độc lập suy nghĩ sáng tạo” Coi trọng yếu tố con ngời tức là ta đã đề cao sức năng động, sáng tạo của tuổi trẻ Tự học còn là con đờng, là hành trang gắn liền với sự phát triển nhân cách của mỗi con ngời, đặc biệt với HS THPT

Tác phong nghiên cứu của HS THPT sẽ tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ để đổi mới triệt để phơng pháp dạy học theo nguyên tắc s phạm hớng vào ngời học Muốn đổi mới phơng pháp dạy thì phải đổi mới phơng pháp học của HS Bên cạnh việc thụ hởng

sự giáo dục, hớng dẫn của thầy cô giáo, HS phải nỗ lực vợt bậc trong việc tiếp nhận kiến thức Nó không nằm ngoài khả năng tìm tòi, sáng tạo của HS Đó có thể chỉ là các thao tác giản đơn nhằm khắc sâu kiến thức nh su tầm tài liệu, so sánh đối chiếu hay từ những vấn đề cụ thể mà rút ra ý nghĩa, bản chất của sự vật, hiện tợng Học sinh ngày nay rất năng động, lại thêm sự hỗ trợ của công nghệ thông tin làm khả năng tự học của

HS đợc nâng cao Sự đổi mới phơng pháp hai chiều sẽ kích thích quan hệ tơng tác giữa

GV và HS để xác định sự phù hợp, tơng ứng của hành động Quá trình dạy học còn là quá trình nhận thức Đổi mới phơng pháp không thể tách rời nội dung tri thức Vận dụng linh hoạt cách thức tự học để tìm hiểu nội dung tri thức sẽ giúp HS có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của nó

Tóm lại, hình thành thói quen tự học cho HS có vai trò to lớn về nhiều phơng diện Nó không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức tốt hơn, hình thành phong cách sống năng động mà còn giúp đổi mới phơng pháp dạy học theo nguyên tắc hớng vào HS

Trang 24

1.2.3 Những điều kiện để tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT

1.2.3.1 Xây dựng một môi trờng tự học hợp lí

Tại nhà, HS phải sắp xếp cho mình một không gian tự học riêng Tốt nhất là học tại phòng riêng, nếu không ít nhất HS cũng phải có góc học tập cá nhân Góc học tập phải yên tĩnh, tránh xa mọi yếu tố gây nhiễu nh: truyền hình, ca nhạc, điện tử, để HS tập trung cao nhất vào việc tự học Góc học tập nên đầy đủ phơng tiện học tập và bài trí gọn gàng, đơn giản “Có đợc môi trờng nghiên cứu khi làm việc độc lập ở nhà, HS sẽ

có điều kiện thả mình trong những phút giây tởng tợng, liên tởng, có thời gian so sánh

đối chiếu giữa văn bản này với văn bản khác để tìm ra những kiến giải hợp lí.” [9; tr.85]

Tại trờng THPT, GV phải tạo đợc môi trờng, không khí tự học trong mỗi giờ học, mỗi HS Môi trờng này có đợc do công sức đóng góp của cả GV và HS trong quá trình học tập HS sẽ đợc làm quen với phong cách học tập tự lực và cách phơng pháp tự học Các em có thể trao đổi kiến thông tin cần thiết với nhau hoặc với GV, cao hơn là việc trình bày kết quả tự học của mình trớc bạn bè, GV Đây là công việc khó khăn, cần có thời gian lâu dài để tiến hành nhng nó vô cùng cần thiết với việc hình thành thói quen tự học cho HS Nếu GV có ý thức, nỗ lực liên tục ngay trong từng hoạt động nhỏ, môi trờng tự học cho HS tại nhà trờng sẽ hình thành

1.2.3.2 Sử dụng thời gian hợp lí cho tự học

Tại nhà, HS nên sắp xếp khoảng thời gian phù hợp cho việc tự học Việc đi học thêm ở ngoài không thể thay thế đợc tự học, thậm chí nó còn phản tác dụng nếu HS học quá nhiều, không chú ý tới tự học Bản thân HS cũng phải có ý thức xây dựng cho mình thời gian biểu hợp lí và có ý thức tự học Các em có thể làm việc độc lập với SGK, sách tham khảo, tìm hiểu trớc những vấn đề liên quan tới văn bản sắp học nh: cuộc đời tác giả, hoàn cảnh sáng tác, đề tài nhân vật, Nếu biết sử dụng thời gian tự do vào chuẩn

bị bài, ôn bài, nghiên cứu thì HS sẽ nhận đợc những thông tin bổ ích có lợi cho quá trình học tập lâu dài, hình thành thói quen tự học đồng thời thấy say mê môn văn hơn

Tại nhà trờng, “GV nên tạo ra những khoảng thời gian rỗng cho HS nghiên cứu Thời gian ấy có thể chỉ là 5 đến 10 phút trớc khi vào bài mới Song cũng có thể là 15 phút để HS giải quyết những câu hỏi hớng dẫn tự học của GV Thời gian cho công việc

Trang 25

nghiên cứu có thể đợc GV đan cài trong giờ đọc văn cụ thể với các phơng pháp dạy học khác Nhiều khi đứng trớc một tình huống có vấn đề, GV có thể dừng lại để nêu vấn đề

và yêu cầu HS suy nghĩ giải quyết Nếu vấn đề khó, GV có thể gợi ý cho HS về nhà tự giải quyết.” [9; tr.86]

1.2.3.3 Kết hợp điều độ giữa học tập và nghỉ ngơi

Bộ óc của HS không phải là cái máy tính để GV nạp dữ liệu liên tục Hiện tợng

HS học quá tải còn diễn ra quá nhiều Khi phải chịu sức ép lớn của thi cử, học hành, HS không thể có niềm say mê học tập, thậm chí học tập với HS trở thành “cơn ác mộng”

Có học tập phải có nghỉ ngơi Khi học nên tập trung hết sức để đạt hiệu quả cao nhất, sau đó nghỉ ngơi thoải mái, không lo lắng tới bài học nữa “Học ra học, chơi ra chơi” là cách sống và làm việc hiệu quả, khoa học nhất

HS có thể kết hợp điều độ giữa học tập và nghỉ ngơi qua việc cân bằng giấc ngủ, bằng các hoạt động vui chơi giải trí hay thay đổi các hoạt động trí tuệ Vấn đề này có liên quan tới quá trình chăm sóc sức khoẻ cho HS tại gia đình đồng thời là sự tiếp cận sinh tồn đối với giáo dục

1.2.3.4 GV phải là ngời có năng lực hớng dẫn, nhận xét và thẩm định kết quả tự học của HS

Nhà trờng và GV có nhiệm vụ thông qua giáo dục đánh thức các tiềm năng của

HS, khơi dậy, phát triển cái nội lực đó GV phải dạy cho HS từng bớc tự học, tự đọc sách, tìm tòi, tra cứu,phát hiện cái mới Thông qua sự hớng dẫn của GV, HS sẽ phát huy tính tích cực, chủ động của mình để tiếp nhận tri thức và phát triển nhân cách cho phù hợp thời đại “Xã hội Việt Nam đang có những sự chuyển mình Nhiều vấn đề, nhiều kiến thức, nhiều quan niệm mới hôm qua còn đợc chấp nhận, hôm nay đã có thể không còn thích hợp nữa Trong lúc đó, mục tiêu giáo dục không phải chỉ nhằm đào tạo nghề nghiệp trớc mắt cho con ngời mà phải đào tạo con ngời thích ứng linh hoạt với những hoàn cảnh, nghề nghiệp, những công việc luôn thay đổi sau này Đó chính là những con ngời thạo việc, năng động, sáng tạo, biết lo cho bản thân, biết cống hiến cho cộng đồng.” [9; tr.89] Những con ngời năng động, sáng tạo đó là sản phẩm của các

GV có năng lực chuyên môn và phẩm chất tốt đẹp GV phải giữ vai trò định hớng, đề

Trang 26

xuất các vấn đề cho HS tự học, biết thẩm định kết quả tự học của HS Điều kiện này có vai trò quyết định nhất với chất lợng nghiên cứu của HS.

1.2.4 Những hoạt động dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT

Đây là hoạt động của GV, hớng dẫn HS biết cách tự học HS không thể hình thành ngay thói quen tự học nếu không có GV hớng dẫn Tác giả luận văn muốn đề cập tới biện pháp mà GV tổ chức để giúp HS thực hiện Đây là biện pháp nằm trong hệ ph-

ơng pháp dạy học tích cực, lấy ngời học làm trung tâm [1; tr.222-223]

Bảng so sánh hình thức dạy học thụ động và dạy học có tính tích cực

1.GV truyền kiến thức 1.GV tổ chức, hớng dẫn HS lĩnh hội

2.GV độc thoại, phát vấn 2.Đối thoại GV - HS, HS – HS

3.GV áp đặt kiến thức có sẵn 3.HS hợp tác với GV khẳng định kiến thức

HS tìm ra4.HS thụ động nhận thức 4.HS tự mình tìm kiến thức bằng hoạt động

của mình 5.HS học thuộc lòng 5.HS học cách học, cách sống, cách giải

quyết vấn đề 6.GV độc quyền đánh giá 6.HS tự đánh giá, tự điều chỉnh làm cơ sở cho

GV cho điểm

Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học Chất lợng của quá trình dạy học đợc quyết định bởi hiệu quả của việc dạy tác động đến việc tự học Tác động sẽ là kích thích nội lực phát triển nếu ngời thầy gợi mở, khuyến khích sự hứng thú, say mê học tập của ngời học Hoạt động dạy của GV đóng vai trò tổ chức, điều khiển, hớng dẫn Hoạt động học của HS diễn ra chủ động, tự giác, sáng tạo

Trang 27

Bảng : Phối hợp hoạt động dạy và học [8; tr8]

Cung cấp thông tin then chốt, cơ bản, kết

luận đúng…

Nghe, thông hiểu, hợp tác với GV

- Xây dựng, giao bài tập, tình huống học

tập

- Hớng dẫn HS phơng pháp học tập,

nghiên cứu, tìm tòi kiến thức, thảo luận,

tranh luận, đóng vai, vận dụng tri thức

- Phối hợp, thu hút sự hợp tác của HS

Muốn hình thành thói quen tự học cho HS, ngoài sự nỗ lực của bản thân HS,

GV phải có hoạt động dạy học phù hợp, giúp HS phát huy năng lực tự học Những hoạt

động này thể hiện tính dân chủ cao giữa GV và HS, thể hiện sự tin tởng ở năng lực của

HS Đó còn là những hoạt động dạy học tích cực phù hợp với xu thế đổi mới phơng pháp dạy học hiện giờ Những hoạt động này sẽ đợc nói chi tiết hơn ở chơng 2 của luận văn

Tự học là một hình thức học tập có ý nghĩa lớn với mọi ngời đang theo đuổi con

đờng học tập Việc tự học là cần thiết trong suốt cả chặng đờng đời, vì thế, nên rèn tự

Trang 28

học ngay từ khi còn nhỏ và phải rèn thành thói quen trong học tập, lao động HS THPT

là một đối tợng phù hợp để rèn thói quen tự học Ai cũng có thể tự học.HS THPT càng

có khả năng đó Nếu hình thành đợc cho HS thói quen tự học ta sẽ đào tạo đợc những con ngời năng động, sáng tạo, thích ứng với thời đại mới và công cuộc đổi mới của đất nớc ta

Muốn hình thành đợc thói quen tự học cho HS, ta phải có cách dạy học để HS phát huy tối đa khả năng trí tuệ của mình Trớc hết, phải có niềm tin vào năng lực của

HS GV phải lấy tự học làm mục đích dạy học, coi thói quen tự học của HS là kết quả của quá trình đào tạo Việc tăng cờng các phơng pháp dạy học tích cực một cách hợp lí

sẽ tác động lớn tới HS, khơi dậy ở các em lòng ham học hỏi, muốn đi sâu khám phá tri thức bài học Tự bản thân HS có sự nỗ lực, tự giác vận động trong quá trình học tập Sự vận động đó phù hợp quy luật hoạt động bên trong của HS Nhờ đó mà tri thức đến với

HS nhiều và bền vững hơn HS cũng trởng thành hơn trong quá trình tự học Tự học là con đờng cơ bản nhất để phát triển trí tuệ và nhân cách HS THPT Tự học là mấu chốt quan trọng của dạy học hiện đại và hoàn toàn phù hợp với khả năng trí tuệ của HS THPT

ch ơng 2

Tự học trong môn văn và việc tích cực hóa hoạt động

tự học cho HS THPT qua bài học tác phẩm văn chơng

Trang 29

-định: “Khoa học kĩ thuật càng phát triển thì nhu cầu về đời sống tinh thần càng mạnh

mẽ, phong phú, đa dạng Còn cuộc sống tinh thần của con ngời, còn có nhu cầu thẩm

mĩ, tình cảm thì văn học nghệ thuật sẽ mãi bất tử.” [12; tr.38] Bản chất của học văn là

để phát triển tâm hồn, t tởng, tình cảm cho HS, giúp HS hiểu về cái đúng, cái đẹp

“Nhạy cảm trớc cái đẹp của thiên nhiên, của con ngời, của cuộc đời gắn liền với ý thức

và khát vọng vơn lên cái đẹp, cái cao thợng, bảo vệ và sáng tạo cái đẹp.” Do vậy, học Văn là để nhận thức rõ hơn về thế giới bên ngoài, xã hội, con ngời, qua đó nhận thức rõ hơn về chính bản thân mình Mục đích cao nhất của học Văn không chỉ là thông báo kiến thức mà là tìm những phơng hớng để HS giải quyết các vấn đề trong “bài toán cuộc đời” của mình Khi đã nhận ra và biết áp dụng những tri thức phong phú của môn Văn, thế giới tinh thần và trí tuệ của HS sẽ trở nên phong phú, giàu có, sâu sắc, tinh tế hơn Quả thực, học Văn là học sống, học làm ngời, học mở mang trí tuệ nhân cách Môn Văn còn cung cấp cho HS những hiểu biết có hệ thống về lịch sử văn học, lí luận văn học Đây là những tri thức quan trọng giúp HS cảm thụ văn chơng và các bộ môn nghệ thuật khác sâu sắc hơn Học văn cũng không phải chỉ để nắm lí thuyết mà còn để phát triển năng lực thực hành trong thực tiễn Đó là năng lực sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, hình ảnh, đạt hiệu quả giao tiếp cao, năng lực cảm thụ nghệ thuật, năng lực vận dụng trong xử thế cuộc sống Qua đây, ta có thể khẳng định: học văn có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của HS Cần có một cách dạy và học Văn phù hợp để những ý nghĩa

đó thực sự tác động sâu sắc vào HS

Môn Văn trong nhà trờng có hai mặt Đây là môn học vừa có tính nghệ thuật ngôn từ vừa mang tính chất môn học Đặc trng thứ nhất là đặc trng quan trọng nhất, giúp phân biệt môn Văn với các môn học khác Việc dạy và học Văn chịu sự chi phối

Trang 30

của phơng thức phản ánh bằng hình tợng ngôn ngữ đợc thể hiện qua sự sáng tạo của nhà văn Nhng môn Văn cũng là một môn học nằm trong chơng trình văn hoá cơ bản ở trờng THPT Nó cung cấp cho HS tri thức và kĩ năng nhất định Mục đích giáo dục của môn văn là tạo đợc sự phát triển cân đối, toàn diện về tâm hồn trí tuệ cho HS Nó phải chịu sự chi phối của mục tiêu giáo dục.

2.1.2 Đặc điểm tự học trong môn Văn.

2.1.2.1 Học sinh là bạn đọc sáng tạo

Vấn đề cần đợc nói ở đây là vị trí của HS trong quá trình tiếp nhận văn chơng Chính điều này cũng nói lên đặc điểm riêng biệt của môn Văn Khác với các môn khoa học khác, văn chơng cần mối liên hệ chặt chẽ giữa các nhân tố: bạn đọc - tác giả - văn chơng - cuộc sống Tác giả “nhào nặn đứa con tinh thần” của mình từ việc chiêm nghiệm đời sống Bạn đọc tiếp nhận tác phẩm một cách sáng tạo bằng kinh nghiệm cảm thụ của mình, sau đó lại đem những gì lĩnh hội đợc áp dụng vào cuộc sống Mối quan hệ giữa bạn đọc với văn chơng là mối quan hệ hữu cơ Không có sự nối mạch giữa cá tính của nhà văn với từng cá tính HS thì không có đợc hiệu quả học văn Tính nghệ thuật, độc đáo của văn chơng còn quy định cả đặc điểm chủ quan trong tiếp nhận môn văn Bạn đọc tiếp nhận tác phẩm với chủ quan của mình, với sự lựa chọn nhất định, vì thế tác phẩm tồn tại trong tâm trí bạn đọc không hoàn toàn giống nhau Yêu cầu cá tính hoá đợc đặc biệt chú trọng nh một quy luật đặc trng của hoạt động tiếp nhận văn ch-

ơng Nếu không nh vậy, học Văn chỉ là giả tạo Tính chủ quan này đã làm phong phú thêm giá trị tác phẩm Bạn đọc không phải đối tợng tiếp nhận thụ động mà chính là ng-

ời đồng sáng tạo với tác giả Bạn đọc cũng trở thành một nghệ sĩ trong quá trình tìm hiểu tác phẩm văn chơng

Vì vậy, trong học Văn, HS phải chú ý tới năng lực cảm thụ sáng tạo của mình, phải biến mình thành chủ thể cảm thụ trong quá trình tìm hiểu tác phẩm văn chơng Tác phẩm từ chỗ là tiếng nói nội tâm của nhà văn sẽ trở thành vấn đề nội tâm của HS Cảm thụ văn chơng là hoạt động tự giác, là sự vận động của nhiều năng lực chủ quan của con ngời Cảm thụ văn chơng là một hoạt động sáng tạo, một quá trình tích cực vận

động vốn sống và những năng lực t duy ở HS Cảm thụ văn chơng là một hoạt động tinh thần có quy luật riêng do đặc thù của đối tợng cảm thụ quy định HS phải vận dụng

Trang 31

nhiều năng lực nhận thức của bản thân để tiếp nhận một đối tợng thẩm mĩ, biến nó thành tài sản của mình Sự ngăn cách giữa nhà văn và HS càng ít thì quá trình cảm thụ càng nhanh, càng sâu sắc Tự học trong môn Văn chính là việc “huy động một cách có cơ sở khoa học phù hợp với quy luật cảm thụ văn học những năng lực chủ quan của bản thân HS để HS chủ động tích cực hứng thú tham gia vào quá trình dạy và học văn, do

đó tạo đợc một hiệu quả toàn diện về t tởng, thẩm mĩ, về hiểu biết và kĩ năng, về văn học và nhân cách” [12; tr.132]

Để phát huy đợc năng lực cảm thụ sáng tạo trong học văn, HS phải đọc nhiều ở phạm vi nhỏ, HS phải đọc nhiều lần tác phẩm hoặc văn bản văn chơng để cảm thấu mặt hình thức và nội dung tác phẩm hoặc văn bản ở phạm vi rộng hơn, HS nên đọc nhiều sách về văn học và các tài liệu liên quan để bổ sung vốn tri thức văn học cho bản thân

Đọc sách phải đi kèm liên tởng, tởng tợng Sức hoạt động của liên tởng càng mạnh bao nhiêu thì sức cảm thụ càng sâu, càng nhạy bén bấy nhiêu Liên tởng là đầu mối của những rung động thẩm mĩ, của những xúc cảm nghệ thuật HS còn phải có óc tởng tợng trong việc dựng lại cảnh đời, con ngời, cảnh vật trong tác phẩm Cần phải đa các hiện t-ợng thực tế thông qua óc tởng tợng của mình truyền cho nó một sức sống mới Mức độ tởng tợng cao nhất là HS dựng lại đợc cuộc sống trong sách nh cảnh sống thực với những con ngời đi đứng, nói năng với những cảnh đời sinh động Đó là cách sáng tạo của nghệ sĩ nhng cũng là cách đọc sách sáng tạo Để phát huy năng lực cảm thụ, HS không chỉ đọc sáng tạo mà còn phải biết tham gia vào nhiều hoạt động xã hội để nâng cao kinh nghiệm sống của bản thân Tiêu chuẩn này cần thời gian từ từ Càng trởng thành kinh nghiệm của HS sẽ càng đầy đủ hơn Trong thời gian học tập tại trờng, HS có thể tham gia vào những hoạt động của nhà trờng, quan sát cuộc sống xung quanh, lao

động vừa sức, tham quan, Những việc tởng nhỏ này nhng sẽ giúp HS trởng thành, độc lập hơn trong cuộc sống và trong cảm thụ văn chơng

Tự học văn còn là biết vận dụng những gì lĩnh hội đợc ở văn vào việc nâng cao chất “ngời” của bản thân “Không thể đào tạo đợc những HS phát triển về văn học mà bản thân ngời đó cha có đợc một sự chuyển biến, chuyển hoá nào về chất lợng và giới hạn t tởng, tình cảm.” [12; tr.131] HS giỏi văn cũng là ngời biết sống nhân hậu hơn,

đẹp hơn Đây là sự vận dụng quan trọng nhất của môn văn vào cuộc sống Ngoài ra,

Trang 32

trong quá trình học văn, HS cũng phải rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ thành thạo,

đạt hiệu quả giao tiếp cao Thủ tớng Phạm Văn Đồng đã căn dặn: “Tôi nghĩ rằng mục

đích của dạy văn là phải rèn luyện cho HS có ý thức, từ đó có cố gắng rồi có khả năng

tự mình suy nghĩ, suy nghĩ nhiều, suy nghĩ sâu về những điều mình muốn viết và lúc nói lúc viết phải diễn tả của mình làm sao cho trung thành, sáng sủa, chặt chẽ, chính xác và hay” Làm tốt những điều này thì tự học Văn mới có ý nghĩa

2.1.2.2 Tự học Văn trong quan hệ với dạy học Văn

Điều phân biệt học văn với các môn khác chính là ở sự cảm thụ sáng tạo của HS Nhng muốn rõ đặc điểm tự học môn Văn ta còn phải phân biệt sự cảm thụ văn học ngoài xã hội và cảm thụ trong nhà trờng Cảm thụ trong nhà trờng không còn đợc tự do

nh ngoài xã hội Nó còn chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố khác nhau nh: mục tiêu giáo dục, định hớng của nhà trờng, ngời GV, Tác phẩm trong nhà trờng đến với HS không hoàn toàn giữ nguyên những quan hệ vốn có với bạn đọc nói chung Văn chơng trong SGK chịu sự lựa chọn của ngời soạn sách, của Bộ Giáo dục & Đào tạo Nhiều tác phẩm hay không thể đa vào Có những tác phẩm không có điều kiện giữ nguyên vẹn khi biên soạn Tự học Văn trong nhà trờng đã phần nào bị chi phối bởi mục tiêu giáo dục Nó phải hớng theo vấn đề mà ngời soạn sách đa ra Tác phẩm văn chơng trong nhà trờng không chỉ là một phơng tiện nhận thức mà còn là một đối tợng thẩm mĩ, là cơ sở hình thành kiến thức văn học và là công cụ giáo dục đặc biệt giúp HS phát triển toàn diện về nhân cách Bởi thế, tự học văn cũng có định hớng, hệ thống, kế hoạch rõ ràng hơn Nếu ngoài xã hội, HS chỉ cảm thụ suy đoán về văn chơng thì ở trong nhà trờng HS đợc sự

định hớng của các nhân tố lịch sử Tác phẩm đạt trong hệ thống lịch sử chặt chẽ Ngoài việc tiếp thu kiến thức về tác phẩm, HS còn đợc hiểu thêm về tác giả, quá trình sáng tác

- tiếp nhận tác phẩm, kiến thức lịch sử văn học, lí luận văn học, ngôn ngữ Điều này giúp quá trình tiếp thu kiến thức sâu sắc hơn

Cảm thụ văn của HS còn chịu ảnh hởng sâu sắc từ GV Nếu ở trên, ta đã nói tới mối quan hệ hữu cơ của HS và nhà văn thì ở đây ta xem xét mối quan hệ chặt chẽ của

GV và HS Khi tiếp cận tác phẩm văn chơng hoặc kiến thức văn học, HS không thể hiểu rõ ràng ngay mà cần có sự hớng dẫn của GV Cảm thụ của GV làm cơ sở cho sự cảm thụ sáng tạo của HS GV là ngời nhạc trởng điều khiển cho mọi nhạc công HS sử

Trang 33

dụng nhạc cụ của mình GV là ngời thắp lên ngọn lửa tiềm ẩn ở HS GV là ngời luôn đi sát quá trình HS cảm thụ tác phẩm Sức mạnh của tác phẩm văn chơng đợc nhân lên bởi tài hoa của ngời GV HS sẽ chuyển hoá thành cảm thụ của bản thân qua việc tiếp thu h-ớng dẫn của GV cùng sự tìm tòi, sáng tạo của bản thân và có sự hồi đáp để GV, nhà văn có sự điều chỉnh thích hợp GV và HS cùng hợp tác, bình đẳng trong việc tìm kiếm

vẻ đẹp văn chơng

Nh vậy, việc tự học của HS nằm trong cơ chế phối hợp hài hoà, cân đối nhà văn –

GV - HS Có thể mô hình hoá theo sơ đồ sau [12; tr.59]

Nhà văn

Học sinh Giáo viên

Tự học Văn của HS không cô đơn mà đợc sự trợ giúp của nhiều nhân tố Để các nhân tố này thực sự giúp HS trong quá trình tự học, ta vẫn phải coi cảm thụ sáng tạo của HS là quan trọng nhất GV và nhà văn chỉ là định hớng Cơ chế dạy và học Văn chỉ hoạt động thực sự khi có sự tham gia của HS dới sự hớng dẫn của GV

Nh vậy, tự học Văn trong nhà trờng phải đảm bảo hai yếu tố:

1 Học sinh phải là bạn đọc sáng tạo, là một nhân tố tích cực trong việc cảm thụ văn chơng Tự học Văn công nhận tính chủ quan trong việc cảm thụ Càng thông qua kinh nghiệm sống và cảm xúc cá nhân thì cảm thụ càng sâu sắc

2 Học sinh phải đảm bảo mối quan hệ qua lại với GV và nhà văn Cảm thụ văn chơng phải có định hớng, kế hoạch theo tiêu chí giáo dục Trong đó, chú trọng tới cả tính tập thể của cảm xúc

Hai yếu tố này có vẻ mâu thuẫn nhau nhng thực tế nó là hai mặt gắn bó của tự học trong môn Văn Có mâu thuẫn mới có động lực để dạy và học Văn tốt hơn Đảm bảo đợc hai yếu tố này HS đã đi đúng hớng của tự học Văn ở nhà trờng

Trang 34

2.1.3 Những thuận lợi của bài học tác phẩm văn chơng với việc tích cực hoá hoạt động tự học cho HS THPT

Kiểu bài học này có nhiều tiềm năng trong việc phát huy năng lực tự học cho HS THPT

Đặc điểm tác phẩm văn chơng là có tính nghệ thuật Điều đó giúp HS dễ dàng tiếp cận tác phẩm qua việc tự đọc, thởng thức, phân tích tác phẩm HS có thể tự tóm tắt cốt truyện, chỉ ra các tình huống truyện nổi bật (với tác phẩm tự sự) Với tác phẩm trữ tình; HS có thể nêu các đánh giá, phân tích của mình Đây là công việc HS hoàn toàn

có thể tự tiến hành Nó đơn giản nhng GV không thể làm thay vì đó là một bớc quan trọng trong học Văn Có tự đọc tác phẩm HS mới hiểu tác phẩm, tiếp thu đợc những gì

GV giảng HS sẽ phát huy năng lực tự học qua việc tìm hiểu tác phẩm Những tác phẩm

tự sự văn chơng còn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của HS Qua tác phẩm, các em thấy đợc bản thân mình trong đó Do vậy, GV có thể giúp HS tự học qua việc liên hệ thực tế cuộc sống và đặt ra các tình huống để HS vận dụng tốt những tri thức đó Trong quá trình vận dụng tri thức, HS tự hệ thống lại vốn tri thức sẵn có, tự mình giải quyết những vấn đề đặt ra Năng lực t duy, cảm thụ văn học sẽ đợc huy động trong quá trình HS tự tiếp cận, vận dụng tri thức của tác phẩm

Mặt khác, xét trong mối quan hệ liên môn, phân môn giảng văn (đọc văn) có mối quan hệ với nhiều phân môn khác Bài học tác phẩm văn chơng là nguồn t liệu, dẫn chứng phong phú để làm sáng tỏ những nhận định trong bài văn học sử, lí luận văn học Nếu không có kiến thức cụ thể của bài giảng văn bổ trợ, kiến thức văn học sử, lí luận văn học sẽ rất khô khan, áp đặt Việc đan cài các dẫn chứng về tác phẩm sẽ làm kiến thức khái quát về văn học thú vị và có sức thuyết phục hơn Bài giảng văn còn có

ảnh hởng lớn tới bài học tập làm văn Muốn viết đợc một bài văn phải nắm chắc kiến thức về tác phẩm Giờ tập làm văn một phần cũng là giờ ôn tập lại kiến thức của giờ giảng văn Với phân môn tiếng Việt, từ lâu phân môn giảng văn đã có mối quan hệ tất yếu và tự nhiên Bài giảng văn là nguồn dẫn chứng tổng quát và rộng lớn nhất để HS hiểu về những kiến thức tiếng Việt Qua lời giảng của GV và văn bản tác phẩm, HS đợc tiếp xúc với những cách diễn đạt chuẩn và nghệ thuật Từ đó, HS lại đem những kiến thức của bài tiếng Việt để hỗ trợ cho việc diễn đạt lại những suy nghĩ về tác phẩm Có

Trang 35

thể thấy, phân môn giảng văn có tác động lớn tới các phân môn khác Kiến thức bài học tác phẩm tự sự là tiền đề giúp học các phân môn khác tốt hơn.

Ngoài tính chất liên môn, bài học tác phẩm văn chơng còn có tính liên cấp Nó

có nhiệm vụ khái quát hoá và nâng cao kiến thức về tác phẩm văn học mà HS đã đợc học ở cấp THCS ở THPT, HS vừa đợc ôn lại các tác phẩm đã học vừa đợc tiếp xúc mở rộng thêm với các tác giả, tác phẩm mới Kiến thức ở THPT rộng và có hệ thống hơn Các tác phẩm dài và phức tạp hơn Đợc hởng nền móng tri thức về tác phẩm tự sự hiện

đại từ THCS, HS không còn xa lạ gì với cách tiếp cận bài học mới nhng nó cũng đòi hỏi HS phải tìm kiếm thêm nhiều thông tin, tài liệu để mở rộng kiến thức Tự học sẽ giúp HS hệ thống và mở rộng lợng kiến thức của mình

Những thuận lợi này chỉ có tác dụng khi ngời học ý thức đợc và có sự vận động, quyết tâm tự học GV phải tận dụng những thuận lợi này đồng thời giúp HS ý thức đợc

điều đó để việc tự học đạt hiệu quả cao

2.2.3 Khó khăn của bài học tác phẩm văn chơng với việc tích cực hoá hoạt

động tự học cho HS THPT

“Không có con đờng nào thênh thang ” (Mác) Tự học cũng vậy Nó cũng đặt

ra một số khó khăn sau:

Giảng văn hiện nay chủ yếu vẫn đi theo lối cũ Mặc dù việc đổi mới phơng pháp

đã đợc nhắc tới từ lâu nhng việc áp dụng vào nhà trờng còn hạn chế Kiểu dạy quen thuộc là GV đọc cho HS chép hoặc chỉ thuyết giảng đơn độc HS cũng không có thói quen tự mình tìm hiểu tác phẩm trớc khi GV truyền đạt Kiểu dạy và học này đã tạo ra một sức ỳ lớn trong giáo dục hiện nay, đặc biệt khi GV và HS đứng trớc sức ép của thi

cử Thay đổi quan niệm và cách dạy cũ cần một quá trình lâu dài và liên tục GV cần ý thức rõ về vai trò của ngời học Thay vì: “dạy cái gì?” là: “dạy nh thế nào?” Thay thuyết giảng bằng việc khuyến khích HS tự học

Khả năng bao quát của HS cha cao, nhiều tác phẩm dung lợng lại khá dài, có tác phẩm lại hàm súc, nhiều lớp t tởng Với những tác phẩm quá dài HS chỉ đợc tiếp xúc với đoạn trích, không đợc tiếp xúc cả tác phẩm Do vậy, HS có thể gặp khó khăn trong quá trình tự tiếp cận tác phẩm Các em phải đọc kĩ văn bản trong SGK, tìm đọc toàn bộ

Trang 36

tác phẩm Điều này sẽ đợc giải quyết bằng sự giải đáp, hớng dẫn khéo léo và sự khích

lệ kịp thời của GV

Thời lợng giảng dạy còn quá ít so với khối lợng kiến thức đồ sộ Điều đó làm nảy sinh tâm lí dạy cho hết bài trong GV Giá trị của tác phẩm không thể khai thác một cách sâu sắc chỉ vỏn vẹn trong mấy tiết học Đây vừa là thuận lợi vừa là khó khăn Nó chỉ thành thuận lợi khi GV biết giao việc cho HS chuẩn bị ở nhà Nếu không tiết học dễ thành một giờ độc thoại hoặc không hoàn thành

Những khó khăn trên đang đặt ra mâu thuẫn cho dạy tự học Văn nói chung và dạy tự học tác phẩm văn chơng nói riêng Tuy vậy, chúng ta có thể khắc phục những khó khăn này bằng sự kiên trì, đầu tiên là thay đổi t tởng sau đó là áp dụng các biện pháp cụ thể trong từng bài học Khắc phục đợc những khó khăn này thì dạy và học văn mới đạt hiệu quả cao Tự học không dễ dàng nhng cũng không khó tới mức không làm

có một không khí khác hẳn, mang tính chất đối thoại chủ động chứ không phải lối áp

đặt bị động

Nhng trên thực tế, hoạt động này đang bị coi thờng Bài soạn của HS mang tính chất đối phó là chủ yếu, ít có HS tự giác, nghiêm túc trong chuẩn bị bài Vẫn có HS đến lớp mà không chuẩn bị bài, không có bài vở chuẩn bị ở nhà, thậm chí các em cũng chẳng cần đọc SGK, đến lớp nghe thầy cô giảng là đủ Vì thế cần thay đổi thói quen chẩn bị bài cho HS, đầu tiên là thay đổi t tởng rồi tới phơng pháp chuẩn bị bài

2.3.1.2 Cách tiến hành

Trang 37

Bớc 1: HS cha tự giác chuẩn bị bài một phần vì cha hiểu đợc tầm quan trọng nó

Đầu tiên, phải cho các em thấy ý nghĩa của học Văn Văn chơng có giá trị nhiều mặt Giờ học Văn giúp ta tìm ra cái hay, cái đẹp của một tác phẩm nghệ thuật, từ đó bồi d-ỡng nên tình ngời, tình đời tốt đẹp Ngoài ra, học Văn không hề khó nh ta vẫn tởng Bài học vẫn có hệ thống dàn ý rõ ràng, cách tiếp cận khoa học Học Văn ta đợc phát triển cả năng lực t duy và sáng tạo

GV nêu lên tầm quan trọng của việc chuẩn bị bài trớc ở nhà Chuẩn bị bài ở nhà giúp HS lĩnh hội bài giảng tốt hơn Thay vì tập trung nghe giảng kiến thức, HS có thể

đa ra ý kiến, thắc mắc về bài học Các em thấy tự tin hơn khi phát biểu, trả lời câu hỏi Thời gian ở lớp cũng không có nhiều, buộc HS phải học bài trớc ở nhà GV nên khéo léo đan cài những nội dung này trong các tiết học, trong các buổi ngoại khoá, Đề nghị các em viết cảm tởng về bộ môn và kế hoạch học tập ở nhà Yêu thích bộ môn là bớc quan trọng để các em có ý thức tự học và chuẩn bị bài chu đáo

Bớc 3: GV hớng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà

GV nên củng cố và phát triển kết quả học tập tác phẩm trên lớp cho HS Không nên chỉ bằng lòng với tác động trên lớp Kết quả đó phải đợc đào sâu, mở rộng bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có việc hớng dẫn HS củng cố, luyện tập ở nhà GV

có thể phát phiếu điều tra mức độ cảm thụ tác phẩm của HS ngay sau khi học tác phẩm, yêu cầu các em hoàn thành ở nhà Phiếu gồm câu hỏi, phần trắc nghiệm hoặc bài tập liên quan tới phần vừa học

Trớc khi kết thúc tiết học, GV định hớng cho HS chuẩn bị bài cho tiết học sau trong khoảng 2-3 phút Đây là khâu quyết định phần lớn hiệu quả giờ học tới, không thể coi thờng khâu này Nội dung yêu cầu chuẩn bị ở nhà của HS có nhiều mặt đa dạng: yêu cầu đọc trớc tác phẩm, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, suy nghĩ

về các chi tiết nghệ thuật, “Nhng nội dung chủ yếu vẫn là khơi dậy hứng thú của HS với tác phẩm và định hớng HS vào những vấn đề then chốt của tác phẩm mà GV sẽ h-ớng dẫn HS đi sâu vào phát hiện trên lớp” [12 – tr.194] Nội dung chuẩn bị đợc cụ thể hoá bằng hệ thống câu hỏi Câu hỏi chuẩn bị cho HS không đợc tuỳ tiện Mỗi câu hỏi cho HS vừa có tác dụng khơi gợi hứng thú, vừa hớng dẫn HS đi vào thế giới trung tâm cảm hứng của tác giả, vừa có tác dụng chuẩn bị cho hoạt động khám phá của GV và HS

Trang 38

trên lớp Ngoài hệ thống câu hỏi SGK đa ra cuối tác phẩm, GV có thể bổ sung thêm một số câu hỏi nh sau:

Hoàn cảnh ra đời và phong cách tác giả có ảnh hởng gì tới tác phẩm?

Em hãy đọc kĩ và tóm tắt tác phẩm? Tác phẩm có thể chia làm mấy phần?

Tác phẩm có mấy nhân vật? Đâu là nhân vật chính?

Chi tiết, tình huống, sự kiện nào là nổi bật? Em thích chi tiết nào? Tại sao?

Cảm xúc chủ đạo trong tác phẩm là gì? Suy nghĩ của em về cảm xúc đó

GV có thể phát phiếu trắc nghiệm về kiến thức bài học tiếp theo để HS làm ở nhà Đây là hình thức khuyến khích tự học đơn giản và hiệu quả HS sẽ chú ý ngay vào nội dung bài học tiếp theo Phiếu gồm các câu hỏi trắc nghiệm về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, việc đọc hiểu văn bản tác phẩm sắp học

Trong bài học có yêu cầu HS thuyết trình, GV nên dặn dò kĩ lỡng từng HS sẽ thuyết trình để các em chuẩn bị Công việc bao gồm: hớng dẫn HS cách cảm thụ, phân tích tác phẩm; cách trình bày miệng; cách hớng dẫn các bạn trong lớp học bài; Với tr… -ờng hợp nhóm thuyết trình, GV hớng dẫn thêm kĩ năng làm việc nhóm Trớc khi HS thuyết trình, cần dành thời gian tổng duyệt, xem xét, sửa chữa bài cho HS

Bên cạnh hệ thống câu hỏi, GV cũng nên có vài lời “tiếp thị” về bài học tiếp theo Nó giúp tạo ấn tợng ban đầu trong HS về tác phẩm và gây đợc tâm lí tò mò, muốn tìm hiểu tác phẩm HS sẽ thêm mong chờ tiết học tiếp theo Lời giới thiệu phải ngắn gọn, thú vị, nêu ra nét đặc trng nhất của tác phẩm Ví dụ: khi giới thiệu về “Mảnh trăng cuối rừng”, GV có thể nói: “Đây là một câu truyện tình yêu tuyệt đẹp, lung linh, trong sáng nh mảnh trăng thợng tuần trong truyện Tình yêu ấy lại đặt trong khung cảnh khắc nghiệt của chiến tranh Vì thế, nó nh một trò cút bắt Cuối cùng, hai nhân vật có tìm thấy nhau không? Mối tình tác giả đa tới chúng ta có đơn thuần là tình yêu đôi lứa không? Cô và các em sẽ cùng tìm lời giải đáp trong tiết học tới”

Ta cũng có thể cho HS đọc trớc giáo án của GV để nắm đợc tiến trình của tiết học HS càng chủ động tiếp thu thì tiết học càng hiệu quả chứ không gây nhàm chán

Có nhiều cách đa giáo án đến HS song cách sau hay nhất GV gửi giáo án lên các trang web về dạy Văn (ví dụ: bạchkim.vn, giaovien.net, ) và h… ớng dẫn HS cách tải tài liệu

Trang 39

Nếu HS có nhu cầu, các em sẽ tải về Cũng có thể gửi một giáo án cho lớp trởng Ai có nhu cầu thì phôtô Cách này bảo đảm quyền tự chủ của HS hơn là bắt cả lớp phôtô

Bớc 2: GV kiểm tra, đôn đốc việc chuẩn bị bài của HS

Đến lớp, GV phải kiểm tra việc chuẩn bị bài của HS Duy trì thờng xuyên việc kiểm tra miệng để tạo thói quen ôn bài cũ Thu phiếu điều tra kết quả cảm thụ của HS

về bài học trớc, từ đó có hớng điều chỉnh phù hợp Tiếp theo, GV phải xem xét việc chuẩn bị bài mới Việc kiểm tra này không phải chỉ để xem ý thức của HS mà còn để xác định đợc tâm trạng của HS khi bớc vào giờ Văn GV có thể kiểm tra ngay đầu giờ hoặc xen kẽ trong khi giảng bài mới Hình thức kiểm tra đơn giản là xem bài soạn ở nhà của một số HS bất kì, thu phiếu trắc nghiệm về bài mới đã phát từ trớc Ngoài ra,

GV nên nhắc lại các câu hỏi chuẩn bị bài đã đa ra từ tiết trớc để HS giải đáp Đáp án của những câu hỏi đó sẽ xen kẽ trong khi phân tích tác phẩm GV nên hỏi cảm tởng tổng quát của HS về tác phẩm trớc khi bớc vào phân tích Cần dành thời gian bổ sung cho HS những vấn đề cha thông, cha rõ trong quá trình tự học

Tự học không phải công việc dễ dàng vì thế GV không nên trách mắng HS nếu các em vớng phải vấn đề khó, cha giải đáp ngay đợc Cần phải hớng dẫn từ từ, động viên, khích lệ HS là chính Coi một phần nhỏ các em tự làm đợc cũng là đáng quý Nghiêm khắc với những trờng hợp HS nhờ làm hộ hay đi sao chép kết quả chuẩn bị bài

Tự đọc tác phẩm là phơng tiện quan trọng của tự học văn Hớng dẫn HS tự đọc tác phẩm, SGK, tài liệu bổ sung có nghĩa là chúng ta đã giúp đỡ các em tự lĩnh hội, mở rộng kiến thức Tự đọc phải đi kèm với kĩ năng tự tóm tắt tác phẩm Thờng các tác phẩm tự sự rất dài Có tóm tắt lại mới hiểu đợc nội dung chính tác giả muốn truyền đạt Tóm tắt là thu gọn lại nhng phải theo từng phần, mỗi phần luôn thể hiện đợc tính cô

đọng nhất về nội dung Kĩ năng đọc và tóm tắt còn có thể áp dụng với các tài liệu liên

Trang 40

quan để mở rộng kiến thức cho HS Hai bớc trên là tiền đề để thực hiện bớc thứ 3: phân tích tác phẩm Phân tích là cách thức nghiên cứu chi tiết, các mặt riêng biệt, những mặt riêng lẻ của tác phẩm văn chơng nhằm mục đích phát hiện mối tơng quan giữa chúng

để đạt tới sự nhận thức chung sâu sắc hơn Để chiếm lĩnh vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình ợng và hiểu t tởng của tác giả đòi hỏi HS phải cắt nghĩa, phân tích, khái quát hoá tác phẩm Cảm thụ đợc tác phẩm là một thành quả lớn song phải cụ thể hoá nó qua văn bản viết, nói hoặc thực hành Do vậy, cần hớng dẫn HS kĩ năng viết bài cảm thụ, thuyết trình bài đó trớc đông ngời Bên cạnh đó là ý thức, khả năng nghe để thu thập kiến thức

t-và thực hành nó trong đời sống

Tuy nhiên, dễ nhận thấy một thực trạng: HS ít chịu đọc sách Đọc tác phẩm cha thành một nhu cầu với các em, nó chỉ dừng lại ở mức độ bắt buộc khi có yêu cầu của GV Trong quá trình đọc, HS cũng cha biết tóm tắt, cha có khả năng phân tích những điều đã đọc Trình bày vấn đề trớc đông ngời và viết văn cũng là điều còn vớng mắc của HS Hầu hết các em đều ngại viết – nói Giỏo dục trong nhà trường THPT hiện đang xảy ra thực trạng: một giờ dạy học toàn thấy GV núi, làm HS vểnh tai lờn nghe (đau xút hơn nhiều khi cỏc em cũn thớch núi, làm việc riờng) Kĩ năng núi khụng được chỳ ý thường xuyờn trong cỏc bài học Điều đó lâu ngày tạo tính ì trệ, rụt rè Chính vì vậy, cần rèn thói quen và các kĩ năng tự học tác phẩm văn chơng cho HS

2.3.2.2 Cách tiến hành

Bớc 1: Rèn kĩ năng đọc cho HS

GV nên định hớng mục tiêu đọc sách cho HS Đọc tác phẩm và tài liệu liên quan không phải là đọc tràn lan về số lợng mà cần có mục đích cụ thể Mục đích gần là đọc

để lĩnh hội bài giảng trên lớp, để bổ sung kiến thức làm bài thi, bài thảo luận, Mục

đích xa là tích luỹ kiến thức phục vụ cho việc học ở cấp cao hơn Trớc khi yêu cầu HS

đọc sách, GV hãy nêu mục tiêu đọc cụ thể Việc này giúp HS đọc tích cực và có lựa chọn hơn

GV định hớng việc chọn sách tham khảo cho HS Không nên để HS phí thời gian vào các loại sách vô bổ Hãy định hớng cho HS đọc mở rộng thêm các tác phẩm của các tác giả đã học, đọc thêm các tài liệu chính thống liên quan tới chơng trình học

Ngày đăng: 09/09/2013, 06:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Thị Bình (1998), Bài phát biểu tại Hội thảo “Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1998
6. Phạm Văn Đồng (1998), Th gửi Hội thảo “Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và phát triển tự học – tự đào tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1998
1. Trần Thị Tuyết Anh (chủ biên) (2006), Giáo trình Giáo dục học, tập 1, NXB ĐHSP Khác
4. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng theo loại thể, NXB ĐHQG Hà Nội Khác
5. Nguyễn Nghĩa Dân (1999), Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 1 Khác
7. Phạm Văn Đồng, Dạy học là một quá trình rèn luyện toàn diện, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 28 Khác
8. Lê Thanh Hà (2006), Bớc đầu tìm hiểu hoạt động tự học của sinh viên trờng Đại học S phạm Hà Nội 2 Khác
9. Lê Thị Diệu Hoa (2005), Biện pháp phát triển năng lực tự nghiên cứu của HS THPT trong dạy học tác phẩm văn chơng, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục Khác
10. Lê Văn Hồng (2001), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học s phạm, NXB ĐHQG HN 11. I.F.Kharlamop (1978), Phát huy tính tích cực của HS nh thế nào, NXB GD Khác
12. Phan Trọng Luận – Nguyễn Thanh Hùng (2005), Phơng pháp dạy học văn, NXB §HQGHN Khác
13. Nguyễn Đăng Mạnh (2004), Lịch sử văn học Việt Nam, NXBĐHSP Khác
14. Vũ Thị Sáu (2003), Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua giờ học tác phẩm tự sự hiện đại, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục Khác
15. Nguyễn Cảnh Toàn (1997), Quá trình Dạy-Tự học, NXB Giáo dục Khác
16. Thái Duy Tuyên (1998), Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, NXB GD Khác
17. SGK Ng÷ v¨n líp 12 thÝ ®iÓm ban KHXHNV, bé 1, tËp 1, NXB GD Khác
18. SGK Ng÷ v¨n líp 12 thÝ ®iÓm ban KHXHNV, bé 1, tËp 2, NXB GD Khác
19. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cấu trúc quá trình học tập - Luan van thac si phuong phap van
Sơ đồ c ấu trúc quá trình học tập (Trang 22)
Bảng so sánh hình thức dạy học thụ động và dạy học có tính tích cực - Luan van thac si phuong phap van
Bảng so sánh hình thức dạy học thụ động và dạy học có tính tích cực (Trang 26)
- Phần 1: hình ảnh rừng xà nu - Luan van thac si phuong phap van
h ần 1: hình ảnh rừng xà nu (Trang 86)
Câu hỏi 1: Hình tợng cây xà  nu xuất hiện ở những phần nào  trong   tác   phẩm?  Đọc   những - Luan van thac si phuong phap van
u hỏi 1: Hình tợng cây xà nu xuất hiện ở những phần nào trong tác phẩm? Đọc những (Trang 87)
Câu hỏi 3: Hình tợng cây xà  nu   đợc   miêu   tả   nh  thế   nào   ở  phần đầu tác phẩm? ý nghĩa? - Luan van thac si phuong phap van
u hỏi 3: Hình tợng cây xà nu đợc miêu tả nh thế nào ở phần đầu tác phẩm? ý nghĩa? (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w