Từ luận điểm nàychúng ta thấy rằng nguyên nhân thất bại của chế độ XHCN ở Liên Xô vàĐông Âu nằm chính trong đường lối, bước đi của cải tổ.Vì vậy, nghiên cứu công cuộc cải tổ ở Liên Xô để
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói, thế kỉ XX đã đi vào lịch sử nhân loại với những dấu ấn sâu sắc, một trong những dấu ấn cho đến ngày nay khi nhân loại bước sang thế kỉ XXI vẫn còn để lại những đánh giá nhìn nhận, đó là sự sụp đổ của Liên
Xô và Đông Âu Thực tế sau hơn 70 năm tồn tại với nhiều thành tựu vĩ đại, CNXH ở Đông Âu và Liên Xô bước vào giai đoạn khủng hoảng toàn diện dẫntới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở khu vực này.Liên bang Xô Viết tan rã ngày 26.12.1991, 15 nước công hòa Liên bang trước đây đã thành lập những nước độc lập, có chủ quyền, 11 nước đã liên kết với nhau trong cộng đồng cácquốc gia độc lập (SNG) Đây là hậu quả của khủng hoảng kinh tế, chính trị,
xã hội đã kéo dài từ nhiều thập kỉ nay Một khúc quanh kịch tính nhất, đau đớn nhất từ sau Cách mạng Tháng Mười đến nay Tại sao? Có thể nói, người
ta sẽ còn bàn luận nhiều về sự sụp đổ của Liên xô như một bài học đắc giá không quên Nhiều nhà khoa học, chính trị Châu Âu đã cho rằng sự thất bại hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới là không thể tránh khỏi,
vì nguyên nhân của sự sụp đổ này nằm trong bản chất của chủ nghĩa xã hội
Mà về bản chất, chủ nghĩa xã hội không thể đổi mới được
Nhưng thực tế cho thấy, nhìn phạm vi toàn thế giới, nhận xét trênkhông có căn cứ xác đáng bởi ở những nước lựa chọn con đường XHCN nhưTrung Quốc, Việt Nam, sau quá trình đổi mới các nước này không những đãthoát khỏi khủng hoảng mà chế độ XHCN còn được củng cố Kinh tế - chínhtrị ổn định, có bước tiến rõ rệt Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể Rõràng, không thể nhận định rằng chủ nghĩa xã hội là vô vọng, không thể đổimới được như nhiều nhà nghiên cứu Phương Tây khẳng định
Vậy ở đây có vấn đề: Cái gì chi phối thành công hay thất bại của chế độchủ nghĩa trong điều kiện của cuộc khủng hoảng chung của chủ nghĩa xã hội
Trang 2vào những năm 80 ? Theo dõi diễn biến các sự kiện xảy ra tại các nướcXHCN ở Châu Á lẫn châu Âu trong những năm 80 cho thấy, để thoát khỏikhủng hoảng, trì trệ, hội nhập với thế giới, hầu hết tất cả các nước này đều bắttay vào công cuộc cải cách mở cửa, đổi mới, cải tổ đất nước Song đường lốicải cách, đổi mới, cải tổ ở các nước này cũng có sự khác biệt Trung Quốc,Việt Nam ưu tiên hàng đầu cải cách kinh tế, coi đó là trọng tâm của cải cách.Đổi mới, cải cách chính trị về thực chất chỉ là tạo điều kiện, thúc đẩy cải cáchkinh tế mà thôi Ở Liên Xô và Đông Âu tình hình lại khác hẳn Sau một vàinăm tiến hành cải cách kinh tế không mấy thắng lợi, các nước này đã quaysang cải cách chính trị, coi đó là khâu then chốt, quyết định cho cải cách ởlĩnh vực khác Kết quả là Trung Quốc, Việt Nam đã thoát khỏi trì trệ khủnghoảng đi lên còn Đông Âu và Liên Xô thì rơi vào sụp đổ Từ luận điểm nàychúng ta thấy rằng nguyên nhân thất bại của chế độ XHCN ở Liên Xô vàĐông Âu nằm chính trong đường lối, bước đi của cải tổ.
Vì vậy, nghiên cứu công cuộc cải tổ ở Liên Xô để có những nhìn nhậnkhách quan về sự thực lịch sử từ đó thấy những sai lầm và có thể rút ra nhữngkinh nghiệm cho các nước vẫn kiên định con đường chủ nghĩa xã hội
Mặt khác, Liên Xô và Việt Nam đều lựa chọn con đường đi lên chủnghĩa xã hội Ở Liên Xô, chủ nghĩa xã hội đã từng đạt những thành tựu to lớn,điển hình nhưng cuối cùng đi đến sụp đổ, còn ở Việt Nam, chúng ta đang trêncon đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và nhân dân học tập, rút kinhnghiệm được gì từ sự thất bại của công cuộc cải tổ ở Liên Xô? Nghiên cứu,tìm hiểu cải tổ ở Liên Xô, có thể phần nào giúp chúng ta tránh khỏi nhữngbước đi sai lầm và vững tin hơn trên con đường đổi mới
Với tôi, vừa là một học viên, vừa là giáo viên giảng dạy môn lịch sử,những hiểu biết khi làm đề tài này giúp tôi tự tin hơn trong giảng dạy, trongviệc đánh giá, nhận xét một cách khách quan về sự tan vỡ của Liên Xô cũngnhư một vấn đề lịch sử, tránh hiện tượng bóp méo, tô hồng lịch sử, từ đó
2
Trang 3chúng ta có thể nhìn nhận một cách thấu đáo, toàn diện hơn tiến trình lịch sửđang tiếp diễn.
Việc nghiên cứu công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 - 1991) vừa mangtính lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn Và đó chính là lý do khiến tôi chọn vấn
đề “công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 - 1991)” làm đề tài luận văn
2 Lịch sử vấn đề.
Những biến động kinh tế, chính trị, xã hội của công cuộc cải tổ ở Liên
Xô năm 80, 90 đã có trên 20 năm lắng đọng Nhưng cho đến ngày nay, vẫn cónhiều ý kiến tranh luận xung quanh công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 - 1991)
Đã có nhiều tác giả đề cập tới biến động ở Liên Xô trong thời gian chúng taquan tâm, ở từng mặt, từng khía cạnh, từng giai đoạn riêng biệt trong đó tiêubiểu có một số công trình, bài viết của các học giả:
*Các học giả Nga:
Nhiều tác giả đã từng là nhân chứng sống của cuộc cải tổ Họ hồi tưởng lại và viết thành sách Những tác phẩm này là nguồn ta liệu chân thực về công cuộc cải tổ.
1 V I Bôdin, Sự sụp đổ của thần tượng – những nét chấm phá chân
dung M.X.Goocbachốp, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội - 2002 Tác giả là
người thân cận của Goocbachốp nên ông được chứng kiến trực tiếp nhưng sựkiện diễn ra ở thời điểm đó Cuốn sách là những suy nghĩ của ông vềGoocbachốp Lúc đầu ông có ấn tượng rất tốt về Goocbachốp nhưng dần dần
“thần tượng” đó đã bị sụp đổ
2 V.A Métvêđép - Ê kíp Goocbachốp nhìn từ bên trong NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1996 Metvêđép là một nhân vật chủ chốt trong ê kípGoocbachốp thời kỳ những năm cải tổ Thông qua các cuộc tranh luậntrong giới thân cận Goocbachốp qua các cuộc luận chiến với các lực lượngchính trị khác nhau, tác giả đánh giá, xem xét, lý giải những mốc chínhtrong thời kỳ cải tổ
Trang 43 Vichto Aphanaxiep - Quyền lực thứ tư và bốn đời tổng thống NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Trong cuốn sách tác giả dành một phần viết
về “Goocbachốp và công cuộc cải tổ” Tác giả trình bày quan điểm của mình
về công cuộc cải tổ, về con người, phẩm chất của Goocbachốp
4 Rưscốp Nhicôlai Ivanôvich, Cải tổ: Lịch sử của những sự phản bội.
Tổng cục 2, Bộ quốc phòng, 1992.Là một người được cử làm chủ tịch Hộiđồng bộ trưởng Liên Xô trong 6 năm “cải tổ chính thức”, ông có điều kiệntiếp xúc trực tiếp với những gì đang diễn ra trong trong thời điểm cải tổ Chủ
đề tư tưởng xuyên suốt tác phẩm là: cải tổ, các sự kiện lớn diễn ra trong thời
kỳ cải tổ, sự phản bội của Goocbachốp, qua đó tác giả đưa ra hệ thống quanđiểm của mình
5 Cuốn “sự phản bội của Goocbachốp “,NXB Công an nhân dân, Hà
Nội, 1998 do tập thể tác giả biên soạn trong đó có phần “sự phản bội củaGoocbachốp” của Etduard Iacovlep ở đây tác giả dường như lần theo các sựkiện từ tháng 3/1985 khi Goocbachốp thành Tổng bí thư đến tháng 8/1991 thìcải tổ sụp đổ, rồi cuối cùng đi đến kết luận về sự phản bội của Goocbachốp
6 V.Paplốp, A.lakianốp, V.criuscốp : Goocbachốp - Bạo loạn sự kiện
tháng tám nhìn từ bên trong NXB Chính trị Quốc gia, 1994.Ba tác giả là
những thành viên của Uỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp, trực tiếp thamgia công cuộc cải tổ, cuốn sách cung cấp cho chúng ta những tư liệu vềnguyên nhân đưa công cuộc cải tổ đi chệch quỹ đạo XHCN, các tư liệu vănbản, chứng cớ, lập luận có tính phản biện xung quanh sự kiện 19 - 8 - 1991
7 A.Đôbrunhin - Đặc biệt tin cậy, Vị đại sứ ở Oasingtơn qua 6 đời
Tổng thống Mỹ, NXB Chính trị Quốc gia, 2001 Tác giả của cuốn sách nguyên
là Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, nhà ngoại giao chuyên nghiệp
kỳ cựu, cựu Đại sứ Liên Xô tại Mỹ qua 6 đời Tổng thống Mỹ Cuốn sáchchứa đựng những thông tin tư liệu chưa hề công bố, trình bày lịch sử quan hệngoại giao giữa Liên Xô và Mỹ trong năm 1960 - 1990, qua đó phác hoạ đầy
4
Trang 5đủ về mối quan hệ Xô - Mỹ đầy phức tạp.
8 Osepov.G.V - Những huyền thoại của cuộc cải tổ và hiện thực sau
cải tổ đăng trên Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 93 - 13, Hà Nội, 1993.
Tác giả là Viện sĩ, Viện trưởng Viện nghiên cứu chính trị xã hội thuộc Việnhàn lâm khoa học Nga Bài viết là sự mổ xẻ thực tiễn Đó là những suy nghẫm
về những sự kiện có tầm quan trọng trong xã hội về công cuộc cải tổ và hậucải tổ…
*Các học giả phương Tây:
1 Suman Son có "Những ông chủ Kremlin, quyền lực và số phận" Hà
Nội, 2003.trong đó có giành một phần viết về Goocbachốp với cái nhìn mới
mẻ về con người này
2 Các nhà khoa học Phương Tây với công cuộc cải tổ ở các nước
XHCN và Đảng cộng sản Pháp với công cuộc cải tổ ở các nước XHCN là hai
bài tổng thuật được đăng trên tạp chí "Thông tin khoa học xã hội", số 1, số 2
-1991 Bài thứ nhất chủ yếu phản ánh ý kiến của các nhà khoa học phương Tâythuộc nhiều khuynh hướng khác nhau về công cuộc cải tổ ở Liên Xô và cácnước XHCN Bài thứ hai phản ánh thái độ của Đảng cộng sản Pháp với côngcuộc cải tổ, có thể cho những người quan tâm đến công cuộc cải tổ này tìmhiểu, suy nghĩ, rút ra kinh nghiệm
3 Geard Duchêne Một số ý kiến đánh giá đường lối cải tổ ở Liên Xô
-Bản tin tham khảo nội bộ số 20,1990 Tác giả là nhà kinh tế học người Pháp
đã điểm lại trên nhiều khía cạnh tình hình phát triển kinh tế của Liên Xô từkhi phát động cải tổ, từ đó đưa ra ý kiến đánh giá về nó
4 A.I I - dum - mob - Nền kinh tế Liên Xô dưới con mắt phương Tây
đăng trong Bản tin chọn lọc, số 6, 1989 Bài này trình bày tổng quát cách nhìnnhận về cải tổ kinh tế ở Liên Xô của các nhà Xô Viết Phương Tây Trong bài
có sử dụng tư liệu được nghe ở Quốc hội Mỹ, các thông tin đánh giá của cácchuyên gia chính phủ, các sách chuyên đề và các bài viết của các nhà nghiên
Trang 6cứu nổi tiếng ở Phương Tây, thông tin của các báo, tạp chí, các tư liệu qua cáccuộc thảo luận của tác giả với các chuyên gia Phương Tây.
*Các học giả Trung Quốc:
1 Đào Lộc Bình - Nói chuyện về công cuộc cải tổ ở Liên Xô, NXB Sự
thật, 1998 Trong cuốn sách này tác giả đề cập đến các vấn đề về cải tổ nhưvấn đề khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, cải tổ nông nghiệp, dân chủ hoá xãhội, chăm lo đời sống nhân dân Vì đây là tác phẩm viết vào thời điểm côngcuộc cải tổ đang diễn ra, được dịch năm 1987 nên chỉ dừng lại nghiên cứu ởgiai đoạn một của cải tổ
2 Du Thuý - Mùa đông và mùa Xuân Matxcơva, chấm dứt một thời đại.
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.Đây là công trình chuyên khảo đisâu vào những chủ trương biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xãhội gây nên tình trạng rối loạn trong xã hội, kinh tế suy sụp, đời sốngnhân dân thấp kém… Là người ngoài viết về một sự kiện đang diễn ra ởnước khác, nên trong cách nhìn nhận đánh giá của tác giả không thể tránhkhỏi những hạn chế nhất định Tuy nhiên cuốn sách cung cấp cho chúng tanhững tài liệu quý báu để tìm hiểu đề tài này
3 Tiêu Phong - Hai chủ nghĩa một trăm năm, NXB chính trị Quốc gia,
2004, được dịch nguyên bản từ tiếng Trung Quốc Cuốn sách này được nhậngiải thưởng sách hay toàn Trung Quốc năm 2002 Tác giả là một nhà nghiêncứu nổi tiếng ở Trung Quốc, là cố vấn uỷ ban chuyên ngành chủ nghĩa xã hộithế giới thuộc Học hội chủ nghĩa xã hội khoa học Trung Quốc Trong cuốnsách tác giả dành một phần đề cập đến sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa
xã hội (CNXH) và chủ nghĩa tư bản (CNTB), nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổcủa CNXH ở Liên Xô và Đông Âu… Trong sách tác giả đã dẫn một số tư liệu
và sự kiện khác với tư liệu và sự kiện chúng ta hiện đó Song đó là nguồn tàiliệu tham khảo quý báu
4 Lương Văn Đồng – Chiến lược diễn biến hoà bình của Mỹ Tổng cục
6
Trang 7II - Bộ quốc phòng, 5/1993.Tác giả thông qua cuốn sách trình bày cô đọng
về ý đồ bá quyền thế giới của Mỹ qua chiến lược ngăn chặn, chiến lược diễnbiến hoà bình Cuốn sách này giúp ta tìm hiểu về sự chống phá của chủnghĩa Đế quốc với công cuộc cải tổ ở Liên Xô
*Các học giả Việt Nam:
1 Nguyễn Khắc Viện - Liên xô 70 năm trên con đường khai phá, 1987
và “Liên Xô mô hình mới của chủ nghĩa xã hội” - 1988 NXB Tổng hợp Phú
Khánh, Hà Nội Hai cuốn sách này đề cập đến tính tất yếu của cải tổ Cải tổ
là cách mạng, không có con đường nào khác ngoài cải tổ
2 Năm 1988, Viện kinh tế thế giới có xuất bản thông tin chuyên đề
“Cải tổ ở Liên Xô” Cuốn sách giới thiệu một số bài viết và trả lời phỏng vấn
của các viện sĩ, viện trưởng về công cuộc cải tổ đang diễn ra
3 Sóng Tùng - Vì sao chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Đông Âu và
Liên Xô sụp đổ, đăng trên tạp chí Cộng sản số 2, 1990 Bài viết có đề cập đến
sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trong đó nguyên nhân trực tiếp của nó
là công cuộc cải tổ (1985 - 1991) gây ra
4 Nguyễn Thị Hoa, Nhìn lại công cuộc cải tổ ở Liên Xô trước đây đăng
trên Tạp chí cộng sản số 114, 2006 Bài viết tổng hợp nguyên nhân thất bạicủa cải tổ và rút ra bài học kinh nghiệm từ cải tổ
5 Quang Lợi, tác giả của bài bút ký “Cải tổ - vùng mắt bão” Bài viết
được ghi lại từ những cảm nhận của tác giả khi ông trực tiếp sang thăm Liên
Xô vào thời gian cuối của cuộc cải tổ, khi đất nước Liên Xô lâm vào khủnghoảng Bài viết cung cấp cho ta số liệu về cuộc khủng hoảng kinh tế ở LiênXô
Nhìn chung các tác giả nghiên cứu công cuộc cải tổ ở nhiều khía cạnhkhác nhau Các quan điểm trước đây đều nhằm vào chỉ trích Goocbachốp, đổhết lỗi cho ông Ngày nay, sau hơn hai mươi năm nhìn lại, có lẽ cần có mộtcái nhìn mới khách quan hơn về tổng thể cuộc cải tổ này Mặt khác các công
Trang 8trình nghiên cứu chỉ mới chỉ đề cập đến từng hiện tượng khía cạnh nhỏ, chưa
có sự đánh giá tổng quát, do đó chúng tôi mong muốn được đi sâu nghiên cứuhơn nữa trong luận văn này
Những công trình tôi đề cập ở trên là nguồn tài liệu quý giá cho tôitham khảo để hoàn thành luận văn của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công cuộc cải tổ ở Liên Xô diễn ra từ năm 1985 đến 1991
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Mục tiêu:
Đề tài nhằm tìm hiểu công cuộc cải tổ từ 1985 đến 1991 vì vậy đề tài sẽlàm rõ sự cần thiết phải tiến hành cải tổ, quá trình cải tổ, hậu quả của nó đồngthời rút ra nhận xét, bài học kinh nghiệm
4.2 Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài là giải quyết các vấn đề
để làm rõ:
1 Hoàn cảnh lịch sử và đường lối cải tổ:
- Bối cảnh trong nước và thế giới của công cuộc cải tô ở Liên Xô 1991)
(1985 Mục tiêu, nhiệm vụ, đường lối cải tổ
2 Quá trình cải tổ :
- Quá trình cải tổ diễn ra trong 3 giai đoạn
8
Trang 9- Kết quả của cải tổ.
3 Nhận xét công cuộc cải tổ và rút ra bài học kinh nghiệm
- Nhận xét về cải tổ
- Bài học kinh nghiệm
5 Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được thực hiện trên quan điểm duy vật lịch sử, phản ánhtrung thực quá trình cải tổ ở Liên Xô, nhìn nhận, đánh giá các vấn đề đặt ratrong mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Là một đề tài liên quan đến lịch sử chính trị, luận văn được thể hiệntheo trình tự thời gian, kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic đểtrình bày và lý giải quá trình cải tổ
Đồng thời, đề tài được nghiên cứu dựa trên việc sử dụng những phươngpháp sưu tầm, tra cứu,phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp… nhằm làm nổibật những sự kiện quan trọng của quá trình cải tổ
6 Đóng góp của Luận văn.
Qua Luận văn này,tôi muôn góp phần dựng lại những nét chính trongquá trình hình thành đường lối, diễn biến, kết quả của cuộc cải tổ, giúp ngườiđọc có cái nhìn tương đối về giai đoạn quan trọng trong lịch sử Liên Xô
Từ những so sánh, đối chiếu cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước XHCNkhác, giúp chúng ta rút ra những bài học bổ ích, tránh được những sai lầmđáng tiếc xảy ra trên con đường đổi mới ở nước ta
Toàn bộ luận văn với những tài liệu thu thập được góp phần làm phongphú thêm kho tàng tư liệu, phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử thếgiới hiện đại
7 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương I: Hoàn cảnh lịch sử và đường lối cải tổ
Trang 10Chương II: Quá trình thực hiện và kết quảcông cuộc cải tổ ở Liên Xô(1985 - 1991)
Chương III: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm
10
Trang 11B NỘI DUNG Chương 1: Hoàn cảnh lịch sử và đường lối cải tổ1.1 Hoàn cảnh lịch sử.
1.1.1 Tình hình trong nước:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô trở thành cường quốc thứ haitrên thế giới Sự lớn mạnh đó là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy bảnchất ưu việt của chế độ XHCN (XHCN) Tuy nhiên kể từ đầu những năm
1970 tốc độ của Liên Xô bắt đầu chậm lại và rơi vào trì trệ Đúng nhưGoocbachốp đã thừa nhận: "Cách nhìn trung thực và không thiên kiến dẫnchúng ta đến kết luận chắc chắn rằng: Đất nước đang ở vào tình trạng tiềnkhủng hoảng [27; 32]
1.1.1.1 Về kinh tế
Nền kinh tế Liên Xô trong những năm 70, 80 trì trệ, nguyên nhân là do
nền kinh tế không kịp thời chuyển từ quỹ đạo phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, phát triển theo chiều rộng chủ yếu dựa vào cách làm tăng sức
lao động, tăng xí nghiệp, thiết bị Tài nguyên thiên được khai thác "không tiếctay" đáng lẽ ra phải hiện đại hoá máy móc và quy trình công nghệ thì lại mởrộng và xây dựng thêm nhà máy Thiết bị giá cũ, máy móc không được tậndụng phải dùng một khối lượng nhân công quá lớn để sửa chữa Việc xâydựng các xí nghiệp mất nhiều thời gian Giữa thiết kế và thi công là mộtquãng thời gian dài từ 8 đến 10 năm Đến lúc đi vào hoạt động thì nhà máy đó
đã lạc hậu về mặt kỹ thuật [10; 8] Liên Xô cho xây dựng hàng loạt tổ hợpsản xuất khổng lồ theo lãnh thổ như tổ hợp sản xuất miền tây Xibia để khaithác dầu và khí đốt Trong khi trên thế giới dầu lửa tăng vọt thì ở Xibia giáthành lại hạ do dầu tự phun lên Trong những năm 70, khai thác dầu ở Xibiatăng 10 lần Ở Liên Xô lúc này đẻ ra ảo giác về sự vô tận của tài nguyên thiênnhiên Những ảo giác đó cũng như thu nhập từ xuất khẩu dầu lửa và khí đốt
Trang 12đã tạo ra sự chóng mặt trong giới lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Trong những năm 70, việc khai thác than cũng được đẩy mạnh Hai tổhợp khai thác than là Pavôlôđarơxcơ - Ekibaturơxki và Canxcô Achinxki.Các tổ hợp công nông nghiệp cũng được xây dựng như nhà máy ô tô Camxkibên bờ sông Chennắc…
Như vậy việc phát triển kinh tế theo chiều rộng sử dụng tối đa lợi thế tựnhiên, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp, thiết bị lao động đã làm cho tiềm lựcLiên Xô ngày càng cạn kiệt nguồn tài nguyên bị lãng phí nghiêm trọng Chính
sau này Goocbachốp cũng phải thừa nhận "Chúng ta đã tiêu phí và đến nay
vẫn còn tiêu phí nhiều nguyên liệu, năng lượng, những tài nguyên khác trên đơn vị sản phẩm hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác Của cải của nước ta… đã nuông chiều chúng ta, nói một cách thô bạo đã làm hư hỏng chúng ta” [27; 26].
Kết quả là, nền kinh tế Liên Xô vẫn ở giai đoạn phát triển công nghiệptrong khi kinh tế các nước phát triển đã chuyển sang giai đoạn khoa học -công nghệ Nếu ở các nước phát triển cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật quyđịnh sự phát triển chung thì ở Liên Xô, đầu những năm 80 mới chỉ có 10% -15% các xí nghiệp tự động hoá hoặc cơ giới hoá đồng bộ Chỉ khoảng 10% -15% công nhân có trình độ chuyên môn cao Lao động chân tay còn chiếm70% - 75% trong nông nghiệp Nguồn dự trữ sức lao động cũng giảm dần Từ
1960 - 1970 sức lao động bổ sung là 23,2 triệu trong thập niên 70 còn 17,8triệu và tiếp tục giảm trong những năm 80 [35, 228]
Trong nông nghiệp tình hình lại càng tồi tệ hơn Hạn hán mất mùa vào
1972 và 1975 buộc phải nhập một khối lượng lớn ngũ cốc từ Bắc Mỹ và cácnước phương Tây Chăn nuôi chưa bao giờ đáp ứng nhu cầu trong nước Từ
1970 đến 1987 lượng lương thực và thực phẩm nhập khẩu tăng lên khôngngừng: mỡ động vật tăng 183.2 lần, ngũ cốc tăng 13.8 lần, dầu thực vật 12,8lần…Năm 1985, nhập khẩu lương thực chiếm 21% tổng giá trị kim ngạch
12
Trang 13nhập khẩu của Liên Xô.[2; 381]
Cơ cấu kinh tế Liên Xô bị mất cân đối
Việc tăng quân số và tăng cường chạy đua vũ trang nhằm giành thế cânbằng với Mỹ làm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân mang đặc trưng quân sự rõrệt Công nghiệp nhẹ và nông nghiệp luôn là khâu yếu trong toàn bộ nền kinh
tế Do vậy nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng củanhân dân không được đáp ứng
Tỷ lệ giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ mất cân đối vì ưu tiênphát triển công nghiệp nặng là nguyên tắc bất biến trong chính sách của Liên
Xô Theo số liệu thống kê năm 1985 tỷ trọng giá trị sản lượng của côngnghiệp nhóm A chiếm 74,8%, công nghiệp nhóm B chiếm 75.3% trong tổngsản phẩm, tương đương với tỷ trọng sản lượng công nghiệp nặng năm caonhất thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai [74; 21]
Sự mất cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp cũng ngày càng giatăng Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp tụt xa so với công nghiệp Năm
1960 đến 1975 giá trị sản lượng công nghiệp tăng 3,2 lần, còn giá trị sảnlượng nông nghiệp chỉ tăng 0,4 lần Trong những năm Brêgiơnhép cầm quyềnsản lượng lương thực bình quân theo đầu người hàng năm từ 570 kg tăng lênkhoảng 800 kg Vốn sản xuất cố định tăng 4 lần Tuy nhiên, hiệu quả đầu tưkhông cao, thức ăn cho gia súc thiếu thốn, khả năng chống thiên tai kém Mỗinăm Liên Xô nhập khẩu từ 30 - 40 triệu tấn lương thực [74; 22]
Cơ chế quản lý kinh tế cứng nhắc:
Trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô một cơ chếquản lý kinh tế đã hình thành Đó là cơ chế kế hoạch hoá một cách cứng nhắc,tập trung hoá quản lý và bộ máy hành chính quan liêu hoá, khuynh hướngbình quân chủ nghĩa Chính cơ chế đó đã cản trở sự phát triển và tính tự chủcủa các cơ sở sản xuất Từ sau năm 1970 số lượng chỉ tiêu kế hoạch phân bổcho các xí nghiệp ngày càng tăng Những cơ sở sản xuất chỉ lo thực hiện các
Trang 14chỉ tiêu, không có điều kiện tự hạch toán, phát huy sáng kiến Cả đất nướckhông kịp thời xoay chuyển theo đòi hỏi của nền sản xuất hiện đại.
Xét công bằng trong thời kỳ chiến tranh (1941- 1945) cơ chế quản lý
đó đã góp phần giúp Liên Xô xây dựng thành công đất nước, chiến thắng phátxít Sau khi chiến tranh cơ chế đó vẫn giúp cho Liên Xô trong một thời giandài phục hồi sức lực của mình và đạt được những thành tựu lớn
Nhưng sau đó, khi hoàn cảnh thế giới và trong nước đã thay đổi Những
ưu tiên phát triển công nghiệp nặng đã làm ảnh hưởng tới các ngành côngnghiệp khác Các hình thức quản lý kỷ luật mang tính chất quân sự vẫn tồntại trong lúc các động lực của đời sống kinh tế đã biến đổi như kích thíchngười lao động bằng vật chất, chất lượng lao động, đánh giá cao vị trí ngườilao động…
Một minh chứng cho cơ chế quản lý quan liêu mệnh lệnh là sự kiện màN.C Baibacốp đã kể lại trong cuốn sách của mình: Trong công cuộc đấu tranh
vì những công nghệ mới ở Liên Xô những năm 80, A.I But - một kỹ sư làmviệc ở Uỷ ban kỹ thuật nông nghiệp nhà nước- đã phát minh ra phương pháp
"ôdôn hóa" Đó là chiếc máy phun khí ôdôn để diệt trùng, bảo vệ rau quả.Việc ứng dụng phương pháp này sẽ làm giảm đáng kể những tổn thất trongquá trình bảo quản Nhưng ông But không chờ đợi được đến khi phương phápnày được áp dụng
Thí dụ thứ hai là trường hợp của tiến sĩ I A Hintơ Ông sáng chế ra máynghiền công nghệ cao và được ban giám định quốc gia thừa nhận là có khảnăng ứng dụng với hiệu quả kinh tế cao Nhưng sáng chế đó không được Liên
Xô áp dụng Các nước phương Tây đã mua bằng phát minh và mời ông đến
để tổ chức sản xuất Baibacốp - người trực tiếp chứng kiến điều đó đã chua
xót kết luận: "Trên khắp thế giới các nhà quản lý kinh tế đều chạy theo các
chuyên gia, còn ở nước ta thì các chuyên gia bị sưng chán vì va phải cánh cửa của những người quản lý kinh tế"[2; 346].
14
Trang 15Cơ chế đó đã đạt đến giới hạn của nó Nếu như trong nhiều năm qua, cơchế đó bảo đảm được một nhịp độ phát triển vững chắc, thì từ nay, phải trảvới một giá đắt [10; 9].
Đặc điểm sự phát triển của Liên Xô trong những năm 70 đầu những năm
80 cho ta thấy sự suy sụp toàn bộ và nặng nề của nền kinh tế:
+ Thu nhập quốc dân giảm xuống 2,5 lần Tổng sản phẩm quốc nội tínhtheo đầu người chỉ bằng 37% của Mỹ Sản xuất công nghiệp giảm 2,5 lần,nông nghiệp giảm 3,5 lần Từ 1980 đến 1985 Liên Xô không đạt được vị trí
số 1 trên thế giới về sản phẩm tính theo đầu người cao nhất thế giới như tuyên
bố 1961 [70 ; 449]
+ Mức tăng năng suất giảm 2 lần và tiến dần đến số 0 Chi phí điệnnăng, nhiên liệu, kim loại cho một đơn vị thu nhập quốc dân cao hơn Mỹ 1,5đến 2 lần [ 81; 9]
+ Tốc độ phát triển thời kỳ trước khi cải tổ diễn ra theo xu hướng chậmdần:
Nội dung 1961-1965
1966-1970
1975
1971-1980
1975-1985
[2; 25] Theo con số từ thống kê khác về thu nhập quốc dân của Liên Xô: 1966
1970 tăng 7,1%; 1781 1975 tăng 5,1% ; 1975 1980 tăng 3,9 %; 1981
-1985 tăn 2,6% [74; 9.]
Dù cho con số có chênh lệch nhưng đều có biểu hiện chung: tốc độ pháttriển của Liên Xô tụt xuống tới mức gần như dừng lại và có biểu hiện "tiềnkhủng hoảng" Kế hoạch năm năm lần thứ XI không được hoàn thành.Tronglịch sử đây là lần đầu tiên kế hoạch 5 năm không được hoàn thành Vị trí của
Trang 16Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế bị thách thức nghiêm trọng NhậtBản, Tây Âu ngày càng lớn mạnh Năm 1986 tổng sản phẩm xã hội của Mỹ là
3900 tỷ USD, Liên Xô là 1800 tỷ USD, Nhật Bản là 1700 tỷ USD Đầu 1988quan chức Nhật chính thức công bố Nhật đã vượt xa Liên Xô, trở thành cườngquốc kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới [74; 9]
Như vậy nền kinh tế Liên Xô có biểu hiện giảm sút nghiêm trọng, nhận
xét về tình trạng đất nước thời kỳ này, Rưscôp viết: "Tình hình đất nước, tôi
xin nhắc lại, đang làm tôi lo sợ, những năm cuối thời kỳ Brêgiơnhép đã để lại cho chúng tôi một di sản khủng khiếp, chỉ một ví dụ Năm 1982 mức tăng trưởng thu nhập thực tế của nhân dân - lần đầu tiên từ sau chiến tranh! đã tụt xuống số không Phải dứt khoát không được trùng trình, làm ngay lập tức… bằng những con đường nào, phương pháp nào đưa nền kinh tế quốc dân tiến
Sự lãnh đạo của Đảng bị suy yếu, sáng kiến trong cán bộ bị mất đi Mọingười đều thấy sự trì trệ trong lãnh đạo Sự trì trệ này đến một giai đoạn nào
đó sẽ làm suy yếu khả năng làm việc của Bộ chính trị, Ban Bí thư Trung ươngĐảng, thậm chí của cả toàn thể bộ máy Đảng và Nhà nước Tính kỷ luật tinhthần trách nhiệm của người Đảng viên đã suy yếu Cán bộ trong Đảng tìmcách che giấu điều đó bằng việc thực hiện những biện pháp và những cuộcvận động phô trương, bằng việc mở ra nhiều cuộc hội hè cả ở trung ương và ở
16
Trang 17các địa phương.
Nhiều tổ chức Đảng ở địa phương không cương quyết chống các hiệntượng tiêu cực, lối bao che tuỳ tiện và tình trạng kém kỷ luật Nhiều nguyêntắc bình đẳng giữa các Đảng viên bị vi phạm Nhiều cán bộ giữ chức vụ lãnhđạo tự đặt mình ra ngoài sự kiểm soát và phê bình của nhân dân Métvêđép,người đã từng là uỷ viên Bộ chính trị uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Liên
Xô, uỷ viên hội đồng Tổng thống Liên Xô nhận xét:
"Trên thực tế, các nhà lãnh đạo hoàn toàn không bị kiểm tra từ dưới lên
- không chỉ từ nhân dân, mà cả từ các tổ chức Đảng Tuy về phương diện hình thức họ được bầu ở các hội nghị và các hội nghị toàn thể Ban chấp hành các cấp, thủ tục này bị cắt xén đến mức trên thực tế nó đảm bảo việc bầu bán theo mỗi điều kiện miễn là được cấp trên tán thành"[50;15]
Tình trạng xuống dốc của một số bộ phận Đảng viên còn được chínhGoocbachốp thừa nhận:
"Trong một số khâu lãnh đạo nảy sinh thái độ coi thường phát luật, dung dưỡng nhiều việc làm dối trá, hối lộ, lấy lòng nịnh hót Hành vi của những cán bộ sau khi được tín nhiệm và được giao quyền hành đã lạm dụng quyền lực trấn áp, phê bình, kiếm chác, làm giàu, gây nên sự phẫn nộ chính đáng của người lao động."[27;31].
Như vậy, xét trong toàn bộ hoạt động thực tiễn, các tổ chức Đảng vàNhà nước lạc hậu so với yêu cầu của thời điểm thực tại Do vậy cần nhữngđổi mới Đảng để lấy lại uy tín đưa Liên Xô vững bước đi lên
Một mặt khác trong đời sống chính trị của Liên Xô đó là tình trạng lên
"cơn sốt" bởi sự thay đổi thường xuyên những người lãnh đạo cấp cao Tháng1/1982 nhà tư tưởng chủ yếu của đất nước- Xuxlôp qua đời Đến tháng11/1982 đến lượt Brêgiơnhép, tiếp đó là Anđrôpốp (2/1984) Nhân dân cảm
thấy chán ghét với hình ảnh "những nhà lãnh đạo già nua, ốm yếu, tính hiếu
danh và thích những lời tâng bốc, sự ban phát huân chương một cách hào
Trang 18phóng và tự khen thưởng - tất cả tạo nên tâm lý nặng nề, khó chịu Trong đất nước hình thành nên sự cai trị của giới quan chức già nua, bám lấy chiếc ghế quyền lực"[50; 14].
Brêgiơnhép với hình hảnh về một con người đã nâng cao mức sống vàđóng góp to lớn cho hoà bình nhưng gần đến cuộc đời hoạt động chính trị củamình, do vượt qua lứa tuổi minh mẫn, ông đã trở thành đối tượng hài hước và
bị chế nhạo
Sau khi Brêgiơnhép qua đời, Anđrôpốp lên thay Ông nhận thấy được
thực trạng xã hội đang trì trệ và thấy cần đổi mới: "Công việc của chúng ta
đang chết dí tại chỗ Người ta đã tranh cãi nhau quá nhiều Đã đến lúc phải bắt tay vào giải quyết cụ thể các vấn đề" Anđrôpốp cố gắng đưa ra những
chính sách gần gũi với nhân dân nhưng những biện pháp đó chỉ giúp xã hộiyên ắng một thời gian Sau đó Anđrôpốp lại có những sai lầm Ông chú ý đếnchủ nghĩa hình thức Công việc đổi mới đang dang dở thì ông bị bệnh tật dày
vò Ông từ trần vào tháng 1/1984 Ông giữ chức vụ tối cao được 15 tháng
Tiếp nối lãnh đạo Đảng sau đó là Trécnencô Ông tiếp tục cải cách củaAnđrôpốp: "Ta tiếp tục thúc đẩy bằng cố gắng tập thể sự nghiệp được bắt đầudưới sự lãnh đạo của Anđrôpốp Ông cũng khẳng định một cách dứt khoát:
"Thay đổi cơ chế kinh tế đòi hỏi người ta phải tiến công vào những vấn đề đáng lẽ ra phải giải quyết từ trước".
Tuy nhiên đến năm 1984, nền kinh tế tăng trưởng chậm lại "Bệnh tật
đã làm Trécnencô xa rời dần đời sống công cộng trong lúc mà đất nước phải đương đầu trên lĩnh vực quốc tế cũng như nội trị và hàng ngàn đòi hỏi mới Mátxcơva vào lúc bấy giờ dường như sống trong thời kỳ chờ đợi Những cuộc họp được thông báo bị hoãn lại, các sáng kiến được dự định cũng tạm đình lại"[26; 44] Đất nước một lần nữa lại mất đi người lãnh đạo tối cao.
Trước những biến đổi liên tục những người lãnh đạo tối cao như vậy,quần chúng cảm thấy chán trường, nghi ngờ Đảng
18
Trang 19Trong xã hội, đời sống nhân dân chậm được cải thiện Các biểu hiệntiêu cực và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng Tính tích cực xã hội củacông dân bị giám sút Sự thờ ờ tăng lên, tâm lý không thoả mãn, không khíngột ngạt trong xã hội lan tràn.
Một ví dụ cho đời sống nhân dân chậm được cải thiện Đó là sự thiếuthốn về lương thực hay là sự khan hiếm về hàng hoá được thể hiện trong cuốn
" Êkíp Goocbachốp, nhìn từ bên trong" của Métvêđép:
"Hàng năm người ta phải phấn đấu giành giật lấy mùa màng, song tình
hình thị trường lương thực không được cải thiện là bao Mọi người đã phải chịu đựng vài thập kỷ những cảnh quầy hàng trống rỗng, xếp hàng dài, sản xuất hàng tiêu dùng, lĩnh vực dịch vụ nghỉ ngơi, giải trí ở tình trạng nghèo nàn"[50; 13].
Đời sống của nông dân ngày càng thiếu thốn, họ không thể mua nhà để
ở vì xã hội không quan tâm đến sản xuất Nền kinh tế trì trệ "Người nông dân
cái gì cũng thiếu… tiền người nông dân làm ra không thể mua hoặc xây nhà vì không đủ vật liệu xây dựng, nông dân không có khả năng mua tủ lạnh vì anh ta buộc phải bán lúa mỳ, thịt và các loại nông phẩm khác dù biết là lỗ vốn, bởi vì chính sách giá cả nó như vậy"[54; 37].
Trong bộ máy chính quyền cũng như xã hội có biểu hiện quan liêu, độcđoán Theo A Xakharôp trong cuốn "Không có con đường nào khác" nhận
xét: "Tệ nạn quan liêu hoàn toàn không vụ lợi Nấp dưới lời lẽ hoa văn Nó
trà đạp lên công bằng xã hội trong mọi lĩnh vực đời sống vật chất như vấn đề nhà ở, chất lượng bảo vệ sức khoẻ, giáo dục, tiền lương đặc biệt hạ thấp trong những ngành nghề đại chúng nhất Tiền hưu của phần lớn những người hưu trí
Trang 20như nền kinh tế Xô viết có hiệu quả Thà rằng nền kinh tế đó cứ ngắc ngoải dưới sức nặng của những vấn đề quan liêu"[52; 13].
Tóm lại tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong cuối những năm 70đầu 80 có biểu hiện sự trì trệ, thụt lùi nếu không có sự thay đổi Liên Xô sẽ rơivào khủng hoảng nặng nề về mọi mặt
1.1.2 Tình hình thế giới.
Ở thời điểm trong nước Liên Xô có biểu hiện khủng hoảng thì trên thếgiới cũng có nhiều biến đổi tác động đến Liên Xô
1.1.2.1 Cuộc khủng hoảng năng lượng 1973.
Vào thập kỷ 70, tình trạng khủng hoảng năng lượng trên toàn thế giới
có xu hướng gia tăng Cuộc khủng hoảng chính thức bùng nổ năm 1973mang tính toàn cầu Dầu mỏ và khí đốt trở nên khan hiếm
Cuộc khủng hoảng năng lượng đặt ra cho nhân loại những vấn đề bứcxúc cần giải quyết: Sự bùng nổ dân số và nguy cơ vơi cạn nguồn tài nguyênthiên nhiên cung cấp cho sự sống, những hiểm họa ô nhiễm môi trường đedoạ đến hành tinh cần khắc phục, yêu cầu đổi mới để thích nghi trong nềnkinh tế, chính trị trước sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật
Trước những vấn đề cấp thiết đó, các nước TBCN đã tập trung vào pháttriển khoa học kỹ thuật Nhờ lợi dụng những thành tựu khoa học kỹ thuậtcùng với những biện pháp thích nghi mới, chủ nghĩa tư bản đã vượt quakhủng hoảng, phục hồi phát triển
Cuộc khủng hoảng năng lượng ban đầu không tác động mạnh đến Liên
Xô vì Liên Xô giàu tài nguyên thiên nhiên Nhưng sau khi các nước tư bản ổnđịnh được tình hình thì Liên Xô mới chịu tác động mạnh do giá dầu mỏ giảm
Nó đặt Liên Xô trước thách thức của sự phát triển nhanh chóng của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật
1.1.2 2 Sự phát triển mạnh mẽ của các nước tư bản đặc biệt là các
20
Trang 21nước tư bản trẻ đã đặt Liên Xô trước thách thức mới.
Nhờ phương pháp quản lý kinh tế hiệu quả, tập trung vào phát triểnkhoa học kỹ thuật nên thực lực của các nước tư bản tăng lên nhanh chóng Vịtrí của Liên Xô, cường quốc kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới bị đe doạ Từ sauchiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập kỷ 50, tốc độ tăng trưởng của Liên
Xô khoảng 10% Từ 1946 đến 1950 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămcủa tổng giá trị sản phẩm xã hội là 14,2% Từ năm 1951 đến 1960 là 10% Từthập kỷ 60 bắt đầu giảm[74; 8,9] Thu nhập quốc dân của Liên Xô 1966 -
1970 là 7,5%, đến kế hoạch 5 năm (1981 - 1985) giảm chỉ còn 3,5%[81; 9]
Vị trí của Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế lớn thứ hai bị NhậtBản thách thức nghiêm trọng Theo số liệu thống kê từ 1960 - 1965 thu nhậpquốc dân của Nhật Bản tăng 5,4 lần, giá trị sản lượng công nghiệp tăng 6,5lần, năng suất lao động công nghiệp tăng 4,3 lần Cùng thời kỳ chỉ tiêu tăngtrưởng tương ứng của Liên Xô là 3,9; 4,8 và 3 lần Đến năm 1986 trong giá trịsản phẩm xã hội của Mỹ là 3.900 tỷ đô la, Liên Xô là 1800 tỷ đô la Nhật Bản
là 1700 tỷ đô la [74; 9] Vị trí của Liên Xô bị thách thức Nếu không đổi mới,cải tổ, Liên Xô sẽ bị bỏ lại phía sau
Thực lực kinh tế của các nước lớn phương Tây tăng lên chủ yếu dựavào khoa học kỹ thuật mới Liên Xô vốn có tiềm lực khoa học kỹ thuật rất lớnchỉ đứng sau Nhật Bản Nhưng do cơ chế quản lý kinh tế quá yếu kém, nhiềukhâu trung gian, nên chỉ có 1/4 thành quả kỹ thuật mới được áp dụng trongnền kinh tế quốc dân Thời gian tự nghiên cứu đến ứng dụng một hạng mục
kỹ thuật mới kéo dài 10 - 12 năm Nhiều phát minh không được sử dụngtrong nước mà được đưa ra phục vụ nước ngoài…
Trong khoa học, kỹ thuật có sự mất cân đối Công nghiệp quân sự pháttriển mạnh còn công nghiệp dân dụng lạc hậu, theo thống kê giữa thập kỷ 80trình độ khoa học kỹ thuật chung của Liên Xô lạc hậu so với các nước pháttriển ở phương Tây khoảng 15 năm [74; 9] Chính Goócbachốp phải thừa
Trang 22nhận rằng: "phát triển theo chiều rộng về cơ bản đã làm hao mòn tiềm lực" vì
vậy "căn bản không có con đường nào khác" ngoài phát triển khoa học kỹthuật
1.1.2.3 Cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc và xu thế cải cách ở một số nước XHCN ở Đông Âu.
Trung Quốc vào những năm 70 đứng trước những đòi hỏi cần phải cảicách Năm 1978 Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách và mở cửa, xây dựngchủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc
Trải qua những năm tháng bước đầu cải cách, nhờ biện pháp, phươngchâm, chính sách kinh tế đúng đắn, Trung Quốc giành được thành tựu to lớn
Từ 1980 - 1985 tổng giá trị sản phẩm công nông nghiệp của Trung Quốc bìnhquân tăng hàng năm là 11% Tổng giá trị sản phẩm công nghiệp bình quântăng hàng năm là 12% Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp bình quân hàngnăm tăng 8,1% Tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng bình quân 10%[74;11,12] Mức sống của nhân dân Trung Quốc được nâng cao rõ rệt Thunhập và mức tiêu dùng của nhân dân tăng nhanh chóng
Thể chế kinh tế xơ cứng được đổi mới đầy sức sống, năng động, thíchứng với yêu cầu xã hội Nền kinh tế từ chỗ khép kín chuyển sang kinh tế mởcửa, tích cực lợi dụng trao đổi quốc tế
Thành quả bước đầu của Trung Quốc là nguồn động lực thúc đẩy Liên
Xô cải tổ, bởi không cải tổ Liên Xô sẽ khủng hoảng và đi đến sụp đổ
Trong xu thế cải cách của các nước XHCN, một số nước Đông Âucũng nhận thấy cần phải cải cách và bắt tay vào cải cách
Tháng 7 - 1948 đại hội đại biểu lần thứ V liên đoàn những người cộngsản Nam Tư chỉ ra rằng không thể rập khuôn theo kinh nghiệm của Liên Xô
Từ thập kỷ 40 đến thập kỷ 50, Nam Tư bắt đầu thực hiện một số cải cáchquan trọng như lập hội đồng công nhân, loại bỏ một số bộ chủ quản Liên bang
và mở rộng quyền cho các xí nghiệp, giao tư liệu sản xuất cho tập thể điều
22
Trang 23hành Những năm tiếp theo Nam Tư mở rộng hơn nữa quyền tự chủ kinhdoanh ngoại thương của xí nghiệp, tiến hành cải cách giá cả, thu hút vốn nước
ngoài… khi xuất hiện khủng hoảng kinh tế 1983, Nam Tư đề ra "Chương
Nhìn chung nhiều nước Đông Âu trong cải cách đều chú ý tăng cườngquản lý ở tầm vĩ mô, mở rộng quyền tự chủ của xí nghiệp, kết hợp cải cáchkinh tế với cải cách thể chế chính trị, thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển…
Xu thế cải cách của các nước Đông Âu đã thúc đẩy phần nào Liên Xô buộcphải cải tổ
Tóm lại, tất cả tình hình trong và ngoài nước đã đặt Liên Xô trướcnhiều thách thức buộc Liên Xô phải chọn con đường hoặc là tiến hành cải tổđất nước thoát khỏi khủng hoảng đưa Liên Xô tiến lên hoặc là giữ nguyênhiện trạng đất nước
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và đường lối cải tổ ở Liên Xô (1985 - 1991)
1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của cải tổ:
* Mục tiêu:
Từ tình hình thực tiễn đất nước các nhà lãnh đạo Liên xô bắt tay vào
công cuộc đổi mới "Mục tiêu của công cuộc cải tổ là khôi phục hoàn toàn về
lý luận và thực tiễn quan niệm của Lênin về chủ nghĩa xã hội, trong đó người lao động với tư tưởng và quyền lợi của anh ta cùng với những giá trị nhân đạo trong nền kinh tế trong quan hệ xã hội và chính trị, trong văn hoá được đặt lên
Trang 24hàng đầu một cách không thể chối cãi nổi" [29; 56].
Cuối cùng trên bình diện nguyên tắc cải tổ, Goocbachốp đã xác định:mục đích cuối cùng của cải tổ là rõ ràng Đó là sự đổi mới sâu sắc tất cả cácmặt sinh hoạt của đất nước, đem lại cho CNXH những hình thức nhân đạo củachế độ chúng ta trong tất cả mọi khía cạnh quyết định của nó - kinh tế, chínhtrị - xã hội và đạo đức
* Nhiệm vụ cải tổ:
Để tiến hành công cuộc cải tổ, Goocbachốp đã xác định nhiệm vụ của
cải tổ là để nhằm "chấm dứt tình trạng cứng nhắc của đất nước, chấm dứt tình
trạng cứng nhắc của khoa học kỹ thuật và tạo cho nó địa bàn hoạt động rộng rãi, vĩnh viễn khắc phục hậu quả của thứ độc quyền về lý luận phát triển của
xã hội Xô viết hình thành trong những điều kiện tuyệt đối, đã được coi như là duy nhất có thể có được đối với chủ nghĩa xã hội" Cải tổ cũng phải "phá vỡ một cách kiên quyết và mạnh mẽ những trở ngại đã hình thành đới với sự phát triển kinh tế- xã hội, những trật tự lỗi thời trong quản lý kinh tế, những khuôn sáo giáo điều trong tư duy"[27; 79].
Cải tổ bao gồm nhiều lĩnh vực của cuộc sống Vì vậy nhiệm vụ của Liên
Xô là phải tiến hành cải tổ toàn diện trên các mặt như kinh tế, khoa học kỹthuật, chính trị- xã hội, đời sống nhân dân, đạo đức, tư tưởng…
Tóm lại, Liên Xô phải tiến hành một cuộc cách mạng nhằm đổi mới mọilĩnh vực của đời sống xã hội
1.2.2 Đường lối cải tổ:
*Đường lối chung:
Quan niệm về đường lối cải tổ ở Liên Xô xuất phát từ tư tưởng cáchmạng của Lênin Những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã tìm
tới tác phẩm của Lênin và họ coi đây là cái nguồn "không cạn của chủ nghĩa
biện chứng sáng tạo, của sự phong phú về lý luận và của sự sáng suốt về chính trị" [27; 35].
24
Trang 25Trong Đảng và trong xã hội, việc trở về với tư tưởng Lênin đã đượcnhiều người ủng hộ Trong báo cáo ngày 22/4/1983 kỷ niệm lần thứ 113 ngàysinh của Lênin, M Goocbachốp đã dẫn ra chính luận điểm của Lênin về sựcần thiết phải tính đến những yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, về
kế hoạch hoá và hạch toán, về việc sử dụng khéo léo quan hệ hàng hoá tiền tệ,những kích thích vật chất và tinh thần Điều này đã được sự ủng hộ của dư
luận như Goocbachốp khẳng định rằng: "những suy tư của tôi phù hợp với tâm
trạng của các đồng chí trong Đảng của nhiều người, gần gũi với trái tim của những người mang những nỗi bất hạnh của chúng ta, đang chân thành muốn sửa chữa thực trạng này" [27; 35,36].
Tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng của sự vận động theo con đường cải tổcho thấy Goocbachốp đang bàn luận một cách tích cực những lý luận của
Lênin: "Chúng ta đã và đang học ở Lênin cách tiếp cận lý luận và thực tiễn
xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách sáng tạo, lấy phương pháp luận khoa học của người làm vũ khí, nắm chắc nghệ thuật phân tích cụ thể tình hình cụ thể"
[27; 68] Goocbachốp cũng khẳng định rằng "Đưa công cuộc cải tổ tiến lên
chúng ta đã và đang thường xuyên trở lại các tác phẩm của Lênin, đặc biệt là, tôi xin nhắc lại những tác phẩm cuối cùng của người" [27; 68].
Như vậy là ông đặc biệt quan tâm đến những tác phẩm cuối cùng của
người vì tính tích cực của chủ nghĩa Mác- Lênin "Chủ nghĩa Mác- Lênin với
tính cách là học thuyết sáng tạo không phải là một tập đơn thuốc kê sẵn và một tập chỉ thị có tính chất giáo điều Trái ngược với chủ nghĩa giáo điều hẹp hòi, chủ nghĩa Mác- Lênin bảo đảm sự tác động lẫn nhau tích cực giữa tư tưởng lý luận đổi mới với thực tiễn, với bản thân tiến trình đấu trang cách mạng" [29;
Trang 26đã để lại cho chúng ta những đặc trưng cơ bản chủ yếu của chủ nghĩa xã hội Các ông không rơi vào chỗ chi tiết hoá, không tìm cách vẽ ra một bức tranh chi tiết về chủ nghã xã hội Các ông đã nói về những giai đoạn có thể nhìn thấy được về mặt lý luận Còn chỉ ra giai đoạn hiện nay phải như thể nào thì
đó là nhiệm vụ của chúng ta Chúng ta đang phải trải qua cả về mặt thực tiễn giai đoạn ấy mà không gạt sang một bên những vấn đề phức tạp Điều mà các nhà kinh điển dạy chúng ta không phải là phương pháp thực tiễn mà là phương pháp luận" [27; 68].
Xuất phát từ tư tưởng cách mạng của Lênin, Goocbachốp đã đề ra đườnglối cải tổ:
"Cải tổ là một quá trình cách mạng, bởi vì đó là bước nhảy vọt trong sự phát triển của CNXH, trong việc thực hiện những đặc trưng bản chất của nó Ngay từ đầu chúng ta đã nhận thức được rằng: không có thời gian để dao động Điều rất quan trọng là không được "ngồi lỳ" ở nơi xuất phát, khắc phục
sự lạc hậu, bứt ra khỏi vũng lầy của tính bảo thủ, phá vỡ sức ỳ của sự trì trệ Không thể làm việc đó bằng con đường tiến hoá, bằng những cải cách chậm như rùa"[27; 78].
Cải tổ - đó là khắc phục một cách kiên quyết những quá trình trì trệ,phá vỡ cơ chế kìm hãm, sáng tạo cơ chế đáng tin cậy và có hiều quả để đẩynhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, đem lại cho sự phát triển ấy tính năngđộng cao
Cải tổ - đó là phát triển theo chiều sâu một cách toàn diện nền kinh tế
Xô Viết, khôi phục và phát triển, những nguyên tắc tập trung dân chủ trongquản lý nền kinh tế quốc dân , áp dụng những phương pháp kinh tế của ngườiquản lý ở tất cả mọi nơi, từ bỏ lối mệnh lệnh và hành chính, khuyến khíchbằng mọi cách sự đổi mới và năng lực kinh doanh XHCN
Cải tổ - đó là chuyển một cách kiên quyết theo hướng khoa học biết đặtmọi sáng kiến trên cơ sở khoa học vững chắc Đó là kết hợp những thành tựu
26
Trang 27của cách mạng khoa học - kỹ thuật với nền kinh tế có kế hoạch.
Cải tổ - đó là sự phát triển ưu tiên lĩnh vực xã hội nhằm thoả mãn ngàycàng đầy đủ hơn nhu cầu của nhân dân Xô Viết Trong những điều kiện tốt vềlao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi, giáo dục và phục vụ y tế Đó là sự chăm lothường xuyên, sự phong phú về tinh thần, văn hoá của mỗi người và của toàn
xã hội
Cải tổ - đó là dựa vào sự sáng tạo sinh động của quần chúng Đó là sựphát triển toàn diện nền dân chủ, tự quản XHCN, là khuyến khích sáng kiến,tính chủ động, tăng cường kỷ luật và trật tự, mở rộng tính công khai, phê bình
và tự phê bình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là sự tôntrọng được nâng cao đối với giá trị phẩm giá của cá nhân
Cải tổ - đó là kiên quyết tránh cho xã hội khỏi sự xuyên tạc đạo đức củaXHCN, thực hiện nhất quán những nguyên tắc công bằng xã hội Đó là sựthống nhất giữa lời nói và việc làm, quyền hạn và nghĩa vụ Đó là đề cao laođộng trung thực, có chất lượng cao, khắc phục khuynh hướng bình quân chủnghĩa trong trả công lao động chạy theo tiêu dùng [27; 49, 50, 51]
Từ những luận điểm mà Lênin đưa ra chúng ta thấy cải tổ là một quátrình cách mạng cho nên cải tổ gắn liền với sự phá vỡ cái lỗi thời, cơ chế kìmhãm và tất cả những gì cản trở sự vận động tiến lên phía trước TheoGoocbachốp "nếu không có sự phá vỡ thì không dọn sạch được mặt bằng cho
sự xây dựng mới."
Từ những luận điểm trên chúng ta có thể đi đến một nhận định rằng :Xuất phát điểm của tư tưởng đường lối cải tổ ở Liên xô (1985- 1991) là chủnghĩa Mác-Lênin Nó phản ánh sự cần thiết, đúng đắn, biện chứng của lịchsử
Khi phân tích về đường lối chung của cuộc cải tổ đã thấy nó kháchquan và đúng đắn Nó xuất phát từ hiện thực khách quan lại mang tư tưởngduy vật biện chứng của Lênin Cải tổ đáp ứng cơ bản lợi ích của người Liên
Trang 28Xô Nó có sứ mệnh thúc đẩy xã hội tiến lên những giới hạn mới, bảo đảm đạttới chất lượng mới của xã hội Do vậy tư tưởng cải tổ nhận được sự đồng tìnhủng hộ của đại đa số đồng chí trong đảng và của cả quần chúng nhân dân.
*Đường lối cụ thể:
- Về kinh tế:
Cải cách kinh tế diễn biến qua ba giai đoạn: chiến lược tăng tốc, chínhsách cải tổ và giai đoạn nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước +Giai đoạn một:
Cải tổ kinh tế được Goocbachốp coi là một trong hai nhiệm vụ cơ bảnquyết định vận mệnh của cải tổ Điều này được thể hiện trong báo cáo tại hội
nghị toàn thể Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng Sản Liên Xô (8/1985): "Sử
dụng rộng rãi các thành tựu của cuộc cách mạng khoa - kỹ thuật, làm cho hình thức kinh doanh XHCN phù hợp với nhu cầu và điều kiện hiện tại, chúng ta cần phải đạt được một sự tăng tốc đáng kể tiến bộ kinh tế- xã hội Không có con đường nào khác" Báo cáo còn nêu một loạt các biện pháp để tăng tốc
phát triển nền kinh tế Đến đại hội XXVII cuả Đảng Cộng sản Liên Xô(3/1986) chính sách cải tổ kinh tế được cụ thể hoá và đựơc chính thức thôngqua Xây dựng và cải cách kinh tế là vấn đề thảo luận trọng tâm của Đại HộiXXVII
Đại hội xác định chiến lược phát triển tăng tốc kinh tế, nêu lên những
tư tưởng và biện pháp cải cách quản lý kinh tế Chiến lược tăng tốc là mộttrong những đặc điểm quan trọng nhất của Đại hội Vậy cần hiểu thế nào làchiến lược tăng tốc
Liên Xô đã từng là một nước có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao vàđạt nhiều thành tựu to lớn Ví dụ trong một phần tư thế kỷ gần đây (từ 1960-
>1985) vốn cố định trong nền kinh tế quốc dân đã tăng lên 7 lần Thu nhậpquốc dân gần như tăng lên 4 lần Sản phẩm công nghiệp tăng lên 5 lần Năngsuất lao động tăng lên 3 lần Quỹ tiêu dùng xã hội tăng lên hơn 5 lần [14; 16]
28
Trang 29Thế nhưng đến những năm 70, 80 tốc độ phát triển kinh tế của Liên Xô chậmlại Năm 1982, nhịp độ phát triển kinh tế giảm đến mức báo động: Tổng sảnphẩm xã hội giảm khoảng 3.3% năng suất lao động giảm khoảng 2.9%.
Việc giảm nhịp độ phát triển kinh tế tất nhiên sẽ giảm đi khả năng thựchiện các chương trình xã hội, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, làm giảm vịtrí của Liên Xô trên thế giới Để khắc phục tình trạng này, Liên Xô buộc phảităng tốc Tăng tốc đó là đặc tính khách quan của xã hội XHCN mà xã hội đó
như Goocbachốp đã chỉ ra trong bài trả lời tạp chí Revolution African: "về
bản chất của mình nó có khả năng thường xuyên đổi mới, thường xuyên hoàn thiện" [14, 20, 21].
Phát triển tăng tốc có vai trò quan trọng Sự cần thiết phải tăng tốc, tiến
bộ kinh tế - xã hội của đất nước đã trở thành nhu cầu để đảm bảo tính độc lậphoàn toàn về kĩ thuật và qui trình công nghệ đối với các nước TBCN, trướchết trong các hướng quan trọng có tính chất chiến lược Việc tăng tốc còngiúp Liên Xô cũng như các nước XHCN củng cố sức mạnh phòng thủ Dovậy việc tăng tốc phát triển kinh tế là một nhu cầu cấp thiết, tất yếu của xã hội
Xô viết lúc này
Từ thời Khơrupsốp, nhiều nhà lãnh đạo của đảng đã đưa ra đường lốiphát triển kinh tế với tốc độ cao nhưng không đạt kết quả Thời kỳBrêgiơnhép cầm quyền, trong nhiều kỳ đại hội đảng đã nêu lên vấn đề này,lúc thì "Sự phát triển to lớn" và "tốc độ cao ổn định", lúc thì "rất nhanhchóng" "phát triển theo tỷ lệ", lúc thì phát triển "ổn định nhưng tiến nhanh lênphía trước"…Tất cả những biện pháp có thể được đưa ra nhưng đều khôngcứu vãn được xu thế tốc độ tăng trưởng của sản xuất bị giảm Khi Anđrôpốpđược bầu làm Tổng Bí thư, ông ra sức xoay chuyển tình hình kinh tế của Liên
Xô nhưng mới chỉ có hiệu quả bước đầu Goocbachốp lên cầm quyền tiếp tụccách làm của Anđrôpốp đặt trọng điểm vào nhiệm vụ chiến lược "phát triểntăng tốc" kinh tế Liên Xô
Trang 30Tăng tốc theo Goocbachốp trước hết đó là "sự nâng cao nhịp độ phát
triển kinh tế Nhưng không phải chỉ có vậy Thực chất của nó là ở sự phát triển mới về chất: phát triển sản xuất theo chiều sâu về mọi mặt trên cơ sở tiến bộ khoa học kĩ thuật, cải tổ cơ cấu của nền kinh tế thực hiện những hình thức quản lý có hiệu quả, tổ chức và khuyến khích lao động"
Theo một quan niệm khác, tăng tốc về bản chất là nâng cao nhịp độphát triển kinh tế với chất lượng mới của nó, chuyển toàn bộ nền kinh tế sangviệc tổ chức cao và có hiệu quả với những lực lượng sản xuất phát triển vàvới những quan hệ sản xuất XHCN đã chín muồi với một cơ chế quản lý kinh
Như vậy tăng tốc được hiểu là tăng tốc độ phát triển và chất lượng pháttriển trên cơ sở tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động
Đại hội XVII nêu lên mục tiêu chiến lược "phát triển tăng tốc" đến cuốithể kỷ này cần phải tăng thu nhập quốc dân lên gần 2 lần trong khi tăng tiềmlực sản xuất lên 2,3 đến 2,5 lần, mức tiêu hao năng lượng của thu nhập quốcdân hạ xuống 1,4 lần và mức tiêu hao kim loại giảm xuống gấp 2 lần Đó sẽ làmột bước ngoặt mạnh mẽ tiến tới phát triển sản xuất theo chiều sâu, nâng caochất lượng và hiệu quả [7; 37]
+ Giai đoạn 2:
Giai đoạn một của công cuộc cải tổ đã trôi qua dù có những chuyển
30
Trang 31biến nhỏ nhưng không đem lại kết quả như những người lao động mongmuốn Mục đích tăng tốc trong thời gian ngắn đã không được đạt Một chínhsách mới hình thành - chính sách cải tổ.
Chính sách cải tổ bắt đầu được thực hiện vào giữa năm 1987 Tăng tốckhông bị loại bỏ mà trở thành mục đích đạt tới còn cải tổ được xem như làphương tiện có phạm vi rộng lớn để đạt được mục đích đó Trong 2 năm
1987 và 1988 cải tổ được thực hiện với những cải cách tiến bộ Sau đó cảicách lan ra các lĩnh vực khác
Hội nghị toàn thể Uỷ ban Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô họp từngày 25 đến 26/6/1987 đã thông qua Nghị quyết "Những nguyên tắc cơ bảntrong cải cách quản lý kinh tế" và "Những nhiệm vụ của Đảng trong việc cải
tổ căn bản công tác quản lý kinh tế" Tiếp theo ngày 29 đến 30/6/1987 ĐoànChủ tịch Xô Viết tối cao họp và thông qua "Luật xí nghiệp quốc doanh" Hộinghị có tầm quan trọng vì nó thông qua chương trình cải cách căn bản côngtác quản lý kinh tế, tạo ra "đòn bẩy mạnh mẽ và có hiệu quả cho việc đẩynhanh cải tổ" Nó có ý nghĩa chính trị to lớn "ở chỗ nó đưa những tư tưởng cải
tổ vào lĩnh vực thực tiễn"[30; 165, 167]
Hội nghị xác định "thực chất căn bản của cải cách quản lý kinh tế Nhà
nước là chuyển từ các phương pháp hành chính là chủ yếu sang các phương pháp kinh tế trong lãnh đạo ở tất cả mọi cấp, sang quản lý các lợi ích và thông qua các lợi ích, sang dân chủ hoá rộng rãi việc quản lý bằng mọi cách phát huy nhân tố con người" [30; 17].
Hội nghị đề cập đến sự cần thiết và thực chất của cải cách, quản lýkinh tế, đến cải tạo chức năng quản lý kinh tế tập trung, cải tổ cơ cấu tổ chức
và công tác của các cơ quan quản lý…
Đặc điểm của kế hoạch cải cách là tiến hành cải cách một cách đồng
bộ và toàn diện hay nói cách khác là "cải cách triệt để" Trước hết bắt đầu từ
mở rộng quyền tự chủ của xí nghiệp, tăng cường quyền và trách nhiệm của xí
Trang 32nghiệp, tạo hoàn cảnh kinh tế tốt nhất cho xí nghiệp Từ nay cơ quan Trungương không can thiệt vào hoạt động kinh doanh nghiệp vụ của xí nghiệp.
Cải tổ được bắt đầu từ ý định cải cách quản lý kinh tế để hoàn thiệnnền kinh tế XHCN nhưng đã không thực hiện được
+ Giai đoạn ba:
Cải tổ bắt đầu từ ý đồ cải cách quản lý kinh tế nhưng dần dần nó càngtrượt xa ngoài vòng kiểm soát của Goocbachốp Kế hoạch tăng tốc và kếhoạch cải tổ các quan hệ sở hữu trong các ngành kinh tế quốc dân thất bại.Một đường lối mới lại được hình thành - đường lối xây dựng "nền kinh tế thịtrường có điều tiết"
Tình hình kinh tế, chính trị tại Liên Xô ngày càng sa sút Để xoaychuyển xu thế kinh tế suy sụp ấy, tháng 2 năm 1990, Hội nghị toàn thể Uỷban trung ương đưa ra phương châm xây dựng "kinh tế thị trường có kếhoạch" "Cương lĩnh hành động" khẳng định: "Đảng cộng sản Liên Xô coirằng, sự giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội hiện nay và trong tương laigắn liền với cuộc cải cách kinh tế triệt để mà kết quả của nó là một nền kinh
tế thị trường có kế hoạch” [17; 12]
Giữa năm 1990, Goocbachốp thông qua chính phủ nêu lên phươngchâm “quá độ chuyển sang nền kinh tế thị trường có thể điều tiết” Kế hoạchnày nêu bật tác dụng của thị trường, coi kế hoạc chỉ là một phương tiện củađiều tiết, kết hợp tính kế hoạch của nhà nước và địa phương với sự chi phốicủa kinh tế thị trường, giải thích cụ thể nội dung, bước đi của cuộc cải cách
Kế hoạch này do Viện sĩ Abalkin soạn thảo thay “chiến lược tăng tốc”
Nội dung của chương trình này là cho tư nhân thuê các cơ sở kinh tếcủa nhà nước Nhà nước vẫn nắm quyền sở hữu nhưng không trực tiếp chỉđạo sản xuất mà trao quyền kinh doanh cho các nhà tư bản Nhà nước giữ lạicho mình quyền “điều tiết” Chương trình dự định đến năm 1995 sẽ cho thuêkhoảng 20% xí nghiệp công nghiệp
32
Trang 33Chương trình xây dựng nền “kinh tế thị trường có sự điều tiết” đượccông bố đã gặp phải sự phê phán quyết liệt từ nhiều phía Trong đó có nhómViện sĩ Satalin Họ cho rằng không thể có kinh tế thị trường có kế hoạch, chỉ
có thể là hoặc kế hoạch hoặc thị trường Còn nếu kết hợp cả hai chẳng khác gì
“tảng băng đang tan” sẽ đi đến thất bại mà thôi [70; 453] Những người này
đề ra chương trình kinh tế của mình mang tên “chương trình 500 ngày” doS.Satalin soạn thảo Chương trình này thực hiện nhanh chóng cải cách triệt
để trên cơ sở tư nhân hoá và giá cả tự do rộng rãi
Nhưng kế hoạch trên không thực hiện được Nền kinh tế Liên Xô vẫn
sa sút Tháng 12 năm 1990 thủ tướng Rưgiơcop xin từ chức Thủ tướng mớiPáplốp lên thay đưa ra "Cương lĩnh liên hợp hành động"
Trong thời gian này, nguyên phó thủ tướng Nga trước đây được sự giúp
đỡ của Mĩ cùng với nhà kinh tế ở Đại học Havơt tung ra “kế hoạch Havơt”.Theo nhận định của các nhà nghiên cứu thì kế hoạch này làm vui lòng phươngTây, có nhiều điểm đối lập với “Cương lĩnh liên hợp hành động” của chínhphủ Liên Xô
Như vậy đường lối cải cách kinh tế của Liên Xô liên tục thay đổi để tìm
ra cách cứu vãn nền kinh tế đang trì trệ nhưng Liên xô vẫn chưa tìm ra đượclối thoát
- Về chính trị-xã hội:
+ Giai đoạn một:
Khi bắt tay vào cải cách chính trị Goocbachốp nhận định rằng: "Chính
trị là nghệ thuật của cái có thể, vượt qua giới hạn của cái có thể thì bắt đầu sự phiêu lưu Chính vì thế mà chúng ta đánh giá một cách cặn kẽ và tỉnh táo các khả năng và vạch ra các nhiệm vụ của chúng ta có thể đến điều đó".
Sự kiện đánh dấu quá trình hình thành tư tưởng cải cách chính trị làĐại hội Đảng cộng sản Liên Xô lần thứ XXVII Đại hội thông qua bản sửađổi Cương lĩnh thứ ba của Đảng Cương lĩnh thứ ba được thông qua tại Đại
Trang 34hội lần thứ XXII của Đảng cộng sản Liên Xô năm 1961, còn được gọi làcương lĩnh xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Bản dự thảo cương lĩnh sửa đổi được công bố và thảo luận rộng rãivào cuối năm 1985 đầu năm 1986 Sở dĩ có sự sửa đổi cương lĩnh này là doĐảng cộng sản Liên Xô nhận thức rằng: Tình hình thế giới và trong nước cónhiều biến đổi cần đòi hỏi chiến lược và sách lược phù hợp Đại hội khẳng
định: "Cương lĩnh thứ ba của Đảng cộng sản Liên Xô được sửa đổi lần này là
cương lĩnh hoàn thiện có kế hoạch và toàn diện chủ nghĩa xã hội; đưa xã hội
Xô viết tiến xa hơn nữa trên con đường cộng sản chủ nghĩa, trên cơ sở đẩy nhanh phát triển kinh tế xã hội của cả nước Đây là cương lĩnh đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội"[17; 7].
Tháng 1- 1987 tại Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương ĐảngGoocbachốp đưa ra bài phát biểu của mình "về công cuộc cải tổ và chính sáchcán bộ của đảng" Trong báo cáo đồng chí nhấn mạnh quan điểm lựa chọn cán
bộ dựa vào thái độ của họ với cải tổ: "Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta đều hiểu
rõ rằng thắng lợi của cải tổ phụ thuộc chủ yếu vào việc cán bộ của chúng ta hiểu sự cần thiết của cải tổ một cách nhanh chóng và sâu sắc như thế nào, sẽ tiến hành đường lối của Đảng một cách sáng tạo và kiên định ra sao"
[28;147]
Hội nghị toàn thể Uỷ ban trung ương Đảng cộng sản Liên Xô cònquyết định đẩy mạnh công cuộc cải tổ theo hướng thực hiện các chính sách
"công khai hoá và dân chủ hoá" Hội nghị khẳng định việc "phát triển về mọi
mặt nền dân chủ của chế độ XHCN, sự tham gia thực sự và ngày càng tích cực của nhân dân trong việc giải quyết mọi vấn đề trong đời sống của đất nước Đó là việc khôi phục hoàn toàn những nguyên tắc Lênin- nít về tính công khai, sự kiểm tra của xã hội, phê bình và tự phê bình" [28; 120].
+ Giai đoạn hai:
Sau một thời gian cải tổ kinh tế không thành công ban lãnh đạo Liên
34
Trang 35Xô đứng đầu là Goocbachốp cho rằng nguyên nhân chính gây lên tình trạngkhó khăn hiện nay là hệ thống chính trị Vì vậy ban lãnh đạo quyết địnhkhuyến cải tổ lĩnh vực chính trị để "làm tích cực yếu tố con người".
Tháng 6/1988 Hội nghị toàn liên bang lần thứ 19 của Đảng cộng sảnbàn về những phương hướng và nhiệm vụ nhằm thúc đẩy công cuộc cải tổ.Tại hội nghị này Goocbachốp công bố toàn bộ tư tưởng cải tổ hệ thống chínhtrị ở Liên Xô Goocbachốp đề nghị thành lập cơ quan cơ quan chính quyềnmới là Đại hội đại biểu nhân dân, biến Xô viết tối cao thành cơ quan hoạtđộng thường xuyên và thay đổi Luật bầu cử Bầu cử đại biểu nhân dân dựđịnh tiến hành trên cơ sở lựa chọn theo hai cấp, trong đó sẽ có một phần ba
số đại biểu được chọn từ các tổ chức xã hội không qua bầu cử Nghị quyết của
hội nghị toàn liên bang lần thứ 19 khẳng định rõ: "Hướng quyết định của các
Xô viết đại biểu nhân dân là nền tảng của Nhà nước và tự quản XHCN ở nước ta"… [34; 43].
Một uỷ ban giám sát hiến pháp được thành lập để theo dõi việc thihành hiến pháp Xô Viết Goocbachốp cũng đề nghị tập trung các chức lãnhđạo Đảng và Xô viết từ trên xuống dưới trong cả nước vào một người, lập rachức vụ "Chủ tịch Xô viết" và thực hiện đường lối công khai, từ bỏ bí mậthoạt động của hệ thống chính trị đã lỗi thời
Hội nghị đã mổ xẻ những khuyết điểm về cơ chế lãnh đạo của Đảng,chế độ tập trung dân chủ của Đảng bị chế độ tập quyền quan liêu thay thế,quan hệ đồng chí trong Đảng từng bước biến thành mệnh lệnh và chấp hànhnhư quan hệ thủ trưởng và cấp dưới, cơ quan và cán bộ Đảng, xa rời sự giámsát của quần chúng
Từ đó Hội nghị đưa ra những biện pháp để tiến hành như: cải tiến hoạtđộng chính trị của Uỷ ban trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, lập lại uy tíncủa các cơ quan bầu cử Đảng uỷ các cấp thực hiện bầu cử bằng cách bỏ phiếukín, loại bỏ chế độ giữ chức vụ suốt đời, cán bộ các cấp được bầu và bổ
Trang 36nhiệm chỉ làm tối đa hai nhiệm kỳ Hội nghị ủng hội việc các cơ quan quyềnlực ở địa phương trừ các cơ quan ở làng và thôn xóm đều phải bầu các đoànChủ tịch Xô viết, hoạt động thường xuyên và trong tất cả các Xô Viết, bằng
bỏ phiếu kín bầu Chủ tịch của mình, không có ngoại lệ Việc bầu cử các Bíthư thứ nhất Đảng uỷ giữa các cấp giữ chức vụ chủ tịch Xô viết cấp tươngđương theo thường lệ sẽ góp phần nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử[34; 44]
Tư tưởng của Goocbachốp được hội nghị chấp nhận và thể hiện trongcác Nghị quyết Hội nghị xem việc thành lập Nhà nước pháp quyền XHCNtrên cơ sở đa nguyên chính trị là một hình thức tổ chức quyền lực chính trịhoàn toàn phù hợp với chủ nghĩa xã hội
Tháng 7 và tháng 8 - 1988, Hội nghị toàn thể Uỷ ban trung ương Đảngcộng sản Liên Xô thông qua nghị quyết "về phương châm cơ bản cải cách cơcấu của Đảng viên", cải tổ tổ chức cơ cấu chính quyền bao gồm Ban chuyênmôn của Trung ương, Ban trung ương, cải tổ cơ cấu địa phương, cắt giảm vàsắp xếp cán bộ…
+ Giai đoạn ba:
Năm 1990 - 1991 là giai đoạn cuối cùng của cải tổ chính trị Mục đíchcuối cùng của cải tổ là chuyển sang Nhà nước pháp quyền, tức là điều hànhnhà nước bằng pháp luật chứ không phải bằng con người Tháng 2/1990, Hộinghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản liên Xô họp tánthành việc xoá bỏ điều 6 trong Hiến pháp Liên Xô Điều 6 Hiến pháp hiệnhành (công bố 1961) quy định: “Đảng cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo
và chỉ đạo xã hội Xô Viết, là hạt nhân của thể chế chính trị Xô Viết và mọi cơquan nhà nước và các đoàn thể xã hội” Sau mấy tháng chuẩn bị, thảo luận vàtranh luận trong và ngoài đảng Cộng sản Liên Xô, cuối cùng Hội nghị đi đếnviệc loại bỏ điều trên, sửa là “Cũng như các tổ chức chính trị xã hội và cácphong trào quần chúng khác, Đảng Cộng sản tham gia vào quản lý các công
36
Trang 37việc nhà nước và xã hội, giới thiệu những đại biểu của mình vào Xô viết đạibiểu nhân dân và các cơ quan nhà nước khác Đảng không giành về mìnhnhững thẩm quyền quyền lực nhà nước”[73; 30].
Điều này đồng nghĩa với việc Liên Xô chính thức đặt nền móng thựchiện chế độ đa đảng Trung tâm quyền lực dần dần chuyển sang Đoàn chủ tịch
Xô Viết tối cao Liên Xô Quyền lực thực tế chủ yếu quy về Đoàn chủ tịch
Hội nghị soạn thảo cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội nhân đạo,dân chủ Cương lĩnh này được thông qua tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xôlần thứ XXVIII(7-1990)
* Về ngoại giao:
Trong sáu năm tiến hành cải tổ, Liên Xô đã thi hành chính sách đốingoại tích cực và đã có những kết quả nhất định Các mục tiêu chính củachính sách đối ngoại được đưa ra là: đạt được an ninh và giải trừ quân bị hoàntoàn, củng cố hệ thống XHCN, củng cố quan hệ với các nước mới giải phóng,đặc biệt là các nước theo chủ nghã xã hội, khôi phục quan hệ cùng có lợi vớicác nước tư bản, củng cố phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Để đạt được mục tiêu đó Goocbachốp đưa ra đường lối tư duy chínhtrị mới Chính sách này được thể hiện rõ trong cuốn sách "Cải tổ và tư duymới với với nưứơc ta và thế giới" của Goocbachốp được xuất bản năm 1987
Tư duy chính trị mới là "những suy nghĩ lại, nhận thức lại và nghiêncứu lại những biện pháp giải quyết đối với một loạt vấn đề có tính chất cănbản của thế giới hiện nay như vấn đề thời đại, chiến tranh và hoà bình, sự biếnđổi bên trong và mối quan hệ tương hỗ giữa hai hệ thống xã hội lớn (TBCN
và XHCN) phương tiện giải quyết cái loại mâu thuẫn và xung đột Một khíacạnh lớn của "tư duy mới" thường được gọi là "tư duy chính trị mới" là mặtquốc tế Nó bao gồm cả ngoại giao"[74; 104]
Vậy cụm từ "tư duy chính trị mới" có nguồn gốc từ đâu?
Trong bản Tuyên ngôn danh tiếng của mình, nhà vật lý vĩ đại Albert
Trang 38Einstien và nhà triết học Bertran Raselle đã đưa ra luận điểm về tư duy mới
như sau: "Chúng ta phải học tư duy theo cách mới, chúng ta phải học cách tự
hỏi mình không phải bằng câu hỏi phải thi hành những biện pháp nầo để dành chiến thắng cho mình, bởi chủng những biện pháp như thế không còn nữa Chúng ta phải tự đặt cho mình một câu hỏi khác: cần thi hành những biện pháp nào để ngăn ngừa cuộc xung đột vũ trang mà kết quả sẽ là tai họa cho tất
cả những người tham gia"[32, 5] Con người đang ở trong tình hình mới ấy.
Vì vậy tư duy của con người cũng cần phải thích ứng với tình hình mới ấy
Trong thập kỷ 50 - 60 Khơrupsốp cũng đã nêu lên những luận điểmtương tự
Trong điều kiện lịch sử mới, "tư duy mới" của Goocbachốp được hoànchỉnh ở "tuyên ngôn về huỷ bỏ triệt để vũ khí hạt nhân" ngày 15 - 1 - 1986 vàtại nghị viện Anh ngày 18- 12- 1984 Goocbachốp đã đề cập đến "tư duy chínhtrị mới" Ông nói: Thời đại hạt nhân tất nhiên làm cho người ta có mộtphương pháp tư duy chính trị mới Hiện nay trên thế giới mọi người cảm thấyquan tâm đến vấn đề gay gắt nhất là bức bách nhất là ngăn ngừa chiến tranhhạt nhân
Như vậy những luận điểm mà Goocbachốp đưa ra ở "tư duy mới" thểhiện quan điểm về "quan hệ quốc tế chủ nghĩa nhân đạo hoá, dân chủ hoá" vàchiến lược trong nước là "chủ nghĩa xã hội nhân đạo, dân chủ"
Tư duy chính trị mới có nội dung:
- Tư duy chính trị mới đề cao giá trị toàn nhân loại Goocbachốp đã đềcập đến các giá trị vĩnh hằng toàn nhân loại Ông phác họa toàn cảnh tínhnguy hiểm và bi kịch của toàn nhân loại trước kho vũ khí hạt nhân, đe doạ sự
sống còn của nhân loại và kết luận: "Chiến tranh hạt nhân không thể là biện
pháp để đạt tới bất cứ mục tiêu chính trị, kinh tế, tư tưởng nào Trong cuộc xung đột hạt nhân toàn cầu sẽ không có người thắng, kẻ thua, nhưng nền văn minh thế giới sẽ không tránh khỏi bị diệt vong Nói đúng ra, đó không còn là
38
Trang 39cuộc chiến tranh theo cách hiểu thông thường nữa mà chính là một sự tự huỷ diệt"[27, 230] Vì vậy "bỏ qua những gì đang gây nên bất đồng giữa chúng ta,
vì lợi ích của toàn nhân loại, vì cuộc sống trên trái đất lại chẳng đúng đắn hơn sao"[27; 226].
- Tư duy chính trị mới đòi hỏi phải thừa nhận một nền an ninh chung:
"tư duy chính trị mới phải thừa nhận một định đề giản đơn nữa là: an ninh làthứ không thể chia cắt được…cần phải làm sao cho an ninh riêng hết hợp với
an ninh của mọi thành viên trong cộng đồng thế giới, không nên mưu toanbảo đảm nền an ninh của riêng mình bằng cách dựa trên lưng người khác"[27;232,233]
- Tư duy chính trị mới quy định tính chất của học thuyết quân sự làhọc thuyết phòng thủ nghiêm ngặt Đó là sự phòng thủ không mang tính chấttiến công
Tư duy chính trị mới không chỉ là tuyên bố và khẩu hiệu mà là nhữngviệc làm và hành động cụ thể
Trước sự khủng hoảng của đất nước, tâm lý chán nản của nhân dân thìviệc một tổng bí thư như Goocbachốp trẻ trung, năng động lên nắm quyềncùng với tư tưởng, đường lối cải tổ đúng đắn, mới mẻ đã mang lại sinh khí,niềm tin cho đất nước Xô viết
Song trên bước đường cải tổ, Goocbachốp đã không lường hết được hệquả của nó Công cuộc cải tổ với tư tưởng đúng đắn ban đầu đã đi lệch khỏiquỹ đạo XHCN rơi vào tay các thế lực phản động Để hiểu rõ luận điểm trênchúng ta hãy đi tìm hiểu nội dung cụ thể trong quá trình cải tổ