Các bệnh này có nhiều yếu tố nguy cơ chung nhưhút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, dinh dưỡng không hợp lý, hạn chế vận động thểlực, và cú thể phũng ngừa được thông qua các biện pháp can thi
Trang 1DỊCH TỄ HỌC MỘT SỐ BỆNH KHÔNG LÂY PHỔ BIẾN
MỤC TIấU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này sinh viên có khả năng:
1 Trỡnh bày được tỡnh hỡnh cỏc bệnh khụng lõy nhiễm phổ biến trờn thế giới
Cú rất nhiều BKLN khỏc nhau, tuy nhiờn theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) có
4 nhóm BKLN phổ biến đó là các bệnh về tim mạch, ung thư, đái tháo đường, vàcác bệnh đường hô hấp mạn tính Các bệnh này có nhiều yếu tố nguy cơ chung nhưhút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, dinh dưỡng không hợp lý, hạn chế vận động thểlực, và cú thể phũng ngừa được thông qua các biện pháp can thiệp có hiệu quả.Hiện nay cũn tồn tại một số quan niệm sai lầm phổ biến về BKLN, cho rằngBKLN là bệnh của các nước phát triển hay bệnh của người giàu có thu nhập cao.Thực tế số liệu cho thấy 4/5 trường hợp tử vong trên thế giới xảy ra ở nước có thunhập thấp và trung bỡnh, và người nghèo dễ mắc BKLN hơn do điều kiện sốngkhông đảm bảo, có các hành vi nguy cơ như hút thuốc lá cao hơn, uống rượu nhiềuhơn, và ít có khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng tốt, dẫn tới người nghèo
Trang 2thường mắc bệnh sớm, thời gian gánh chịu bệnh tật dài và chết sớm hơn Hay chorằng BKLN là bệnh chỉ gặp ở người già, bệnh của nam giới, bệnh không thể phũngngừa được.
2 Tỡnh hỡnh bệnh không lây nhiễm
Theo dự bỏo của TCYTTG, BKLN sẽ là nguyờn nhõn chớnh gúp phần làm tăngđáng kể cỏc ca tử vong trong thập kỷ tới Từ năm 2010 đến 2020, số trường hợp tửvong do BKLN dự kiến sẽ tăng 15% trờn toàn cầu (44 triệu) Chõu Phi, Đông Nam
Á và Đông Địa Trung Hải là các khu vực sẽ có sự gia tăng lớn nhất trờn 20%.Trong khi đó, khu vực châu Âu không có sự gia tăng Ở khu vực chõu Phi, BKLN
sẽ gõy ra khoảng 3.9 triệu người chết vào năm 2020 Cỏc khu vực dự kiến cú sốtrường hợp tử vong cao nhất do BKLN vào năm 2020 là Đông Nam Á (10.4 triệu)
và Tõy Thỏi Bỡnh Dương (12.3 triệu)
Ngoại trừ chõu Phi, tử vong do BKLN ở cỏc khu vực khỏc vượt quá số tử vong docỏc BLN, bệnh lý bà mẹ, trẻ sơ sinh và dinh dưỡng kết hợp lại Đối với nam giới ởchõu Âu, tử vong do BKLN được ước tính cao hơn 13 lần so với cỏc nguyờn nhõnkhỏc cộng lại, ở khu vực Tõy Thỏi Bỡnh Dương con số này cao hơn 8 lần
Trong năm 2008, tỷ lệ tử vong chuẩn hóa theo tuổi của các BKLN ở các nước cúthu nhập thấp và trung bỡnh là 756/100,000 dõn đối với nam và 565/100,000 dõnđối với nữ, tương ứng với 65% và 85% cao hơn so với nam và nữ ở cỏc quốc gia
cú thu nhập cao Tỷ lệ tử vong chuẩn húa theo tuổi của cỏc BKLN cao nhất ở khu
Trang 3vực chõu Phi (nam 844/100,000 dõn, nữ 724/100,000 dõn) Cỏc nguyên nhân hàngđầu gây tử vong do BKLN trong năm 2008 là: cỏc bệnh tim mạch (17.0 triệu,chiếm 48% các trường hợp tử vong do BKLN), ung thư (7.6 triệu, chiếm 21% cáctrường hợp tử vong do BKLN), cỏc bệnh đường hô hấp trong đó bao gồm cả bệnhhen suyễn và bệnh tắc nghẽn phổi mạn tớnh (COPD) (4.2 triệu), và bệnh tiểuđường (1.3 triệu).
2.2 Ở Việt Nam
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác trong khu vực đang phải đối mặtvới sự thay đổi về mô hỡnh bệnh tật - gỏnh nặng bệnh tật kộp Theo số liệu niờngiỏm thống kờ của Bộ Y tế (Hỡnh 1 và 2), tỷ lệ mắc và tử vong do BKLN cú xuhướng ngày càng tăng (khoảng 43% năm 1976 lên tới gần 70 % năm 2009 đối với
tỷ lệ mắc, và khoảng 45% năm 1976 lên tới 64% năm 2009 đối với tỷ lệ tử vong),trong khi đó tỷ lệ mắc và tử vong do BLN đang có xu hướng giảm nhanh (khoảng56% năm 1976 xuống cũn 23% năm 2009 đối với tỷ lệ mắc, 53% năm 1976 xuốngcũn 15% năm 2009 đối với tỷ lệ tử vong)
TCYTTG ước tính ở Việt Nam năm 2008 có khoảng 430,000 trường hợp tử vong
do BKLN (75% tổng số tử vong) trong đó tử vong do bệnh tim mạch chiếm 40%,ung thư 14%, bệnh đường hô hấp mạn tính 8%, và đái tháo đường 3% Số tử vongcũn lại (25%) là do BLN, bệnh lý bà mẹ, trẻ sơ sinh, dinh dưỡng và tai nạn thươngtích Tỷ lệ tử vong chuẩn húa theo tuổi của cỏc BKLN là 687/100,000 dân đối vớinam và 508/100,000 đối với nữ Số năm sống với tàn tật được hiệu chỉnh (DALYs– một DALY được coi là một năm sống khỏe mất đi) của BKLN chiếm 71% tổnggánh nặng bệnh tật, cao gấp 6 lần so với BLN, bệnh lý bà mẹ, trẻ sơ sinh, dinhdưỡng kết hợp lại (13%)
Trang 4Hỡnh 14.1: Xu hướng tỷ trọng mắc BLN và BKLN ở Việt Nam, 1976-2009
Hỡnh 14.2: Xu hướng tỷ trọng tử vong cỏc BLN và BKLN ở Việt Nam,
1976-2009
Theo thống kờ của Cục Quản lý Mụi trường y tế từ số liệu báo cáo của 10,615 xótrong tổng số 11,112 xó của 63/63 tỉnh/thành phố cho thấy, trong năm 2010, toànquốc có 337,218 trường hợp tử vong Trong các nhóm nguyên nhân gây tử vong,nhóm BKLN chiếm tỷ lệ cao nhất 242.4/100,000 người, tiếp đến là các nhóm tainạn thương tích 43.8/100,000 người và nhóm BLN 26.0/100,000 người 10 nguyênnhân có tỷ lệ tử vong chuẩn hóa theo tuổi cao nhất trong năm 2010 lần lượt là(Hỡnh 14.3):
Trang 5Hỡnh 14.3: 10 nguyờn nhõn cú tỷ lệ tử vong chuẩn húa cao nhất ở Việt Nam, năm
2010
3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm
Tất cả các khu vực địa lý và mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc BKLN BKLNthường có sự kết hợp với tuổi già nhưng bằng chứng cho thấy 25% (9 triệu) tổng
số tử vong do BKLN chết trước tuổi 60, và 90% số trường hợp tử vong sớm trướctuổi 60 xuất hiện ở các nước có thu nhập thấp và trung bỡnh Trẻ em, người trưởngthành và người già đều có thể bị tác động bởi các yếu tố nguy cơ chung của BKLNnhư phơi nhiễm với khói thuốc lá, chế độ ăn uống không hợp lý, lạm dụng rượubia, hay tác động có hại của việc ít vận động thể lực
3.1 Hỳt thuốc
Hút thuốc là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu (có thể phũngtrỏnh được) ở trên thế giới và Việt Nam Hút thuốc không những ảnh hưởng đếnsức khỏe người hút mà cũn ảnh hưởng tới sức khỏe của người xung quanh TheoTCYTTG, mỗi năm trên thế giới có khoảng 6 triệu người tử vong do hút thuốc,trong đó 5.1 triệu là do tác động trực tiếp, 600,000 trường hợp là do phơi nhiễmthụ động với khói thuốc lá Ở Việt Nam, có khoảng 15 triệu người hút thuốc lá mỗingày, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới tuổi từ 25-64 chiếm 56.4% (theo số liệu điều traquốc gia 2009-2010) Con số đáng báo động này đang có xu hướng ngày càng tăngnhanh và có nguy cơ trẻ hóa ngày một cao Mỗi giờ ở nước ta có 5 ca tử vong vàmỗi năm có khoảng 40,000 người chết vỡ cỏc bệnh liờn quan tới tỏc hại của thuốc
lỏ, gấp 4 lần số người chết vỡ tai nạn giao thụng hàng năm
a) Bệnh ung thư và các bệnh đường hô hấp mạn tính
Trang 6Mối liên quan giữa hút thuốc và bệnh ung thư đó được biết vào năm 1964, khi báocáo đầu tiên của Surgeon General về thuốc lá và sức khỏe được công bố Vào thờiđiểm đó, những số liệu hiện có chỉ cho thấy mối liên quan giữa hút thuốc lá với hailoại ung thư là phổi và thanh quản Nhưng kể từ đó đến nay, đó cú nhiều bằngchứng thuyết phục cho thấy hỳt thuốc có thể gây 8 loại ung thư: bàng quang, thựcquản, thận, thanh quản, phổi, vũm, tụy và dạ dày Những bỏo cỏo gần đây đó cungcấp thờm những bằng chứng thuyết phục về vai trũ của sử dụng thuốc lỏ với một
số ung thư khác như: ung thư bạch cầu cấp, cổ tử cung, đại trực tràng và gan Hútthuốc lá cũn cú thể làm tăng nguy cơ tử vong ung thư tiền liệt tuyến do làm tăngnguy cơ phát triến ác tính của loại ung thư này Ngoài ra cũn cú bằng chứng chỉ ramối liờn quan giữa hỳt thuốc với ung thư tuyến thượng thận, túi mật, sinh dục, hốcmũi và xoang, tuy nhiên bằng chứng hiện tại vẫn chưa chắc chắn Hút thuốc chủđộng không gây ra một số ung thư như: ung thư nóo, vỳ, buồng trứng, tinh hoàn,
da, bệnh Hodgkin, ung thư liên kết mô mềm, hoặc ung thư thời thơ ấu Hút thuốc
là một yếu tố bảo vệ nhỏ đối với ung thư màng trong dạ con
Theo báo cáo mới nhất của Mỹ, thuốc lá chứa trên 7,000 loại chất hóa học độc hạithay vỡ 4,000 chất đó được công bố trước đây và có ít nhất 40 chất có khả nănggây ung thư, trong đó hydro cacbon thơm đa vũng (PAHs), N-nitrosamine, và 1-3butadiene được xem là những chất gây ung thư mạnh nhất Theo nghiên cứu củaRichard Doll, Richard Peto, và cộng sự (1981) cho thấy 30% trường hợp tử vong
do tất cả các loại ung thư ở Mỹ có liên quan đến hút thuốc lá, đặc biệt 90% ung thưphổi là do hút thuốc lá gây ra Thống kê của Bệnh viện K Trung ương cho thấy,người hút thuốc lá trong vũng 6 thỏng cú nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 6.5lần so với những người không hút thuốc lá Các yếu tố liên quan bao gồm: tuổi bắtđầu hút thuốc, số điếu thuốc hút trong một ngày, thời gian hút thuốc Tuổi bắt đầuhút càng trẻ, hút càng nhiều, thời gian hút càng lâu thỡ nguy cơ mắc bệnh càngcao, hút thuốc lá thụ động có nguy cơ mắc bệnh cao hơn bỡnh thường Mặc dùnguy cơ mắc ung thư giảm đi sau khi ngừng hút thuốc, nhưng không thể giống nhưngười chưa hút thuốc lá bao giờ
Cỏc bệnh lý tim mạch
Ngoài các chất gây ung thư, trong khói thuốc lá cũn chứa cỏc chất như nicotine,hắc ín, formaldehyde, cyanide, là những chất làm tăng nguy cơ mắc bệnh timmạch Dù hút một vài điếu thuốc trong ngày cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh
về tim mạch Mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch không chỉthấy ở cả hai giới, trong lớp trẻ và người già mà cũn thấy ở tất cả cỏc chủng tộc.Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần Mặt khác thuốc lácũn tương tác với các yếu tố khác làm tăng nguy cơ lên gấp nhiều lần Người hút
Trang 7thuốc có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch như: xơ vữa động mạch, bệnh mạchvành, đột quỵ, rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim, phỡnh động mạch chủ Trong số
đó, bệnh mạch vành là quan trọng nhất, ước tính chiếm khoảng hơn một nửatrường hợp tử vong vỡ bệnh tim do hỳt thuốc Bờn cạnh đó, những người đang hútthuốc có nguy cơ bị bệnh mạch máu ngoại vi cao gấp 16 lần so với người chưa hútbao giờ Ở những người đó cai thuốc thỡ nguy cơ này cao gấp 7 lần so nhóm chưahút bao giờ Khoảng 76% bệnh nhân bị mạch máu ngoại vi là do hút thuốc
Theo một cụng trỡnh nghiờn cứu ở Paris vào năm 1977, do Richard J.L và cộng sựtiến hành, theo dừi trong một thời gian 7 năm trên 7,640 người nghiện thuốc lá, húttrung bỡnh từ 15-16 điếu thuốc trong một ngày, đó đưa ra những kết luận như sau:
• Đối với những người không hút thuốc, tỷ lệ xuất hiện bệnh động mạch vànhhàng năm là 3.4/1,000
• Đối với những người hút thuốc nhưng không nuốt khói, tỷ lệ này là 4.6/1,000.Nếu có nuốt khói khi hút thỡ tỷ lệ tăng lên 8.5/1,000, nghĩa là cao gấp 2 lần
• Những người hút thuốc có nguy cơ nhồi máu cơ tim và tử vong đột ngột caohơn người không hút thuốc lần lượt là 4 và 5 lần
Ngày nay người ta đó biết được các chất độc hại có trong khói thuốc lá tích lũy lâungày làm tổn thương các tế bào nội mô và màng đáy của vách mạch hay nội tâmmạc, làm cho thành mạch bị xơ vữa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hỡnh thànhcỏc cục mỏu đông, hay các ổ nhồi máu (là các ổ hoại tử do lấp tắc động mạch đôikhi là tĩnh mạch gây thiếu máu cục bộ)
b) Bệnh Đái tháo đường (týp 2)
Thuốc lá không chỉ là làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư, tim mạch, cỏc bệnhđường hô hấp mạn tính mà cũn cú mối liờn quan chặt chẽ với bệnh ĐTĐ Ngàynay, thuốc lá đó được chứng minh là yếu tố độc lập làm tăng nguy cơ mắc bệnhĐTĐ Khi hút thuốc, người hút đưa một lượng carbon dioxide từ khói thuốc vào cơthể, chất này ngăn cản oxy kết hợp với hồng cầu Để bù đắp lại, cơ thể tăng sảnxuất hồng cầu và đó chính là một trong những tác nhân làm tăng biến chứng suythận, mù mắt, hoại tử bàn chân, đột quỵ ở bệnh nhân ĐTĐ Cũng từ khói thuốc,nicotine vào máu gây co thắt những mạch máu nhỏ, làm chậm sự hấp thu củainsulin khi tiêm, đưa đến khó kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân sử dụng insulin.Ngoài ra, nó cũn làm tăng tỡnh trạng đề kháng insulin của cơ thể Nguy cơ mắcbệnh ĐTĐ týp 2 của những người hút thuốc cao hơn gấp 2 lần đối với những ngườikhông hút thuốc, đặc biệt nó cũn là nguyờn nhõn của việc sảy thai, sinh non ởnhững sản phụ ĐTĐ Rừ ràng, thuốc lỏ khụng chỉ gõy nờn những biến chứng
Trang 8nghiờm trọng trờn bệnh nhõn ĐTĐ mà cũn làm tăng khả năng phát triển ĐTĐ ởnhững người hút thuốc.
3.2 Chế độ ăn uống
Nhiều nghiên cứu đó chỉ ra rằng chế độ ăn uống đóng vai trũ quan trọng trong việc
dự phũng và cơ chế bệnh sinh đối với một số BKLN phổ biến, chế độ dinh dưỡnghợp lý đóng vai trũ bảo vệ đối với mốt số BKLN và ngược lại Theo TCYTTG,trên thế giới mỗi năm có khoảng 1.7 triệu người tử vong được quy cho là có liênquan đến việc tiêu thụ thấp lượng rau củ quả Ở Việt Nam, theo điều tra quốc gianăm 2009-2010, tỷ lệ người dân không ăn đủ lượng hoa củ quả và rau xanh chiếm80% dân số
a) Bệnh ung thư
Thực phẩm không gây ung thư nhưng các chất bảo quản, chất tăng trọng, hoặc cácchất chuyển hóa trung gian mới là những tác nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh ungthư Theo nghiên cứu của Richard Doll, Richard Peto, và cộng sự năm 1981 chothấy 35% số trường hợp tử vong do ung thư ở nước Mỹ là do chế độ dinh dưỡngkhông hợp lý Ngày nay nhiều chất sinh ung thư có trong thực phẩm đó được biết,
ví dụ: khẩu phần ăn không hợp lý như ăn nhiều chất béo động vật sẽ làm tăng nguy
cơ mắc ung thư vú và đại trực tràng, ngược lại chế độ ăn nhiều rau xanh, quả chín
có tác dụng bảo vệ chống lại ung thư (giảm tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng) Hoặcthực phẩm chế biến lâu ngày như dưa khú, thịt cá ướp muối hoặc hun khói chứanhiều muối nitrat, nitrit, sau đó chuyển thành muối nitrosamine là chất gây ung thưthực nghiệm rất mạnh làm tăng nguy cơ mắc ung thư thực quản và dạ dày KristinAnderson và cộng sự thuộc trường Đại học Minnesota (Mỹ) đó nghiờn cứu trờn62,000 người khỏe mạnh ăn hàng ngày trong 9 năm, kết quả nghiên cứu cho thấynhững người thường xuyên ăn thịt đỏ được nướng, hoặc chiên kỹ làm tăng nguy cơmắc ung thư lách cao hơn 60% so với những người ăn thịt này nhưng nướng hoặcchiên ở nhiệt độ vừa phải, hoặc hoàn toàn không ăn món này Các nhà khoa học đónhấn mạnh vai trũ của hợp chất sinh ung thư hectero cyclinic amines có nhiềutrong thịt được xử lý ở nhiệt độ cao Ngoài ra, nấm mốc có trong gạo lạc mốc tiết
ra chất độc aflatoxin làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan
Ngày nay nhờ cỏc tiến bộ mới về bảo quản thực phẩm, đặc biệt là bảo quản rau vàthực phẩm tươi sống bằng kế hoạch phân phối và các hầm làm lạnh, gian hànglạnh, tủ lạnh, đó làm giảm cỏc thực phẩm cú chứa muối nitrit, nitrat Tỷ lệ ung thư
dạ dày trên thế giới ngày càng giảm xuống rừ rệt Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ungthư dạ dày cũn cao ở cả 2 giới (chỉ đứng sau ung thư phổi ở nam và ung thư vú ởnữ), do đó cần đẩy mạnh công tác dự phũng theo hướng này
Trang 9b) Bệnh tim mạch
Chế độ ăn đóng vai trũ rất quan trọng đối với các bệnh tim mạch, đặc biệt các bệnhliên quan đến xơ vữa động mạch và cao huyết áp Tăng hàm lượng các chất lipid(mỡ) trong máu (cholesterol và triglycerid) rất thường gặp và là một trong nhữngyếu tố nguy cơ có thể thay đổi được quan trọng bậc nhất của bệnh tim mạch.Cholesterol toàn phần bao gồm nhiều dạng cholesterol, trong đó 2 thành phần quantrọng nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọnglượng phân tử thấp (LDL-C) Khi nồng độ LDL-C trong máu tăng là yếu tố nguy
cơ của bệnh tim mạch Ngược lại, HDL-C được coi là yếu tố bảo vệ, và khi nồng
độ HDL-C trong máu càng thấp thỡ nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao Tăngtriglycerid, một thành phần mỡ máu khác, cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnhtim mạch Nguyên nhân chủ yếu làm cholesterol trong máu tăng cao là do ăn uốngquá nhiều các thức ăn có chứa nhiều chất béo bóo hũa như: thịt đỏ, sữa nguyênkem, bơ, phômai, trứng, phủ tạng động vật
Một cụng trỡnh nghiờn cứu ở Paris do Richard J.L và cộng sự thực hiện năm 1977
đó nghiờn cứu về mối liờn quan giữa tỷ lệ cholesterol toàn phần trong máu vànguy cơ nhồi máu cơ tim cho biết: nếu cholesterol máu toàn phần < 1.8 g/l thỡnguy cơ bị nhồi máu cơ tim là 2.9%, nếu cholesterol máu toàn phần > 2.8 g/l thỡnguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng lên 12.9% Công trỡnh nghiờn cứu ở Framinghamtrên một số lượng lớn nam giới tuổi từ 50-78, theo dừi trong 4 năm kết quả chothấy: nguy cơ bị bệnh động mạch vành tăng lên tối đa nếu LDL-C > 2 g/l, nguy cómắc bệnh này là tối thiểu nếu LDL-C < 1.2 g/l, và nguy cơ không đáng kể nếuLDL-C > 0.85 g/l
Đặc biệt, bệnh tim mạch và bệnh ĐTĐ, hoặc tỡnh trạng bộo phỡ, thừa cõn cúnhững liờn quan rất chặt chẽ với nhau, và cú liờn quan chặt chẽ tới chế độ dinhdưỡng Cũng theo công trỡnh nghiờn cứu ở Paris năm 1977 của Richard J.L vàcộng sự, người ta thấy tỷ lệ người phát bệnh động mạch vành hàng năm như sau: ởngười không bị ĐTĐ là 4.8/1,000; ở những người có biểu hiện tiền ĐTĐ là10.3/1,000; cũn những người bị ĐTĐ thực sự sẽ là 16.7/1,000
Cho đến nay, người ta chưa biết được một cách chính xác tại sao ĐTĐ lại là yếu tốthuận lợi cho việc xuất hiện các bệnh tim mạch Nhưng người ta biết rằng đườnghuyết tăng cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc hỡnh thành cỏc cục mỏu đông tronglũng hệ tuần hoàn của cơ thể
c) Bệnh Đái tháo đường (týp 2)
Bệnh ĐTĐ có thể coi là hậu quả của sự tác động qua lại giữa yếu tố môi trường, lốisống bao gồm chế độ ăn uống với khiếm khuyết gen Dưới tác động của chế độ
Trang 10dinh dưỡng không hợp lý, kết hợp với ít vận động thể lực dẫn đến béo phỡ, cựngvới tuổi tỏc cao cú nhiều nguy cơ khiếm khuyết gen quy định hoạt động của insulinhoặc của tế bào bê-ta dẫn tới giảm khả năng dung nạp glucose của cơ quan đích (tếbào cơ, gan, tổ chức mỡ) và hậu quả là tăng glucose huyết và các rối loạn chuyểnhóa đi kèm Tỡnh trạng tăng glucose huyết trường diễn, tích lũy sợi fibrin trong tếbào bê-ta, tăng acid béo tự do và giảm số lượng tế bào bê-ta dẫn đến tổn thương vàgiảm chức năng tế bào bê-ta của tuyến tụy Khi cơ thể mất bù trước tỡnh trạngkhỏng insulin hoặc chức năng của tế bào bê-ta suy kiệt thỡ tỡnh trạng đái tháođường xuất hiện.
Khoảng 90% người bệnh ĐTĐ típ 2 là thừa cân Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệmắc bệnh đái tháo đường tăng cao ở những người có chế độ ăn nhiều chất béo bóohũa (mỡ động vật), nhiều carbonhydrat tinh chế, nhiều tinh bột, ăn ít chất xơ.Ngoài ra, các chế độ ăn thiếu vitamin, các yếu tố vi lượng góp phần làm thúc đẩy
sự tiến triển bệnh ĐTĐ ở những người trẻ cũng như người cao tuổi Đặc biệt ởngười già mắc bệnh ĐTĐ, cơ thể có sự tăng sản xuất gốc tự do (là nhân tố làm tăngquá trỡnh lóo húa cơ thể), do vậy việc bổ sung các chất chống oxy hóa như vitamin
C, E sẽ phần nào giúp cải thiện được hoạt động của insulin và quá trỡnh chuyểnhúa Một số người cao tuổi mắc bệnh ĐTĐ bị thiếu hụt magie và kẽm, thỡ khiđược bổ sung những chất này, quỏ trỡnh chuyển húa glucose đó được cải thiện rấttích cực
Những người có nhiều khả năng tăng bất thường lượng mỡ trong máu làm tăngnguy cơ mắc bệnh ĐTĐ Lượng mỡ trong máu cao hơn sẽ là yếu tố nguy cơ cho cảbệnh ĐTĐ và bệnh tim mạch VV́ vậy, cần kiểm tra lượng mỡ trong máu định kỳ vàduy tŕ chúng trong giới hạn cho phép Nếu HDL-C ≤ 35 mg/dl (0.9 mmol/L) và/hoặc triglicerid > 250 mg/dl (2.82 mmol/L) thỡ nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ sẽ tănglên
3.3 Lạm dụng rượu bia
Việc lạm dụng rượu bia từ lâu đó được biết đến là yếu tố hành vi có hại cho sứckhỏe Theo TCYTTG, mỗi năm trên thế giới có khoảng 2.3 triệu người tử vong doBKLN được quy cho là do việc lạm dụng rượu bia Ở Việt nam, theo điều tra quốcgia năm 2009-2010, nam giới uống rượu bia ở mức gây hại chiếm 25% tổng sốdân
Trang 11nguy cơ mắc các loại ung thư nói trên cao hơn Đối với gan, việc lạm dụng rượubia lâu ngày sẽ làm tổn thương gan, dẫn tới xơ gan, làm tăng nguy cơ ung thư gan.
Cơ chế tác dụng của các chất có cồn dẫn tới ung thư chưa được thực sự hiểu biết rừràng Cú thể là do rượu bia làm tổn thương các mô: khi đồ uống có cồn được đưavào cơ thể sẽ bị các men tiêu hóa - enzyme phân tách thành các hợp chất khácnhau, một trong số chúng là acetaldehyde, là tác nhân quan trọng để hỡnh thànhformaldehyde hay chất bảo quản phoúc mụn, formaldehyde là một trong nhữngnhõn tố hàng đầu dẫn tới ung thư ở người Hơn nữa, acetaldehyde có thể tác độngtrực tiếp làm phá vỡ cấu trúc thông thường trên DNA, gây ra các đột biến nhiễmsắc thể của tế bào Hoặc cũng có thể do tác động của các chất độc hại khác ví dụnhư chất độc có trong thuốc là, khi đó chất có cồn đóng vai trũ như một dung môihũa tan Điều này giải thích tại sao có sự kết hợp uống rượu bia và hút thuốc lá làmtăng nguy cơ mắc ung thư miệng họng, thanh quản, thực quản cao hơn so với chỉ
có tác động của rượu hoặc của thuốc lá đơn thuần
b) Cỏc bệnh tim mạch,
Hiện nay các khuyến cáo cho rằng, nếu sử dụng điều độ, tức không quá một đơn vịuống mỗi ngày (tương đương 60 ml rượu vang, 300 ml bia, hoặc 30 ml rượu nặng)thỡ uống đồ uống có cồn không có nguy cơ đối với bệnh tim mạch, và trong chừngmực nào đó có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành, có thể làrượu đó làm tăng lượng HDL-C trong máu (rượu vang đỏ) Hiện tại vẫn chưa cóđầy đủ bằng chứng và sự thống nhất khuyến cáo mọi người uống rượu một cách hệthống Tuy nhiên uống quá nhiều rượu và các đồ uống có cồn khác, nhiều hơn 1đơn vị uống mỗi ngày lại có thể có hại cho sức khỏe nói chung và các bệnh timmạch nói riêng Lúc đó rượu sẽ làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ tổn thương gan vàbiến chứng thần kinh trung ương cũng như rất nhiều rối loạn khác, một vài trong số
đó là các rối loạn về tim mạch
Rượu và đột quỵ: rượu làm gia tăng hoặc giảm nguy cơ đột quỵ phụ thuộc vào mức
độ uống rượu và thể đột quỵ Phân tích trên 19 công trỡnh nghiờn cứu kiểm chứng
và 16 nghiờn cứu cắt ngang đó xỏc định:
• Nghiện rượu nặng sử dụng nhiều hơn 60g/ngày làm tăng nguy cơ bị đột qụy
• Sử dụng mức độ trung bỡnh 12-24g/ngày làm giảm nguy cơ bị đột quỵ
• Sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thỡ nguy cơ bị đột quỵ thấp nhất, và giảm nguy
cơ bị nhồi máu nóo
Các nghiên cứu khác cũng đó xỏc nhận sự tương quan giữa sử dụng rượu và nguy
cơ bị đột quỵ: sử dụng rượu ở mức độ trung bỡnh làm giảm nguy cơ mắc xơ vữa
Trang 12động mạch được xác định bằng chụp mạch Tổng số người say cấp do rượu có thểgây ra đột quỵ lấp mạch có nguồn gốc từ tim hoặc các động mạch lớn.
Rượu và tăng huyết áp: nhiều nam giới bị tăng huyết áp sẽ giảm được nguy cơ bị
bệnh tim bằng cách uống 1 hoặc 2 cốc rượu nhỏ mỗi ngày Qua khảo sát 11,711nam giới cho thấy những người uống 1-2 cốc bia, rượu hay vài chén rượu nhỏ đềugiảm nguy cơ bị bệnh tim, thậm chí cũn giảm cả huyết ỏp Trong khi đó, nhữngngười uống ít hơn 1 cốc mỗi ngày không giảm được nguy cơ bị bệnh tim hơnnhững người không uống rượu Cũn uống hơn 3 cốc mỗi ngày sẽ làm tăng huyết áp
và tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch
Theo nghiên cứu của Joline Beulens, Trường y tế công cộng tại Đại học Harvardcho rằng: uống nhiều rượu chắc chắn sẽ làm tăng huyết áp Tuy nhiên, kết quảnghiên cứu của ông cho thấy không nhất thiết phải bỏ hẳn rượu mà có thể uốngtrong giới hạn cho phép Cũng có khá nhiều công trỡnh nghiờn cứu cho thấy:những người uống các loại rượu có độ cồn cao, rượu nặng sẽ có biến chứng tănghuyết áp nhiều hơn so với những người uống các loại rượu có độ cồn thấp
Rượu và bệnh mạch vành: tác dụng bảo vệ tim mạch khi uống rượu vừa phải đó
được biết đến từ lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa những ngườiuống rượu bị bệnh mạch vành Uống rượu vừa phải thỡ tỷ lệ bệnh mạch vành sẽgiảm, cũn nếu uống nhiều rượu quá thỡ nguy cơ bệnh mạch vành sẽ gia tăng Theomột nghiên cứu mới được công bố ở Mỹ thỡ ngoài việc ăn uống điều độ, tập thểdục đều đặn và có một lối sống khoa học, uống rượu vừa phải có thể giảm đáng kểnguy cơ nhồi máu cơ tim, ít nhất là ở nam giới Nghiên cứu theo dừi trờn 9,000nam giới khỏe mạnh cho thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim giảm mạnh ở nhóm uốngrượu vừa phải từ 5g đến dưới 30g/ngày, nhất là nhóm uống từ 15-29.9g/ngày “10grượu tương đương với 330ml bia hoặc 100ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh”
Rượu và rối loạn nhịp tim: những người nghiện rượu nặng, sau những đợt uống
nhiều rượu, có thể bị rối loạn nhịp tim, đặc biệt là ngoại tâm thu nhĩ Người tathường gọi hội chứng “ngày nghỉ”, nhằm để chỉ những rối loạn nhịp tim ở nhữngngười có trái tim bỡnh thường sau những đợt uống nhiều rượu trong những ngàynghỉ lễ hoặc hội hè Ở những người dưới 65 tuổi uống nhiều rượu sẽ là một nguyênnhân chính, chiếm đến 63% các trường hợp rối loạn nhịp tim thể rung nhĩ
Rượu và suy tim: rượu có thể gây suy tim, cũng có thể liên hệ di truyền Uống rượu
nhiều sau 5 năm có thể làm tim phỡ đại, nhất là phỡ đại tâm thất trái dẫn đến suytim Một nguyên nhân nữa thúc đẩy quỏ trỡnh này là do trong khẩu phần ăn củanhững người nghiện rượu thường thiếu vitamin B1, và sự thiếu hụt này là nguyênnhân dẫn đến suy tim