DANH MỤC CÁC BẢNG 1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm hùm các tỉnh miền Trung 1.4 Tình hình nuôi tôm hùm thành phố Quy Nhơn 2.1 Phân bố số lượng phiếu điều tra ở các hộ ương giống và 3.2
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào
Nguyễn Tiến Trịnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, chúng tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Sinh-KTNN, Phòng Sau đại học, Trường Đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập và nghiên cứu trong thời gian qua
Tôi rất cảm ơn PGS.TS Võ Văn Nha đã tận tình hướng dẫn, động viên
và giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục Thủy sản Bình Định, Phòng Kinh
tế thành phố Quy Nhơn, Trạm Khuyến nông thành phố Quy Nhơn, Chi cục Thống kê thành phố, UBND xã Nhơn Hải cùng với bà con nuôi tôm hùm ở xã Nhơn Hải; một số cơ quan và cá nhân khác đã luôn sẵn lòng giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn gia đình và người thân đã động viên và hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Cuối cùng xin cảm ơn các bạn lớp Cao học Sinh học thực nghiệm khóa
18 đã đồng hành cùng tôi suốt quá trình học tập
Quy Nhơn, ngày tháng năm 2017 Tác giả
Nguyễn Tiến Trịnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Vị trí phân loại và một số đặc điểm sinh học của tôm bông 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 3
1.1.3 Đặc điểm sinh học phân bố 5
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 9
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 10
1.1.6 Đặc điếm sinh sản 10
1.2 Tình hình nuôi tôm hùm trên thế giới và ở Việt Nam 11
1.2.1 Tình hình nuôi tôm hùm trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình nuôi tôm hùm ở Việt Nam 13
1.3 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của tôm hùm trên thế giới và ở Việt Nam 18
1.3.1 Trên thế giới 18
1.3.2 Ở Việt Nam 20
1.4 Những nghiên cứu về dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm trên thế giới và ở Việt Nam 22
1.4.1 Trên thế giới 22
1.4.2 Ở Việt Nam 24
Trang 61.5 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Quy Nhơn, tỉnh
Bình Định 27
1.5.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội 27
1.5.2 Tình hình nuôi tôm hùm ở thành phố Quy Nhơn 30
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 35
2.3.1 Điều tra hiện trạng nghề nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 33
2.3.2 Khảo sát sinh trưởng của tôm hùm bông theo thời gian nuôi tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 33
2.3.3 Khảo sát dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm bôngtại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định……….…….34
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải 35
2.4 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 35
2.5 Phương pháp nghiên cứu 35
2.5.1 Điều tra hiện trạng nghề nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải 35
2.5.2 Khảo sát sinh trưởng của tôm hùm bông theo thời gian nuôi 33
2.5.3 Khảo sát dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm bông 38
2.5.4 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải, 40
2.6 Các phương pháp xử lý số liệu 40
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 42
3.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải 42
3.1.1 Biến động số lồng nuôi và số lượng tôm hùm nuôi trên địa bàn xã Nhơn Hải giai đoạn từ năm 2012 đến tháng 6/2017 42
3.1.2 Cơ cấu lao động và cấu trúc độ tuổi của chủ hộ nuôi tôm hùm 45
3.1.3 Trình độ học vấn và kinh nghiệm 46
3.1.4 Thu nhập của nghề nuôi tôm hùm 48
Trang 73.1.5 Đánh giá thuận lợi và khó khăn 49
3.2 Kết quả khảo sát đặc điểm sinh trưởng của tôm hùm bông (Panulirus ornatus) theo thời gian nuôi tại xã Nhơn Hải 51
3.2.1 Điều kiện sinh thái vùng nuôi nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải 51
3.2.2 Đặc điểm sinh trưởng của tôm hùm bông giai đoạn từ 1–150 ngày nuôi.……….…52
3.2.3 Kết quả xác định phương trình hồi quy tuyến tính giữa dài thân và khối lượng tôm hùm bông……….………….……….56
3.2.4 Kết quả khảo sát tỷ lệ sống của tôm hùm bông theo thời gian nuôi ……… …… 58
3.3 Kết quả khảo sát dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 59
3.3.1 Kết quả khảo sát một số bệnh thường gặp ở tôm hùm bông 59
3.3.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh đỏ thân và bệnh sữa ở tôm hùm bông nuôi tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 65
3.4 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 71
3.4.1 Giải pháp về quy hoạch……… ….72
3.4.2 Giải pháp về con giống……….….72
3.4.3 Giải pháp về kỹ thuật khoa học công nghệ: ……….72
3.4.4 Giải pháp về chính sách Nhà nước……… 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
RR : Chỉ số nguy cơ tương đối (Relative Risk)
OR : Chỉ số chênh lệch (Odd Ratio)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm hùm các tỉnh miền Trung
1.4 Tình hình nuôi tôm hùm thành phố Quy Nhơn
2.1 Phân bố số lượng phiếu điều tra ở các hộ ương giống và
3.2 Phân bố tuổi của chủ hộ nuôi tôm hùm ở xã Nhơn Hải 46
3.3 Trình độ học vấn và kinh nghiệm của chủ hộ nuôi tôm
3.6 Kết quả khảo sát các tiêu chí môi trường đo tại vùng nuôi
3.7
Giá trị sinh trưởng tích lũy khối lượng và chiều dài thân
của tôm hùm bông nuôi tại xã Nhơn Hải giai đoạn
ương giống từ 1-65 ngày nuôi
54
Trang 103.8
Giá trị sinh trưởng tích lũy khối lượng và chiều dài thân
của tôm hùm bông nuôi tại xã Nhơn Hải giai đoạn nuôi
thương phẩm từ 65-150 ngày nuôi
55
3.9 Tỷ lệ sống của tôm hùm bông nuôi tại xã Nhơn Hải 58
3.10 Kết quả khảo sát một số hội chứng/bệnh thường gặp ở
3.11 Tần suất bắt gặp (%) những biện pháp phòng, trị bệnh
3.12 Tần suất bắt gặp (%) khả năng chữa trị bệnh ở tôm hùm
3.13 Phân bố của bệnh đỏ thân và bệnh sữa theo mùa tại xã
3.14 Phân bố của bệnh đỏ thân và bệnh sữa theo giai đoạn
3.15 Phân bố của bệnh đỏ thân và bệnh sữa trên tôm hùm
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1.4 Vị trí phân bố của tôm hùm gai ở vùng biển miền Trung
1.5 Biểu đồ biến động tôm hùm giống khai thác ở Việt Nam 17
2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn 35
3.2
Biến động số lượng lồng nuôi tôm hùm giống và tôm
hùm thương phẩm ở xã Nhơn Hải từ năm 2012 đến
tháng 6 năm 2017
43
3.3
Biến động số lượng tôm hùm giống và tôm hùm thương
phẩm nuôi ở xã Nhơn Hải từ năm 2012 từ năm 2012 đến
tháng 6 năm 2017
44
3.4 Vùng ương tôm hùm giống và nuôi tôm hùm thương
Trang 123.5 Kiểu lồng ương tôm hùm giống tại xã Nhơn Hải 53
3.6 Kiểu lồng nuôi tôm hùm thương phẩm tại xã Nhơn Hải 55
3.7
Đồ thị tương quan giữa chiều dài và khối lượng tôm
hùm bông nuôi tại xã Nhơn Hải giai đoạn 1-150 ngày
tuổi
57
3.8 Tôm hùm giống và tôm hùm thương phẩm bị chết ở xã
3.9 Khả năng chữa trị bệnh đỏ thân và bệnh sữa ở tôm hùm
3.10 Phân bố bệnh đỏ thân và bệnh sữa theo mùa trong năm
3.11 Phân bố bệnh đỏ thân và bệnh sữa theo giai đoạn nuôi
3.12 Phân bố hội chứng bệnh đỏ thân và hội chứng bệnh sữa
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tôm hùm bông (Panulirus ornatus) là 1 trong 7 loài tôm hùm phân bố
ở vùng biển Việt Nam Với những ưu điểm nổi trội như tăng trưởng nhanh, kích thước lớn, chất lượng thịt thơm ngon, có giá trị kinh tế cao so với các loài khác, tôm hùm bông là đối tượng nuôi đem lại hiệu quả cao cho nhiều người dân ở khu vực ven biển các tỉnh miền Trung
Ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay nghề nuôi tôm hùm đang phát triển mạnh, có 03 vùng nuôi tôm hùm đó là: xã Nhơn Hải, phường Ghềnh Ráng và xã Nhơn Châu, trong đó nghề nuôi tôm hùm ở xã Nhơn Hải phát triển mạnh nhất Trong năm 2016, trên địa bàn thành phố Quy Nhơn ương nuôi tôm hùm giống đạt 66.280 con, bằng 32,5% so với năm 2015 với tổng giá trị khoảng 19,8 tỷ đồng, nguyên nhân do tôm hùm giống khai thác trong năm 2016 khan hiếm; Nuôi tôm hùm thương phẩm đạt thả nuôi 44.345 con, tăng 36,7% so với năm 2015 với tổng giá trị khoảng 35,5 tỷ đồng
Nghề nuôi tôm hùm bằng lồng trên địa bàn xã Nhơn Hải hoàn toàn tự phát, người nuôi dựa vào kinh nghiệm là chính nên kết quả mang lại cũng khác nhau, tỷ lệ sống không ổn định Bên cạnh đó, diễn biến bệnh dịch trên tôm hùm nuôi tại xã Nhơn Hải rất phức tạp, năm 2013, 2016 và 6 tháng đầu năm 2017 bệnh dịch đã xảy ra trên tôm hùm gây thiệt hại hàng tỷ đồng cho người nuôi Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào về sinh trưởng và dịch tễ học một số bệnh trên tôm hùm ở khu vực nuôi tại xã Nhơn Hải, mà chỉ là những thông báo chung cho toàn vùng Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và dịch tể học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm nuôi lồng để hiểu về tần số bắt gặp, diễn biến, mùa vụ xảy ra bệnh,… nhằm phát
Trang 14hiện và ngăn chặn kịp thời, giảm thiệt hại kinh tế và góp phần đảm bảo chất lượng tôm giống, phát triển ổn định nghề nuôi tôm hùm là cần thiết
Xuất phát từ những tính chất trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và dịch tễ học một số bệnh thường
gặp ở tôm hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi tại xã Nhơn Hải, thành phố
Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” với các mục tiêu và nội dung sau:
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được hiện trạng nghề nuôi tôm hùm tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
- Xác định được đặc điểm sinh trưởng của tôm hùm bông (Panulirus
ornatus) theo thời gian nuôi tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh
Bình Định
- Xác định được đặc điểm dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm
hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi tại tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn,
tỉnh Bình Định
- Đề xuất được khả năng phát triển nghề ương tôm hùm và biện pháp phòng bệnh trên tôm hùm nuôi tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Luận văn góp phần vào việc cung cấp các số liệu về đặc điểm sinh
trưởng và dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm bông (Panulirus
ornatus) nuôi tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nhằm
phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập
- Kết quả nghiên cứu góp phần phát triển kinh tế ở địa phương
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vị trí phân loại và một số đặc điểm sinh học của tôm hùm bông
(Panulirus ornatus)
1.1.1 Vị trí phân loại
Tôm hùm là tên gọi chung cho nhóm giáp xác 10 chân thuộc 4 họ
Palinuridae, Scyllaridae, Nephropidae và Synaxidae Theo Phillip và
Wiliams, đến những năm 1980 đã khẳng định họ tôm hùm gai Palinuridae
gồm có 49 loài thuộc 8 giống, nhưng chỉ có 33 loài thuộc 3 giống có ý nghĩa kinh tế quan trọng cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản [20] Ở vùng biển Việt Nam, Nguyễn Văn Chung và cộng sự (1995) đã mô tả vùng phân
bố của 17 loài tôm hùm, trong đó có 7 loài thuộc giống Panulirus, phân bố
chủ yếu ở vùng biển miền Trung, kéo dài từ vĩ tuyến 180N đến 110N [5] Vị trí phân loại tôm hùm bông như sau:
Ngành chân đốt (Arthropoda)
Lớp giáp xác (Crustacea)
Bộ mười chân (Decapoda)
Họ tôm hùm gai (Palinuridae)
Giống Panulirus
Loài tôm hùm bông - Panulirus ornatus (Fabricius, 1798)
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Nguyễn Thị Bích Thúy (1998) đã mô tả tôm hùm bông (Panulirus
ornatus), còn được gọi là tôm hùm sao như sau: toàn thân có màu xanh nước
Trang 16biển rất hài hòa Kích thước cơ thể lớn, có cá thể đạt tới 9kg Đôi râu 2 dài gấp 1,5 lần chiều dài cơ thể, 5 đôi chân bò có những vòng ngang màu nâu đậm Các đốt bụng không có rãnh ngang Vỏ lưng mỗi đốt bụng có dải màu xanh thẫm và có 1-2 chấm màu kem nghiêng về 2 bên, 2 cặp gai ở phiến gốc râu 1 có cặp sau bé hơn cặp trước, đôi gai hốc mắt rất dài và nhọn [20] (Hình 1.1).
Hình 1.1: Hình thái tôm hùm bông (Panulirus ornatus)
Trang 17Theo quan điểm hình thái học, cơ thể tôm hùm thuộc giống Panulirus
chia thành phần đầu ngực và phần bụng Phần đầu ngực gồm 14 đốt, mỗi đốt
có một đôi phần phụ ngực; 6 đốt đầu tiên tạo nên phần đầu và 8 đốt còn lại tạo nên phần ngực Các phần phụ trên phần đầu ngực gồm có: 5 đôi chân bò;
1 đôi mắt kép có thể cử động, bất động, hoặc co ngắn lại; có 2 đôi anten, anten thứ nhất có phân nhánh, anten thứ hai rất dài và có nhiều gai nhỏ; phần miệng có hàm trên, hàm dưới và các mảng chân hàm Phần bụng gồm có 6 đốt, các đốt được bảo vệ bằng lớp vỏ kitin ở cả phần lưng, phần bên và phần bụng Từ đốt bụng thứ 2 đến thứ 5 có 4 đôi chân bơi, đốt bụng thứ 6 biến
thành chân đuôi và telson rất cứng và chắc chắn [20], [22]
1.1.3 Đặc điểm sinh học phân bố
Phân bố của tôm hùm được quyết định bởi tính di truyền và quá trình thích nghi của loài đối với các điều kiện tự nhiên, môi trường ở từng vùng biển Đối với tôm hùm, chu kỳ sống trải qua nhiều lần thay đổi môi trường sống khác nhau, mỗi giai đoạn của chúng gắn với một điều kiện sinh thái nhất định và tạo nên một quần thể riêng biệt [7], [20]
- Giai đoạn ấu trùng Phyllosoma sống trôi nổi như sinh vật phù du trên biển và đại dương, vì thế khả năng phát tán của chúng rất lớn do tác động của sóng, gió, dòng chảy Hầu như suốt thời kỳ này, chúng luôn di chuyển và hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện thủy văn môi trường biển khơi [20]
- Sau khi ấu trùng Phyllosoma trải qua 12-15 lần lột xác biến thái, chúng chuyển sang giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus và bắt đầu sống định cư Môi trường phân bố của ấu trùng Puerulus phụ thuộc vào điều kiện sinh thái của các vũng, vịnh hoặc đầm Tôm thường phân bố ở những vùng biển ít sóng gió, nguồn thức ăn phong phú Giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus có thể bơi chủ động Chúng thích bám trên rong, vách đá hoặc các giá thể [20]
Trang 18- Sau khoảng 4 lần lột xác và biến thái, ấu trùng Puerulus trở thành tôm hùm con (juvenile) có màu sắc và hình thái giống tôm trưởng thành Chúng sống định cư trong các vũng, vịnh, đầm phá ven biển Tập tính sống bầy đàn thể hiện rất rõ Chúng thường nấp trong các khe, hốc đá hoặc bám chắc vào những hõm, lỗ nhỏ của ghềnh đá [7], [20]
- Tôm trưởng thành có xu hướng di chuyển ra ngoài khơi, nơi có điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự phát triển và sinh sản của loài Cá thể trưởng thành thường ẩn mình cả ngày trong rạn san hô hoặc hốc đá Chúng chỉ bò ra ngoài để kiếm mồi ở gần chỗ chú ẩn như rạn san hô và thảm cỏ biển vào buổi tối [20]
Hình 1.2 Chu kỳ sống của tôm hùm [17].
Tôm hùm gai phân bố ở cả vùng biển nhiệt đới và ôn đới Tuy nhiên,
ở vùng biển nhiệt đới có số lượng loài phân bố nhiều nhất và sản lượng khai thác được cũng cao nhất Môi trường sống của tôm hùm từ vùng triều tới vùng biển có độ sâu khoảng 3000m, chúng thường ẩn nấp trong các hang
Trang 19hốc có nền đáy là đá, san hô, bùn, cát hoặc thảm thực vật như tảo bẹ trong nước Hầu hết các loài tôm hùm có giá trị thương mại không phân bố cùng
vị trí Những loài thuộc giống Jasus thường phân bố ở vùng biển nông, ôn đới (dưới 50m) Trong khi đó, các loài thuộc giống Panulirus lại phân bố ở vùng biển nông, nhiệt đới Số loài còn lại thuộc các giống Justitia,
Palinurus, Linuparus, Palinustus, Puerulus, Projasus sống ở vùng biển có
độ sâu từ 50m đến 1000m [4]
Trên thế giới, tôm hùm bông phân bố tại vùng Tây ấn Độ Dương, từ vùng biển đỏ và đông Châu Phi đến phía nam Nhật Bản, có mặt tại đảo Solomon, Papua New Guinea, vùng phía bắc, tây, tây nam, đông bắc và phía đông của Úc, New Caledonia và Fiji Năm 1988, tôm hùm bông còn tìm thấy tại Israel thuộc phía đông Mediterranean [22] (Hình 1.3)
Hình 1.3 Vị trí phân bố của tôm hùm bông trên thế giới
Trang 20Ở Việt Nam, 07 loài tôm hùm có giá trị kinh tế thuộc giống Panulirus
phân bố chủ yếu ở vùng biển miền trung từ Quảng Bình đến Bà Rịa - Vũng Tàu Mỗi một loài thích nghi với điều kiện nhiệt độ, độ mặn và hệ sinh thái khác nhau Dựa vào phân tích đặc điểm hình thái, địa hình, trầm tích tầng mặt, những dẫn liệu về ngư trường khai thác, phân tích định lượng các chỉ tiêu nhiệt độ, độ mặn của nước biển có thể phân chia vùng phân bố của tôm hùm gai ở vùng biển miền Trung thành 3 vùng nhỏ [20] (Hình 1.4):
Hình 1.4 Vị trí phân bố của tôm hùm gai ở vùng biển miền Trung Việt Nam
Vùng 1: Bao gồm biển ven bờ mũi Ròn (phía bắc Quảng Bình) đến mũi
An Lương (phía bắc Quảng Ngãi) Đây là vùng rộng nhất, đáy biển có độ dốc thấp và ít bị phân cắt Có khoảng gần 50.000 ha nền đáy rạn ghềnh và rạn
Trang 21ngầm là nơi trú ẩn tốt của tôm hùm Nhiệt độ và độ mặn trung bình đo ở độ sâu 10 m là 23,5-27,0oC và 29,5 -31.0 ‰ vào mùa hè, 18,0-21,5oC và 33,9-
34,0 ‰ vào mùa đông Có 4 loài tôm hùm P stimpsoni, P.homarus, P
longipes và P ornatus phân bố ở vùng biển này Trong đó, loài P stimpsoni
là loài cận nhiệt đới chiếm ưu thế, với khoảng 85% sản lượng khai thác, sản lượng khai thác của 3 loài còn lại chỉ chiếm khoảng 15% [20]
Vùng 2: Từ mũi An Lương (Quảng Ngãi) đến mũi Sừng Trâu (Ninh
Thuận) Đây là vùng biển có phần thềm lục địa nhỏ nhất và địa hình đáy biển phức tạp hơn so với các vùng biển khác Diện tích nền đáy rạn ghềnh và rạn ngầm nơi trú ẩn của các loài sống đáy ở vùng này là thấp nhất (30.000 ha) Nhưng đây là vùng có nhiều loài tôm hùm phân bố nhất (6 loài) và sản lượng khai thác đạt khoảng 1/3 tổng sản lượng ở miền Trung Trong đó tôm hùm sỏi
có tỷ lệ ít nhất, chiếm khoảng 10% sản lượng khai thác [20]
Vùng 3: Từ mũi Sừng Trâu (Ninh Thuận) đến Phan Thiết (Bình
Thuận).Vùng biển này được chia làm hai tiểu vùng nhỏ: Vùng biển sâu gần
bờ và vùng ngoài khơi quanh các đảo Diện tích nền đáy rạn ghềnh và rạn ngầm ở vùng này cao nhất (70.000 ha) so với vùng 1 và vùng 2 Vùng 3 không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ thấp vào mùa đông, nhiệt độ trung bình đo ở
độ sâu 10 trong năm dao động từ 25,5 -29,0OC Tôm hùm bông (P ornatus) là
loài chiếm ưu thế, với khoảng 80% sản lượng tôm hùm khai thác được toàn vùng và đạt 1/4 sản lượng khai thác tôm hùm ở biển miền Trung Tiếp đến là tôm hùm đá, tôm hùm đỏ, còn tôm hùm sỏi bắt gặp rất ít chỉ khoảng 5% [20]
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Trong tự nhiên, tôm hùm là động vật ăn tạp, thường đi kiếm ăn và ăn mồi nhiều vào chiều tối, chúng thích các loại mồi sống như tôm, cua, ghẹ đang lột xác, sò, vẹm hoặc cá rạn [16]
Trang 22Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng duy nhất cho tôm hùm sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên, chúng chỉ sử dụng 7-10% lượng thức ăn vào trong cơ thể, còn lại chi phí cho các quá trình hoạt động sống khác Nhu cầu dinh dưỡng của tôm hùm khác nhau tùy từng giai đoạn phát triển, tôm càng nhỏ nhu cầu dinh dưỡng càng cao, ở giai đoạn trước lột xác 2-5 ngày tôm ăn rất mạnh và ngược lại ở giai đoạn lột xác chúng sẽ ăn ít lại [16]
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của tôm hùm được đặc trưng bởi quá trình lột xác, qua đó
có sự tăng lên về kích thước và trọng lượng Chu kỳ lột xác của mỗi loài tôm hùm phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ nước, ánh sáng, độ mặn, thức ăn, hay các yếu tố nội tại của cơ thể như sự điều tiết của các hormon lột xác hay hormon ức chế lột xác, Song các yếu tố này luôn có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau Chu kỳ lột xác giữa các loài hay giữa các giai đoạn khác nhau là hoàn toàn không giống nhau [16]
Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của tôm hùm, đặc biệt ở giai đoạn tôm con, những thay đổi đột ngột của môi trường thường dẫn đến tôm chết Chẳng hạn như khi nhiệt độ tăng lên 3 - 50C, hoặc nồng độ muối tăng lên 8 - 10‰ hầu như tôm con đều bị chết Ở nồng độ muối thấp 20 - 25‰ kéo dài 2 - 3 ngày, gây nên tình trạng chết từ từ ở tôm con Giai đoạn trưởng thành khi độ mặn giảm xuống 20‰ tôm hùm rất yếu và không bắt mồi [16]
1.1.6 Đặc điếm sinh sản
Các loài tôm hùm khác nhau thì kích cỡ tham gia sinh sản lần đầu và mùa vụ sinh sản cũng khác nhau Chẳng hạn ở loài tôm hùm bông, kích cỡ tham gia sinh sản lần đầu của tôm đực là 110,6mm và con cái là 97,3mm CL (chiều dài giáp đầu ngực); ở tôm hùm đá kích cỡ tham gia sinh sản lần đầu khoảng 66,7mm CL ở con đực và 56,9mm CL ở con cái [16]
Trang 23Đỉnh cao sinh sản của tôm hùm thường tập trung vào tháng 4 và tháng
9 hàng năm, riêng tôm hùm sỏi, đỉnh cao xuất hiện vào tháng 5 và tháng 6 Sức sinh sản của tôm hùm tương đối lớn, chúng có thể đẻ ra từ 2 đến nhiều lần trong năm Khi sinh sản, trứng được giữ ở các chân bơi, sau một thời gian trứng sẽ nở ra ấu trùng và ấu trùng sẽ trải qua một giai đoạn biến thái để trở thành tôm con [16]
1.2 Tình hình nuôi tôm hùm trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi tôm hùm trên thế giới
Bên cạnh việc khai thác tôm hùm tự nhiên, nghề nuôi tôm hùm trên thế
giới được hình thành từ cuối thế kỷ XIX Đối với tôm hùm gai (Panulirus
spp), thời gian phát triển ấu trùng rất dài, từ 6-12 tháng tùy thuộc vào loài, điều này làm cho việc sản xuất giống gặp nhiều khó khăn Do vậy, nuôi
thương phẩm các loài tôm hùm thuộc giống Panulirus cho đến nay chủ yếu sử
dụng con giống thu gom từ tự nhiên Tại Úc và Newzealand, nghề nuôi tôm
hùm bông (P ornatus) từ nguồn giống tự nhiên đang được triển khai ở khu
vực quần đảo Torres và các phần khác thuộc phía bắc Úc [17], [41]
Đối với các loài tôm hùm phân bố ở khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu (chủ
yếu là Homarus americanus), nhiều chương trình sản xuất giống thực hiện và
con giống nhân tạo được thả ra tự nhiên nhằm mục đích bảo vệ và phục hồi nguồn lợi (Nicosia & Lavalli, 1999) Bên cạnh đó, việc nuôi nâng cấp tôm hùm từ con giống tự nhiên chưa đạt kích cỡ thương phẩm và nuôi thương phẩm tôm hùm từ con giống nhân tạo cũng được thực hiện đối với loài tôm
hùm Homarus americanus [25] Một số nước ở Châu Âu cũng phát triển nuôi
thương phẩm tôm hùm bằng lồng biển từ con giống tôm hùm tự nhiên như Na
Uy từ những năm 2000 Đối với các loài tôm thuộc giống Panulirus, đối
tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm bông [36]
Trang 24Philippines là một trong những nước có nghề nuôi tôm hùm phát triển mạnh và sớm ở khu vực Đông Nam Á, nghề nuôi tôm hùm thương phẩm được phát triển ở các vùng biển Guiuan, phía đông Samar, vùng Basilan, phía tây của đảo Mindanao vào những năm 1990 Tại vùng biển Mindanao, tôm hùm được nuôi trong các lồng bao xung quanh bằng lưới, các loài tôm
hùm được nuôi chủ yếu là P ornatus, P longipes, P versicolor Mật độ nuôi
8 con/m3, sử dụng nguồn giống tự nhiên được đánh bắt chủ yếu từ tháng 10 đến tháng 3 và đánh bắt rải rác từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm [40]
Tại Malaysia tôm hùm được nuôi trong lồng bè nổi ở vịnh Darvel và Kinarut Các đối tượng nuôi chủ yếu là tôm hùm bông, tôm hùm đỏ và tôm
hùm sỏi (P ornatus, P longipes, P versicolor) Lồng nuôi tôm hùm được đặt
ở độ sâu từ 10 – 20 m nước; cá tạp là nguồn thức ăn chính và được cho ăn 2 lần/ngày Tôm hùm được nuôi trong lồng bè tại Nhật Bản, Singapore và Indonesia nhưng quy mô nuôi không lớn, vài lồng nuôi/ hộ gia đình và số lượng người tham gia nuôi tôm hùm chưa nhiều Các loài tôm hùm được nuôi
chủ yếu ở đây là P homarus, P japonicus, P ornatus, P longipes, P
versicolor [41]
Ngoài ra, Nhật Bản, Xinggapo, Ấn độ và Inđônêxia là những quốc gia châu Á nuôi tôm hùm bằng lồng/bè khá phát triển ở qui mô nông hộ Các loài
nuôi ở đây chủ yếu thuộc giống Panulirus như P japonicus ở Nhật Bản, P
ornatus, P homarus, P longipes, P versicolor ở Xinggapo, Ấn Độ và
Inđônêxia, sản lượng từ nghề nuôi đóng góp lớn vào tổng sản lượng tôm hùm của các nước này Tuy nhiên, vấn đề nâng cao tỷ lệ sống tôm hùm trong quá trình ương giống; giảm thiểu sự phụ thuộc nguồn giống từ khai thác tự nhiên; giảm tác động xấu đến môi trường của hoạt động nuôi tôm hùm lồng cũng như việc cải tiến công nghệ nuôi thương phẩm để giảm thiểu bệnh tật đã được
đặt ra, để từ đó ổn định và đảm bảo bền vững nghề nuôi tôm hùm lồng [17]
Trang 25Hiện nay, công nghệ nuôi tôm hùm thương phẩm trong hệ thống bể trên
cạn tái sử dụng nước (RAS) đã được các doanh nghiệp nuôi tôm hùm Châu
Âu xây dựng và ứng dụng thành công đem lại hiệu quả cao Công nghệ nuôi
đã được chuyển giao cho 25 quốc gia, hệ thống bể nuôi gồm có các lồng đặt trong bể nuôi liên kết với các bể lọc (sinh học, cơ học) và các thiết bị khử trùng, cung cấp dưỡng khí giúp quản lý môi trường nuôi và dịch bệnh hiệu quả Đây là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các hệ thống nuôi tôm hùm thương phẩm trong bể trên bờ tái sử dụng nước ở Việt Nam [2]
1.2.2 Tình hình nuôi tôm hùm ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu nuôi tôm hùm mới được bắt đầu từ cuối thập niên 80 trở lại đây, khi sản lượng khai thác tôm hùm có dấu hiệu suy giảm Điểm khởi đầu là việc nghiên cứu kỹ thuật nuôi nâng cấp một số loài tôm hùm có giá trị kinh tế ở ven biển miền Trung vào năm 1991 Năm 1992, Nguyễn Văn Chung và cộng sự (1993) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh
học của tôm hùm sỏi (Panulirus stimpsoni) làm cơ sở để xác định kỹ thuật
nuôi đối tượng này ở vùng biển tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị Tác giả Hồ Thu Cúc & cộng sự (1991) nghiên cứu kỹ thuật nuôi tôm hùm trong lồng và trong ao đất ở vùng ven biển tỉnh Khánh Hòa từ đó làm cơ sở cho việc phát triển nghề nuôi tôm hùm lồng ở đây [4], [7]
Các tỉnh miền Trung Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi và có tiềm năng lớn để phát triển nuôi tôm hùm Do có hệ thống rạn san hô phong phú nên hàng năm các ngư dân đã khai thác được nguồn giống tôm hùm tại các địa phương với số lượng đáng kể như Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận [2]
Trang 26Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng nuôi tôm hùm các tỉnh miền Trung
Trang 27Nuôi tôm hùm tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung, nhiều nhất là
ở tỉnh Khánh Hòa (năm 2016: 25.259 ô lồng, sản lượng 592 tấn), Phú Yên (năm 2016: 31.995 ô lồng, sản lượng 748 tấn) Ngoài ra còn nuôi rải rác ở các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Ngãi Trong giai đoạn
2010 - 2014, nuôi tôm hùm các miền Trung tăng cả về diện tích và sản lượng Tổng thể tích ô lồng nuôi tôm hùm tăng với tốc độ bình quân 6,7%/năm Sản lượng tôm hùm tăng với tốc độ bình quân 1,5%/năm [2]
Trong số 9 loài tôm hùm tìm thấy ở vùng biển Việt Nam, Một số loài
được nuôi như: tôm hùm bông (Panulirus ornatus), tôm hùm đá (Panulirus
homarus), tôm hùm sỏi (Panulirus stimpsoni) và tôm hùm đỏ (Panulirus longipes) Tuy nhiên, nuôi chủ yếu vẫn là loài tôm hùm bông (Panulirus ornatus) bởi chúng có tốc độ tăng trưởng nhanh, kích cỡ lớn, màu sắc tươi
sáng và có giá trị xuất khẩu cao [2]
Trang 28Bảng 1.2: Cơ cấu thành phần loài tôm hùm nuôi tại các tỉnh
Nam Trung Bộ [2]
TT Tỉnh
Tỷ lệ về thành phần các loài tôm nuôi (%)
Tôm hùm bông
Tôm hùm xanh
Tôm hùm tre
Tôm hùm giống cho nuôi thương phẩm ở Việt Nam không ổn định về
số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng đem đến rủi ro lớn cho người nuôi
Hiện nay, nguồn giống tôm hùm phục vụ nuôi thương phẩm ở miền Trung
Việt Nam phụ thuộc vào tôm tự nhiên (do sản xuất giống tôm hùm chưa được
thương mại) Cơ cấu giống gồm có nguồn giống khai thác tại chỗ tại các tỉnh
ven biển miền Trung của Việt Nam và nhập từ nước ngoài như Philippines,
Slilanka, Malaysia, Indonesia Kết quả điều tra năm 2015 tại các vùng nuôi
trọng điểm ở các địa phương từ Bình Định đến Bình Thuận cho thấy tỉ lệ hộ
nuôi tôm hùm gặp khó khăn về con giống biến động khỏang 40-90%
Lượng tôm nhập cho vụ nuôi 2014-2015 ước tính 0,6 triệu con tương đương
15-20% tổng lượng con giống [2]
Trang 29Một số thời điểm chúng ta phải nhập tôm hùm giống của nước ngoài vì sản lượng giống khai thác tại các địa phương của cả nước biến động theo năm Theo kết quả nghiên cứu của Viện Hải Dương học Nha Trang và kết quả điều tra thu thập số liệu của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III năm
2015 số lượng tôm hùm giống khai thác ở Việt Nam biến động theo năm [2] (hình 1.5)
Theo kết quả báo cáo của các địa phương, trong giai đoạn 2010-2015 tổng lượng tôm hùm ương tại Bình Định hàng năm khoảng 0,1-0,4 triệu con Tổng lượng con giống khai thác tại Phú Yên hàng năm khoản 1,2 triệu con/năm và cao nhất là 1,5 triệu con trong vụ 2010-2011 Trong khi đó, năm 2013, tổng lượng tôm hùm giống khai thác tại Ninh Thuận khoảng 0,4-0,5 triệu con Ngoài ra khoảng 1,5-1,7 triệu con tôm hùm giống được khai thác, ương nuôi tại các địa phương như Quảng Bình, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Khánh Hòa [2]
Hình 1.5: Biểu đồ biến động tôm hùm giống khai thác ở Việt Nam [2]
Trang 30Bên cạnh hiệu quả kinh tế mang lại, nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam còn gặp không ít những khó khăn như nguồn con giống thả nuôi, thức ăn và đặc biệt là vấn đề bệnh dịch thường xuyên xảy ra Tất cả những khó khăn này
đã và đang ảnh hưởng đến nghề nuôi tôm hùm lồng ở Việt Nam Do đó, cần
có những nghiên cứu để giải quyết những khó khăn trên, đồng thời phải tăng cường sự quản lý để phát triển bền vững nghề nuôi này nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho ngư dân vùng ven biển
1.3 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của tôm hùm trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Sự sinh trưởng của tôm hùm được xác định bằng sự tăng lên về chiều dài giáp đầu ngực (CL) hoặc khối lượng cơ thể và chu kỳ lột xác chính là sự thể hiện mức độ tăng sinh trưởng cá thể của loài
Thomas (1972) cho rằng sự sinh trưởng ở mỗi giai đoạn phát triển của tôm hùm có nhiều điểm khác nhau về khả năng trao đổi chất và lượng tiêu tốn thức ăn nên dẫn đến sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng chiều dài cũng như mức độ tăng khối lượng cơ thể Vào thời kỳ chúng thành thục sinh dục, nhất
là thời gian ôm trứng, hầu như không có sự tăng sinh trong các mô cơ mà chỉ
có sự tăng lên của các sản phẩm sinh dục Vì vậy, khi trưởng thành, chu kỳ lột xác của tôm hùm kéo dài ra, nghĩa là sự tăng khối lượng cơ thể chậm dần so với giai đoạn tôm nhỏ Tác giả cho biết, sự tăng lên về chiều dài sau mỗi lần lột xác trong giai đoạn nhỏ và trưởng thành của tôm hùm gai dao động từ 0 đến 18% [38]
Thomas, Crear và Hart (1999) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên
tỷ lệ sống, tăng trưởng, hoạt động bắt mồi và trao đổi chất trên đối tượng tôm
hùm Jasus edwardsii Các mức nhiệt độ nghiên cứu là 18; 20; 22 và 24oC trên
Trang 31tôm hùm giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus Ấu trùng khi nuôi tại các nhiệt độ 18; 20 và 22oC, không có sự khác nhau về tăng trưởng đặc trưng ngày (mức ý nghĩa p>0,05) Tuy nhiên, tăng trưởng đặc trưng ngày giảm khi nuôi tại nhiệt
độ 24oC (mức ý nghĩa p<0,05) Tôm con được nuôi tại 22oC có khoảng thời gian giữa 2 lần lột xác ngắn hơn so với ở 18oC Tại nhiệt độ 24oC, tăng trưởng giảm và khoảng thời gian giữa 2 lần lột xác của tôm con dài hơn so với ở
22oC Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm con Ở nhiệt độ 24oC,
tỷ lệ sống của tôm con thấp hơn so với 18oC (mức ý nghĩa p<0,05) Không có
sự sai khác thống kê về tỷ lệ sống khi nuôi tôm con tại các mức nhiệt độ 18,
20 và 22oC Tóm lại, tôm con loài J edwardsii có thể nuôi tại nhiệt độ 22oC
mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỷ lệ sống, khả năng trao đổi chất Nhiệt độ thích hợp nhất đối với giai đoạn này khoảng từ 19 đến 21oC [39] Greg, George và Lara (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và chế độ dinh dưỡng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và khả năng hấp thụ thức ăn trong hệ thống nuôi giữ hậu ấu trùng Pueruli (CL = 11,5 ± 0,2mm) loài tôm
hùm Jasus lalandii được nuôi trong điều kiện nhiệt độ từ 12-24oC trong 77 ngày, cho ăn thịt vẹm Khoảng thời gian giữa 2 lần lột xác dài nhất khi nuôi tôm con tại nhiệt độ 12oC là 50,6 ± 1,2 ngày và tại nhiệt độ 24oC là >57 ngày, ngắn nhất khi nuôi tại nhiệt độ 18oC là 35,5±1,1 ngày Tốc độ tăng trưởng (GI) cao khi nuôi ấu trùng tại khoảng nhiệt độ từ 12-18oC, đạt nhỏ hơn khi nuôi tại 21oC và thấp nhất khi nuôi tại 24oC Tỷ lệ sống đạt 100% khi nuôi ấu trùng trong khoảng nhiệt độ từ 12-16oC, tỷ lệ sống đạt dưới 30% khi nuôi ấu trùng tại 24oC Sự tiêu thụ thức ăn, khối lượng cơ thể và các chỉ số khác đều đạt cao nhất khi ấu trùng được nuôi tại 18oC Vì vậy, sinh trưởng đạt cao nhất khi nuôi ấu trùng tại 18oC, nhưng tỷ lệ sống đạt cao nhất khi nuôi tại khoảng
từ 12-16oC [33]
Trang 321.3.2 Ở Việt Nam
Tôm hùm cũng như nhiều loài giáp xác khác, sinh trưởng thông qua quá trình lột xác Ở giai đoạn tôm còn nhỏ chu kỳ lột xác ngắn, tôm càng lớn chu kỳ lột xác càng dài, sau mỗi lần lột xác thì kích thước và khối lượng tăng lên rất nhiều Nhìn chung, tôm hùm có chu kỳ lột xác dài hơn so với các loài giáp xác khác, do vậy sự tăng trưởng của chúng tương đối chậm [4]
Năm 1998, bằng phương pháp nuôi đánh dấu cá thể, Nguyễn Thị Bích Thúy và cộng sự đã xác định được chu kỳ lột xác của 03 loại tôm hùm theo
các nhóm kích cỡ khác nhau Với cùng một nhóm chiều dài CL thì chu kỳ lột
xác giữa các loài không có sự sai khác nhau một cách đáng kể, nhưng các nhóm kích thước khác nhau thì chu kỳ lột xác hoàn toàn khác nhau Với nhóm kích thước từ 8 – 13 mm CL thời gian lột xác chỉ khoảng 8 – 10 ngày ở hai loài tôm hùm bông và tôm hùm đá, có nghĩa là ở giai đoạn tôm con tốc độ tăng trưởng giữa hai loài hầu như không có sự chênh lệch, riêng loài tôm hùm sỏi thời gian giữa hai lần lột xác kéo dài từ 15 – 20 ngày; riêng nhóm có kích thước từ 83 – 68 mm CL, thời gian khác biệt nhau rõ rệt giữa các loài, khoảng
40 ngày ở tôm hùm bông, 50 ngày ở tôm hùm sỏi Đồng thời, nghiên cứu
cũng đã chỉ ra ở mỗi lần lột xác kế tiếp thì tỷ lệ phần trăm tăng chiều dài giáp đầu ngực CL của tôm hùm giảm xuống, nhưng độ dài vỏ của cá thể đang tăng
trưởng vẫn tăng nhanh hơn các cá thể đã thành thục sinh dục [20]
Nguyễn Thị Bích Thúy (1998) đã đưa ra một số dẫn liệu về ảnh hưởng của các điều kiện môi trường lên sinh trưởng của con non tôm hùm bông
Panulirus ornatus ở vùng biển miền Trung Việt Nam Tác giả cho biết, ngoài
tự nhiên, tôm hùm bông nhỏ sống ở độ sâu giao động từ 0,3 đến 3m, xuất hiện
vào khoảng tháng 1 đến tháng 3 dương lịch lúc nhiệt độ nước đạt từ 24 -
30oC Ở nhóm kích thước 15 - 20mm với nhiệt độ nước đạt 26-27oC thì thời
Trang 33gian giữa 2 lần lột xác từ 8 - 12 ngày Ở nhiệt độ 29 đến 30oC, thời gian giữa
2 lần lột xác khoảng 5 đến 7 ngày Ở nhiệt độ 20 - 24oC, thời gian giữa hai lần lột xác kéo dài 20 - 2 5 ngày Nhìn chung, trong khoảng nhiệt độ dao động từ 24-30oC, nhóm kích thước nhỏ có chu kỳ lột xác ngắn hơn nhóm kích thước lớn Xét cùng một nhóm kích thước, ở nhiệt độ thấp chu kỳ lột xác kéo dài hơn so với nhiệt độ cao [20]
Năm 2015, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III đã nghiên cứu quy trình công nghệ ương nuôi tôm hùm lồng, trên cơ sở đó xây dựng mô hình ương nuôi tôm hùm giống đạt tỷ lệ sống cao và sạch một số bệnh thường gặp để đáp ứng đầy đủ nhu cầu con giống phục vụ nuôi tôm hùm lồng thương phẩm Nghiên cứu thời gian lưu giữ tôm hùm giống thích hợp sau khai thác cho ương nuôi được tiến hành trong 75 ngày tại vùng ương nuôi tôm hùm khu phố Phước Lý, Sông Cầu, Phú Yên, với con giống có chiều dài trung bình 6,7mm, khối lượng trung bình 0,27g, được thả nuôi ở mật độ 100 con/lồng 1m3, độ sâu 2m tính từ đáy lồng Kết quả sau 75 ngày nuôi, chiều dài, khối lượng tôm tăng lên 15,84mm, 5,33g, tỷ lệ sống đạt 90,67% (đối với tôm hùm được nuôi sau 24 giờ khai thác), tăng 15,51 mm
và 5,09g, tỷ lệ sống đạt 80,33% (đối với tôm hùm được nuôi sau 48 giờ khai thác), tăng 15,27 mm và 4,84 g, tỷ lệ sống đạt 53,67% (đối với tôm hùm được nuôi sau 72 giờ khai thác) [42]
Hiện nay những nghiên cứu về sự sinh trưởng, phát triển của tôm hùm bông nuôi tại vùng biển Nhơn Hải, Bình Định còn hạn chế Vì vậy, cần có những nghiên cứu nhiều hơn nữa để góp phần hiểu thêm về đối tượng trên, cung cấp dữ liệu nhằm hoàn thiện quy trình nuôi đối tượng này ở địa phương
Trang 341.4 Những nghiên cứu về dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Trên thế giới
Bệnh đỏ đuôi (Red tail Disease hay Gaffkemia) trên tôm hùm Mỹ
Homarus americanus được mô tả dấu hiệu lần đầu tiên bởi hai tác giả
Snaieszko và Tayter (1947) Bệnh Gaffkemia là bệnh rất nguy hiểm do vi
khuẩn Aerococcus viridans gây ra cục bộ trên 2 loài tôm H americanus và H
vulgaris, khi bị bệnh nhìn thấy phần bụng tôm có màu cam sẫm Ấu trùng
tôm hùm đá Jasus verreauxi nuôi trong bể ở vịnh Mahanga (Wellington, New
Zealand) bị bệnh phát sáng trên ấu trùng phyllosoma trong điều kiện nuôi là
do vi khuẩn Vibro harveyi, bệnh này phát triển mạnh ở điều kiện nhiệt độ
10-23oC, tôm bị bệnh có dấu hiệu phát quang trong bóng tối, đồng thời có sự trở
đỏ đầu mút của những chân bò, bệnh này có thể gây chết 80% đàn ấu trùng
nuôi Ấu trùng phyllosoma tôm hùm đá J edwardsii chết rải rác trong quá trình ương nuôi là do nhiễm nhìu loại Vibro, đặt biệt là sự nhiễm trùng ở ruột
và nhiễm trùng máu do vi khuẩn V anguillarum Ấu trùng phyllosoma tôm hùm bông P ornatus trong điều kiện nuôi ở nhiệt độ 28oC có tỷ lệ tử vong
cao là do vi khuẩn V alginolytucus, V parahaemolyticus và V harveyi tấn
công vào đường tiêu hóa phá hủy cơ quan tiêu hóa và gan tụy ở tôm Đồng
thời, vi khuẩn dạng sợ Thiothrix ở môi trường tấn công vào miệng, can thiệp
vào khả năng xử lý và nghiền thức ăn của ấu trùng phyllosoma làm cho ấu trùng không lấy được thức ăn dẫn đến ngày càng bị suy kiệt dinh dưỡng, giảm khả năng chống chịu vi khuẩn, tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh cơ hộ vi khuẩn tấn công dẫn đến tử vong [17], [23]
Bệnh vỏ (Shell disease) trên tôm hùm Mỹ H americanus ở Massachusetts
xảy ra ở tôm hùm cái (8%) nhiều hơn tôm hùm đực (3%) Tôm hùm cái mang
Trang 35trứng gặp mắc bệnh cao gấp 7,5 lần só với tôm hùm cái không có trứng Trong đó, 50% tôm hùm phát hiện có các triệu chứng bệnh vỏ thấp, phần còn lại phát hiện các triệu chứng vừa phải (29%) hoặc nặng (21%) Bệnh vỏ xảy
ra liên quan đến nhiệt độ nước, tác nhân gây bệnh là do vi khuẩn [23]
Bệnh mềm rũ trên ấu trùng phyllosoma tôm hùm J verreauxi là do vi khuẩn V algolonitycus gây ra Tôm hùm con H americanus khi bị bệnh này có
biểu hiện yếu, lờ đờ, chậm chạp hay không phản ứng lại khi có sự kích thích các giác quan Tôm bị bệnh này là do vi khuẩn V flavialius, loại vi khuẩn Gram âm,
vi khuẩn này có khả năng sinh trưởng ở nhiệt độ 20oC Thử nghiệm kháng sinh đồ thì có 6 chủng Vibro tìm thấy đã kháng với kháng sinh Erythromycin, 2 chủng đã kháng với kháng sinh Ampicillin và Carbenicillin [17], [23]
Bệnh sữa gây ra trên tôm hùm P argus ở vùng biển bang Florida được xác
định là do virus tuyp PaV1, máu những con tôm hùm bị bệnh virus PaV1 có màu trắng sữa (Buller và cs, 2006) Ngoài ra, tôm hùm còn bị cảm nhiễm các loại virus khác như TSV, YHV, WSSV Cơ quan đích của bệnh đốm trắng do
nhiễm virus WSSV của tôm hùm P versicolor và P penicillatus là mang, dạ
dày, biểu mô dưới vỏ, khối gan, tụy Wang et at (1998) sử dụng kỹ thuật PCR
xác định tôm hùm P versicolor, P penicillatus, P ornatus và P longipes
cũng bị nhiễm virus WSSV nhưng bệnh chỉ làm giảm tỷ lệ sống sót của tôm hùm khi cảm nhiễm [17], [23]
Bệnh nấm trên tôm hùm được báo cáo lần đầu tiên bở Herrick (1909)
tại trại nuôi ấu trùng tôm hùm H americanus ở Wood Hole năm 1902 Từ
những điểm nhiễm nấm ban đầu, sợi nấm lan rộng đến mọi tổ chức mô của cơ thể làm chết tôm hùm Tôm hùm Mỹ và tôm hùm Châu Âu ở giai đoạn tôm con thường bị chết đến 44% là do nhiễm nấm Haliphthoros milfordensis, nó là tác nhân cơ hội xâm nhập vào từ những nơi bị tổn thương như tơ mang, gốc chân bò
Trang 36Bệnh chỉ gây thiệt hại ở tôm hùm con, tôm hùm lớn bị bệnh chỉ gây xậm màu trên
vỏ kitin mà không gây tác hại lớn Bệnh này cũng xảy ra ở tôm hùm J verreauxi
và J edwardsii ở nhiệt độ 10-18oC (Fissher và cs., 1975, Fissher., 1978) Bệnh nấm xuất hiện là do chế độ vệ sinh kém, việc ngăn chặn bệnh này bằng cách cải thiện các biện pháp quản lý [23]
Bệnh do sinh vật bám cũng thường gặp ở tôm hùm, Herrick (1909) cho rằng những sinh vật bám nhỏ bám trên tôm hùm là những vi khuẩn dạng sợi, động vật nguyên sinh và những loại tảo Silic thường xuyên gặp trong các hệ thống nuôi tuần hoàn Ngoài ra các loài vẹm, cua và rong biển được coi là những đối tượng gây bệnh nghiêm trọng tôm hùm trong hầu hết các bệnh tôm hùm và chúng thường mất sau quá trình lột xác Reads (1972) đã đưa ra danh
sách các ký sinh trùng ký sinh trên tôm hùm H americanus, H vulgaris và
Nephrops norvegicus Tác giả cho rằng, ảnh hưởng của những ký sinh trùng lớn
trên tôm hùm là không nghiêm trọng dù rằng chưa có nhiều đánh giá định lượng
về vấn đề này [17], [23]
1.4.2 Ở Việt Nam
Đỗ Thị Hòa (2000), khi nghiên cứu thực trạng và tiềm năng thức ăn trong nuôi tôm hùm lồng tại Khánh Hòa, tác giả cho rằng thức ăn nuôi tôm hùm chủ yếu là thức ăn tươi dễ làm ô nhiễm môi trường vùng nuôi, tạo cơ hội tốt cho tác nhân gây bệnh phát triển [9] Sau một thời gian nuôi, tôm hùm ở Phú Yên, Khánh Hòa đã bị một số bệnh như đen mang, đỏ thân, mòn đuôi, phồng mang, trắng râu, long đầu, đầu to, mềm vỏ, đóng sum, mang “cục nhầy” và hội chứng chết xanh (Võ Văn Nha và cs., 2004, 2005) [12], [13] Tuy nhiên bệnh đỏ thân và đen mang có tần suất xuất hiện cao (hơn 50%), bệnh đỏ thân tập trung ở Phú Yên (87,9%) và bệnh đen mang lại xuất hiện nhiều ở Khánh Hòa, hai bệnh này gây chết tôm nuôi từ rãi rác đến hàng loạt
Trang 37Năm 2006, Võ Văn Nha tiếp tục nghiên cứu về bệnh đỏ thân ở tôm hùm nuôi lồng tại Phú Yên và Khánh Hòa, tác giả xác định thành phần vi khuẩn gây
bệnh đỏ thân ở tôm hùm bông (P ornatus) là do vi khuẩn Vibro sp (33%),
Aeromonas sp (34%), Proteus sp (20%), Psaudomonas sp (13%), tuy nhiên tần
suất bắt gặp vi khuẩn V alginolycitus là cao nhất (51,5%) Khi tôm bị nhiễm vi khuẩn V alginolycitus cường độ tôm bỏ ăn cao, bụng màu đỏ và sau đó lan
toàn thân, tôm có thể bị chết từ 80-90% [14] Năm 2009, tác giả đã thông báo
bệnh đỏ thân ở tôm hùm bông (P ornatus) nuôi lồng ở Phú Yên, Khánh Hòa là
do một loại virus có kích thước từu 96-100nm x 288-320nm, nằm trong nguyên sinh chất có thể gây chết từ rãi rác đến hàng loạt tôm nuôi [17]
Từ cuối năm 2006, tôm hùm nuôi thương phẩm ở các tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam bị chết, tôm có dấu hiệu bụng trắng sữa [6] Kết quả
nghiên cứu đặc điểm dịch tể học hội chứng bệnh sữa trên tôm hùm (Panulirus
sp) nuôi tại Khánh Hòa và Phú Yên của Trần Thanh Thúy (2008) cho thấy
nguy cơ nhiễm bệnh sữa có liên quan với sức khỏe của đàn tôm nuôi Bệnh sữa cũng liên quan mật thiết đến kỹ thuật nuôi, các hình thức nuôi, tần suất thay lưới, dạng thức ăn tươi sử dụng, điều kiện môi trường gây sốc tôm nuôi,
và tác giả cũng chỉ ra rằng nếu các tác nhân gây bệnh là nhân tố hữu sinh thì nhân tố đó là một vi khuẩn hiếm khí [23] Tác nhân gây bệnh sữa cũng đã
được Đỗ Thị Hòa và cộng sự (2004) xác định do vi khuẩn Rickettsia like
bacteria – RLB gây ra, vi khuẩn này ký sinh nội bào, hình dạng que cong
nhiều, không nuôi cấy được trong môi trường nuôi cấy giàu sinh dưỡng Bệnh này được đăng trên tạp chí của OIE, đây là bệnh sữa trên tôm hùm do vi
khuẩn RLB chỉ tìm thấy ở Việt Nam xảy ra ở 2 loài tôm hùm bông (P
ornatus), tôm hùm xanh (P hormarus) và tôm hùm sỏi (P stimpsoni), nguyên
nhân gây bệnh sữa có thể là từ nguồn thức ăn tươi sông cho tôm ăn [11]
Trang 38Bảng 1.3 Những hội chứng/bệnh thường gặp ở tôm hùm Panulirus spp [14]
2 Đen
mang
Mang tôm có màu nâu, các tổ chức
mô tại vị trí này bị phá hủy, vị trí tổn thương chuyển màu đen, toàn bộ
tơ mang bị phá hủy
Tôm con và tôm trưởng thành
4 Long
đầu
Tát cả các loài tôm đều bị, phần giáp đầu ngực và phần bụng long ra, gây chết rải rác đến chết hàng loạt
Tôm con và tôm trưởng thành
Chưa xác định
5 Cháy đuôi
(mòn đuôi)
Màu sắc tôm thay đổi khác so với bình thường, đuôi bị ăn mòn, bệnh gây chết
Tôm con và tôm trưởng thành Chưa xác định
6 Dính vỏ Phần vỏ không lột được ra khỏi cơ
thể
Tôm con và tôm trưởng thành
Sức đề kháng yếu
7 Bệnh sữa Bụng trắng như sữa Tôm con và tôm
Phần ngực có “cục nhầy”, tôm cào
xé và gây lỡ loét vùng này
Tôm trưởng thành
Do giao phối tạo nên
Trang 39Tóm lại, những tổng hợp nghiên cứu về dịch tễ học một số bệnh thường gặp ở tôm hùm (bệnh đen mang, bệnh sữa, bệnh đỏ thân) tại Việt Nam cho thấy, hầu như các nghiên cứu gần đây còn ít và tản mạn, dừng lại ở mức phát hiện ra các triệu chứng bệnh Do vậy, việc điều tra thực trạng, phát hiện các bệnh chủ yếu ở tôm hùm nuôi lồng; nghiên cứu một số bệnh chính gây tác hại cho nghề nuôi tôm hùm bằng lồng; đặc điểm dịch tể học một số bệnh thường gặp, cách dùng thuốc, hóa chất để phòng trị một số bệnh nguy hiểm thường gặp và đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh ở tôm hùm nuôi lồng, đặc biệt ở tôm hùm bông là việc làm hết sức cần thiết tại vùng nuôi tập trung tại xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
1.5 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
1.5.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
1.5.1.1 Vị trí địa lý:
Thành phố Quy Nhơn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, khoa học kĩ thuật và du lịch của tỉnh Bình Định, và là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Quy Nhơn một thành phố ven biển có diện tích tự nhiên 286 km2, với 21 đơn vị hành chính gồm: 16 phường và 05 xã Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định, nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ Bắc, từ 109°06' đến 109°22' kinh Đông Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Tuy Phước, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía Nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên [44]
Trang 40Hình 1.6 Bản đồ Trung tâm hành chính thành phố Quy Nhơn
Quy Nhơn có nhiều địa hình khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lý như núi rừng, gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo và đảo; có bờ biển dài 42 km, tổng số tàu thuyền khai thác thủy sản 1.650 chiếc với tổng công suất 131.669 CV, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản ở địa phương [44]