+ Trường độ: thời gian phát âm- rung của dây thanh, liên quan đến việcđọc các chất liệu ngữ âm để ghi âm đủ thời gian để có thể phân tích đượccũng như đọc thời gian không quá n
Trang 1PHẠM TIẾN DŨNG
NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2PHẠM TIẾN DŨNG
NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Lợi
Cho đề tài: Nghiên cứu xây dựng các bảng từ thử sức nghe lời tiếng việt,
ứng dụng vào việc đo sức nghe lời cho trẻ em tuổi học đường (6-15 tuổi)
Chuyên ngành : Tai - Mũi - Họng
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
HÀ NỘI – 2018
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyên tắc quan trọng nhất của bảng từ thư 1 âm tiết hay 2 âm tiết đosức nghe lời (SNL) là bảng từ thư phải phù hợp với những đặc điểm của ngônngữ mà bảng từ thư dựa vào [1],[2],[3]
Bảng từ thư gồm các từ được lựa chọn theo đặc điểm ngữ âm (mặt âmthanh) và từ vựng (vốn từ) của ngôn ngữ
Như vậy, viỆc xây dựng bảng từ thư đo SNL tiếng ViỆt được xem xétlựa chọn, xét trên cả 2 bình diỆn tiếng ViỆt: Ngữ âm, từ vựng
Chuyên đề này trình bày những đặc điểm cơ bản về sinh lý phát âm, ngữ
âm, từ vựng, liên quan đến viỆc xây dựng bảng câu thư đo SNLtiếng ViỆt
I SINH LÝ PHÁT ÂM
Quá trình phát âm gồm 3 bộ phận chính là nguồn phát âm (tạo thanh)vai trò chính của thanh quản, bộ lọc gồm đường phát âm và cơ quan cộnghưởng, và bộ phận cấu âm
1.Tạo thanh [ 4 ],[ 5 ],[ 6 ],[ 7 ].
Quá trình tạo thanh bình thường cần 5 yếu tố:
+ Luồng hơi đầy đủ: Đây là nguồn cung cấp năng lượng cho quá trình phát âm
+ Hoạt động đóng của dây thanh
+ Đặc tính rung của dây thanh
+ Cấu trúc bề mặt của dây thanh
+ Sự điều chỉnh chiều dài và độ căng của dây thanh
Mặc dù có nhiều giả thuyết về cơ chế phát âm nhưng cho đến nay chỉ còn
2 giả thuyết được công nhận là:
+ Thuyết đàn hồi cơ - khí động học về cơ chế tạo thanh của Van den Berg [4].+ Thuyết thân - vỏ về cơ chế điều khiển phát âm [5]
Trang 5Cơ chế đàn hồi cơ liên quan đến sự điều khiển cơ - thần kinh đối với độcăng và độ đàn hồi của dây thanh Các thay đổi này đều tạo nên các đặc tínhdây thanh nhất định, từ đó tạo ra các thay đổi về kiểu tạo thanh, thay đổi cao
độ do sự thay đổi về tần số cơ bản (F0), và thay đổi sức cản của thanh quảntrong phát âm
Cơ chế khí động học (aerodynamic) Cơ chế này đề cập đến động năngcủa phát âm chính là luồng khí qua thanh môn, đóng vai trò là nguồn lực đểgây ra rung động dây thanh
Hình 1 Chu kỳ rung động của dây thanh
(http://voicefoundation.org/)
Thuyết "thân - vỏ" của Hirano[5], về mặt hình thái, dây thanh gồm 2phần đều cùng tham gia vào cơ chế rung động khi phát âm nhưng lại có đặctính cơ học hoàn toàn khác nhau Lớp vỏ (cover): Gồm biểu mô phủ của dâythanh, lớp nông và lớp giữa của khoang đệm (lamina propria) Đặc tính củalớp này là không tự co - giãn được nhưng rất mềm mại, linh hoạt, có lớp đệmlỏng lẻo, do đó nó là nơi tạo ra sóng rung động (sóng niêm mạc) do sự kíchhoạt của luồng hơi từ phổi đưa lên Lớp thân (body): Gồm lớp sâu của khoang
Trang 6đệm và cơ thanh Trái với lớp vỏ, lớp này không có đặc tính mềm mại, lỏnglẻo, dễ biến đổi hình dạng Tuy nhiên, lớp này có thể co - giãn chủ động dohoạt động của cơ thanh
Hình 2 Các lớp của dây thanh
(britishvoiceassociation.org.uk)
Các kiểu tạo thanh khác nhau [ 7 , 8 ]
Đối với phụ âm vô thanh (voiceless), hai dây thanh và sụn phễu mở rộng
như trong khi thở Không khí từ phổi thoát ra ngoài dễ dàng
Đối với âm hữu thanh (voice), hai sụn phễu đóng chặt, với động lực là
luồng hơi từ phổi, hai dây thanh rung với tốc độ cao Tốc độ rung trung bìnhcủa dây thanh ở nam là 130 lần/giây, ở nữ giới là 230 lần/giây
Âm tắc thanh môn (glottal stop): hai dây thanh và sụn phễu đóng lại,
luồng hơi từ phổi đi ra bị chặn lại Khi mở thanh môn, không khí bị bật ra tạothành tiếng
Hiện tượng kẹt thanh môn (creaky voice): hai sụn phễu đóng chặt, phần
trước dây thanh rung chậm với tần số khoảng 40lần/giây tạo nên tiếng kẹt
Chất giọng thở (breathy voice): hai dây thanh khép và rung nhanh, hai
sụn phễu tạo thành một khoảng hở để không khí thoát ra với áp lực khá cao
Trang 7Thông số liên quan
+ Tần số: Fo là tần số rung cơ bản của dây thanh khác nhau ở nam, nữ vàtrẻ em, mặc dù hiện tượng rung sóng dây thanh không đơn thuần là một sónghình sin đơn giản mà là sự tổng hợp của nhiều sóng phức tạp Thanh điệu làtần số F0 biến thiên theo thời gian phát âm
+ Cường độ: tùy thuộc vào tiếng nói thường, nói thầm hay nói to vàthiết bị ghi cường độ đặt ở đâu, ví dụ nếu micro đặt ở thanh quản trong soihoạt nghiệm thanh quản với tiếng nói thường cường độ ghi được khoảng 60-70dB
+ Trường độ: thời gian phát âm- rung của dây thanh, liên quan đến việcđọc các chất liệu ngữ âm để ghi âm đủ thời gian để có thể phân tích đượccũng như đọc thời gian không quá nhanh để có thể phân tích các đặc tính âmthanh của từ 1 âm tiết, 2 âm tiết
2 Đường phát âm và khoang cộng hưởng
Âm thanh được thanh môn tạo ra, nếu tách rời ra khỏi các phần còn lạicủa bộ máy phát âm, sẽ không giống như tiếng nói của chúng ta mà chỉ lànhững âm khàn khàn hoặc như tiếng ngỗng kêu Quá trình phát âm đòi hỏi sựcộng hưởng của lồng ngực, đường thở trên và hộp sọ (khoang miệng, hốcmũi, các xoang)
Sự cộng hưởng âm là quá trình làm tăng hoặc giảm cường độ của một sốtần số âm trong hợp âm (gồm nhiều các tần số khác nhau) và lọc âm để tạonên lời nói Những tần số âm tăng lên do sự cộng hưởng được gọi là các
formant
Bộ máy cộng hưởng là cột không khí trong họng, khoang miệng, hốcmũi, các xoang mặt Sự cộng hưởng được điều chỉnh bằng thay đổi chiều dài,thể tích, hình dáng của họng, bằng kéo thanh quản lên xuống, bằng di chuyểnlưỡi, cư động hàm, đóng mở của màn hầu hoặc bằng thay đổi âm lượng quamũi, họng
Trang 8Có hai cấu trúc có ảnh hưởng nhiều đến sự cộng hưởng là lưỡi và môi,hai cấu trúc này làm thay đổi chiều dài và thể tích cột không khí của bộ máyphát âm Sự di chuyển của lưỡi ở các vị trí khác nhau trong khoang miệng,thay đổi vị trí hoặc hình dáng của môi hoặc di chuyển cả lưỡi và môi đã làmthay đổi các đặc tính cộng hưởng của các âm để tạo ra các lời nói khác nhau
3 Cấu âm [ 9 ],[ 10 ], [ 7 ].
Cấu âm là một quá trình phức tạp có sự phối hợp của cư động của lưỡi,sự thay đổi các cấu trúc giải phẫu cũng như sự tham gia của các thành phầnkhác của bộ máy phát âm Các cấu trúc giải phẫu tham gia vào quá trình cấu
Phương thức cấu âm:
+ Đóng hoàn toàn: có phụ âm tắc Bộ máy phát âm bị tắc hoàn toàn, mànhầu nâng lên làm không khí không thoát qua mũi Không khí được thoát
ra bằng các cách:
• Bộ phận cấu âm mở ra nhanh chóng, không khí thoát ra với áp lực
mạnh tạo nên phụ âm nổ như: p, t, k, b, d
• Bộ phận cấu âm được mở ra từ từ, không khí thoát ra chậm tạo ra sự
cọ xát nhẹ ngay tại vị trí cấu âm, hình thành nên phụ âm tắc – xát
Trang 9• Phụ âm mũi: khoang miệng được đóng hoàn toàn, màn hầu hạ thấpxuống làm không khí thoát qua mũi
+ Đóng tương đối: bộ phận cấu âm đóng lại nhưng không bị tắc hoàn toàn
Không khí đi qua nơi hẹp tạo nên phụ âm xát ví dụ ph, v, x, s, gi,
+ Mở tương đối: khoảng giữa của các phần cấu âm mở rộng đủ để không khí
đi qua mà không có tiếng cọ sát Có 2 loại là: bán nguyên âm trung tâm
(central approximants) và bán nguyên âm bên (lateral approximant)
+ Cấu âm thứ phát: đó là các hiện tượng môi hóa, khẩu cái hóa, màn hầuhóa, thanh quản hóa và mũi hóa
+ Hình dáng của môi: là yếu tố quan trọng để tạo thành các nguyên âm Các tác dụng chính của môi là làm rộng khoảng trong miệng và làm giảm độ
mở của miệng
Trang 10Tần số
Cường độ Trư
ờng
độ
II NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
Ngữ âm học là chuyên ngành nghiên cứu về mặt âm thanh của ngônngữ (ngữ âm), liên quan đến các đặc tính vật lý của sóng âm tín hiỆu lời nói.Bao gồm các thông số cơ bản liên quan đến cường độ, trường độ, tần số, và
âm sắc hay sắc thái của lời nói
Hình 3 Hình ảnh không gian 3 chiều tín hiệu âm thanh
1 Ngữ âm học[ 11 ]
Ngữ âm học là chuyên ngành nghiên cứu về mặt âm thanh của ngônngữ (ngữ âm) Có thể nghiên cứu ngữ âm từ các góc độ khác nhau: Cấu âm,
âm học và cảm thụ (nghe) Ngữ âm âm học là chuyên ngành hẹp của ngữ
âm học, liên quan đến các đặc tính vật lí của sóng âm tín hiệu âm thanhngôn ngữ Nghiên cứu ngữ âm âm học nhằm tìm hiểu các đặc trưng âm học(acoustic cues) của tín hiệu lời nói (phát âm), mà người nghe cảm nhận(nghe) được;
2 Ngữ âm tiếng Việt[ 12 ],[ 9 , 13 ]
Trang 11Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, đơn tiết tính, có thanh điệu Đây lànhững đặc điểm cơ bản nhất, chi phối tất cả những đặc điểm khác về mặt ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp
Tính chất đơn lập, đơn tiết của tiếng Việt biểu hiện rõ nhất của ở chứcnăng và cấu trúc của âm tiết Trong tiếng Việt, về chức năng, âm tiết có vịtrí đặc biệt trong hệ thống các đơn vị của ngôn ngữ
Âm tiết là đơn vị nhỏ nhất, xét về mặt phát âm (nói) và thụ cảm (nghe)
Âm tiết thường có nghĩa Như vậy, trong tiếng Việt, âm tiết thường là vỏngữ âm của hình vị (morphem - đơn vị nhỏ nhất có nghĩa)
Các nhà ngôn ngữ học gọi đơn vị vừa là âm tiết, vừa là hình vị
là tiếng.
2.1 Cấu trúc ngữ âm tiếng việt[ 9 ],[ 12 , 13 ]
Về mặt cấu trúc, âm tiết được cấu tạo bởi một số lượng nhất định cácthành tố, các thành tố kết hợp với nhau theo quy tắc nhất định
Cấu trúc của âm tiết tiếng Việt có thể thấy trong sơ đồ sau:
Thanh điệu
Âm đầu
Vần
Sơ đồ trên phản ánh cấu trúc 2 bậc của âm tiết tiếng Việt
Trang 12+ Ở bậc thứ nhất, âm tiết được cấu tạo bởi âm đầu, vần và thanhđiệu Đây là 3 thành phần bắt buộc của âm tiết tiếng Việt.
+ Bậc thứ hai liên quan đến cấu tạo của vần Vần được cấu tạo bởi
âm đệm, nguyên âm và âm cuối Nguyên âm là đỉnh của âm tiết, được gọi
Hình 4 dưới đây dạng sóng âm, cường độ, F0 (thanh điệu) và phổ
âm của âm tiết LOAN gồm âm đầu L, âm đệm O, âm chính A và âm cuối N
Trang 13Hình 4 Âm tiết loan /lwan1/
1- Dạng sóng âm; 2- Cường độ; 3-F0 (thanh điệu); 4- Phổ âm
Ghi chú: kí hiệu giữa hai vạch nghiêng là kí hiệu phiên âm quốc tế
âm tiết LOAN, trong đó /l/ - phụ âm đầu, /-w-/- âm đệm,/ -a-/ - âm chính, /- n/ -phụ
âm cuối; chữ số 1 chỉ thanh điệu 1- thanh ngang.
Chất liệu ngôn ngữ đo SNL là các từ đơn tiết, từ đa tiết, mà xuất phát
cơ bản để xây dựng đó chính là các từ đơn tiết (âm tiết) Về âm học, âm tiết– tín hiệu lời nói, không phải là tín hiệu đơn âm, đơn sắc (sóng đơn tần) mà
là phức âm, đa sắc (sóng đa tần)
Mỗi âm tiết có đặc trưng âm học riêng về cường độ, trường độ, tần
số, âm sắc Âm sắc (timbre) được hiểu với nghĩa hẹp, là sắc thái âm học củatín hiệu âm thanh (chủ yếu là tín hiệu thanh tính), liên quan đến vùng tần sốđược tăng cường
Để đo SNL, cần lập bảng từ (danh sách các từ đơn tiết, song tiết)hay bảng câu thư Về ngữ âm, bảng từ thư, bảng câu thư đo SNL phải đảmbảo sự cân bằng về ngữ âm (Phonetic balance)
+ Có các từ thuộc nhóm âm sắc thấp, âm sắc trung bình và âm sắc cao+ Độ khó danh sách từ tương đồng nhau
+ Số lượng và tỷ lệ các nhóm từ âm sắc cao, trung, thấp giống nhau
Âm tiết (từ) thuộc nhóm âm sắc thấp, nếu tần số được tăng cường thuộcvùng tần số thấp (dưới 1.000 Hz); âm tiết (từ) thuộc nhóm âm sắc trung bình,
Trang 14nếu vùng tần số được tăng cường ở vùng tần số trung bình, từ 1.000 Hz đến2.000 Hz; âm tiết (từ) thuộc nhóm âm sắc cao, nếu vùng tần số được tăngcường ở vùng tần số cao trên 2000 Hz [14],[11],.
Âm sắc của âm tiết do âm sắc của các thành tố âm tiết tạo nên
+ Trong các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Anh, Nga, Pháp…, về cấutạo, âm tiết là sự kết hợp các yếu tố chiết đoạn phụ âm, nguyên âm Về mặt
âm học, âm tiết được đặc trưng bằng các thuộc tính âm học của phụ âmnguyên âm
+ Trong tiếng Việt, về cấu tạo, âm tiết là sự kết hợp các yếu tố chiếtđoạn là âm đầu và vần, cộng với yếu tố siêu đoạn là thanh điệu
Do những đặc điểm riêng về chức năng và cấu tạo, mỗi thành tố tạo âmtiết có vai trò khác nhau trong việc tạo âm sắc toàn âm tiết Sau đây chúng taxem xét các thành tố cấu tạo âm tiết và vai trò của chúng trong việc tạo âm sắc
âm tiết tiếng Việt
2.2 Vần trong tiếng Việt
Vần là thành phần độc lập và quan trọng để quyết định thanh tính âm
tiết Vần được cấu tạo bởi âm đệm, âm chính và âm cuối.
2.2.1 Âm đệm[15]
Ở vị trí âm đệm, chỉ có bán nguyên âm /w/
Phiên âm quốc tế âm đệm /w/ được ghi bằng con chữ o hoặc u
Âm đệm là thành tố không bắt buộc của vần; khi xuất hiện
Về mặt liên kết âm đệm liên kết chặt chẽ với âm chính của vần, liên kếtlỏng lẻo với âm đầu của âm tiết
Về mặt âm sắc, âm đệm có chức năng trầm hóa âm sắc của vần do vậy
âm đệm chỉ kết hợp với nguyên âm âm sắc cao, âm sắc trung bình,không kết hợp nguyên âm âm sắc thấp Sự có mặt hay vắng mặt âm đệm
-w- không có ý nghĩa trong việc phân loại âm tiết tiếng Việt theo 3 bậc âm
sắc: Cao, trung bình, thấp
Trang 15Về mặt trường độ chiếm khoảng 1/5 đến 1/6 trên chiều dài thời gianphát âm âm tiết
+ 11 nguyên âm đơn: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, e, ê, i
+ 6 nguyên âm kép: ua, uô , ưa, ươ, ia, iê
Về mặt âm sắc phân chia nguyên âm đơn thành âm sắc cao, trung, thấptheo bảng dưới theo tác giả Vũ Kim Bảng và cộng sự [17],[14] Âm sắc của âmchính phụ thuộc vào các tần số được cộng hưởng quan trọng nhất là F1 và F2,trong đó F1 liên quan đến độ mở của miệng, F2 liên quan đến vị trí của lưỡi F1
có tần số dưới 1000Hz, F2 có tần số từ khoảng 700Hz đến trên 3000Hz Do vậydựa vào F2 để phân chia nguyên âm thành nhóm âm sắc cao, trung, thấp, với F2dưới 1000Hz là thấp, từ 1000-2000Hz là nhóm trung, trên 2000Hz là nhóm cao
Bảng 1 Nguyên âm đơn
Trang 16Âm sắc 6 nguyên âm đôi phụ thuộc vào âm sắc của nguyên âm đứngtrước, ví dụ nguyên âm đôi theo bảng dưới
Bảng 2 Nguyên âm đôi
đứng trước
Nguyên âm đứng sau
quốc tế
Cường độ: Âm chính là thành tố tạo đỉnh của âm tiết, có cường độ lớn nhất.Trường độ: Âm chính có trường độ dài nhất trong thời gian phát âm
âm tiết, với nguyên âm đôi thì thời gian phát âm nguyên âm đứng trước kéodài do khép miệng lúc phát âm và nguyên âm đứng sau là mở miệng do vậythời gian phát âm rất ngắn và thường lướt qua chính lý do này cũng quyếtđịnh âm sắc của nguyên âm đôi phụ thuộc vào âm sắc của nguyên âm đứngtrước Nguyên âm (â) phát âm ngắn hơn (ơ), (ă) ngắn hơn (a) hoặc bằng (a)nếu sau (a) là (u), (y) tạo âm (au, ay)
Về liên kết với âm đệm và âm cuối thì âm chính có liên kết chặt chẽvới 2 âm này tạo thành vần có cấu trúc chặt chẽ
2.2.3 Âm cuối[18],[16],[12]
Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết
Trong tiếng Việt, âm cuối có thể là bán nguyên âm, phụ âm mũi, phụ
âm tắc vô thanh Ngoài âm cuối /rezo/, tiếng Việt còn có 8 âm cuối (tương
ứng với 12 chữ viết trong đó có 8 phụ âm và 4 bán nguyên âm )
Trang 17Bảng 3 Các vị trí cấu âm, phương thức cấu âm của âm cuối
Vị tríPhương thức
Đầu lưỡi Gốc lưỡi
Không mũi /w/ u,o /j/ i, y
Ghi chú: Chữ nghiêng trong / / là phiên âm quốc tế, chữ thẳng đậm là chữ viết Quốc ngữ
Âm sắc của âm cuối có vai trò không lớn trong việc tạo âm sắc vàkhông quyết định đến âm sắc của vần và của âm tiết
Về trường độ phát âm âm cuối ngắn và giai đoạn chuyển tiếp giữanguyên âm chính và âm cuối ngắn, thời gian giai đoạn chuyển tiếp dưới10ms và cường độ chênh lệch không quá 2dB Sự kết hợp nguyên âm với
âm cuối rất chặt chẽ, 2 chiết đoạn hoà vào nhau, đặc trưng âm học của đoạnchuyển tiếp bị chi phối bởi nguyên âm chính
Về cường độ các âm cuối khi phát âm:
+ Các phụ âm cuối là các phụ âm đóng (implosive), tức là trong cấu
âm, chúng không có giai đoạn “thoái”, luồng hơi bị giữ lại ở vị trí cấu
âm, không được thoát ra, do động tác “nổ” (plosive)
+ K hi phụ âm cuối là các phụ âm vang (như m, n, nh, ng), nguồn
năng lượng âm học hiện hữu, nhưng không lớn (cường độ yếu và giảmđến sự triệt tiêu hoàn toàn)
+ Khi phụ âm cuối là phụ âm tắc vô thanh (như p, t, c, ch), năng
lượng âm học của phụ âm cuối bằng không, người nghe nhận ra đặctrưng khu biệt của từng phụ âm nhờ vào điểm nhấn “locus” trong đoạnchuyển tiếp giữa nguyên âm và phụ âm cuối
2.3 Âm đầu của âm tiết tiếng Việt[ 9 ],[ 12 ],[ 13 ]
Trang 18Âm đầu là thành tố bắt buộc đối với mọi âm tiết tiếng Việt Trong các
từ (âm tiết) như ông, anh, em, ai, ăn, uống…, trên chữ viết không ghi âm
đầu, nhưng khi phát âm, các từ (âm tiết) trên bắt đầu bằng phụ âm tắc họng
/Ɂ/
Trong tiếng Việt, ở vị trí âm đầu của âm tiết luôn là phụ âm gồm có 22
âm tiết (theo phiên âm quốc tế, bao gồm cả phụ âm tắc họng) tương ứng với
nó là 25 chữ viết thể hiện ở bảng dưới
Bảng 4 Phụ âm đầu
Vị trí cấu âm Phương thức cấu âm
Môi
Đầu lưỡi
Mặt lưỡi
Gốc lưỡi
Thanh hầu
Vôthanh
b
/ɓ/
d /ɗ/
b- 2 phụ âm quặt lưỡi, gi, tr không có trong phương ngữ Hà Nội.
Các tiêu chí âm học quan trọng để nhận diện (khu biệt) các phụ âm là:Trường độ, cường độ và vùng tần số được tăng cường Trong 3 tiêu chí
Trang 19trên, tiêu chí về vùng tần số và cường độ liên quan trực tiếp đến khảnăng nghe (sức nghe, thính lực)
Tần số: Dựa trên việc phân tích các đặc trưng phổ âm của các phụ âmđầu tiếng Việt, Nguyễn Văn Lợi [19],[20] phân các phụ âm đầu tiếng Việtthành 3 nhóm như sau:
- Nhóm phụ âm thấp: m; n; nh; ng, ngh;l; r.
- Nhóm phụ âm cao: th; ph, x;ch;kh,h; tr;s.
- Còn lại là phụ âm trung
Vùng tần số tăng cường của mỗi loại phụ âm cũng là cơ sở để phânloại phụ âm (3 loại: cao, trung, thấp), tạo sự cân bằng ngữ âm trong bảng từthư, câu thư đo SNL
Cường độ phụ âm đầu thường thấp hơn so với vần và nguyên âm chính.Trường độ ngắn hơn so với vần
Trong mối quan hệ với các thành tố của âm tiết, phụ âm đầu là đơn vịđộc lập hơn cả Nó hầu như không liên quan đến những đặc tính củaphần vần Tính chất độc lập của phụ âm đầu về mặt âm học được thể hiện
ở tính chất của đoạn chuyển tiếp
Tác giả Hoàng Cao Cương nhận xét rằng, đoạn chuyển tiếp giữa phụ
âm đầu và nguyên âm trong kết hợp phụ âm đầu với nguyên âm CV phụ âm, V- nguyên âm) có trường độ lớn, ổn định (thường lớn hơn 15 ms,cường độ lớn và ổn định (tăng hay giảm từ 3 dB đến 5 dB) Trong kết hợp
(C-CV, các thuộc tính âm học của phụ âm đầu luôn được bảo lưu, không bị hòavào nguyên âm đi sau
Phụ âm đầu luôn luôn gắn liền với vị trí và chức năng mở đầu âm tiết,
và khu biệt âm tiết Ví dụ, âm tiết (từ) ma khu biệt với ta, ca, xa bằng phụ âm đầu m, khác biệt với phụ âm t, c, x…
Trang 20Sự khu biệt giữa các phụ âm bằng các thuộc tính cấu âm và âm họccủa chúng
+ Chẳng hạn, phụ âm m (trong âm tiết ma) phân biệt với phụ âm đầu x (âm tiết xa) ở chỗ, về mặt cấu âm học, m là phụ âm tắc, vang, môi, còn phụ
âm x là phụ âm xát, đầu lưỡi
+ Về mặt âm học, phụ âm m có vùng tần số thấp (nhỏ hơn 1000 Hz) được tăng cường, còn phụ âm x, trái lại, vùng tần số cao (trên 4.000Hz)
được tăng cường
2.4 Thanh điệu tiếng Việt[ 19 ]
Thanh điệu biểu hiện thuộc tính ngôn điệu của thành phần thanh tính(phụ âm đầu hữu thanh, chủ yếu là vần) của âm tiết
Về mặt âm học, thanh điệu là sự biến đổi (diễn tiến) của F0 trong thờigian phát âm âm tiết
Thanh điệu khu biệt nhau bằng tiêu chí đường nét F0 và âm vực (vùngtần số tính từ điểm thấp nhất đến điểm cao nhất trong diễn tiến F0)
Giữa các địa phương có sự khác nhau về thanh điệu: các phương ngữ,thổ ngữ có hệ thống thanh điệu khác nhau về số lượng thanh điệu và sự biểuhiện từng thanh điệu Nếu lấy tiếng Việt chuẩn vùng Bắc Bộ, ta có 6 thanhđiệu:
- Thanh ngang: Có đường nét ngang bằng, đôi khi hơi đi xuống, âm vực cao
- Thanh huyền: Có đường nét đi xuống thoai thoải, âm vực thấp.
- Thanh sắc: Có đường nét đi lên, âm vực cao.
- Thanh hỏi: Có đường nét uốn (xuống-lên) ở giữa hoặc ở cuối âm tiết, âm vực
thấp
- Thanh ngã: Có đường nét uốn (xuống -lên) ở giữa âm tiết; âm vực cao.
- Thanh nặng: Đường nét xuống đột ngột, ngắn; âm vực thấp Dưới đây là đồ
thị F0 thanh điệu tiếng Việt Bắc Bộ
Trang 21Thanh Ngang
Thanh hỏi
Thanh huyền
Thanh sắc Thanh ngã
Thanh nặng
Trang 22Hình 5 Thanh điệu (Đường nét F0) tiếng Việt (Bắc Bộ)[ 19 ]
Thanh điệu chủ yếu liên quan đến F0 - tần số rung động của dây thanh
do vậy ở nữ cao hơn ở nam, trẻ em cao hơn người lớn Trong các ngôn ngữtrên thế giới, tần số thanh cơ bản (F0) không vượt quá 1.000 Hz
Trong các thanh điệu tiếng Việt, điểm cao nhất F0 của giọng nữ caothường trên dưới 500 Hz Do vậy, trong việc phân âm tiết thành 3 loại cao(từ 2000 Hz), trung (từ 1000Hz đến dưới 2000 Hz), thấp (dưới 1000 Hz)không liên quan đến thanh điệu
III TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
Trong phần này chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề chính về từ tiếngViỆt, liên quan đến viỆc xây dựng bảng từ thư đo SNL
Định nghĩa từ trong tiếng ViỆt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh vàcấu tạo ổn định dùng để đặt câu
1 Từ một tiếng và từ nhiều tiếng [ 12 ],[ 18 ],[ 21 ],[ 13 ]
Xét theo số lượng tiếng (âm tiết-hình vị), từ tiếng ViỆt có thể phân thành
2 loại: từ một tiếng (âm tiết) và từ nhiều tiếng (chủ yếu là từ 2 tiếng (âm tiết).Từ một tiếng là từ chỉ gồm 1 tiếng (âm tiết) Từ một tiếng còn gọi là từđơn tiết Ví dụ, các từ một tiếng: mẹ, bố, ông, bà, trời, đất, nước, mặt, mũi,nhà, cây, cá, chim, đi, đứng, ăn, uống, làm, một, hai, ba, đỏ, xanh, trắng Trong vốn từ cơ bản tiếng ViỆt, cũng như trong ngôn ngữ giao tiếp hàngngày, từ một tiếng chiếm tỷ lỆ đến trên 90%
Trang 23Từ gồm nhiều hơn một tiếng (âm tiết) gọi là từ nhiều tiếng (từ đa tiết).Phần lớn từ nhiều tiếng (đa tiết) là từ 2 tiếng (từ song tiết) Ví dụ, các từ songtiết: Nhân dân, xã hội, văn hoá, thầy giáo, lao động, cha mẹ, ăn ở, y học, bác
sĩ, kỹ sư, công nghiỆp
Từ nhiều tiếng có thể là từ láy hoặc từ ghép
+ Từ láy là từ hai tiếng, mà giữa 2 tiếng có quan hỆ với nhau về ngữ âm:
2 tiếng giống nhau hoàn toàn (từ láy hoàn toàn), hoặc có âm đầu giống nhau(từ láy âm đầu) hay vần giống nhau (từ láy vần)
Ví dụ, các từ láy hoàn toàn: mang máng, xanh xanh, đo đỏ, tim tím, đen đen; Từ láy âm đầu: bập bẹ, long lanh, mênh mông, trục trặc, nhỏ nhắn; Từ láy vần: linh tinh, luộm thuộm, lấm tấm, lao xao, tào lao, hấp tấp
+ Từ ghép là từ nhiều tiếng, thường là từ 2 tiếng Các tiếng trong từ ghépkết hợp với nhau theo quan hỆ ngữ nghĩa Ví dụ từ ghép: mẹ cha, đi đứng, tốtđẹp, nhà cưa, cây cối, nhân dân, học sinh, trường học, ngữ âm học, xã hội chủnghĩa
2.Từ loại tiếng Việt
Từ loại là các kiểu, loại của từ được phân loại dựa trên những đặc điểm
ngữ nghĩa và ngữ pháp của từ đó Tiếng Việt có các từ loại như danh từ, động từ, tính từ, đại từ, phụ từ, trợ từ, cảm từ.
3.Từ nguyên gốc và từ vay mượn
Từ nguyên gốc là các từ có nguồn gốc lâu đời trong tiếng Việt TiếngViệt có nguồn gốc Nam Á; các từ nguyên gốc tiếng Việt bắt nguồn từ lớp từchung tiếng Việt và các ngôn ngữ Nam Á (Các ngôn ngữ Nam Á như Khmer,Môn, Ba Na, Cơ Tu, Kơ ho, Mơ Nông, Mảng, Kháng ) Tiếng Việt có quan
hệ tiếp xúc với các ngôn ngữ Tày- Thái cổ từ lâu
Các từ nguyên gốc tiếng Việt cũng có thể bắt nguồn từ ngôn ngữ Tày
- Thái cổ (các ngôn ngữ Tày- Thái như Tày, Nùng, Thái, Thái Lan, Lào )
Trang 24Ví dụ các từ nguyên gốc tiếng Việt: mắt, mũi, tai, tóc, môi, trời, sao, nước, núi, sông, ăn uống, nói, đi, chết, giết, bố, mẹ, chồng, vợ, con, trắng, xanh, đen, đỏ, nhà, cửa, đường, cây, cỏ, lá, gốc, một, hai, ba, bốn , năm, trăm
Từ ngoại lai là những từ gốc nước ngoài, được vay mượn, du nhập vàotiếng Việt ở các thời kì khác nhau Từ có nguồn gốc từ tiếng Hán chiếm tỉ lệlớn trong các từ ngoại lai nói riêng và vốn từ tiếng Việt nói chung Các từ gốc
Hán như phòng, chính, phụ, dân, trung, quốc, sơn, thủy, nhật, nguyệt, học, trường, đọc, gan, hoa, thủ, đầu, gương, nhất, thập….
Các từ ngoại lai trong tiếng Việt cũng có thể có nguồn gốc từ các ngôn
ngữ châu Âu (Pháp, Anh) Ví dụ: săm, lốp, xà phòng, computer, file, internet
Trang 254.Từ cơ bản và từ văn hóa
Từ cơ bản là những từ chỉ các hiện tượng, sự vật, hoạt động, tính chất
cơ bản, gần gũi hàng ngày Đó là các từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên, chỉcác bộ phận cơ thể, các đồ vật gần gũi, các loài động vật, thực vật quen thuộc,các từ chỉ hoạt động, tính chất cơ bản, từ chỉ các số đếm Từ cơ bản cũng lànhững từ thông dụng, thường xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày
Phần lớn từ cơ bản là từ đơn tiết và từ nguyên gốc Việt
Từ văn hóa là những từ chỉ các khái niệm trừu tượng, các thuật ngữchuyên ngành Phần lớn từ văn hóa là từ song tiết, đa tiết, thuộc lớp từvăn hóa và không phải có nguồn gốc Việt
5 Tần số xuất hiện và mức độ thông dụng của từ
Từ ngữ trong mỗi ngôn ngữ, khác nhau về mức độ sư dụng: có nhữngtừ thường xuyên được sư dụng, xuất hiện với tần số cao trong giao tiếp hàngngày của cộng đồng ngôn ngữ đó; trái lại, có những từ ngữ ít được sư dụng,xuất hiện với tần số thấp hơn
Có thể xác định mức độ sư dụng của từ ngữ bằng cách tính tần số xuấthiện của từ ngữ đó trong giáo tiếp, với các loại phong cách khác nhau, nhưhội thoại, văn học, báo chí, học thuật Những từ ngữ có tần số cao là từngữ thông dụng, từ ngữ có tần số thấp hơn là ừ ngữ ít thông dụng hơn
Đã có nhiều công trình xác định mức độ thông dụng của từ tiếng Việt.Danh sách từ thông dụng giữa các tác giả có thể khác nhau, do thống kê trêncác loại văn bản, thời gian xuất hiện văn bản, lượng từ ngữ, lượng văn bản khác nhau
Năm 1976, 2 tác giả người Nga là V Remarchuk và R Makagonov đã
đưa ra 319 từ có tần số (mức độ thông dụng) cao nhất
Trang 26Đặng Thái Minh và Nguyễn Vân Phổ [22] đưa ra danh sách 320 từ có tầnsuất cao, thông kê trên các văn bản giao tiếp thông thường giai đoạn 1991-
gốc Việt; một số là từ có ý nhĩa ngữ pháp, ví dụ là, đã, đang, rồi, và, vì
Danh sách từ được dùng trong bảng từ, đo SNL bao gồm các từ thông dụng.Trên cơ sở các danh sách từ tần số cao của tác giả - V Remarchuk và R.Makagonov có 319 từ, danh sách tác giả của Đặng Thái Minh và Nguyễn VânPhổ có 320 từ, danh sách từ tần số cao của Nguyễn Đức Dân với 700 từ chọnđược 1131 từ đơn âm tiết theo danh sách dưới đây: