Lý do nghiên cứu Chúng tôi viết đề tài này với ý nguyện là giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về tiếng Kinh làng Mú Thàu Trung Quốc và mối liên hệ giữa tiếng nói nói chung và ngữ âm nói riê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGÔ TIỂU PHƯƠNG
SO SÁNH NGỮ ÂM TIẾNG KINH CỦA LÀNG
MÚ THÀU (TRUNG QUỐC) VỚI NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRẦN TRÍ DÕI
Hà Nội - 2011
Trang 2QUY ĐỊNH PHIÊN ÂM:
BẢNG PHIÊN ÂM NGUYÊN ÂM:
NGUYÊN ÂM ĐƠN DÀI
14 nguyên âm 15 nguyên âm
Trang 3ươ / ɯә/ / ɯɤ /
BẢNG PHIÊN ÂM PHỤ ÂM:
PHỤ ÂM CHỮ PHIÊN ÂM CQN
Trang 5MỤC LỤC
Phần mở đầu 5
1 Lý do nghiên cứu 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa thực tiễn 8
6 Bố cục của luận văn: 9
Phần nội dung 10
Chương I: 10
1.1 Giới thiệu nguồn gốc dân tộc Kinh ở Trung Quốc 10
1.1.1 Nguồn gốc của dân tộc Kinh Trung Quốc 10
1.1.2 Truyền thuyết về tên gọi của ba làng (Tam Đảo) dân tộc Kinh 14
1.2 Giới thiệu về người Kinh ở làng Mú Thàu 17
1.2.1 Làng người Kinh ở Mú Thàu 17
1.2.2 Đôi nét khác biệt của làng người Kinh ở Mú Thàu với hai làng Vạn Vĩ và Sơn Tâm 20
1.3 Giới thiệu tình hình nghiên cứu tiếng Kinh ở Trung Quốc 23
1.3.1 Tình hình nghiên cứu tiếng Kinh 23
1.3.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu 26
Trang 6Chương II: 29
Mô tả ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu 29
(Trung Quốc) 29
2.1 Vấn đề mô tả ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu 29
2.1.1 Cách thức mô tả 29
2.1.2 Âm tiết trong tiếng Kinh làng Mú Thàu 29
2.1.2.1 Thanh điệu 29
2.1.2.1.1 Thanh 1 (thanh bằng) 30
2.1.2.1.2 Thanh 2 (thanh huyền) 31
2.1.2.1.3 Thanh 3 (thanh ngã) 33
2.1.2.1.4 Thanh 4 (thanh sắc) 34
2.1.2.1.5 Thanh 5 (thanh nặng) 36
2.1.2.1.6 Tiêu chí khu biệt thanh điệu 37
2.1.2.2 Phụ âm đầu 38
2.1.2.2.1 Phân xuất phụ âm đầu tiếng Kinh làng Mú Thàu 38
2.1.2.2.2 Miêu tả phụ âm đầu tiếng Kinh làng Mú Thàu 42
2.1.2.3.1 Số lượng âm đệm tiếng Kinh làng Mú Thàu 48
2.1.2.3.2 Miêu tả âm đệm tiếng Kinh làng Mú Thàu 48
2.1.2.4 Âm chính 50
2.1.2.4.1 Số lượng âm chính tiếng Kinh làng Mú Thàu 50
2.1.2.4.2 Miêu tả nguyên âm chính tiếng Kinh làng Mú Thàu 52
Trang 72.1.2.5 Âm cuối 60
2.1.2.5.1 Số lượng phụ âm cuối tiếng Kinh làng Mú Thàu 60
2.1.2.5.2 Miêu tả các phụ âm cuối tiếng Kinh làng Mú Thàu 61
2.1.2.5.3 Nhận xét chung về ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu 63
Chương III: 66
Nhận xét ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu và tiếng Việt 66
3.1 Ngữ âm tiếng Việt hiện nay 66
3.1.1 Thanh điệu của tiếng Việt 68
3.1.2 Phụ âm trong tiếng Việt 69
3.1.3 Vần trong tiếng Việt 71
3.1.3.1 Danh sách nguyên âm của tiếng Việt 71
3.1.3.2 Các loại vần trong tiếng Việt 73
3.2 So sánh ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu và tiếng Việt 75
3.2.1 Sự giống nhau giữa ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu và
tiếng Việt 75
3.2.1.1 Thanh điệu 75
3.2.1.2 Phụ âm đầu 76
3.2.1.3 Âm chính 76
3.2.1.4 Âm đệm 77
3.2.1.5 Âm cuối 78
3.2.2 Sự khác nhau giữa ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu và tiếng Việt 78
Trang 83.2.2.1 Thanh điệu 78
3.2.2.2 Phụ âm đầu 80
3.2.2.3 Âm chính 85
3.2.2.4 Âm đệm 85
3.2.2.5 Âm cuối 85
3.3 Nhận xét 87
Phần kết luận 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Tài liệu tiếng Việt 92
Tài liệu tiếng Trung 93
Trang 9Phần mở đầu
1 Lý do nghiên cứu
Chúng tôi viết đề tài này với ý nguyện là giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về tiếng Kinh làng Mú Thàu (Trung Quốc) và mối liên hệ giữa tiếng nói nói chung và ngữ âm nói riêng của người dân tộc Kinh ở Trung Quốc với ngữ
âm tiếng Việt của người dân tộc Kinh ở Việt Nam Đó cũng là cách bày tỏ tình yêu của chúng tôi đối với dân tộc Kinh, với chuyên ngành ngôn ngữ học của mình Bởi vì tôi là một cô gái người Kinh Trung Quốc, ngay từ nhỏ tôi đã từng được nghe các cụ già trong làng kể lại chuyện nguồn gốc của người Kinh
và dạy dỗ cho tôi nhiều kiến thức về văn hóa con người của dân tộc Kinh xưa nay Tôi yêu văn hóa con người của dân tộc Kinh Vì thế, tôi đã trao con tim
tò mò của mình cho việc học tập tiếng Việt, ước mơ mình có ngày sẽ giành cơ hội tìm hiểu thêm, nghiên cứu thêm về lịch sử nguồn gốc nhân văn của dân tộc Kinh Trung Quốc qua con đường tìm hiểu về văn hóa con người của dân tộc Kinh Việt Nam Người Kinh chúng tôi có câu là “Uống nước nhớ nguồn”, riêng tôi cũng như tất cả mọi người dân tộc Kinh đều rất quan tâm đến lịch sử nguồn gốc của mình, chúng tôi nhớ ơn dầy công vun đắp nên nền văn minh dân tộc của tổ tiên người Kinh Trước tôi cũng đã từng có rất nhiều anh chị
em người Kinh đi trên con đường tìm hiểu nghiên cứu về văn hóa, ngôn ngữ của dân tộc mình
Trang 10Như tất cả các anh chị em người Kinh Trung Quốc, chúng tôi đều biết được tổ tiên của chúng tôi là người Kinh ở Việt Nam Theo hương ước điều lệ của làng Vạn Vĩ được xây dựng trong năm 1553 và những tài liệu lịch sử vẫn được bảo tồn lưu lại trong bảo tàng dân tộc Kinh ở làng Vạn Vĩ cho thấy rằng
tổ tiên của chúng tôi di chuyển từ những nơi ở Việt Nam như Đồ Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Phòng, Móng Cái v.v đến Trung Quốc từ năm Hồng Thuật Tam Niên của vương triều nhà Hậu Lê Việt Nam, tức là Vũ Tông Chính Đức Lục Niên của nhà Minh Trung Quốc (năm 1511 sau CN), kể đến nay đã
có 500 năm Vì thế, tiếng nói của người Kinh chúng tôi rất phong phú đa dạng
và phức tạp Cũng chính vì lí lẽ này khi tôi học tiếng Việt “giọng Hà Nội” nhưng lại nói “giọng Thanh Hóa, giọng miền Trung” Trong chiều dài lịch sử
500 năm, tiếng nói của dân tộc Kinh Trung Quốc đã có rất nhiều thay đổi vì những nguyên nhân lịch sử hay địa lý Chúng tôi làm láng giềng với dân tộc Hán, dân tộc Choang, dân tộc Mèo v.v Chúng tôi vào trường học được dạy học bằng tiếng Hán, sử dụng tiếng Hán hay tiếng địa phương ở đó (chủ yếu là tiếng Quảng Đông, gọi là Bạch Thoại) để giao lưu với các dân tộc khác Tuy nhiên tiếng Kinh vẫn giữ vai trò làm tiếng mẹ đẻ của chúng tôi, nhưng phát triển rất hạn chế hay có thể nói là không được phát triển, thậm chí ngày càng
bị đồng hóa với tiếng địa phương ở đó (chủ yếu là tiếng Bạch Thoại)
Hiện nay, trong một lời nói bình thường của người Kinh chúng tôi chủ yếu do hai thành phần tiếng nói là tiếng Kinh và tiếng Bạch Thoại cấu tạo nên,
Trang 11hai thứ tiếng này đi song song với nhau, bổ sung cho nhau, làm nên tiếng Kinh hiện nay của dân tộc Kinh Trung Quốc Qua sự tìm hiểu của cá nhân tôi, tôi thấy rằng, những từ vựng cơ bản hầu hết là tiếng Kinh gốc, còn những từ vựng văn hóa hầu hết là Bạch Thoại Vì xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ, nhưng bước đi của tiếng Kinh lại không theo kịp được tốc độ phát triển của xã hội, vì vậy sẽ xảy ra tình trạng là tiếng Kinh không có từ vựng văn hóa riêng của dân tộc mình, mà phải vay mượn của dân tộc Hán, đây là nguyên nhân chính khiến tiếng Kinh của chúng tôi có hai thành phần tiếng nói Đồng thời, đây cũng là lí do chính để chúng tôi làm về đề tài này
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu luâ ̣n văn của chúng tôi là khảo sát, miêu tả các thành phần âm tiết của tiếng Kinh làng Mú Thàu Qua đó, so sánh đối chiếu với tiếng Việt nhằm làm rõ mối liên hệ giữa tiếng Kinh làng Mú Thàu với tiếng Việt hiện nay, góp phần nghiên cứu việc tiếp xúc ngôn ngữ tiếng Kinh – Trung ở khu vực
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận văn là khảo sát, điều tra, thu thập tiếng Kinh làng Mú Thàu Sau đó chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp miêu tả ngữ âm (phân tích bối cảnh ngữ âm đồng nhất và tương tự để phân xuất các âm vị khác nhau) nhằm mô tả ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu Và sau đó nữa thông qua việc
Trang 12so sánh đối chiếu đưa ra những điểm kh ác nhau và giống nhau v ề ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu với ngữ âm tiếng Việt hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng thao tác của những phương pháp nghiên cứu: điền dã, miêu tả và so sánh - đối chiếu
Phương pháp miêu tả là hệ thống những thủ pháp nghiên cứu được vận dụng để thể hiện đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạn phát triển nào đó của nó Đây là phương pháp phân tích đồng đại Phương pháp miêu tả có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện học tập và giảng dạy ngôn ngữ Trong phương pháp miêu tả có những thủ pháp rất đa dạng, có thể phân chúng thành hai kiểu cơ bản: những thủ pháp giải thích bên ngoài và những thủ pháp giải thích bên trong
Phương pháp so sánh - đối chiếu, tức là lấy một ngôn ngữ làm trung tâm chú ý, còn ngôn ngữ kia là phương tiện so sánh để nghiên cứu Những thủ pháp cơ bản của phương pháp đối chiếu là: xác định cơ sở đối chiếu, giải thích tài liệu được đối chiếu
5 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu này là một đề tài rất cấp thiết Nó sẽ có những đóng góp về việc hiểu biết và bảo tồn tiếng Kinh làng Mú Thàu, góp thêm tư liệu
Trang 13cho nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Đồng thời nó giúp ích cho người Kinh Trung Quốc khi học tập tiếng Việt Nam
6 Bố cục của luận văn:
Trong luận văn của chúng tôi ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có
3 chương như sau:
Chương I: Giới thiệu nguồn gốc dân tộc và tình hình nghiên cứu tiếng Kinh ở
Trung Quốc
Chương II: Miêu tả ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu (Trung Quốc)
Chương III: Nhận xét ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu và tiếng Việt
Trang 14Phần nội dung
Chương I:
Giới thiệu nguồn gốc dân tộc và tình hình nghiên cứu
tiếng Kinh ở Trung Quốc
1.1 Giới thiệu nguồn gốc dân tộc Kinh ở Trung Quốc
1.1.1 Nguồn gốc của dân tộc Kinh Trung Quốc
Ở Trung Quốc, dân tộc Kinh chỉ là một dân tộc thiểu số với dân số là khoảng 20 nghìn người (theo kết quả điều tra dân số lần thứ 6 năm 2005 của Trung Quốc) Họ chủ yếu sống tập trung tại ba làng: làng Mú Thàu, Sơn Tâm, Vạn Vĩ thuộc thị trấn Giang Bình của huyện Tự trị Đông Hưng TP Phòng Thành Cảng - Quảng Tây Dân tộc Kinh Trung Quốc và dân tộc Kinh - dân tộc chủ thể của Việt Nam có cùng một dòng máu (theo Bài phát biểu “Lịch sử dân tộc Kinh” ngày 26-09-2009, trang Web của Ủy ban dân tộc quốc gia Trung Quốc) Theo hương ước điều lệ của làng Vạn Vĩ được xây dựng trong năm 1553 và những tài liệu lịch sử vẫn được bảo tồn lưu lại trong Bảo tàng dân tộc Kinh ở làng Vạn Vĩ cho thấy, nguồn gốc của người dân tộc Kinh Trung Quốc được ghi như sau: “…thừa tiên tổ phụ Hồng Thuận Tam Niên quán tại Đồ Sơn phiêu lưu xuất đáo…cư hương ấp, nhất xã nhị thôn, các hữu đình từ tiền…khoán lệ các các hữu ngôn trí…phân thuyết minh…lí nghi tuần
Trang 15tập thả đình từ phụng sự liệt vị hương hỏa tiền thiểu hậu…bất tiện tuần chí Tự Đức Nhị Thập Bát Niên quí hà tết cụ tế…tuần vì thử hậu hội hợp tái lập tân ước khoán tiện các các sự thần vĩnh vì hằng…”(theo Bài phát biểu “Lịch sử dân tộc Kinh” ngày 26-09-2009, trang Web của Ủy ban dân tộc quốc gia Trung Quốc và bài phát biểu trong cuốn sách “ Tập sử ca Nôm chữ Kinh tộc” của Tô Vi Sinh - Phó chủ nhiệm hội đồng đại biểu nhân dân của TP Phòng Thành Cảng – Quảng Tây, 7.2007), có nghĩa là “ tổ tiên của họ di chuyển đến đây từ năm Hồng Thuật Tam Niên của vương triều nhà Hậu Lê Việt Nam, tức là Vũ Tông Chính Đức Lục Niên của nhà Minh Trung Quốc (năm 1511 sau CN), kể đến nay đã có 500 năm “Tự Đức” là niên hiệu của vua Nguyễn
Vũ Tông, “Tự Đức Nhị Thập Bát Niên” tức là Đức Tông Quang Tự Nguyên niên của nhà Thanh Trung Quốc (năm 2875 sau CN)
Năm 1958, theo kết quả điều tra của Tổ điều tra lịch sử - xã hội các dân tộc thiểu số Quảng Đông (lúc đó TP Phòng Thành Cảng vẫn thuộc tỉnh Quảng Đông) cho biết: dân tộc Kinh thuộc TP Phòng Thành Cảng có gần 30
họ, trong đó họ Lưu là họ đông người nhất, chiếm 20% tổng dân số người Kinh, tiếp đó là họ Nguyễn, họ Ngô, họ Hoàng, họ Tô và họ Vũ, tổng cộng chiếm 41% dân số, hai họ đến sớm nhất là họ Nguyễn và họ Lưu tính đến nay
đã được 16-17 đời rồi, những họ đến muộn nhất là họ Bồi, họ Tằng và họ Đinh mới chỉ được 2-3 đời, còn những họ còn lại thì được khoảng 9 đời Theo những hương ước điều lệ được các cụ viết bằng chữ Nôm cho thấy rằng, tổ
Trang 16tiên người Kinh di cư tới đây từ nhiều nơi của Việt Nam, chẳng hạn như: Đồ Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Phòng, Móng Cái v.v tính đến nay đã có 500 năm lịch sử, điều này phù hợp với hương ước điều lệ của làng đã ghi, chính vì
lí lẽ này, tiếng nói của người Kinh rất đa dạng, phong phú và phức tạp Tiếng Kinh cũng có chữ viết riêng của mình, đó là chữ Nôm, nhưng vì phát triển bị hạn chế, nên hiện nay chỉ còn vài cụ già tầm 90 tuổi trong làng mới có thể viết được và đọc được chữ Nôm mà thôi
Chủ thể của họ là dân tộc Kinh xưa của Việt Nam, xưa từng được gọi
là dân tộc Việt Dân tộc Kinh tự xưng mình là người “Kinh”, người “Việt” hoặc là người “An Nam” trong lịch sử Ở Trung Quốc, có hai quan niệm nhận xét về nguồn gốc của dân tộc Kinh Xét từ góc độ ngôn ngữ học cho thấy, tiếng mẹ đẻ của dân tộc Kinh được các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc xét vào
hệ ngôn ngữ Nam Á, vì vậy, dân tộc Kinh ngay từ xưa đều được coi là dân tộc
hệ Nam Á Còn một quan niệm khác cho rằng, dân tộc Kinh là hậu duệ của bộ lạc Bách Việt, là một quần thể dân tộc mới, hậu duệ của bộ lạc Bách Việt, là một chi nhánh nhỏ của bộ lạc Lạc Việt Bên cạnh đó còn có sự hòa nhập của người Chiêm (Chămpa) thuộc hệ ngôn ngữ Malayo - Polinesien (hoặc gọi là
hệ ngôn ngữ Nam Đảo), người Cao Miên (Khơme) là dân tộc có hệ ngôn ngữ Môn-Khơme (theo Bài phát biểu “Lịch sử dân tộc Kinh” ngày 26-09-2009, trang Web của Ủy ban dân tộc quốc gia Trung Quốc và bài phát biểu trong cuốn sách “ Tập sử ca Nôm chữ Kinh tộc” của Phan Kỳ - Phó chủ nhiệm hội
Trang 17đồng đại biểu nhân dân của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, 7.2007), do chịu ảnh hưởng lớn nhất của văn hóa Trung Quốc, đồng thời cũng chịu sự tác động sâu sắc của văn hóa Chămpa và văn hóa của người Cao Miên, vì vậy trong hệ ngôn ngữ này có rất nhiều yếu tố khác nhau, đó chính là nguyên nhân chính khiến cho các nhà ngôn ngữ học khó xác định được hệ ngôn ngữ này, và họ cho rằng văn hóa dân tộc Kinh càng gần gũi với văn hóa Đông Á
mà phi Đông Nam Á
Còn ở Việt Nam, tiếng Việt (tức tiếng Kinh) được coi là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt Mường, nhánh Môn - Khmer của họ Nam Á Đồng thời, trong quá trình phát triển, tiếng Việt đã có những vay mượn lẫn nhau với nhiều ngôn ngữ như tiếng Chăm, tiếng Thái, tiếng Hán v.v
Tháng 5 năm 1958, khi tiến hành xây dựng huyện tự trị các dân tộc Đông Hưng, căn cứ vào lịch sử, ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và phong tục tập quán sinh sống của dân tộc cũng như ý nguyện của họ, được sự phê chuẩn của Quốc vụ viện Trung Quốc, dân tộc này chính thức được đặt tên là Dân tộc Kinh Dân tộc Kinh có ngôn ngữ dân tộc riêng, tức là tiếng Kinh, cơ bản giống như ngôn ngữ của dân tộc Kinh Việt Nam, nhưng lại có nhiều từ vay mượn của tiếng Hán (chủ yếu là tiếng Quảng Đông, dưới đây xưng là tiếng Bạch Thoại) Dân tộc này cũng có chữ viết riêng rất đặc biệt, bởi chữ thì được viết bằng chữ Hán nhưng khi đọc thì lại được đọc thành tiếng Việt, trong lịch
sử được gọi là “chữ Nôm” Theo kết quả tổng kết của các nhà nghiên cứu, con
Trang 18số chữ Nôm của dân tộc Kinh là khoảng 12000 chữ, thường mỗi một âm đọc
có tới 4~5 chữ viết, có khi cùng một âm có tới hơn mười chữ viết Một âm đa chữ là đặc trưng cơ bản của chữ Nôm, vì vậy, đọc và học tập chữ Nôm rất khó, không giúp ích cho việc phổ cập văn hóa Cùng với dòng lịch sử phát triển lâu dài, đa số người Kinh đều biết nói tiếng Bạch Thoại và tiếng Hán (Theo bài phát biểu trong cuốn sách “ Tập sử ca Nôm chữ Kinh tộc” của Phan Kỳ - Phó chủ nhiệm hội đồng đại biểu nhân dân của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, 7.2007)
1.1.2 Truyền thuyết về tên gọi của ba làng (Tam Đảo) dân tộc Kinh
Ở dân gian, dân tộc Kinh Trung Quốc có một truyền thuyết về tên gọi của ba làng Mú Thàu, Sơn Tâm và làng Vạn Vĩ ( hay còn được gọi là Tam Đảo) Truyền thuyết được dẫn từ truyện “Trấn Hải Đại Vương” Ngày xửa ngày xưa, trên bờ biển phía bắc của Vịnh Bắc Bộ có một ngọn núi với tên là núi Bạch Long Đây là điểm tất yếu phải đi qua của các con tàu thuyền từ Bắc Hải đến Cảng Đông Hưng Trong núi Bạch Long có một hang động, trong đó
có một con rết đã thành tinh Mỗi khi có tàu thuyền đi qua cái hang động đó,
nó đều ra đòi ăn thịt một người, nếu không ưng thì nó sẽ làm hóa phép lật đổ tàu thuyền đi qua đó Có một vị thần biết được con yêu tinh này cứ ở đấy làm hại nhân dân trong vùng, thế là thần quyết tâm vào hang động giết chết con yêu tinh này để trừ cái “ung thư ác tính” này giúp người dân trong vùng Một
Trang 19hôm, ông tiên đến núi Bạch Long lấy đôi sọt phân gánh đất để lấp cái hang động của con rết Nhưng phép của ông ta nếu muốn lấp động này thì cần phải cấm tiếng gà gáy, chó sủa trong vòng ba ngày liền và phải lấp thật đúng lúc, nếu không thì sẽ phí công vô ích Đến tối hôm thứ hai, khi động sắp lấp xong thì con rết ló đầu ra và nhìn thấy một anh chàng cao to đang gánh đất đi về phía đông Con yêu tinh biết ngay là ông thần đến để trị mình Nó liền bắt chước tiếng gà gáy và tiếng chó sủa ầm ĩ Ông tiên biết ngay là con yêu tinh này đã biết được mục đích của mình rồi Ông bực mình vứt bỏ cái gánh trên vai, dẫm chân bỏ đi để tìm cách khác trị con rết này Một ngày kia, có một lão
ăn mày đến bến tàu Đông Hưng Ông lão gầy trơ xương, áo thì rách nát, liêu xiêu đi về phía con thuyền Lão bảo với ông chủ tàu: “Xin nhờ đáp thuyền theo ngay đi cùng?” Ông chủ tàu vừa nghe xong thì đã mừng thầm trong lòng:
“Kiếm được thằng này đem nó nộp rết ăn” Nghĩ đến đây, chủ thuyền nhiệt tình hỏi han: “Ông muốn ăn gì tôi sẽ mua cho” Sau khi được sự đồng ý của ông chủ thuyền, ông nói: “Của ăn chú đừng phải lo, mua một lò rèn với quả bí ngô, xuống thuyền đốt lửa cho to, luộc cho chín thấu bí ngô tao cần.” Ông lão
ăn xin bèn đứng đợi ở bến thuyền cho đến sáng Hôm sau, trời vừa rạng đông thì tàu đã rời con sông Bắc Luân để tiến vào vùng biển Vịnh Bắc Bộ Khi đến gần động của con rết, ông lão ăn xin bảo thủy thủ trên tàu luộc quả bí đỏ khổng lồ đó, bảo tự nó sẽ có tác dụng khác Càng gần cái động, sóng càng to, con thuyền càng tròng trành Lúc đó, bỗng nhiên sóng gió giảm xuống, chỉ
Trang 20thấy con rết ấy từ động bơi lên mặt nước, miệng há to và dừng trước mũi thuyền đợi ăn thịt người Lão chủ tàu vội gọi: “ Ông lão ăn xin ơi…” Nói chưa dứt lời, lão chủ tàu đã giơ tay định đẩy ông lão ăn xin xuống biển Ông lão ăn xin xua tay bảo: “Khoan đã ông ạ, ông hãy lấy quả bí ngô luộc chín ấy cho tôi đã” Khi ông chủ thuyền vừa lấy quả bí ngô nóng rực ấy đưa cho lão, lão ăn mày khéo léo tay nhanh lập tức ném quả bí ngô nóng hực ấy vào cái miệng đang há sẵn chờ ăn của con yêu tinh Con yêu tinh ấy vừa nuốt quả bí xuống bụng thì nó bỗng kêu rống lên, tiếp đó là sóng gió hung dữ nổi lên làm cho con thuyền cũng bị tròng trành theo các đợt sóng Mọi người trên tàu ai cũng sợ xanh mắt, chỉ có lão ăn xin vẫn ngồi ở đó một cách bình thản và mãn nguyện Kể cũng rất lạ, bất chấp sóng to gió lớn đến mức nào, con thuyền vẫn không bị đắm Thì ra lão ăn xin tài giỏi ấy chính là do ông tiên hóa thành Con rết đó chỉ sau một lúc quay quanh thì đứt ra thành ba khúc: khúc đầu, khúc thân và khúc đuôi Ba khúc xác này bị cuốn xuống biển và biến thành “Tam Đảo” của dân tộc Kinh ngày nay, đầu của nó biến thành đảo Mú Thàu, thân của nó thì biến thành đảo Sơn Tâm và đoạn đuôi của nó đã trở thành đảo Vạn
Vĩ, tức là ba làng Mú Thàu, Sơn Tâm và làng Vạn Vĩ
Về sau dân làng Kinh mới biết đuợc ông tiên đó chính là Trấn Hải Đại Vương “Trên Tam Đảo dưới hải tài, đã thông trời đất lại hay việc người, việc
gì dân cầu ông ngay, lạy ông quyết đoán cho rày xin thưa…” Những lời hát này thể hiện sự kính nể của dân làng Kinh đối với Trấn Hải Đại Vương Ngay
Trang 21từ khi đó, ba làng đều lập đình chùa thờ cúng Trấn Hải Đại Vương (Truyền thuyết được dẫn từ truyện “Trấn Hải Đại Vương” do các cụ làng Vạn Vĩ là Nguyễn Trấn Dư, Đỗ Ngọc Quang, cụ làng Sơn Tâm là Nguyễn Kế Nho và các cụ làng Mú Thàu là Hà Tông Hi và Nguyễn Thành Quang v.v kể lại câu truyện Do ông Tô Vi Phương và Tô Khải thu tập, rồi do ông Tô Vi Phương,
Tô Khải và ông Khổng Kế Bân phiên dịch Ghi chú, các cụ nêu trên đều là các cụ đang làm ở đình làng và là những cụ cao tuổi hiểu biết được chữ Nôm)
1.2 Giới thiệu về người Kinh ở làng Mú Thàu
1.2.1 Làng người Kinh ở Mú Thàu
Bản đồ của làng Mú Thàu (Hình ảnh 1) Làng Mú Thàu là một trong những làng chủ yếu dân cư là người Kinh
ở thị trấn Giang Bình thuộc huyện Tự trị Đông Hưng TP Phòng Thành Cảng - Quảng Tây - Trung Quốc Làng được đặt tên hành chính là làng Mú Thàu vào
Trang 22năm 1952 cùng lúc với làng Vạn Vĩ và làng Sơn Tâm Tiếng Kinh là tiếng mẹ
đẻ của dân làng Làng được chia thành 7 tổ nhỏ, tổ một, tổ hai, tổ ba, tổ bốn,
và tổ bẩy, 5 tổ này đều sử dụng tiếng Kinh trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày, còn hai tổ còn lại là tổ năm và tổ sáu sử dụng tiếng Kinh song song với tiếng Bạch Thoại, bởi vì ở hai tổ ấy có rất nhiều “dâu làng ngoài” tới Theo kết quả điều tra nhân khẩu của Ủy ban làng Mú Thàu năm 2009, tổng dân số làng Mú Thàu là 1800 người Đạo giáo và Phật giáo là tín ngưỡng chủ yếu của người Kinh làng Mú Thàu Phong tục thờ cúng tổ tiên là một đặc sắc dân tộc đặc biệt của người Kinh ở Trung Quốc, mỗi khi gặp ngày lễ ngày tết, mồng một ngày rằm hàng tháng người Kinh đều làm lễ thờ cúng gia tiên, người Kinh tin rằng, người chết nhưng linh hồn vẫn sống, sống xung quanh
họ, phù hộ họ
Hát Tết (哈节), tức là lễ hát, được tổ chức vào ngày mồng một đến ngày mồng mười tháng tám âm lịch hàng năm Hát Tết là ngày lễ truyền thống lớn nhất của người Kinh làng Mú Thàu, Hát Tết tức là ngày lễ kỷ niệm ngày sinh của Hải Thần Ông Người kinh làm ngư nghiệp, nhờ biển, tín ngưỡng Hải Thần Hàng năm đến ngày lễ dân làng đều tập trung ra miếu để đón Hải Thần về đình làng cúng bái, cầu nguyện trong vòng mười ngày, và tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí khác để ca ngợi công ơn của các vị thần thánh
Dân tộc Kinh có bộ trạng phục truyền thống riêng của mình, đó là áo
Trang 23dài, giống như bộ áo dài truyền thống của dân tộc Kinh Việt Nam Nhưng vì một số nguyên nhân khách quan, áo tứ thân ở làng Mú Thàu, hay nói một cách chung là áo dài của dân tộc Kinh Trung Quốc không phát triển, kiểu dáng vẫn giữ nguyên như áo dài ngày xưa, đơn giản rất nhiều so với áo dài hiện đại của Việt Nam Hiện nay, áo dài chỉ có mặt trong những buổi Hát Tết
Đàn bầu là nhạc cụ truyền thống của làng Mú Thàu, đàn bầu còn có tên là Độc Huyền Cầm, là loại nhạc cụ đàn một dây, gảy bằng que hoặc miếng gảy Đàn có hai loại là thân tre và đàn hộp gỗ Những bài hát tiếng Kinh xưa nay hầu hết đều có sự tham gia của đàn bầu, nó có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống vui chơi giải trí của người Kinh
Đàn hộp gỗ (Hình ảnh 2)
Với vị trí địa lý ven biển của làng, dân làng chủ yếu làm ngư nghiệp là chính, chăm nuôi các loại hải sản, còn nông nghiệp là phụ, thuộc loại hình văn hóa kinh kế hỗn hợp giữa ngư nghiệp với lúa nước nông nghiệp Và chính vì thế người Kinh có phong tục tập quán dùng nước nắm, đó là món đặc sản của làng Và hiện nay, cùng với những bước tiến của quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Việt Nam, đa số dân làng với ưu thế biết nói tiếng Kinh đã
Trang 24làm kinh tế ngoại thương đi lại với Việt Nam
1.2.2 Đôi nét khác biệt của làng người Kinh ở Mú Thàu với hai làng Vạn
Vĩ và Sơn Tâm
Mú Thàu, Sơn Tâm và Vạn Vĩ là ba làng người Kinh tập trung nhất ở Trung Quốc Về mặt hành chính ba làng đều thuộc thị trấn Giang Bình – Huyện tự trị Đông Hưng Trung Quốc Ba làng có vị trí địa lý tương đối gần nhau, và có phong tục tập quán, ngôn ngữ tiếng nói tương đối giống nhau Ba làng có cùng nguồn gốc với nhau, có nguồn văn hóa như nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, và cùng nhau tạo nên nền văn hóa dân tộc Kinh Trung Quốc, cùng nhau phát triển, tiến bộ trong xã hội hiện nay
Tuy thế, giữa chúng vẫn còn một số nét khác biệt nhau Chẳng hạn như thời gian tổ chức lễ Hát Tết, làng Vạn Vĩ được tổ chức ngày mồng 9 tháng 6 âm lịch, làng Mú Thàu là mồng 1 tháng 8 và làng Sơn Tâm là mồng
10 tháng 8 âm lịch Thực chất, ba làng có những nét phong tục tập quán tương đối giống nhau Chúng chỉ có chút khác biệt nhau về ngữ âm, chẳng hạn như cách xưng hô, chúng tôi sẽ làm rõ điều này qua bảng so sánh sau đây:
Bảng so sánh cách xưng hô giữa ba làng (Bảng 1):
LMT
TK LST
TK LVV
Ghi chú
1 Ông /ʔoŋ¹/,/koŋ4/ /ʔoŋ¹/ /ʔoŋ¹/
Trang 252 Bà /ba2 /, /ma4/ /ba2 / /ba2 /
3 Bác gái /ba4/ /ba4/ /ba4/
TK LVV
Trang 267 Hoa /fa¹/ /fa¹/ /hwa¹/
8 Vú /bu4/ /bu4/ /bu4/
9 Chuyện /tien5/ /tien5/ /tien5/, /cien5/
10 Thuyền /t’ien2/ /hien2/ /t’ien2
/ Thực chất, nếu muốn xét về đôi nét khác biết của ba làng Kinh tộc này, thì chỉ có thể thông qua tiếng nói, vì tiếng nói rất tinh tế, có thể tiến hành việc
so sánh mà cho chúng ta nhận xét một cách rõ ràng hơn, nhưng nếu so sánh
về phong tục tập quán thì rất khó, vì ba làng về mọi mặt ấy đều tương đối như nhau, mặc dù có sự khác biệt, nhưng vẫn chỉ là một chút xíu, không đáng kể
Và tiếng nói của ba làng về cơ bản thì cũng đại thể giống nhau, tất nhiên, chúng cũng có một số từ khác nhau, một nguyên nhân dễ thấy nhất là vì chịu mức ảnh hưởng của tiếng Bạch Thoại khác nhau, đặc biệt là về xưng hô, chẳng hạn như “ông” - /koŋ4/; “mẹ” - /nen¹/; bà - /ma4/; “bố - /co4
/,/pa4/… được nêu trong Bảng 1, đều có sự tham gia của tiếng Bạch Thoại
Trang 271.3 Giới thiệu tình hình nghiên cứu tiếng Kinh ở Trung Quốc
1.3.1 Tình hình nghiên cứu tiếng Kinh
Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, trong tình trạng cuộc sống vật chất tương đối ổn định ngày nay, nhà nước Trung Quốc càng ngày càng coi trọng việc bảo hộ, giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số ít người và các loại ngôn ngữ đang ở bờ bên mất đi; coi trọng những di sản phi vật chất của các dân tộc và cố gắng hết sức giữ gìn, kế thừa
và phát triển chúng Ngay từ năm 2003, chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu khởi động Công trình giữ gìn văn hóa dân gian các dân tộc, còn được gọi là Công trình giữ gìn di sản văn hóa phi vật chất Trung Quốc Ở Trung Quốc, tình hình nghiên cứu tiếng Kinh khá tốt, khá đầy đủ Dân tộc Kinh với vai trò
là một dân tộc thiểu số trong đại gia đình các dân tộc ở Trung Quốc, có nguồn gốc và văn hóa đặc biệt Tiếng Kinh là tiếng mẹ đẻ của người Kinh, được dùng để giao tiếp hàng ngày với các anh em người Kinh Và tiếng Bạch Thoại
là ngôn ngữ thứ hai của người Kinh, Bạch Thoại được sử dụng tương đối phổ biến với người Kinh, nó có vai trò quan trọng đối với người Kinh khi giao tiếp với các dân tộc khác ở lân cận Hiện nay, tiếng Kinh không còn được
“thuần Kinh” như ngày xưa nữa, nó đã pha trộn với Bạch Thoại, ngoài từ vựng cơ bản ra, hầu hết từ vựng văn hóa đã bị Bạch Thoại thay thế Vậy, việc nghiên cứu, thu tập, giữ gìn và phát triển tiếng Kinh là việc cấp bấc nhất đối với việc giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc Kinh
Trang 28Các nhà nghiên cứu, học giả Trung Quốc đã đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu tiếng Kinh, đồng thời đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể với những bài phát biểu, những cuốn sách nghiên cứu khá chuyên nghiệp về tiếng Kinh, chẳng hạn như:
1 Tác giả : Lý Viễn Long:
a “Cuốn Kinh Tộc - Thực lục gia đình các dân tộc Trung Quốc”, NXB nhân dân Vân Nam, Trường Đại học Vân Nam, 12-2003
b “Trung Quốc Dân tục chí – Kinh tộc chí”, NXB Đại học Dân tộc Trung ương Trung Quốc, 12-2003
2 Tác giả: Ngàn Kỳ Hương, Chu Trực Chí
- “Ngôn ngữ dân tộc Mạnh Cao Miên và Ngữ hệ Nam Á Trung Quốc”, NXB trường Đại học Dân tộc Trung ương Trung Quốc, năm 1995
3 Tác giả: Ủy ban Nghiên cứu Ngôn ngữ và văn tự của các dân tộc thiểu số Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây:
- “Từ vựng ngữ âm phương ngữ ngôn ngữ các dân tộc Quảng Tây”, NXB Dân Tộc Quảng Tây, 08-2008
- “Hiện trạng sử dụng và công việc cứu trợ văn hiến chữ Nôm Kinh Tộc, trích từ “Sự kế thừa và phát triển văn hóa Kinh tộc – Luận văn tập của hội thảo luận nghiên cứu văn hóa Kinh tộc TP Phòng Thành Cảng”, NXB Nhân dân Quảng Tây, năm 2008
4 Tác giả: Trần Tăng Dự
Trang 29- “Tập Sử ca Nôm chữ Kinh Tộc”, NXB Nhân dân, 2007 v.v
5 Tác giả: Hàn Khởi Minh
- “Kinh Tộc”, NXB Dân Tộc, bản in lần thứ nhất, năm 1992
6 Chủ biên: Phù Đạt Thăng, Quá Trúc
- “Kinh tộc Phong tục chí”, NXB Học viện dân tộc Trung ương Trung Quốc, 05-1993 in lần thứ nhất
7 Tác giả: tổ biên soạn “Kinh tộc giản sử”
- “Kinh tộc giản sử”, NXB Dân tộc Quảng Tây, 03-1984 in lần thứ nhất
8 Tác giả: Vi Mậu Phồn, Vi Thụ Quan:
- “So sánh chữ Nôm dân tộc Kinh Trung Quốc với chữ Nôm dân tộc Kinh Việt Nam” trích dẫn từ tập thứ năm của cuốn sách “Nghiên cứu ngôn ngữ Quảng Tây” NXB Đại học Sư phạm Quảng Tây, 12-2008
9 Tác giả: Vi Thụ Quan
- “Sự khác biệt giữa chữ Nôm Trung Quốc với chữ Nôm Việt Nam” trích từ “Luận văn tập của Hội thảo luận nghiên cứu giảng dạy ngôn ngữ văn hóa và nghiên cứu học thuật quốc tế Trung Quốc – Việt Nam Đông Á và Đông Nam Á lần thứ hai”, NXB trường Đại học Quốc gia Hà Nội Việt Nam, năm 2009
10 Tác giả: Vi Thụ Quan
- “Hội nghị sơ thảo về việc giảng dạy song ngữ Kinh - Việt”, trích từ
Trang 30“Luận văn tập của hội thảo luận nghiên cứu học tập song ngữ quốc tế lần thứ năm, NXB Dân tộc Quảng Tây, năm 2007
Những bài phát biểu hay những cuốn sách nghiên cứu nêu trên chỉ là một trong những kết quả nghiên cứu tiếng Kinh điển hình, ngoài ra còn rất nhiều thành quả nghiên cứu xuất sắc khác nữa, chẳng hạn như cuốn sách
“Kinh ngữ nghiên cứu” của tác giả Vi Thụ Quan năm 2009, NXB Nhân Dân Quảng Tây, ông chủ yếu nghiên cứu về sự biến dị của tiếng Kinh Trung Quốc, ông hướng về nghiên cứu tiếng Kinh ở làng Vạn Vĩ, mà đề tài của tôi cũng nghiên cứu về sự biến dị của tiếng Kinh Trung Quốc, nhưng khác với ông là tôi hướng về nghiên cứu tiếng Kinh ở làng Mú Thàu
1.3.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu
Chúng tôi rất vui mừng khi được nhà nước Trung Quốc và các nhà nghiên cứu, học giả v.v quan tâm tới ngôn ngữ văn hóa dân tộc Kinh Chúng tôi khẳng định những kết quả nghiên cứu của họ Nhưng với tư cách là người bản ngữ và trang bị có kiến thức ngôn ngữ học, chúng tôi cho rằng những thành tựu nghiên cứu này vẫn chưa đủ, chưa hoàn chỉnh
Theo chúng tôi được biết những tài liệu nghiên cứu, hoặc phỏng vấn hoặc ghi âm, hầu hết đều được thu tập tại làng Vạn Vĩ với lý do là làng có dân
số người Kinh đông nhất trong cả ba làng và một số nguyên nhân khác nữa Nhưng chúng tôi cho rằng như thế là chưa đủ, bởi vì khi nghiên cứu ngữ âm
Trang 31tiếng Kinh lấy tiếng Kinh làng Vạn Vĩ làm chuẩn thì sẽ rất hạn chế khi nghiên cứu tiếng Kinh của người Kinh chung ở Trung Quốc Bởi vì ngữ âm tiếng Kinh của ba làng vẫn có sự khác nhau, chẳng hạn như bảng phỏng vấn như sau (Bảng 3):
LMT
TK LST
TK LVV
Ghi chú
1 Khỏe /fɛ³/ /χwɛ³/ /χwɛ³/
TK LST
và TK LVV có sự tồn tại của
âm vị /χ/, còn TK LMT thì không có
5 Trống /toŋ4/ /toŋ4/ /toŋ4/
6 Nhuộm /zuom¹/ /zuom¹/ /zuom¹/,
/ɲuom¹/
7 Chết /cit4/ /cet4/ /cet4/
8 Viết /biet4/ /biet4/ /biet4/,
/viet4/
9 Cơm /kum¹/ /cɤm¹/ /kum¹/
10 Giầy /zăj2
/ /haj2/ /haj2/ Theo các ví dụ trên, ta có thể thấy được tiếng Kinh của ba làng có sự biến thể khác nhau, như: khỏe - /fɛ³/; sách - /hăt4/, /t’ăt4/; cơm - /kum¹/, v.v và
bị ảnh hưởng của Bạch Thoại rất sâu xắc, chẳng hạn như: giầy - /haj2/, /haj2/
Trang 32là tiếng Bạch Thoại,
Nhìn một cách tổng quát về tình hình nghiên cứu tiếng Kinh tại Trung Quốc là tương đối đầy đủ Tất nhiên vẫn còn một số cái chưa đạt được, chúng tôi mong rằng trong tương lai sẽ đầy đủ hơn, hoàn chỉnh hơn nữa
Trang 33- Lý do học viên cao học ngôn ngữ học là người Kinh làng Mú Thàu
2.1.2 Âm tiết trong tiếng Kinh làng Mú Thàu
2.1.2.1 Thanh điệu
Thanh điệu là đơn vị siêu đoạn tính có chức năng khu biệt nghĩa Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi được biết, trong hệ thống ngữ âm tiếng Kinh làng Mú Thàu có 5 thanh điệu, đó là thanh 1 (thanh bằng / thanh không dấu
“a” - /a¹/ ), thanh 2 (thanh huyền “à” - /a²/ ), thanh 3 (thanh ngã “ã” - /a³/ ), thanh 4 (thanh sắc “á” - /a4/ ), và thanh năm (thanh nặng “ạ” - /a5/ Có thể diễn đạt như sau (Bảng 4):
Trang 34Nghi số Dấu Tên gọi Ghi chú
Trang 35Kinh làng Mú Thàu, chúng tôi sử dụng phương pháp phân xuất thanh điệu trong bối cảnh đồng nhất, như những bảng so sánh dưới đây (Bảng 5):
STT
Bối cảnh ngữ âm đồng nhất (Ghi chú: Cách phát âm của TK LMT được phiên âm bằng phiên
âm quốc tế và nghĩa biểu thị bằng TV)
Âm vị phân xuất
1
/kɔ1/: co /kɔ2/: cò
1 – 2 / t’aw1/: sao / t’aw2/: sào
2
/muoj1/: muôi /muoj 3/: muỗi
1 – 3 /ma1/: ma /ma3/: mã
3
/ʔoŋ1/: ông /ʔoŋ4/: ống
1 – 4 /lin1/: linh /lin4/: lính
4
/dan1/: đan / dan5/: đạn
1 – 5 /din1/: đinh /din5/: định
2.1.2.1.2 Thanh 2 (thanh huyền)
Thanh huyền là một thanh thuộc âm vực thấp, nó thấp hơn một 1 quãng so với thanh bằng Đường nét âm điệu bằng phẳng hơi đi xuống thoai thoải Đường nét của thanh huyền được biểu hiện như một biểu đồ như sau:
Trang 36Ví du: 强 /kaŋ²/ “càng”; 婆 /ba²/ “bà”; 尼 /năj²/ “này”;
âm quốc tế và nghĩa biểu thị bằng TV)
Âm vị phân xuất
1 /dɤˇw2/: đầu /dɤˇw1/: đâu
2 - 1 / t’ɤˇn2
/: thần /t’ɤˇn 1
/: thân
2 /moj2/: mồi /moj3/: mỗi
2 – 3 /naw2/: nào /naw3/: não
3 /ban2/: bàn /ban4/: bán 2 – 4
Hình 2
Trang 37/noj2/: nồi /noj4/: nối
4 /kɤˇn2/: cần /kɤˇn5/: cận
2 – 5 /bie 2/: bìa /bie 5/: bịa
2.1.2.1.3 Thanh 3 (thanh ngã)
Thanh ngã xuất phát gần ngang với cao độ xuất phát của thanh huyền Thanh được bắt đầu ở âm vực thấp nhưng kết thúc ở âm vực cao Căn cứ vào tính lịch sử và quy tắc của từ láy trong hệ thống ngữ âm, thanh ngã được coi
là thanh thuộc âm vực thấp Đường nét thanh điệu không bằng phẳng, trắc và gãy
Trang 38STT
Bối cảnh ngữ âm đồng nhất (Ghi chú: Cách phát âm của TK LMT được phiên âm bằng phiên
âm quốc tế và nghĩa biểu thị bằng TV)
Âm vị phân xuất
1 /ŋa3/: ngã /ŋa1/: nga
3 - 1 / kɯɤ3/: cửa /kɯɤ1/: cưa
2 /mo3/: mổ /mo2/: mồ
3 – 2 /baw3/: bão /baw2/: bào
3 /ho3/: hổ /ho4/: hố
3 – 4 /mɤ3/: mỡ /mɤ4/: mớ
4 /bɤˇn3/: bẩn /bɤˇn5/: bận
3 – 5 /ŋie3/: nghĩa /ŋie 5/: nghịa
2.1.2.1.4 Thanh 4 (thanh sắc)
Thanh sắc là thanh thuộc âm vực cao, đường nét âm điệu không bằng phẳng, trắc nhưng không gãy Thanh sắc bắt đầu gần như thanh bằng, cao độ xuất phát chỉ thấp hơn thanh bằng một chút với âm điệu bằng ngang ở đoạn đầu, sau đó âm điệu đi lên theo hướng thẳng và kết thúc ở âm vực cao hơn thanh bằng Trong những âm tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc vô thanh (/ t, k,
c, ʔ/ ), đường nét âm điệu của nó vút lên ngay từ đầu, trường độ rút ngắn
Trang 39(Ghi chú: Cách phát âm của TK LMT được phiên
âm bằng phiên âm quốc tế và nghĩa biểu thị bằng
TV)
Âm vị phân xuất
1 /cɔ4/: chó /cɔ1/: cho
4 - 1 / zɯɤ4/: dứa /zɯɤ1/: dưa
2 /taj4/: tái /taj2/: tài
4 – 2 /caw4/: cháo /caw2/: chào
3 /kwa4/: quá /qwa3/: quả 4 – 3
Trang 40/kuj4/: cúi /kuj3/: củi
4 /căp4/: cắp /căp5/: cặp
4 – 5 /măt4/: mắt /măt 5
/: mặt
2.1.2.1.5 Thanh 5 (thanh nặng)
Thanh nặng là một thanh điệu thuộc âm vực thấp, có đường nét không bằng phẳng, trắc không gãy Nó được bắt đầu gần với mức cao ban đầu của thanh huyền, đường nét bằng ngang rồi chuyển xuống nhanh, đột ngột
âm quốc tế và nghĩa biểu thị bằng TV)
Âm vị phân xuất
1 /zɤˇj5/: dậy / zɤˇj1/: dây 5 - 1