1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ebook nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ âm tiếng việt thực hành cho học viên quốc tế phần 1 nguyễn chí hòa

91 566 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích chính của chuyên khảo này là lựa chọn những kiến thức cơ bản về ngữ âm tiếng Việt làm tiền đề cho việc áp dụng vào việc giảng dạy phát âm, rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngôn

Trang 1

NGUYỄN CHÍ HÒA

NéI DUNG Vµ PH¦¥NG PH¸P

GI¶NG D¹Y NG÷ ¢M TIÕNG VIÖT ThùC HµNH

CHO HäC VI£N QuèC TÕ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

2

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1: ÂM THANH NGÔN NGỮ

NHƯ MỘT PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP

7 1.1 Những đặc trưng cơ bản của âm thanh ngôn ngữ 7 1.2 Nội dung cơ bản trong giảng dạy ngôn ngữ âm thanh 15 1.3 Những vấn đề lý luận trong phương pháp giảng dạy ngôn ngữ

âm thanh

26

Phần thứ hai NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NGÔN NGỮ ÂM THANH TIẾNG VIỆT

33

2.1 Tính tất yếu của việc giảng dạy phát âm 33 2.2 Những vấn đề đặt ra và cách tiếp cận trong giảng dạy ngữ âm 35

4.1 Những nhận thức chung về hệ thống âm vị phụ âm 79 4.2 Đặc trưng của các âm thanh phụ âm tiếng Việt 83

6.1 Những nhận thức chung về thanh điệu 101

Trang 4

4

8.2.1 Quan hệ giữa ngữ điệu với các bình diện khác của câu nói 150 8.2.2 Ngữ điệu và cấu trúc thông tin trong tiếng Việt 153 8.2.3 Ngữ điệu và ngữ pháp trong câu nói tiếng Việt 158 8.2.4 Ngữ điệu và cấu trúc đề - thuyết trong tiếng Việt 162

9.1 Những nhận thức chung về phát âm và chính tả 190 9.2 Những đặc trưng có tính quy luật của phát âm và chính tả tiếng Việt191

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn sách “Nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ âm tiếng Việt thực hành cho học viên quốc tế” bàn về nội dung, phương pháp

giảng dạy phát âm, rèn luyện kỹ năng tiếp thụ và sản sinh ngôn ngữ

âm thanh tiếng Việt cho học viên quốc tế Đây là cuốn sách được viết phục vụ cho đối tượng là giảng viên, sinh viên học tập tiếng Việt như một ngoại ngữ và những người quan tâm đến lĩnh vực này

Mục đích chính của chuyên khảo này là lựa chọn những kiến thức

cơ bản về ngữ âm tiếng Việt làm tiền đề cho việc áp dụng vào việc giảng dạy phát âm, rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ âm thanh Phần nội dung có tính lý thuyết được dựa vào những kết quả nghiên cứu của Đoàn Thiện Thuật, Cao Xuân Hạo và những tác giả khác… Đồng thời, người viết cũng trình bày một vài kết quả nghiên cứu của mình

Vấn đề cách thức giảng dạy phát âm và tương tác bằng ngôn ngữ

âm thanh được dựa trên kết quả nghiên cứu có tính chất lý luận và những kinh nghiệm thu lượm được từ thực tế làm nhiệm vụ giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ của nguời viết trong hơn 30 năm qua Điều được đặc biệt chú ý trong tập tài liệu này là những ý tưởng và kỹ năng điều hành lớp học Khi khảo sát nội dung và phương pháp giảng dạy các đơn vị ngữ âm, tập tài liệu này chú ý đến ba vấn đề: (1) Những nét chung về các đơn vị được bàn, nhằm nhìn nhận các đơn vị này ở những nét khái quát có tính phổ niệm ngôn ngữ; (2) đặc trưng của các đơn vị đó trong tiếng Việt Đây là một sự miêu tả các đơn vị ngữ âm có tính đặc thù của tiếng Việt, và (3) cách thức giảng dạy các đơn vị đó

Từ mục đích và nội dung nói trên, cuốn sách này gồm hai phần: Phần 1: Cơ sở lý luận

Phần 2: Nội dung và phương pháp giảng dạy các đơn vị âm thanh tiếng Việt

Trang 6

6

Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, chúng tôi xin chân thành cảm

ơn Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội

đã giúp đỡ chúng tôi trong việc cho ra đời cuốn sách này Chúng tôi

xin chân thành cảm ơn GS.TS Hoàng Trọng Phiến, GS.TS Mai Ngọc Chừ, PGS.TS Nguyễn Văn Phúc đã đọc bản thảo và cho những nhận xét quý báu

Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 2013

PGS.TS Nguyễn Chí Hòa

Trang 7

1.1 Những đặc trưng cơ bản của âm thanh ngôn ngữ

Trong các cộng đồng ngôn ngữ hiện đại, thường có hai loại hình giao tiếp cơ bản: giao tiếp bằng âm thanh, giao tiếp bằng ký tự Để đề xuất một cách có sức thuyết phục các kỹ năng giao tiếp bằng âm thanh mang tính chất phương pháp thì buộc phải nghiên cứu quan hệ giữa giao tiếp khẩu ngữ và giao tiếp bằng ký tự Tìm hiểu sự giống nhau và khác nhau cũng như sự tác động tương hỗ giữa hai loại hình này là một yêu cầu có tính chất bắt buộc Nó là cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu những bước sâu hơn trong việc rèn luyện kỹ năng nói và kỹ năng nghe, vì toàn bộ vấn đề này có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trên quan niệm mô tả đầy đủ các hiện tượng của giao tiếp ngôn ngữ cũng như đối với phương pháp giảng dạy ngôn ngữ

Vậy, giữa giao tiếp bằng âm thanh với giao tiếp bằng ký tự có những đặc trưng nào giống và khác nhau?

Điểm giống nhau chung nhất giữa hai hình thức nói và viết là, cả hai hình thức này đều mang đặc trưng chung; chúng đều là hình thức

có tính vật lý của các yếu tố cấu thành các đơn vị giao tiếp hay nói một cách chính xác hơn là, chúng đều là các sản phẩm ký hiệu hoặc

âm thanh hoặc ký tự Tuy nhiên, chúng có sự khác nhau mà sự khác nhau này có liên quan đến tất cả các ký hiệu có tính chất trừu tượng

Trang 8

8

Sản phẩm ký hiệu âm thanh nói có hình thức vật lý ở dạng các dao động của không khí trong biên độ của các tần số mà tai người có thể nghe được Các dao động này có đặc điểm là hoàn toàn không ổn định, thể hiện ở hai khía cạnh: trước hết, khi người ta ngừng nói thì các dao động âm thanh tắt ngay sau đó, và thứ hai là chúng giảm cường độ đi rất nhiều tuỳ theo khoảng cách kể từ điểm người nói phát

ra Từ đây có thể suy ra, các tính chất quan trọng nhất của giao tiếp bằng âm thanh và có định hướng cụ thể cho việc sản sinh và tiếp nhận các âm thanh ngôn ngữ Những đặc điểm giao tiếp bằng âm thanh đặt

ra những vấn đề dưới đây về giao tiếp và giảng dạy lời nói

Vấn đề thứ nhất là tính không lặp lại của âm thanh ngôn ngữ Người Việt thường nói "lời nói gió bay" để khẳng định một đặc trưng của giao tiếp khẩu ngữ là không một ai có thể lấy lại lời nói của mình,

có nghĩa là, trừ các phương tiện kỹ thuật thì một khi âm thanh giao tiếp đã bay vào không khí thì không còn cách nào quay trở lại đoạn

âm thanh với tư cách là sản phẩm của tín hiệu ngôn từ Điều đó dẫn đến một hậu quả là người nghe một ngoại ngữ khó mà tìm lại được nghĩa của những phát ngôn, nếu anh ta không nắm vững được các ký hiệu âm thanh đã được nghe qua một lần để tìm nghĩa Người nghe chỉ

có thể dựa vào trí nhớ của mình để lưu lại một đoạn ngắn sau cùng của sản phẩm tín hiệu âm thanh Sản phẩm tín hiệu âm thanh có tính tuyến tính; tức là, những mẩu âm thanh cứ liên tục thay nhau xảy ra theo trình tự kế tiếp của thời gian

Vấn đề thứ hai là vấn đề tốc độ truyền các tín hiệu âm thanh Việc truyền và nhận các thông báo nói bằng âm thanh phải được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ và một tốc độ tương đối cao Nếu như giảm tốc độ một cách quá mức trong quá trình truyền thông báo thì người nghe không có khả năng bao quát toàn bộ cấu trúc của nó Khi người nói đi đến phần cuối của phát ngôn thì người nghe rất dễ đã quên mất phần đầu của phát ngôn đó rồi Tốc độ truyền nhanh đem lại hậu quả khác trong việc học ngoại ngữ là người nghe không kịp “sắp xếp” để hiểu các sản phẩm ký hiệu âm thanh, vừa mới nhận được thì

nó đã vội vàng biến mất, nghĩa là, không kịp phân định và tri nhận ý nghĩa của phát ngôn đó

Vấn đề thứ ba là, khoảng cách giữa những người đối thoại Điều này phụ thuộc vào tiếng ồn nhiều hay ít Nếu không dùng các phương

Trang 9

tiện kỹ thuật để kích to âm thanh của người nói thì cần phải có khoảng cách gần cần thiết về không gian giữa người nói và người nghe Khi có nhiễu - những tiếng ồn từ bên ngoài với mức độ cao thì khoảng cách giữa những người giao tiếp càng phải gần hơn Khoảng cách giao tiếp, theo một số nhà khoa học, là không nên xa hơn một mét, tuy nhiên trong các trường hợp thuận lợi có thể đến hàng chục mét

Vấn đề thứ tư là tích luỹ hay bảo tồn những âm thanh giao tiếp Do tính không ổn định của giao tiếp cho nên việc bảo tồn, tích lũy thông tin, phổ cập thông tin đến các thành viên của tập thể ngôn ngữ và việc

để lại thông tin từ thế hệ này sang thế hệ sau gặp nhiều khó khăn Một số vấn đề được nêu ra ở trên của giao tiếp bằng âm thanh được xem như là những hạn chế và nhược điểm của nó Trong số nhược điểm cần phải kể thêm là khối lượng thông tin do cơ quan thích giác nhận được trong mỗi giây đồng hồ là rất nhỏ

Các phương tiện liên lạc hiện đại được sáng tạo ra trong mấy chục năm trở lại đây đã cho phép vượt qua những hạn chế ấy ở một mức độ nhất định và trong những hoàn cảnh nhất định bằng cách ứng dụng các hệ thống tự động, mã hoá lại các tín hiệu âm thanh thành tín hiệu khác, ổn định và thuận lợi hơn để phổ cập Chẳng hạn, sự không

ổn định của sản phẩm ký hiệu âm thanh có thể vượt qua được một phần nhờ vào các thiết bị ghi âm và giới hạn phổ cập của nó được mở rộng rất nhiều nhờ vào sự liên lạc bằng kỹ thuật điện, điện thoại và hiện nay là kỹ thuật số Các phương tiện kỹ thuật đã mở rộng khả năng giao tiếp bằng âm thanh rất nhiều trong hiện tại và tương lai, tuy nhiên, hiện nay còn có những trở ngại chưa loại trừ hết được những hạn chế của nó

Giao tiếp bằng âm thanh ở dạng nói trực tiếp đã trải qua hàng nghìn năm nay Và nó là phương tiện trao đổi thông tin duy nhất giữa người và người Nhưng khi mà sản xuất bắt đầu phát triển nhanh và giao tiếp bằng âm thanh thực sự không tương xứng với nhu cầu giao tiếp ngày càng lớn của con người, giao tiếp trở thành vấn đề thời sự thì một hình thức giao tiếp mới xuất hiện - giao tiếp viết, là loại giao tiếp cho phép khắc phục những nhược điểm của giao tiếp bằng lời nói Mặc dầu vậy, giao tiếp bằng ngôn ngữ âm thanh có một loạt các ưu điểm mà ta cần chú ý:

Trang 10

10

1 Đối với giao tiếp nói trực tiếp thì không cần một thứ trang bị nhân tạo nào - nó tồn tại một cách tự nhiên bằng các bộ máy giao tiếp

có sẵn trong cơ thể con người

2 Chính vì nguyên nhân đó và cũng do tốc độ của việc truyền miệng cao hơn nhiều so với truyền viết, cho nên chỉ có giao tiếp bằng

âm thanh mới có thể đáp ứng được sự phản xạ bằng lời đối với những hoàn cảnh luôn thay đổi của cuộc sống và giúp cho các cuộc thoại đư-

ợc thực hiện nhanh chóng và thoải mái

3 Các thông báo bằng ngôn ngữ nói bao giờ cũng hàm chứa nhiều thông tin mỹ cảm và thông tin ngoại ngôn hơn là các ký hiệu viết Điều đó là do tính có trước của ngôn ngữ nói ở khía cạnh cội nguồn Đứa trẻ học ngôn ngữ âm thanh “từ sữa mẹ” và đã quen với độ hàm súc tình cảm của nó, mà ở giai đoạn đầu của sự phát triển của con người, nó còn vượt cả nội dung ngữ nghĩa của thông báo Điều đó còn được tăng cường hơn nhiều nhờ vào tính biến thể của ngữ điệu, cho phép truyền đạt một tập hợp không giới hạn các cung điệu tình cảm - tình thái của thông tin ngữ nghĩa

Lẽ dĩ nhiên, ngôn ngữ nói là công cụ chủ yếu và duy nhất của đứa trẻ trong giao tiếp đối với người lớn trong mấy năm liền khi bắt đầu hình thành cá tính của đứa trẻ, và do đó nó mang nhiều thông tin ngoại ngôn hơn là thứ ngôn ngữ viết ít nhiều phi “cá tính” và chỉ có trong văn học mới phản ánh cá tính của người truyền

4 Còn một điều quan trọng nữa là tư duy của con người sử dụng một cách tự nhiên những hình tượng của các tín hiệu ngôn ngữ nói hơn

là của ngôn ngữ viết Điều này lại cũng chỉ có thể giải thích được bằng

sự có trước của ngôn ngữ nói trong sự phát triển tư duy của đứa trẻ Những đặc điểm vừa kể trên đây của giao tiếp bằng âm thanh và viết xảy ra từ sự khác nhau cơ bản của hình thức vật lý của các tín hiệu sử dụng, và do đó đã xác định “sự phân công lao động” giữa các thể loại của giao tiếp ngôn ngữ rất đặc trưng cho các tập thể ngôn ngữ hiện đại

Ngôn ngữ âm thanh rất thuận tiện cho việc phục vụ các tình huống thay đổi nhanh của cuộc sống, trong việc biểu hiện tình cảm và tiếp nhận thông tin ngoại ngôn, nó thống lĩnh trong môi trường các

Trang 11

quan hệ gia đình - sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ Nó được sử dụng chủ yếu cho các nhu cầu của giao tiếp ngôn ngữ có định hướng

Ngôn ngữ viết làm nhiệm vụ đảm bảo các hoạt động tri thức và xã hội của con người, phổ biến thông tin hàng ngày và các sáng tạo văn học Nói cách khác, nó phục vụ chủ yếu cho giao tiếp phi định hướng

Sự phân công chức năng này giữa giao tiếp bằng âm thanh và bằng ký tự không hoàn toàn tuyệt đối Một mặt, các phát kiến và liên lạc vô tuyến điện cho phép sử dụng rộng rãi ngôn ngữ nói vào việc định hướng trong tất cả ba loại thông tin chủ yếu (thông tin sự kiện, tri thức, thẩm mỹ) Ngoài ra, giao tiếp nói trực tiếp (không dùng phương tiện kỹ thuật) từ lâu được ứng dụng trong lĩnh vực giảng dạy và thông báo khoa học (các báo cáo và phát biểu khoa học, cũng như trong đời sống chính trị)

Một mặt khác, ngôn ngữ viết được ứng dụng trong môi trường gia đình - sinh hoạt (thư từ) trong những trường hợp, vì lý do gì đó không tiện dùng giao tiếp nói (có người ngoài) hoặc không thực hiện được (ở xa mà không có điện thoại)

Và mặc dù có một sự trùng lặp nào đó về chức năng, sự “phân công” giữa các hình thức nói và viết của giao tiếp ngôn ngữ có tính chất cơ bản và lâu dài

Sự thống lĩnh của ngôn ngữ nói trong dòng định hướng và ngôn ngữ viết trong dòng không định hướng trong giao tiếp đã dẫn đến sự khác nhau trong việc phân bổ vai trò của người truyền và người nhận giữa các thành viên của tập thể ngôn ngữ tham gia vào hai hình thức giao tiếp nói trên Trong giao tiếp bằng âm thanh, mỗi cá nhân lần lượt giữ vai trò của người truyền và người nhận Trong giao tiếp viết khả năng nhận của con người cao hơn khả năng sản sinh, vì sự sản sinh ra các thông báo viết hiện nay là công việc của một phần nhỏ của các thành viên trong cộng đồng ngôn ngữ

Giao tiếp bằng âm thanh và giao tiếp bằng ký tự có quan hệ tương

hỗ với nhau

Một số vấn đề khá thời sự của ngôn ngữ học và phương pháp dạy ngoại ngữ chưa được nghiên cứu đầy đủ là vấn đề tác dụng tương hỗ giữa các ngôn ngữ âm thanh và chữ viết trong giao tiếp Bổ sung vào

lỗ hổng đó, chúng tôi đã khảo sát mối quan hệ này trong một chuyên khảo khác

Trang 12

12

Vài mươi năm gần đây, có một quan niệm khá rộng rãi cho rằng, ngôn ngữ viết chỉ đóng vai trò phụ như một mã thứ yếu (và không hoàn chỉnh) của ngôn ngữ âm thanh, do đó, trong các hành động giao tiếp bằng ký tự nhất định phải có sự chuyển mã từ các ký hiệu âm thanh ra ký hiệu chữ viết (ở đầu truyền) và từ ký hiệu chữ viết ra ký hiệu âm thanh (đầu nhận) Từ quan niệm ấy, người ta đi xa hơn đến những kết luận rằng đối tượng chân chính của ngôn ngữ học dạy tiếng

là nắm cho được các thói quen của ngôn ngữ nói

Cũng cần nói rằng hệ thống quan niệm này hoàn toàn ngược lại với quan điểm trước đây Sự xuất hiện hai quan niệm ngược nhau này không có gì là khó hiểu Quan niệm cho rằng ngôn ngữ viết là thống soái, là kết quả của sự phát triển ngôn ngữ khoa học, xuất hiện từ đầu thế kỷ 19 ở dạng mô tả so sánh các ngôn ngữ viết cổ đại (La tinh, cổ

Hy Lạp, Xanerit, Cốt v.v.), mà về các tương liên âm thanh của chúng chỉ dựa vào những giả thuyết ít nhiều gắn với sự thật Các nhà ngôn ngữ cho rằng ngôn ngữ nói hiện đại là “con đẻ” của các ngôn ngữ cổ đại mà những dấu vết còn lại là các tác phẩm bằng chữ viết Còn đối tượng của phương pháp dạy ngoại ngữ trong mấy thế kỷ liền là ngôn ngữ La tinh viết và sau nó là ngôn ngữ Hy Lạp cổ Nếu như trong khi học, người ta cố gắng học nói bằng các ngôn ngữ chết ấy thì đó chỉ là công việc mang tính chất thứ yếu và điểm xuất phát vẫn là ngôn ngữ viết được mã hoá thành thông báo âm thanh Và sức mạnh của truyền thống lớn đến nỗi, sau đó, khi người ta bắt đầu tổ chức dạy các ngôn ngữ sống (sinh ngữ) thì đối tượng chính ở đây lại cũng chỉ là ngôn ngữ viết Truyền thống này vẫn thể hiện ở chỗ các cố gắng dạy ngôn ngữ nói vẫn dựa vào các bài viết lấy từ sách, báo, tiểu thuyết, ngay cả những giáo trình dạy tiếng mới mẻ nhất hiện nay cũng làm như vậy

Về sau này, tuy hơi muộn màng nhưng các nhà ngôn ngữ, đã nghiên cứu và mô tả cơ chế của giao tiếp ngôn ngữ âm thanh một cách nghiêm túc Dĩ nhiên, đối tượng chủ yếu của việc nghiên cứu bây giờ

là ngôn ngữ âm thanh, là thứ ngôn ngữ có “uy tín” cao hơn so với ngôn ngữ viết không phải chỉ trên khía cạnh nguồn gốc ngữ văn (ngôn ngữ âm thanh đã tồn tại hàng trăm nghìn năm, còn chữ viết thì mới chỉ xuất hiện hai ba nghìn năm nay trên cơ sở của ngôn ngữ nói, còn việc phổ cập rộng rãi của ngôn ngữ viết chỉ mới có trong thời đại của chúng ta) mà cả trên khía cạnh nguồn gốc phát sinh và tiến hoá (mỗi

Trang 13

chúng ta đã học nói tiếng mẹ đẻ từ khi còn thơ ấu, còn ngôn ngữ viết thì chậm hơn và trên cơ sở ngôn ngữ nói”) Sự tập trung chú ý vào ngôn ngữ nói của các nhà ngôn ngữ cũng còn nhờ vào những thành tựu của ngữ âm học, là một ngành đầu tiên của ngôn ngữ học đã mô tả được các quy luật cấu trúc có ý nghĩa bậc nhất trong giao tiếp

Sự chuyển hướng nghiên cứu của ngành Ngôn ngữ học vào ngôn ngữ âm thanh được phản ánh ngay vào phương pháp dạy ngoại ngữ, nhất là trong những năm gần đây Tuy vậy, sự tăng cường nghiên cứu ngôn ngữ nói còn có những nguyên nhân của nó: Sự phát triển như vũ bão của các phương tiện truyền thông, các biến chuyển trong đời sống kinh tế và xã hội đã làm tăng nhu cầu giao tiếp viết và cả nói lên rất nhiều Sự xuất hiện phương pháp “trực tiếp” là phản ứng gay gắt nhất đối với sự thống lĩnh lâu dài của ngôn ngữ viết trong trường học, là sự

“xem thường” giao tiếp bằng viết ở dạng cực đoan mặc dù không thể xem nhẹ vai trò to lớn của nó (ngôn ngữ viết) trong xã hội hiện đại Các nhà nghiên cứu phương pháp giảng dạy ngoại ngữ trên thế giới đã cho rằng, sự học tập “mã thứ yếu” sẽ đạt được rất dễ dàng, nếu như

“mã chủ yếu” được nắm chắc

Cũng nên lưu ý rằng, những người nói ngôn ngữ bình thường lại giữ một quan niệm trung gian giữa giao tiếp nói và viết Do chỗ có sự tương ứng giữa hệ thống ký hiệu của âm thanh và ký tự Họ xem hai

hệ thống này chỉ “là một và chỉ một"

Sự tồn tại của những quan niệm mâu thuẫn nhau về sự tác động tương hỗ của giao tiếp nói và viết đòi hỏi chúng ta phải trở lại vấn đề này Chúng ta có đầy đủ các dẫn liệu để nói lên “tính độc lập” của hai hình thức giao tiếp này mặc dù vẫn công nhận những mối liên hệ chặt chẽ và tác dụng tương hỗ giữa chúng Tính độc lập của ngôn ngữ nói rất rõ ràng: Trong hàng chục ngàn năm nay, ngôn ngữ nói là phương tiện trao đổi thông tin duy nhất và đồng thời là công cụ hình thành và hoạt động của tư duy Kinh nghiệm cho thấy rằng có thể hoàn toàn nắm vững ngôn ngữ nói mà không cần biết đến chữ viết, tức là “mù chữ” theo cách hiểu thông thường, hàng vạn người mù chữ thuộc các thế hệ trước cách mạng tháng Tám vẫn tiến hành giao tiếp thông thường mà không hề biết phương tiện giao tiếp bằng các ký tự

Trang 14

14

Còn tính độc lập của ngôn ngữ viết thì khó thấy hơn nhưng có thể chứng minh và bác bỏ lý luận về vai trò “mã thứ hai” của nó Những bằng chứng của luận điểm này như sau:

Không thiếu dẫn chứng để chứng minh rằng một người hoàn toàn không thể giao tiếp được bằng ngôn ngữ nói nhưng có thể đọc và viết tiếng nước ngoài khá trôi chảy Như thế, bất cứ một cá nhân nào cũng

có thể nắm được việc đọc và viết tiếng nước ngoài mà hoàn toàn không cần biết đến hình thức âm thanh của nó Điều này là không bình thường đối với tiếng mẹ đẻ nhưng lại rất bình thường khi học tiếng nước ngoài bằng các phương pháp truyền thống cũng như khi tự học ngoại ngữ bằng sách thông qua đọc

Những người đọc được sách bằng tiếng nước ngoài nhưng không nói và hiểu được nó là chuyện thường tình Rất nhiều người lúc đầu học viết rồi sau đó mới học nói tiếng nước ngoài Và trong khi làm như vậy thì khả năng viết lại không liên hệ gì với khả năng nói cả Chẳng hạn tốc độ đọc nhẩm và chất lượng phát âm hoàn toàn không tương ứng với nhau - chẳng hạn sinh viên nước ngoài đọc tiếng Việt

và hiểu nó không mấy khó khăn nhưng khi họ nghe và viết bằng tiếng Việt thì sự nhầm dấu là hiện tượng rất phổ biến Sự tương ứng tương đối giữa âm thanh và các ký tự trong tiếng Việt là một điều dễ thấy Nhưng những sai lạc về nghe chính tả và viết lại của sinh viên thì vấn

đề dấu trở thành vấn đề mà sinh viên nào cũng kêu là khó khăn Nhưng khi họ đọc hiểu một văn bản thì lại không có mấy khó khăn

Từ kết quả những điều vừa trình bày ta có thể rút ra những kết luận bổ ích sau đây cho phương pháp dạy ngôn ngữ

Các loại hình viết và nói của giao tiếp ngôn ngữ là độc lập với nhau, mặc dù chúng có mức độ tương ứng nhất định, cho phép chuyển

từ hệ thống trao đổi thông tin này sang hệ thống thông tin kia

Vì mỗi cá nhân có thể tạo ra ngôn ngữ viết của mình cho nên giao tiếp viết bắt đầu cuộc sống độc lập được nảy mầm từ giao tiếp nói Nó

là loại giao tế có trước giao tiếp viết về mặt xã hội và trong đại đa số các trường hợp cả về mặt cá nhân cũng như vậy

Vấn đề về trọng lượng của giao tiếp ngôn ngữ nói và viết và tác dụng tương hỗ giữa chúng trong quá trình dạy ngôn ngữ phải được giải quyết không phải với một khuôn đúc cho sẵn về vai trò tuyệt đối

Trang 15

của loại hình giao tiếp này hay nọ mà phải xuất phát từ những nhiệm

vụ giao tiếp và dạy ngoại ngữ cụ thể cũng như từ các điều kiện dạy học cụ thể

Khi dạy ngôn ngữ nói và viết cần phải lưu ý đầy đủ đến đặc thù của hai hình thức trao đổi thông tin này, mối quan hệ và tác dụng giữa chúng Trên cơ sở những nhận thức có tính lý luận như trên, phần này sẽ giải quyết vấn đế cơ bản: Nội dung và phương pháp giảng dạy các đơn

vị âm thanh tiếng Việt

1.2 Nội dung cơ bản trong giảng dạy ngôn ngữ âm thanh

Âm thanh ngôn ngữ gồm những thành tố nào?

Trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, công việc đầu tiên cần tiến hành là giảng dạy phát âm Vậy thì, những đặc điểm nào là đặc điểm cơ bản của việc giảng dạy ngôn ngữ âm thanh nói chung và giảng dạy phát âm nói riêng Dưới đây chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi này

Để nghiên cứu bất kỳ một vật thể nào đó và xem nó hoạt động như thế nào thì việc phân tích vật thể đó thành những bộ phận khác nhau, tức là trả lời câu hỏi nó gồm những những thành tố nào, là một việc luôn luôn hữu dụng Sơ đồ dưới đây chỉ ra những thành tố chính của âm thanh ngôn ngữ mà hầu như ngôn ngữ nào cũng có1

1 Thanh điệu là đặc trưng của một số ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, một số ngôn ngữ vùng Đông Nam Á…

Trang 16

16

Các âm vị (đơn vị đoạn tính)

Có nhiều cách định nghĩa về âm vị, nhưng có một định nghĩa đáng chú ý cho rằng “âm vị là đơn vị nhỏ nhất của hệ thống biểu đạt thành tiếng của một ngôn ngữ được quan niệm như một tổng thể các nét khu biệt được thể hiện đồng thời”.1

Âm vị là phân đoạn nhỏ nhất của âm thanh dùng để cấu tạo nên sự phân biệt giữa các cách phát âm Mặc dù có những khác biệt nhỏ trong những âm đặc biệt có tính cá nhân nhưng chúng ta có thể vẫn miêu tả được mỗi âm được sinh ra như thế nào Khi xem về mặt ý nghĩa, chúng ta thấy việc sử dụng một âm này thay thế cho một âm khác có thể làm thay đổi ý nghĩa của từ Ví dụ, từ “khóc” trong tiếng Việt, nếu thay đổi âm vị

ở giữa bằng âm vị |a| thì chúng ta có một từ hoàn toàn khác: “khóc” khác với “khác”

Nếu người ta phát âm “kh” trong tiếng Việt có một sự khác biệt chút ít thì từ vẫn không thay đổi và chúng ta vẫn hiểu được rằng chúng chỉ ý nghĩa của cùng một vật Để tạo ra một sự tương ứng, những sự nhận thức có tính cá nhân có thể thay đổi về mặt lý thuyết (có nghĩa là khái niệm "xanh" của bạn có thể không đồng nhất hoàn toàn đối với tôi), nhưng chúng ta đều hiểu rằng chúng ta nghĩ giống nhau về cùng một sự vật, hiện tượng hay quá trình Chúng ta đều cùng thấy ánh sáng đèn mầu xanh và hiểu ý nghĩa của chúng và phân biệt được nó khác với ánh sáng đèn màu đỏ như thế nào

Các âm thanh có thể là vô thanh; có thể là hữu thanh Các âm thanh hữu thanh xảy ra khi mà dây thanh trong thanh quản bị rung lên

Có thể biết một âm nào đó là vô thanh hay hữu thanh bằng việc đặt một hoặc hai ngón tay vào yết hầu Nếu đang sản sinh ra một âm thanh hữu thanh thì chúng ta sẽ cảm thấy một sự chuyển động Nếu đang sản sinh ra một âm vô thanh thì chúng ta sẽ không thấy "quả yết hầu" chuyển động Thí dụ, sự khác biệt giữa /f/ và /v/ có thể được cảm nhận bằng sự khác biệt khi đặt răng hàm trên vào vào môi của hàm dưới rồi thở ra một dòng liên tục Làm như thế chúng ta đã sản sinh ra /f/ Sau đó, thêm thanh vào để tạo ra âm /v/ Có nghĩa là làm cho “quả táo Adam” của chúng ta rung động

1 Đoàn Thiện Thuật (1977 tr.49), Ngữ âm tiếng Việt, NXB ĐHVTHCN

Trang 17

Một bộ âm vị gồm có hai loại: Những âm thanh nguyên âm và những âm thanh phụ âm Tuy nhiên, hai bộ âm vị này không phù hợp một cách hoàn toàn với những nguyên âm và phụ âm mà chúng ta quen dùng trong bảng chứ cái A,B,C Tất cả những nguyên âm (âm thanh của nguyên âm) đều là hữu thanh, và có thể là nguyên âm đơn (giống như /a/ trong /ta/ của tiếng Việt và /et/ trong /let/ của tiếng Anh; hoặc là một sự liên kết bao hàm sự chuyển động từ âm thanh của một nguyên âm đối với một nguyên âm khác, như “iê” trong từ “liên” của tiếng Việt hoặc /ei/ như trong từ “late” của tiếng Anh Sự liên kết như thế tạo ra nguyên âm đôi (diphthong) Một thuật ngữ nữa còn được sử dụng là nguyên âm ba (triphthongs), nó được miêu tả như sự liên kết của ba nguyên âm (giống như /auƏ./ trong “our” hoặc

“power” trong tiếng Anh Nguyên âm có thể là ngắn (như /i/, như trong “hit” hoặc, /i:/ trong “heat” trong tiếng Anh.Người ta thường dùng ký hiệu /:/ để đámh dấu một âm dài

Các âm thanh phụ âm có thể là hữu thanh và có thể là vô thanh

Đặc trưng của các đơn vị siêu đoạn tính

Âm vị là đơn vị âm thanh mà chúng ta có thể phân tích hay chiết đoạn ra được Chúng được biết như là những đoạn âm, còn những đặc trưng siêu đoạn tính, như tên gọi thường được sử dụng của nó có những đặc trưng mà trong đó áp dụng cho một nhóm các âm đoạn, hoặc âm vị Những đặc trưng quan trọng đó là đặc trưng của những đơn vị siêu đoạn, đó là trọng âm và ngữ điệu, và chúng ta cần tìm hiểu xem những

âm thanh thay đổi như thế nào trong một lời nói được nối kết

Thông thường, trong một số ngôn ngữ, chẳng hạn như tiếng Anh, các từ có hơn một âm tiết Và do đó, cần phải tính tới việc phát âm các trọng âm từ Trong việc giảng dạy các từ rời, theo đó, điều quan trọng

là người ta phải dạy trọng âm từ cho người học Thông thường, một

âm tiết trong một từ nổi hơn so với một âm tiết khác, chẳng hạn như

“Paper”, hoặc “Bottle” Những trọng âm này của từ thường được xác

định trong từ điển Do vậy, vấn đề đặt ra là, trong tiếng Việt có trọng

âm từ hay không? Vấn đề này sẽ được đề cập trong các phần sau của chuyên khảo

Với việc hướng đến nghiên cứu các phát ngôn, chúng ta cần phân tích và dạy ngữ điệu, cũng như trọng âm câu, mặc dầu những đơn vị

Trang 18

18

này có thể khá khó khăn để nhận diện và miêu tả chúng theo thời gian Trọng âm tạo ra nhịp lời nói Một hoặc nhiều từ trong mỗi phát ngôn được lựa chọn bởi người nói như là có giá trị nhấn mạnh và như thế, tạo ra một hoặc hơn một điểm nổi bật đối với người nghe Một mặt khác, ngữ điệu là cách mà trong đó giọng nói lên cao và xuống thấp trong một dòng âm thanh của một phát ngôn nào đó (Khi thảo luận về lời nói, thuật ngữ phát ngôn hoặc câu nói được sử dụng tốt hơn là khái niệm câu, khi nó biểu thị một ngữ đoạn bao gồm cả những câu không hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp và có những cách khác nhau để nói về cùng một câu)

Trọng âm của phát ngôn và những mô hình ngữ điệu thường được liên kết lại để biểu thị ý nghĩa trong giao tiếp Ví dụ trong phát ngôn:

[1] Bạn sống ở đâu? Thì ngữ điệu của phát ngôn sẽ được biểu thị

như dưới đây:

[1]

Bạn sống ở đâu?

Nghĩa là, ở phần cuối của phát ngôn tiếng Việt sẽ được phát âm cao hơn so với phần đầu Cường độ của tiếng nói sẽ cao dần lên và đỉnh của nó là từ “đâu”

Nhưng điều này đối với tiếng Anh lại không hẳn như vậy Trong

phát ngôn “Where do you live?” [2] được bắt đầu từ cao và xuống

thấp ở đoạn cuối

[2]

Where do you live?

Nhưng ở trường hợp câu hỏi lại lần thứ hai [3] thì tình hình cũng

Trang 19

Mỗi từ trong ngữ đoạn “anh sống ở đâu” của ví dụ [3] được phát

âm hoàn toàn ngang nhau

Những phát ngôn trong ví dụ [4] dưới đây thể hiện trọng âm có thể có vai trò trong việc tạo sắc thái nghĩa (những chữ cái viết hoa biểu thị trọng âm):

[4]

Cho tôi một ly nước CAM Anh uống gì ?

Cho tôi một LY nước cam Anh uống ly hay uống hộp?

Cho tôi một ly NƯỚC cam Anh muốn mua cam quả hay cam vắt?

Đặc trưng sinh lý của phát âm

Các giảng viên cũng cần xem xét các âm thanh mà con người sử dụng một cách linh hoạt Việc nghiên cứu đặc trưng sinh lý của việc phát âm cho phép chúng ta sử dụng được những âm đó Tất cả chúng

ta đều sử dụng cùng một bộ phận để sản sinh ra những âm thanh quen dùng Một bộ các âm thanh mà chúng ta thụ đắc được, có thể khác nhau; một đứa trẻ trong môi trường nói tiếng Việt sẽ phát triển âm vị tiếng Việt; một đứa trẻ sinh ra trong môi trường nói tiếng Anh sẽ phát triển các âm vị của tiếng Anh, một đứa trẻ nói tiếng Pháp sẽ phát triển một bộ âm vị khác Chúng ta cũng có thể học được những giọng khác nhau theo những cách khác nhau: Một đứa trẻ nói tiếng Anh sẽ học sử dụng những mẫu trọng âm và những mẫu ngữ điệu phù hợp còn một đứa trẻ nói tiếng Việt sẽ học cách sử dụng các thanh điệu để tạo ra những ý nghĩa khác nhau với cùng một bộ âm thanh

Đối với một nội dung cơ bản về âm thanh ngôn ngữ, chúng ta sẽ học cách sử dụng các bộ phận cấu âm theo những cách thức mới để sản sinh ra những âm thanh của ngôn ngữ đích - một ngoại ngữ mà tạm quên đi những âm thanh của ngôn ngữ riêng của chúng ta - ngôn ngữ mẹ đẻ, không phù hợp với ngoại ngữ đó Nhưng dường như, sau thời trẻ con thì khả năng tiếp nhận và sử dụng một bộ âm thanh không quen thuộc bị hạn chế một cách đáng kể

Trang 20

20

Con người có những cơ quan giúp ta phát âm ra các âm thanh ngôn ngữ nói chung Trong thanh quản của người có hai cái vành co giãn (có thể đàn hồi) Khi thở thông thường cũng như trong khi sản sinh ra những âm thanh vô thanh thì dây thanh mở Khi cái gờ của dây thanh đóng lại thì luồng khí đi qua giữa chúng làm cho chúng rung lên tạo ra sự rung Cường độ của âm thanh đó hoặc cao hoặc thấp được kiểm soát bởi các cơ

Người ta thường sử dụng các môi, lưỡi, răng ngạc cứng và ngạc mềm, hàm răng để tạo âm thanh Khoang mũi tạo ra những âm thanh cơ bản và sự chuyển động của khoang miệng thấp hơn cũng đóng vai trò quan trọng Các âm được phát ra khi dòng không khí được cản, được phát triển hoặc được định hướng Chúng ta sẽ xem xét một số đặc điểm sinh học của các nguyên âm và các phụ âm tại các phần dưới đây

Cách phát âm các âm vị

Cách phát âm các nguyên âm

Các nguyên âm được sinh ra khi dòng không khí được phát thành

âm qua sự chuyển động của các dây thanh trong thanh quản và sau đó được định âm bằng việc sử dụng lưỡi và sử dụng môi để xác định hình dáng toàn bộ của miệng Hãy so sánh một số âm vị nguyên âm trong hai sơ đồ nguyên âm trong tiếng Việt và tiếng Anh dưới đây:

Âm vị nguyên âm tiếng Việt gồm những đơn vị dưới đây:

Bảng hệ thống nguyên âm tiếng Việt 2

Trong tiếng Anh có các loại nguyên âm:

1 Nguyên âm đơn (Đơn âm)

2 Ngôn ngữ.net

Trang 21

Việc phân loại nguyên âm đơn dựa trên bốn khía cạnh chính là:

[1] Độ cao của lưỡi - theo chiều đứng của lưỡi (các nguyên âm

cao, còn gọi là nguyên âm khép; các nguyên âm thấp, còn gọi là nguyên âm mở; nguyên âm trung - vừa khép vừa mở)

[2] Độ hướng về trước hay lùi về sau của lưỡi - theo chiều ngang

của phần cao nhất của lưỡi

[3] Độ tròn môi - môi tròn (hình chữ O) hoặc căng (không tròn)

khi phát âm

[4] Độ căng của các cơ quan cấu âm - liên quan đến độ căng cơ

quanh miệng khi phát các nguyên âm Căng và lơi được sử dụng để

mô tả mức độ căng cơ

Theo độ cao của lưỡi và độ hướng về trước hay lùi về sau của lưỡi, các nguyên âm tiếng Anh được mô tả như sau:

Nguyên âm sau

(thân lưỡi được kéo về sau)

Theo vị trí môi:

Các nguyên âm trước và giữa luôn không tròn môi

Các nguyên âm sau /uː/, /ʊ/, /ɔː/ thì tròn môi (/ɑː/ và /ɒ/ không

tròn môi)

Trang 22

22

Theo độ căng lơi của cơ:

Nguyên âm căng (được tạo do cơ căng nhiều): /iː/, /ɔː/, /uː/, /ɜː/,

/ɑː/ Độ dài nguyên âm căng có thể thay đổi và thường dài hơn nguyên

âm lơi

Nguyên âm giãn (được tạo do cơ căng ít): /ɪ/, /e/, /æ/, /ʊ/, /ɒ/, /ʌ/,

/ə/ Nguyên âm lơi thì luôn luôn ngắn

2 Nguyên âm đôi (nguyên âm lướt): âm bắt đầu từ một nguyên

âm đơn và chuyển sang một nguyên âm đơn khác, bao gồm:

/ɪə/, /əʊ/, /eə/, /eɪ/, /ɔɪ/, /aɪ/, /əʊ/ & /aʊ/”3

Hai bảng sơ đồ này là sự thể hiện của "không gian nguyên âm" ở phần trung tâm của miệng mà ở đó các âm nguyên âm được phát âm Nghiên cứu âm vị nguyên âm cần chú ý một số thuật ngữ "đóng"

"hơi mở" và “mở” biểu thị cho khoảng cách giữa lưỡi và vòm miệng;

“hàng trước” “hàng giữa” “ hàng sau”… biểu thị vị trí cho một phần của lưỡi; Vị trí của mỗi một âm vị thể hiện bằng độ cao của lưỡi và cũng như một phần của lưỡi được nâng lên

Chẳng hạn, trong tiếng Việt: Nguyên âm /i/ có đặc trưng cấu âm: đóng, dòng trước, không tròn môi Nguyên âm // là nguyên âm đóng, dòng giữa không tròn môi Nguyên âm /u/ là nguyên âm đóng, dòng sau, tròn môi Nguyên âm /e/ là nguyên âm có độ mở trung bình, dòng trước, không tròn môi Nguyên âm / / là nguyên dòng giữa, không tròn môi, độ mở trung bình rộng hơn / / hẹp hơn /a/ Nguyên âm /ε/

là nguyên âm mở, dòng trước, không tròn môi Nguyên âm /a/ là nguyên mở, dòng giữa, không trong môi Nguyên âm // là nguyên âm

mở, dòng trước, tròn môi

Trong tiếng Anh thì nguyên âm /i:/ trong “bead”” là nguyên âm đóng hàng trước được sản sinh khi mặt trước của lưỡi là bộ phận cao nhất, và gần với vòm miệng Nguyên âm /æ/ “hat” là nguyên âm mở hàng trước được sản sinh khi gốc của lưỡi ở phần cao nhất nhưng bản thân lưỡi ở vị trí thấp trong khoang miệng Nguyên âm / Ŋ /- “dog” là nguyên âm mở dòng sau được sản sinh khi gốc của lưỡi ở vị trị cao nhất, nhưng bản thân lưỡi ở

vị trí thấp trong khoang miệng Nguyên âm /u:/ -“foot” là một nguyên âm

3 https://sites.google.com/site/nguamvi/bai-giang/he-thong-am-vi-tieng-anh

Trang 23

đóng dòng sau, được sản sinh khi phần sau của lưỡi ở phần cao nhất,

nó gần với mái của vòm miệng

Phát âm các phụ âm

Phụ âm có thể là hữu thanh có thể là vô thanh Trong tiếng Việt, cách phát âm của phụ âm /p/ và phụ âm /b/ giống nhau Chúng thuộc nhóm phụ âm môi Chúng chỉ khác nhau ở chỗ luồng hơi sản sinh ra /p/ thì lớn hơn so với luồng hơi sản sinh ra /b/ Chính vì vậy, thuật ngữ mạnh (fortis), và yếu (weak) đôi khi được sử dụng là vì lý do như vậy Điều này có thể chứng minh bằng việc đặt một miếng giấy nhỏ, và tạo

ra hai âm này, tờ giấy sẽ rung mạnh đối với /p/ và khó chuyển động đối với /b/

Trong tiếng Anh, cách phát âm của /p/ và /b/ cũng rất giống nhau

và chỉ khác nhau ở chỗ /p/ thì vô thanh và /b/ thì hữu thanh

Đối với cách thức phát âm, đường đi của âm hữu thanh có thể là hoàn toàn bị đóng lại để cho không khí không thể đi qua; hoặc có thể nhờ sự khép lại của môi, lưỡi, hoặc thanh quản Việc nghe âm thanh tạo bởi luồng không khí đi qua là hoàn toàn có thể Hoặc như trong trường hợp các âm mũi, luồng không khí bị làm chệch đi để chuyển vào khoang mũi

ra theo kiểu bật hơi, tạo ra các âm /p/ và /b/

Tắc xát

(affricate)

Có một sự đóng kín hoàn toàn được tạo ra ở một số chỗ trong khoang miệng; ngạc mềm thì được nâng lên; áp suất luồng hơi đóng phía sau lại và sau đó được thả ra một cách chậm chạp hơn so với bật hơi, tạo ra các phụ âm /ʈ/ và //

Xát (fricative) Hai bộ phận cấu âm khép chặt lại với nhau Vì sự

chuyển động của không khí bị giữ lại nên khi phát ra hơi có thể nghe thấy tiếng, chẳng hạn như khi tạo

âm /f/ và /v/

Trang 24

24

Mũi (nasal) Hai môi khi đóng lại, hoặc lưỡi ép vào ngạc và ngạc

mềm thấp xuống, áp Suất luồng hơi thoát qua mũi tạo ra các âm /m/, /n/

Bên (lateral) Có một sự khép lại không hoàn toàn được tạo bởi

mặt dưới của lưỡi đối với phần lợi Luồng khí thoát

Âm môi (bilabial) Âm do hai môi nhấp lại phát ra gọi là âm

môi Trong trường hợp này, người ta sử dụng sự chuyển động khép lại của hai môi, thí dụ /p/, /m/ (tiếng Việt và tiếng Anh)

Âm môi răng

(labio - dental)

Sử dụng môi dưới và răng trên ví dụ: /f/; /v/ (tiếng Việt và tiếng Anh)

Âm lợi (alveolar) Mặt lưỡi đặt sát với lợi, thí dụ /t/, /s/

(tiếng Việt và tiếng Anh)

Âm vòm mềm (velar - âm

của lời nói phát ra bằng

cách đặt phần sau lưỡi vào

Trong tiếng Anh có âm răng được mô tả như sau:

Âm thanh phát ra nhờ chóp lưỡi

sát hoặc chạm vào răng của

hàm trên (âm răng - denttal)

Sử dụng chóp lưỡi sát với giữa hoặc gần với răng trên, thí dụ /θ/,/ð/

Trang 25

Ghi âm thanh chữ viết (chuyển mã)

Khi viết tiếng Việt, chúng ta dùng 16 chữ nguyên âm gồm: 13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi và 23 âm vị phụ âm

Trong một số ngôn ngữ, có mối quan hệ một - một giữa chính tả

và phát âm và cũng sẽ có một số ngôn ngữ không có quan hệ một – một giữa chính tả và phát âm

Việc thiếu quan hệ một - một giữa cách viết chính tả và phát âm trong tiếng Việt đặt ra cho người học rất nhiều khó khăn Những khó khăn mà cá nhân người học gặp phải là những khó khăn chủ yếu dưới đây:

- Ngôn ngữ thứ nhất (L1) của người học có thể có quan hệ một đối một giữa âm thanh và chính tả Khái niệm về mối quan hệ này trong tiếng Việt là mới đối với họ

- Ngay cả khi khái niệm như thế không phải là mới đối với người học thì họ cũng phải làm quen với những quan hệ chính tả - âm thanh mới

- Có những âm thanh mà việc liên kết các âm thanh đó với chữ viết trong ngôn ngữ thứ nhất không xảy ra như trong tiếng Việt

Có thể có những âm thanh và sự liên kết của âm thanh, được sử dụng trong tiếng Việt nhưng lại không xảy ra trong ngôn ngữ L1 của sinh viên

- Tiếng Việt có thể sử dụng mô hình trọng âm và ngữ điệu xa lạ đối với người học

- Tiếng Việt là thứ tiếng có thanh điệu Các âm vị thanh điệu là một hiện tượng xa lạ đối với người học

- Hiện tượng âm tiết vừa là tiếng vừa là từ là hiện tượng xa lạ với người học

Việc thể hiện các âm vị bằng con chữ đặt ra cho cả giảng viên và sinh viên phải tìm và luyện tập cách viết các từ và phát ngôn Điều này không khẳng định rằng giảng viên cần phải giới thiệu cho sinh viên của họ tất cả các ký hiệu âm thanh trong cùng một lúc Làm như thế là đi quá xa so với yêu cầu và làm cho sinh viên hoang mang, gây

ra khó khăn cho người học, và tốt nhất là chỉ giới thiệu những ký hiệu

âm thanh và ký tự khác nhau vào những lúc phù hợp Có thể gắn kết việc dạy các ký hiệu mới với các cuốn từ điển, khi đó, giảng viên có thể chỉ cho sinh viên thấy rằng những ký hiệu đã được sử dụng như

Trang 26

1.3 Những vấn đề lý luận trong phương pháp giảng dạy ngôn ngữ

Cách miêu tả phương diện âm thanh của ngôn ngữ với mục đích thực hành phải tính toán tới hai sự kiện tâm lý - ngôn ngữ: một là, ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ của người học; hai là đặc điểm của hệ thống chức năng của các đơn vị ngữ âm trong hoạt động lời nói của ngôn ngữ đích Do đó, ngữ âm học dạy tiếng cần phải chú ý đến hai mặt: một là đối chiếu ngôn ngữ đích với tiếng mẹ đẻ của sinh viên; hai là chức năng của các đơn vị trong ngôn ngữ đích

Chuyên ngành ngữ âm học tiếng Việt còn ít quan tâm một cách

có hệ thống đến những vấn đề ngữ âm học dạy tiếng Tuy nhiên, trong ngôn ngữ học hiện đại, người ta đã chú ý đến vấn đề này Chẳng hạn ở Nga, các nhà khoa học đã xây dựng được các nguyên tắc lý luận chung cho chủ đề này Các nguyên tắc lý luận về phân tích đối chiếu nhằm mục đích giảng dạy tiếng Nga như một ngoại ngữ được hình thành vào cuối những năm 50 của thế kỷ 20, trong các công trình của A.A.Reformatski và được thể hiện một cách xuất sắc trong các tác phẩm của nhiều nhà ngôn ngữ học và các nhà phương pháp luận Từ

đó, họ đã làm chủ các phương pháp giảng dạy tiếng Nga như một ngoại ngữ và các lý thuyết của họ đã được sử dụng trong lý luận và

Trang 27

thực tiễn giảng dạy cách phát âm tiếng Nga cho người nước ngoài và cho các dân tộc khác nhau trên lãnh thổ Xô Viết trước đây

Tính hệ thống, tính song ngữ của các công trình miêu tả đối chiếu, và các định hướng trong việc miêu tả các cặp đối lập và hệ thống tiếp xúc ngôn ngữ trong việc giảng dạy là nền tảng tạo ra và xác định các khuynh hướng phát triển lý luận và thực tiễn của việc giảng dạy cách phát âm trong các công trình nghiên cứu của Nga

Phương pháp đối chiếu trong việc giảng dạy phát âm đã đưa ra một cái nhìn rộng rãi hơn trong nhiệm vụ miêu tả thực nghiệm và nêu lên những yêu cầu đặc biệt đối với việc thực hiện các nguyên tắc nêu ra Trong các tác phẩm ngôn ngữ và phương pháp giảng dạy ngôn ngữ hiện đại thì việc xác định sự khác biệt của hai hệ thống ngôn ngữ được đặt ra như là mặt nội dung đáng chú ý đầu tiên, và ngữ âm học đối chiếu đã xác định nội dung chủ yếu là tìm kiếm sự khác biệt giữa ngôn ngữ mẹ đẻ của người học và ngôn ngữ đích

Luận điểm khẳng định rằng cách miêu tả đối chiếu trước hết cần phải được đi theo hướng xác định trật tự trước sau của các cặp đối lập

và nhận ra được sự khác biệt là một thuận lợi to lớn đối với lý luận và thực tiễn trong giảng dạy cách phát âm tiếng nước ngoài Chính sự khác nhau giữa các hệ thống đã tạo ra những sự khu biệt rõ ràng và cũng là những khó khăn nhất có tính chất nguồn cội cơ bản trong việc học tập ngôn ngữ thứ hai

Quá trình giảng dạy cách phát âm cần phải xác định các đối tượng lĩnh hội; các hiện tượng tương phản của hệ thống ngữ âm, và phải bảo đảm cách thức lĩnh hội những đối tượng này Nhận thức về phương pháp loại hình của hệ thống phân biệt giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích không cho phép chỉ đưa ra một nhận định kiểu: “Nói chung là giống nhau” Vì vậy, việc thể hiện sự tương đồng trong cấu trúc của hệ thống âm vị và sự khác biệt của hai hệ thống ngữ âm (Hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ đích và hệ thống ngữ âm tiếng mẹ đẻ của sinh viên) là rất quan trọng Chính vì vậy, trong chuyên khảo này luôn luôn có sự đối chiếu – dù không có tính hệ thống chặt chẽ với hệ thống ngữ âm tiếng Nga và tiếng Anh

Phân tích đối chiếu - trước hết là phân tích âm vị, mà phân tích

đối chiếu các âm vị thì cần phải định hướng “không phải với các âm

Trang 28

28

như là kết quả tất nhiên của hoạt động ngôn ngữ chủ động của người nói nào đó, mà là với hệ thống của các phạm trù các quy tắc được hiện thực hóa trong lời nói”4

Trong thực tiễn giảng dạy cách phát âm tiếng Việt cho người nước ngoài cũng như tiếng nước ngoài cho người Việt, các phạm trù ngôn ngữ bị đánh giá theo quan điểm chỉ tri nhận các quy luật và sản sinh lời nói trong ngôn ngữ đích Điều đó có nghĩa là mục đích của việc học tập là nắm được các hoạt động lời nói trong ngôn ngữ đích và các sự kiện tâm lý ngôn ngữ có liên quan tới ngôn ngữ đích, còn các phạm trù, các đặc trưng và các quy tắc của ngôn ngữ mẹ đẻ hầu như bị loại trừ

Các đơn vị ngữ âm hoàn toàn có thể được tách riêng ra trong việc miêu tả ngôn ngữ Các đơn vị này mang tính thống nhất về mặt tổ chức trong quá trình giao tiếp; vì vậy, việc so sánh - đối chiếu mang tính hệ thống vì mục đích giảng dạy là sự so sánh đối chiếu tạo ra các cặp đối lập có tính chất bắt buộc để nêu ra sự giống và sự khác nhau

có tính hệ thống để phục vụ mục đích giảng dạy thực hành Cụ thể hơn, để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ thực hành thì cần phân tích đối chiếu các mặt sau:

1) Sự đối lập ở cấp độ âm vị;

2) Sự đối lập ở cấp độ ngữ âm (cấu âm – âm học);

3) Giải pháp âm vị học được quan sát thấy qua các mối tương quan có tính âm học

Việc giảng dạy cách phát âm ngoại ngữ có nhiều khó khăn Khắc phục những điều này cần phải đạt được những tri thức chính xác về các đặc điểm cấu âm của các âm trong tiếng mẹ đẻ của người học, để

có thể sử dụng các đặc điểm đó làm chỗ dựa cho việc hình thành và phát triển khả năng phát âm tiếng nước ngoài Tuy nhiên, việc thiết lập những âm tương ứng như thế chỉ có ý nghĩa trong trường hợp: nếu

nó được dựa vào sự miêu tả có tính chất so sánh, mang giá trị âm vị học chính xác của các hiện tượng ngữ âm tương ứng5 Như vậy, sự so

4 Vinogradov,V.A - Những phương diện ngôn ngữ của việc dạy tiếng M.1972, tr.46

5 Gordina M.V.1973, Sử dụng tiếng mẹ đẻ của người học để nắm vững cách phát âm tiếng Nga trong quyển “Những vấn đề ngữ âm học lý luận và thực tiễn giảng dạy phát âm”, tr 214-215

Trang 29

sánh âm vị không mang mục đích tự thân, mà được sử dụng cho quá trình học tập ngoại ngữ

Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng

Khi giảng dạy cho người nước ngoài, chúng ta không thể miêu tả đặc trưng của một âm nào đó theo kiểu: [I] là nguyên âm khép - dòng trước - không tròn môi; mà phải xuất phát từ những âm tiết cụ thể

Rõ ràng là, đối với các cách miêu tả thực tế thì, các nghiên cứu ngữ âm - thực nghiệm có ý nghĩa to lớn, nó chỉ ra những thông tin về các thông số cấu âm - âm học của ngôn ngữ Ý nghĩa đặc biệt của quá trình miêu tả này cần được bổ sung bằng các tài liệu, tranh ảnh có tính trực quan và phim ảnh, cho phép thể hiện tính chất “động” của ngôn ngữ Thực tế cho thấy, những hình ảnh trực quan hữu dụng hơn nhiều

so với những cách miêu tả suông bằng lời nói của giảng viên

Ý nghĩa thực tiễn của các nghiên cứu ngữ âm - thực nghiệm được xác định ở chỗ trong chừng mực nào đó, các hiện tượng ngữ âm được nghiên cứu như là những sự kiện cơ bản của việc cấu âm duy nhất của ngôn ngữ, được khái quát lại

Khái niệm “cấu âm cơ bản” là đặc biệt quan trọng đối với ngữ âm học thực hành, đối với giảng dạy cách phát âm như một hoạt động trong lớp học Đối với hoạt động này thì động cơ của việc hoạt động cấu âm là làm sao cho sinh viên có thể phát âm chuẩn được những âm đang nghiên cứu Từ động cơ đó, việc miêu tả cách cấu âm các đơn vị

âm thanh có ý nghĩa to lớn Một trong những phương pháp để miêu tả các âm thanh ngôn ngữ là cho sinh viên quan sát cách cấu âm của các đơn vị cụ thể qua tranh ảnh, qua cách quan sát các cơ quan phát âm của giảng viên Như thế, khi học phát âm thì không chỉ là huy động hoạt động của các cơ quan thính giác mà nó còn huy động cả các cơ quan thị giác vào quá trình này

Tính thống nhất cấu âm cơ bản thể hiện bằng tính thống nhất của

hệ thống âm vị của ngôn ngữ: cấu trúc và chức năng của hệ thống âm

vị xác định các nét chính của cấu âm cơ bản

Kiến giải về cấu âm cơ bản như một phạm trù hoạt động, xuất hiện ở cấp độ của các đơn vị tâm lý ngôn ngữ chính – là các từ và câu

- và tất cả các âm vị của ngôn ngữ, xuất phát từ các nhu cầu giảng dạy

Trang 30

30

cách phát âm trong dạy ngoại ngữ Trong mối tương quan với các nhu cầu này, việc giải quyết vấn đề mối tương quan đặc biệt giữa ngữ âm

và âm vị (mối tác động qua lại tương hỗ) được đặt ra

“Tính tự trị về phương diện sinh lý của cách phát âm đã được chứng minh”, [Vinogradov, sđd, tr.45] Tính tự trị này là đặc trưng khách quan đối với quá trình lĩnh hội cách phát âm tiếng nước ngoài Tuy nhiên, trong mối quan hệ với phương hướng giao tiếp chung trong việc giảng dạy, các sự kiện ngữ âm, lời nói có ý nghĩa riêng, đặc biệt, nếu các sự kiện được xem xét không phải chỉ như các hiện tượng minh họa, mà như một mắt xích thống nhất của hệ thống cấu âm các âm vị Các dấu hiệu khu biệt và không khu biệt của âm vị được hiện thực hóa ở lời nói trong phạm vi hệ thống của sự chuyển động cấu âm,

có quan hệ và chế định lẫn nhau bởi tính tiết kiệm của quá trình sử dụng ngôn ngữ

Trong việc giảng dạy cách phát âm, có nhiều thông số cấp thiết khác nhau chỉ được phát triển trong lời nói Nhịp điệu - đặc điểm quan trọng của lời nói là một trong những điều cần yếu đó, được bao hàm trong số các tiêu chí hình thành các thói quen của ngôn ngữ âm thanh

Vị trí của tiếng Việt trong thế giới hội nhập hiện nay tạo ra những mối quan hệ đa dạng Đó là mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ của người học với tiếng Việt, mối quan hệ giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ thuộc vùng Đông Bắc Á, Đông Nam Á và đặc biệt là các ngôn ngữ cùng gốc với tiếng Việt

Trong quá trình giảng dạy đã xuất hiện những tình huống mà trong đó có thể có những nhóm học tập khác nhau được liên kết lại với nhau trên cơ sở những mối quan hệ đã được nêu trên; chẳng hạn, nhóm sinh viên các nước Đông Bắc Á, nhóm sinh viên các nước Đông Nam Á, nhóm sinh viên các nước khối Đông Âu, nhóm sinh viên các nước Tây Âu và Mỹ vv…

Liên quan tới điều này xuất hiện hiện tượng cần lưu ý là hiện tượng song ngữ và những hiện tượng phụ thêm trong việc hình thành giọng lơ lớ theo những kiểu cụ thể Người Trung Quốc, người Lào nói tiếng Việt chắc chắn có giọng khác với người Nga, người Mỹ nói tiếng Việt

Trang 31

Cần nhận thấy rằng, người dạy không chỉ cần chú ý tới tiếng mẹ

đẻ cụ thể của sinh viên mà còn cần chú ý tới một số ngôn ngữ của một nhóm ngôn ngữ nhất định hoặc phải tính toán tới các yếu tố ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đến ngôn ngữ đích Đó là bước phát triển tiếp theo của các nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu - so sánh, phục vụ cho

sự hình thành và phát triển phương pháp giảng dạy phát âm

Phân tích các lỗi phát âm

Tính đặc biệt của việc phân tích so sánh vì mục đích giảng dạy phát âm ngoại ngữ đòi hỏi phải bổ sung thêm các phương pháp phân tích các lỗi phát âm của người học

vị học vào việc dạy tiếng Những nội dung cơ bản ấy là:

1- Những đặc điểm chính của việc phát âm và phân biệt những đặc trưng cơ bản nhất của các âm vị và đặc trưng siêu đoạn tính của ngôn ngữ âm thanh

2- Những âm nguyên âm thường được miêu tả theo vị trí của lưỡi, và thường được chỉ ra bằng các sơ đồ

3- Trọng âm và ngữ điệu được miêu tả như là những đơn vị được làm nổi lên trong từ và phát ngôn Ngữ điệu được miêu tả dưới dạng lên giọng và xuống giọng như thế nào trong một phát ngôn

Phần tiếp theo chúng tôi sẽ xem xét kỹ hơn về những cách dạy khác nhau đối với việc phát âm trong lớp học và minh họa một số kiểu dạy ngữ âm trong lớp học ngữ âm tiếng Việt

Trang 32

32

Trang 33

Phần thứ hai

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

GIẢNG DẠY NGÔN NGỮ ÂM THANH

TIẾNG VIỆT

Chương 2

GIẢNG DẠY PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT

2.1 Tính tất yếu của việc giảng dạy phát âm

Một điều dễ thấy trong giảng dạy ngoại ngữ là nếu sinh viên phát

âm sai thì người nghe không thể hiểu Người ta sẽ không thể hiểu

được nếu một sinh viên nước ngoài nói: “Cho tôi một súp ngo” hoặc

“Cho tôi một đĩa long lon” Vấn đề đặt ra là làm thế nào để sinh viên

nước ngoài giao tiếp thành công Đó là một cơ sở để khẳng định tính tất yếu trong việc học tập phát âm

Một người học đọc sai một âm vị có thể gây khó khăn cho người nghe trong việc hiểu ngôn ngữ của anh ta Và một khi, anh ta nói mà người bản ngữ không hiểu thì điều này sẽ có thể làm nản lòng người học, mặc dù người học đó có sự tinh thông về ngữ pháp

và từ vựng nhưng lại rất khó khăn trong việc hiểu và được người bản ngữ hiểu

Việc sử dụng sai những thành tố siêu đoạn tính, chẳng hạn như trọng âm và ngữ điệu, thanh điệu cũng có thể gây ra vấn đề Chẳng hạn như chuỗi câu dưới đây được sản sinh ra bởi sinh viên Hàn quốc KoAra:

Trang 34

34

[Cá người Hàn lấn người viết đều ăn ba bứa một ngày… Người Hàn thường ăn sáng trong khoảng từ 7 giờ đến 8 giờ Người Việt ăn sáng sớm hơn người Hàn Người Việt thường ắn sáng khoảng từ sáu giờ đến bảy giờ rưới Các nông dân thức dạy từ sang sớm vì làm việc vào buổi chiều khó hơn buổi sáng]

Trong văn bản viết, sinh viên này có một số lỗi viết sai chính tả, đồng thời cô ta cũng có nhiều lỗi sai trong sử dụng thanh điệu Ngoài

ra, các âm tiết được phát âm ngang nhau, không có sự lên xuống giọng Tính chất nối kết giữa các liên từ “cả… lẫn” không được chú trọng phát âm phân biệt với các đơn vị khác Chúng được phát âm một cách không phân biệt với các thực từ Tuy nhiên, việc phát âm của sinh viên này không ảnh hưởng nhiều đến việc đoán nghĩa đối với các giảng viên quen với cách nói của người nước ngoài nhưng lại là một thách thức lớn đối với người Việt bản ngữ bình thường Chúng ta hãy xét một văn bản tiếp theo của sinh viên

[Ở Hàn quốc có nhìu ăn ún Dặc trưng của ăn ún Hàn Quốc là 3

cái Thứ nhất là món ăn chính Món ăn chính của người Hàn quốc là gao nhưng mà khác nhau với gao Việt Nam Gạo Hàn quốc ngắn và

có nhiều dầu Nhưng gạo Việt Nam là dai / day/ và ít dầu Thư hai là hương vị Hương vị của ăn ún Hàn Quốc bình thường là cay nùng, thứ

ba là tài liệu ăn uống Tài liệu ăn uống Hàn Quốc là rất nhiều nhưng

mà em nghĩ rằng “tại sao tài liệu ăn uống uống Hàn Quốc nhiều” Đó

là liên quan với lịch sử Hàn Quốc” Hàn quốc có nhiều chiến tranh cho nên không có món ăn thế thì người Hàn quốc tìm thức ăn khác.] Cách phát âm và cách dùng từ của sinh viên này đã gây ra khó khăn cho người nghe Cách phát âm các từ ghép liên hợp “ăn uống”

(ăn ún); việc phát âm các âm vị trong từ “dài” thành “day” và “dai” đã

làm cho người nghe không thể hiểu nổi Sở dĩ có thể hiểu được từ này

là do chỗ so sánh với từ đối lập với nó được nói ở trên (ngắn) Nhưng giả sử rằng không có ngữ cảnh thì việc hiểu đơn vị này sẽ như thế nào? Tại đây không chỉ có vấn đề giảng dạy phát âm các âm vị đặt ra

mà phát âm các từ ghép, ví dụ như “ăn uống” cũng đòi hỏi phải đặt ra vấn đề trọng âm từ cái mà vốn dĩ người ta thường lảng tránh và không chịu thừa nhận trong tiếng Việt có trọng âm từ

Trang 35

2.2 Những vấn đề đặt ra và cách tiếp cận trong giảng dạy ngữ âm

Có hai vấn đề cơ bản đặt ra đối với vấn đề giảng dạy ngữ âm Thứ nhất là có xu hướng sao nhãng trong việc giảng dạy ngữ âm Xu hướng thứ hai là không sao nhãng đối với việc giảng dạy ngữ âm nhưng lại chỉ chú ý đến những vấn đề cụ thể, những vấn đề trực tiếp nảy sinh trong lớp học hơn là chú ý đến một chương trình được hoạch định có tính chiến lược

Có một nghịch lý

Có một sự thật là, việc giảng dạy phát âm thường bị bỏ qua Việc các giảng viên bỏ qua việc giảng dạy ngữ âm không phải là do các giảng viên thiếu quan tâm tới ngữ âm mà cảm thấy hoài nghi cách dạy ngữ âm Họ không biết nên giảng dạy ngữ âm như thế nào Nhiều giảng viên có kinh nghiệm thú nhận rằng họ thiếu hiểu biết lý thuyết ngữ âm nói chung, lý thuyết dạy phát âm nói riêng và do đó, họ có thể cảm thấy cần thiết phải cải tiến những kỹ năng thực hành trong việc giảng dạy phát âm Chúng tôi đã được nghe sinh viên truyền nhau qua các thế hệ một câu chuyện sau đây: Có một giáo sư thỉnh giảng ở Việt Nam khi dạy ngữ âm tiếng Việt cho sinh viên Hàn Quốc, giáo sư này

đã dạy người nước ngoài như giáo sư đã dạy cho trẻ em Việt Nam: Giáo sư dạy họ học từ “viết” bằng cách yêu cầu sinh viên đánh vần vờ- iết- viết- sắc- viết Và không ít giảng viên trẻ dạy ngữ âm tiếng Việt theo lối đánh vần mà họ đã được học khi họ là trẻ con Mặc dầu

có một sự thật là những giảng viên ít kinh nghiệm và không được đào tạo có thể rất quan tâm đến vấn đề phát âm, nhưng mối quan tâm đến ngữ pháp và từ vựng được đặt ra trước tiên Những người học tiếng Việt như một ngoại ngữ thường thể hiện một thái độ hăng hái nhiệt tình đối với việc học phát âm Họ cảm thấy có một cái gì đó trong việc học tập ngữ âm có thể giúp cho họ giao tiếp tốt hơn Vì vậy, một điều

có tính nghịch lý là mặc dầu cả giảng viên và cả sinh viên đều quyết tâm học ngữ âm đến nơi đến chốn nhưng cả hai đều sao nhãng trong thực tế giảng dạy và học tập phát âm Vậy, giảng viên giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cần được trang bị những loại kiến thức gì Theo chúng tôi, các giảng viên khi dạy ngữ âm cần có:

- Một nền kiến thức tốt về ngữ âm học tiếng Việt;

- Những kỹ năng thực hành trên lớp;

Trang 36

36

- Phương tiện phục vụ cho những ý tưởng trong hoạt động giảng dạy và học tập của lớp học

Từ giảng dạy đối phó đến việc giảng dạy có kế hoạch

Có nhiều cách giảng dạy ngữ âm được tạo ra để đối phó với lỗi của sinh viên Việc giảng dạy có tính đối phó với từng trường hợp cụ thể như thế tất nhiên là hoàn toàn cần thiết và sẽ phải làm như vậy Những khó khăn về từ vựng và ngữ pháp cũng phát triển ở trong lớp học và các giảng viên cũng phản ứng theo cách đối phó Tuy nhiên, khi đi vào kế hoạch của một bài học hoặc thiết kế nó thành một chương trình, được bao phủ trên toàn bộ thời gian của khóa học, thì các giảng viên có khuynh hướng trước hết là quan tâm đến ngữ pháp

Từ vựng được xếp hàng ưu tiên theo sau ngữ pháp, những chủ đề về

từ vựng và cụm từ dài được đưa ra ở những chỗ thích hợp Nhìn vào một trang trong đa số các giáo trình sẽ thấy rằng chúng ta thường hướng những suy nghĩ của mình vào việc tổ chức ngôn ngữ dưới góc

độ cấu trúc ngữ pháp, dù có một vài xuất bản phẩm hiện nay yêu cầu phải có những phần tổ chức cho từ vựng Việc tạo ra những nội dung ngữ pháp cơ bản là khá tự nhiên khi hoạch định nội dung một bài học nào đó

Những hoạt động ngữ âm nên và cần được hoạch định trong kế hoạch của một bài học Các giảng viên nên hướng đến các đặc điểm của phát âm như là nội dung không thể thiếu đối với việc phân tích ngôn ngữ và hoạch định một bài học Bất kỳ một sự phân tích nào về ngôn ngữ mà thiếu sự quan tâm hoặc loại bỏ những yếu tố phát âm là

sự phân tích không hoàn hảo Tương tự như vậy, một bài học không chỉ cần tập trung vào cấu trúc ngữ pháp, những yêu cầu từ vựng mà cần phải bao hàm những đặc điểm của phát âm để cung cấp cho sinh viên một bức tranh đầy đủ và những cơ hội tốt để họ có thể giao tiếp thành công Trong việc hoạch định kế hoạch cho một chương trình dài hơi hay một bài học cụ thể, giảng viên cần quyết định vấn đề phát âm nào sẽ liên quan tới từ vựng và cấu trúc được dạy trong bài học đó Họ cũng có thể phải xác định trước được những khó khăn cho sinh viên của họ theo kinh nghiệm của mình và có kế hoạch hoạt động tương ứng Tất nhiên còn có những công việc khác được tạo ra trong lớp học, cụ thể là, còn có những vấn đề về từ vựng và ngữ pháp, nhưng

Trang 37

bằng sự dự đoán trước và hoạch định trước, giảng viên có thể phân tích đầy đủ hơn cho người học và tạo ra cho họ những cơ hội thực hành ngôn ngữ đầy đủ hơn Kết hợp việc giảng dạy ngữ âm một cách đầy đủ với việc học tập ngữ pháp và từ vựng có những lợi ích to lớn

mà người học sẽ hiểu rõ giá trị của nó cho những cuộc giao tiếp thành công trong tương lai

Với tinh thần đó, trong chuyên khảo này, những bài học ví dụ sẽ được chia ra thành ba loại chính:

(a) Bài học tương tác hay bài học kết hợp

Bài học tương tác là bài học mà trong đó việc giảng dạy và rèn luyện phát âm được hình thành như một bộ phận có ý nghĩa của việc phân tích ngôn ngữ và được đưa vào nội dung chính thức trong cả hoạch định, thể hiện và thực hành trên lớp

(b) Bài học sửa lỗi

Bài học sửa lỗi hay bài học đối phó với lỗi là bài học mà các lỗi

và những khó khăn về mặt ngữ âm nảy sinh ra trong lớp học được chú

ý và sau đó được khắc phục một cách thành công nhằm giải quyết tốt những bài tập trên lớp

(c) Bài học thực hành

Bài học thực hành là bài học mà trong đó những đặc điểm đặc biệt của ngữ âm được tách riêng ra và được thực hành cho mục đích riêng, hình thành nên một trọng tâm cơ bản trong một phần của bài học

Giảng dạy mô hình ngữ âm nào?

Có nhiều cách phát âm tiếng Việt khác nhau Vấn đề đặt ra là chúng ta chọn mô hình phát âm nào để giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

• Có một sự phân biệt phong cách - chức năng của cách phát âm Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta thường nói “giọng anh hôm nay sao khác thế?” Bằng cảm nhận thông thường chúng ta dễ thấy rằng mỗi người ở một vị trí xã hội nhất định, tùy theo địa phương

mà anh ta lớn lên và trưởng thành mà sử dụng kiểu này hoặc kiểu khác của cách phát âm với những đặc điểm phát âm và đặc điểm ngữ điệu

có đôi chút khác biệt Trên cơ sở những đặc trưng xã hội mà có thể

Trang 38

38

hình thành cách sử dụng một kiểu phát âm nhất định, mặc dù các cá nhân riêng biệt, có thể không xác định được các quy luật hình thành cách phát âm của mình Người miền Bắc phát âm khác người miền Nam Người Hà Tây ở một số vùng phát âm khác biệt với người Hà Nội Chính vì lẽ đó mà có câu tục ngữ “chửi cha không bằng pha tiếng” Đặc biệt lại có những người mà anh ta có thể, trong một ngày, dịch chuyển một vài lần từ một kiểu phát âm này đến một kiểu phát

âm khác Một giảng viên dạy tiếng Việt gốc Nghệ An, sáng anh ta có thể phát âm kiểu Hà Nội cho các sinh viên của mình, chiều anh ta hoàn toàn có thể nói giọng Nghệ với bà mẹ mới ở quê ra Hiện tượng này có thể gọi là hiện tượng “thay đổi mã”

Đã có một số công trình nghiên cứu về các phương ngữ Các công trình này đi sâu vào nghiên cứu sự khác biệt của “tiếng Việt trên mọi miền đất nước” Những nhận xét được mô tả lại dưới đây là ý kiến của GS Đoàn Thiện Thuật Những nhận xét này là những điều mà người Việt ai cũng dễ dàng nhận ra được:

+ Trong các âm môi thì / f, v/ được phát âm môi – răng, ở người miền Nam /v/ lại được thể hiện như một âm xát, mặt lưỡi, hữu thanh [j] hoặc với một yếu tố môi ở đầu [bj] (cách phát âm của người đô thị) + Cách phát âm /s, z/ đầu lưỡi - răng thường gặp ở những người thành thị, nhất là ở những thiếu nữ Hà Nội, thường được coi là cách phát âm “làm dáng” (Điều này dễ cho chúng ta thấy rằng có sự phát

âm mang sự khác biệt của giới tính)

+ Các âm vị quặt lưỡi ít gặp trên miền Bắc Các âm vị này chủ yếu tồn tại trong các tiếng địa phương ở miền Trung, miền Nam được phát âm với đầu lưỡi cong lên đến phía trên lợi, nơi tiếp giáp với ngạc cứng, ví dụ: “tre, trâu, trước”

+ Người Hà Nội và nhiều địa phương miền Bắc không phân biệt /c/,/ʈ/ /s/ş; z /ʐ/ trong giao tiếp hàng ngày, nghĩa là phát âm như nhau các âm đầu đang xét trong các từ sau đây: “che chở” và “cây tre”, “xa xôi” và “nước sôi”, “da thịt”, “gia đình” và “đi ra” Tất cả các âm đầu này đều được phát âm với đầu lưỡi bẹt Nhưng trong nhà trường phổ thông ở Hà Nội và nhiều nơi trên miền Bắc, theo truyền thống, nhiều người vẫn sử dụng 3 âm vị / ʈ/ ; /ş/; /ʐ/, và coi như dấu hiệu của cách phát âm văn học Tác giả này nhận xét rằng: “Những biến thể địa

Trang 39

phương của các âm vị rất đa dạng Cần được nghiên cứu riêng.” [Đoàn Thiện Thuật, 1977, tr.172]

Ngoài sự khác biệt về phát âm theo các vùng miền khác nhau, được quen dùng với thuật ngữ “phương ngữ” còn có những sự chi phối khác có tính xã hội về mặt phát âm

Việc nghiên cứu sự khác biệt về phát âm của một ngôn ngữ nào

đó thường được các nhà ngôn ngữ học chú ý khai thác Người ta đã nhận ra những mối quan hệ có ảnh hưởng qua lại về mặt phát âm với nghề nghiệp của mỗi người Khi con người tham gia vào trong tư cách của người bán hàng, hay khách hàng, hoặc bác sĩ…, những người này đều phải phụ thuộc vào các tiêu chí xác định nào đó mà không phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân của họ Nếu con người hàng ngày tham gia vào trong các mối quan hệ khác nhau với đặc điểm công việc riêng, thì trong mỗi một trường hợp có những quy ước về cách cách

xử sự của con người, từ kiểu cách ăn mặc trang phục đến phong cách lời nói của con người

Một điều dễ dàng mà ai cũng có thể nhận thấy được trong phát

âm của một sĩ quan chỉ huy Khi ông ta đứng trước hàng quân, ông ta thường có cách phát âm khác với khi sinh hoạt đời thường Cũng như vậy, khi một sỹ quan chỉ huy báo cáo cấp trên của mình trước hàng quân khác với giọng điệu của chính anh ta khi nói chuyện với một cô bạn gái Nghi thức văn hóa (trong trường hợp này là nghi lễ quân đội) quy định tính chất khác biệt giữa giọng điệu của một người khi anh ta đóng những vai xã hội khác nhau

Hai kiểu phát âm này có ảnh hưởng qua lại với nhau Đó là ảnh hưởng của ngôn ngữ cá nhân và ngôn ngữ có tính nghề nghiệp Khi trưởng thành từ một vùng quê xứ Nghệ, một người có thể có giọng Nghệ Tĩnh nhưng anh ta có thể có những thay đổi khi là sinh viên học

ở một trường đại học ở Hà Nội (vì những động cơ khác nhau, anh ta

bỏ cách phát âm của vùng quê mình để đến với một phong cách phát

âm của người Hà Nội) Như thế hình thành nên một “quá trình phát âm” mang tính lịch sử

Về hai kiểu ảnh hưởng qua lại này (ảnh hưởng nghề nghiệp và ảnh hưởng có tính cá nhân), có thể coi như là những biến đổi mang

Trang 40

40

tính tích luỹ Đối với ảnh hưởng của nghề nghiệp đến cách phát âm thì điều này thường xuyên có quan hệ với các đặc điểm hình thức của tình huống: môi trường xung quanh, sự thay đổi đối tượng đàm thoại hoặc đặc trưng cấu trúc của các tình huống, ví dụ, những người bán hàng có thể có những thay đổi khi họ nói với những người nghe khác nhau Với những chủ đề khác nhau, người ta cũng có thể có những cách phát âm theo những “chất giọng” khác nhau Một diễn viên đóng vai vua khi ra lệnh không thể có giọng nói giống như chính diễn viên ấy khi đóng vai một anh hề Khi chủ đề thay đổi cũng làm cho chất giọng thay đổi theo Khi người ta đóng vai chủ hôn nói về chủ đề hôn nhân - hạnh phúc sẽ được trình bày với một giọng điệu khác khi chính anh ta nói về những đóng góp của một người vừa mất trong một tờ điếu văn Chủ đề của câu chuyện là rất quan trọng Khi câu chuyện diễn ra trong phòng họp trước khi khai mạc một cuộc họp nào đó, thì mọi người thường nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ rất “phương ngữ”, nhưng khi chính những người đàm thoại này chuyển sang những chủ

đề trừu tượng hơn, có quan hệ đến các vấn đề chính trị, những vấn đề

có tính chất hành chính, những vấn đề chính trị của đơn vị trong cuộc họp chính thức thì trong lời nói của phần lớn những người tham gia thảo luận có các hình thức ngôn ngữ mang tính chất chuẩn mực từ ngữ pháp, đến cách phát âm Tất nhiên, đối với tập thể được hình thành từ những người đến từ những vùng miền khác nhau trên đất nước Việt Nam thì cách phát âm của mỗi người có các biến thể lời nói khác nhau Họ sản sinh ra những sản phẩm lời nói mang tính tiểu sử của mỗi người

Trong nhiều công trình nghiên cứu gần đây, các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu các phương ngữ khác nhau, chẳng hạn: tiếng Hà Nội, tiếng Sài Gòn, tiếng Quảng Nam Các phương ngữ này tuy có những khác biệt nhưng về cơ bản vẫn nằm trong một hệ thống thống nhất Đó là tiếng nói Việt Nam Tuy nhiên, không thể phủ nhận một điều rằng trong các vùng miền khác nhau lại có những “chuẩn” riêng cho khu vực của mình Chẳng hạn, tiếng Hà Nội, tiếng Sài Gòn, những trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế lớn có những “quy định” bất thành văn cho riêng mình Chính vì lẽ đó, kéo theo một hệ quả,

Ngày đăng: 26/04/2016, 13:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng hệ thống nguyên âm tiếng Việt 2 - Ebook nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ âm tiếng việt thực hành cho học viên quốc tế  phần 1   nguyễn chí hòa
Bảng h ệ thống nguyên âm tiếng Việt 2 (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm