Để có được SNL chúng ta cho ngườicần đánh giá SNL nghe các chất liệu lời nói trực tiếp hoặc gián tiếp thông quacác thiết bị ghi lời nói, có thể dưới các dạng từ 1 âm tiết, 2 âm tiết, câu
Trang 1PHẠM TIẾN DŨNG
SỨC NGHE LỜI
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2tuổi học đường (6-15 tuổi)”
Chuyên ngành : Tai - Mũi - Họng
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
HÀ NỘI – 2018
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
I LỊCH SỬ SỨC NGHE LỜI 3
1.Tình hình trên thế giới 3
2 Việt Nam 5
II GIẢI PHẪU, SINH LÝ ỨNG DỤNG 5
1 Đường dẫn truyền thính giác 5
2 Phân khu thính giác trên vỏ não và mối liên hệ với các phân khu khác 8
3 Sinh lý quá trình nghe hiểu, tích lũy vốn từ, nghe-nói 11
III CẤU TRÚC TIẾNG VIỆT 15
1 Cấu trúc ngữ âm 16
2 Thanh điệu 16
3 Phụ âm đầu 17
4 Âm đệm 18
5 Âm chính 18
6 Âm cuối 19
7 Từ trong tiếng Việt 20
8 Ứng dụng xây dựng danh sách từ thử 20
IV TRANG THIẾT BỊ MÁY MÓC CHO ĐO SỨC NGHE LỜI 21
1 Trang thiết bị 21
2 Cách thức tiến hành 21
V ĐO SỨC NGHE LỜI 23
1 Ngưỡng nhận biết lời- ngưỡng nghe lời 23
2 Đo chỉ số phân biệt lời 25
3 Hiển thị và sử dụng kết quả đo sức nghe lời 26
3.1 Biểu đồ thính lực lời chuẩn 26
3.2 Biểu đồ thính lực lời bệnh lý 28
3.3 Sử dụng kết quả 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Bảng 1: Phụ âm đầu 17Bảng 2: Phân nhóm nguyên âm theo giải tần 19Bảng 3: Các nguyên âm cơ bản theo vị trí cấu âm của lưỡi và độ mở của miệng 19Bảng 4: Các vị trí cấu âm, phương thức cấu âm của âm cuối 20
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ Đ
Biểu đồ 1 Biểu đồ diễn tiến F0 của 6 thanh điệu tiếng Việt 17
Y
Sơ đồ 1: Xử lý thông tin lời nói và mối liên hệ 14
Trang 5Hình 1 Đường dẫn truyền thính giác 6
Hình 2: Khu biệt tần số âm thanh trên màng đáy và nhân ốc tai 7
Hình 3: Phân khu chức năng vỏ não 8
Hình 4 Khu biệt tần số âm thanh ở vỏ não 8
Hình 5: Mối liên hệ giữa các khu vực của vỏ não trong việc nghe hiểu, 10
tích lũy từ vựng và nghe nói 10
Hình 6: Đường liên hợp trên và dưới liên quan đến nghe và nói 15
Hình 7 Biểu đồ thính lực lời chuẩn của pháp do Portmann 26
Hình 8 Biểu đồ SNL bằng số thử và từ thử của Ngô Ngọc Liễn 27
Hình 9 Biểu đồ đo SNL từ 1 âm tiết và từ 2 âm tiết của Nguyễn Hữu Khôi 27
Hình 10 Các loại biểu đồ thính lực lời bệnh lý 28
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức nghe lời (SNL) hay thường gọi là thính lực lời là khả năng nghenhận và nghe hiểu lời nói của con người Để có được SNL chúng ta cho ngườicần đánh giá SNL nghe các chất liệu lời nói trực tiếp hoặc gián tiếp thông quacác thiết bị ghi lời nói, có thể dưới các dạng từ 1 âm tiết, 2 âm tiết, câu nóihoặc các dạng lời nói phức tạp khác sau đó đánh giá khả năng nghe nhận,nghe hiểu của người nghe
Sức nghe đơn âm chỉ đánh giá về mặt ngưỡng cảm nhận âm đơn khôngđánh giá được khả năng nghe lời nói để giao tiếp của con người SNL có tầmquan trọng để xác định tính chính xác của sức nghe đơn âm, cung cấp thôngtin về khả năng hiểu lời trong cuộc sống cuộc sống hàng ngày, cung cấp thôngtin định hướng chẩn đoán vị trí tổn thương và trợ giúp trong hiệu chỉnh máytrợ thính, điện cực ốc tai, phục hồi chức năng nghe nói
SNL ở trên thế giới đã được đề cập đến từ những năm 1920-1930 tại cơ
sở nghiên cứu Bell (Bell Lab) của Mỹ khi nghiên cứu về sức nghe của cáccựu chiến bị nghe kém do chiến tranh thế giới thứ II gây ra, sau đó được pháttriển ở nhiều trung tâm và nhiều nước khác nhau Ở Việt Nam từ những năm
1966 Giáo sư Trần Hữu Tước và Phạm Kim đã đề xuất bản SNL 1 âm tiết và
2 âm tiết rồi đến các nghiên cứu của các tác giả Ngô Ngọc Liễn, Nguyễn HữuKhôi nhưng ứng dụng thực tế của SNL còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở cácnghiên cứu chưa được áp dụng thường quy, rộng rãi tại các cơ sở thính họcnói riêng và tai mũi họng nói chung trừ các trung tâm lớn do nhiều nguyênnhân khác nhau
Chuyên đề về SNL nhằm mục đích trước tiên là để phục vụ cho đề tài
nghiên cứu sinh “Nghiên cứu xây dựng các bảng từ thử sức nghe lời tiếng
Việt, ứng dụng vào việc đo sức nghe lời cho trẻ em tuổi học đường (6-15
Trang 7tuổi)” và hệ thống lại những hiểu biết về mặt lý thuyết cũng như thực hành áp
dụng trong lâm sàng để có một cách nhìn nhận đúng đắn về vai trò của SNLqua đó có điều kiện đưa vào áp dụng trong thực tế phục vụ công tác chẩnđoán và điều trị bệnh
Chuyên đề này sẽ đề cập các vấn đề sau:
+ Lịch sử SNL
+ Giải phẫu, sinh lý ứng dụng trong đo SNL
+ Cơ sở ngôn ngữ dùng đo SNL
+ Yêu cầu về con người và máy móc cho phép đo SNL
+ Các phép đo SNL, hiển thị kết quả, sử dụng kết quả trong lâm sàng
Trang 8I LỊCH SỬ SỨC NGHE LỜI
1.Tình hình trên thế giới [1], [2], [3],[4], [5], [6]
Phương pháp để đánh giá sức nghe đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau
từ sử dụng tiếng nói thường, tiếng nói thầm, âm thoa, thính lực đơn âm, thínhlực lời và các phương pháp thăm dò khách quan khác
Cho đến cuối thế kỷ XIX thì việc dùng tiếng nói thường và tiếng nóithầm để đánh giá khả năng nghe vẫn là phương pháp phổ biến nhất nhưngphải đến những năm 1920-1930 sau chiến tranh thế giới thứ II với sự nghiêncứu của tác giả Fletcher Harvey tại trung tâm nghiên cứu Bell Lab tại Mỹ đãđạt được những kết quả như sau:
+ 1929: Fletcher H đã nghiên cứu về lời nói sử dụng trong đánh giásức nghe
+ 1929 Fletcher H; Steinberg JC có nghiên cứu về phương pháp đánhgiá cấu âm (Articulation testing method) mà kết quả là chỉ số cấu âm(Articulation Index), là cơ sở của phương pháp sử dụng 100 điểm trên biểu đồthính lực đơn âm sau đó vẽ đường biểu diễn thính lực đồ, đếm các điểm ởdưới đường khí để biết được phần trăm hiểu lời
1940-1950: Davis H, Hirsh I, Davis S, Silverman, Hudgins CV, Hawkins
JE, Karlin JE & Stevens SS và cộng sự nghiên cứu tại khoa tâm lý âm học(Psychoacoustics Laboratory) trường đại học Harvard đã cho ra đời các kếtquả nghiên cứu về thính lực lời đơn giản bằng cách đếm các điểm dưới đườngkhí trên thính lực đơn âm đến các chất liệu ngữ âm được ghi lại và đánh giákhả năng nghe lời
Năm 1947 Hudgins và cộng sự tại khoa Tâm lý âm học (PsychoacousticLaboratory) trường đại học Harvard đã xây dựng 2 danh sách từ thử 2 âm tiết.Năm 1948 Egan tại khoa Tâm lý âm học (Psychoacoustic Laboratory)trường đại học Harvard đã xây dựng danh sách từ thử 1 âm tiết
Trang 9Năm 1952 thì Hirsh và cộng sự tại viện điếc trung tâm của Mỹ đã sửađổi các từ 2 âm tiết của tác giả Hudgins để thành 36 từ thử 2 âm tiết vẫn còndùng đến ngày nay, ông cũng cho chỉnh sửa danh sách từ thử 1 âm tiết.
Tiếp theo là thời kỳ của Carhart R đưa các thăm dò thính giác gồm: đođơn âm đường khí, đường xương, đo ngưỡng nghe lời, chỉ số hiểu lời, ngưỡngkhó chịu
Ngày nay tại Mỹ hiện đang sử dụng các từ thử 1 âm tiết, 2 âm tiết, câuthử, từ thử trong môi trường ồn của viện điếc trung tâm của Mỹ, trường đạihọc Northwestern và một số các cơ sở khác
Tại Pháp: Falconnet N, Lafon JC và Fournier JF (1954) đã xây dựng cácbản từ đo SNL theo 2 thể loại 1 âm tiết và 2 âm tiết; trong đó bản từ thử 2 âmtiết của Fournier được sử dụng rộng rãi như bản chuẩn
Tại Đức: Trong những năm 1953-1954 có các bản SNL của K.Schubert
và của Weister Đến 1957 K.H.Hehlbrock đã xây dựng thể loại mới Freiburgvới 1 bản từ thử 1 âm tiết và 1 bản số thử 2 âm tiết Thể loại này được sửdụng cho đến ngày nay
Từ những năm 1960 thì Jerger J được coi là cha đẻ của ngành thính họcchẩn đoán đã phát triển thính lực lời lên một tầm cao mới
- Tại Trung Quốc
+ 1966 Cheng JY có nghiên cứu về danh sách từ thử trong đo SNL.+ 1983 Shen Y và Wang SX nghiên cứu về các chất liệu ngôn ngữtrong đo SNL
+ 2006 Zhang và cộng sự phát triển danh sách từ thử đơn âm tiết
+ 2010 Ji F, Chen AT, Zhao Y, Xi X, & Han DY nghiên cứu bảng từthử các âm vị
- Tại Thái Lan:
+ 1979 Komalarajun xây dựng danh sách từ thử 1 âm tiết RAMA.SD1,RAMA.SD2
+ 2002 Wissawapaisal xây dựng các câu thử
Trang 102 Việt Nam
- 1966 Trần Hữu Tước và Phạm Kim đã đề xuất việc dùng thính lực lời [7]
- 1976 Phạm Kim đã cộng tác cùng Vũ Bá Hùng và Trần Công Chi xâydựng bản từ thử thể loại hỗn hợp âm tiết [8]
- 1977 Ngô Ngọc Liễn xây dựng bản từ SNL theo thể loại Freiburger vớibản tử thử 1 âm tiết để xác định khả năng nghe nhận lời và một bản số thử đểtìm ngưỡng nghe lời tiếng Việt [9]
- 1986 Nguyễn Hữu Khôi xây dựng bản từ thử 1 âm tiết và 2 âm tiết trên
cơ sở cho là tiếng Việt cũng có cấu trúc hỗn hợp âm tiết [10]
- 2017 Nguyễn Thị Hằng nghiên cứu xây dựng bảng câu thử thính lực lờitiếng Việt và ứng dụng trong nghe kém tuổi già [11]
II GIẢI PHẪU, SINH LÝ ỨNG DỤNG
1 Đường dẫn truyền thính giác [12]
Các sợi thần kinh hướng tâm đi từ hạch xoắn vào thân não theo nhánh
ốc tai của dây thần kinh VIII (dây ốc tai-tiền đình) Ở hành não, các sợi trụcphân nhánh và kết nối (hình thành synap) với các nơron thuộc nhân ốc tailưng (dorsal cochlear nucleus) và nhân ốc tai bụng (ventral cochlear nucleus)cùng bên với tai trong nguyên ủy của các sợi trục này
Đường đi: Từ loa đạo ở tai trong, xung thần kinh thính giác được đưa về
vỏ não bằng con đường khá phức tạp Nó phải đi qua 3 chặng
Trang 11Hình 1 Đường dẫn truyền thính giác [13].
Chặng thứ 1: Từ loa đạo đến hành não cụ thể là từ hạch xoắn đến nhân
ốc tai Từ các hạch xoắn trong các mảnh xoắn của ốc tai các tế bào hướng tâmhai cực cho sợi đi ra tới các tế bào lông trong và lông ngoài để nhận cảm âmthanh, còn sợi đi vào tạo thành các dây nhỏ qua trụ ốc tai tới đáy ống tai trongtạo thành nhánh ốc tai của dây thần kinh số VIII
Võ não thính giác
Thể gối giữa Đồi thị
Củ não sinh tư dưới
Liềm bên Nhân ốc tai
Nhân trám trên
Thần kinh thính giác
Hạch xoắn
Ốc tai
Trang 12Nhánh thần kinh ốc tai hợp với nhánh thần kinh tiền đình tạo thành dây
sọ não số VIII đi trong ống tai trong rồi chạy vào hành não qua rãnh hành cầudừng lại ở nhân ốc tai cùng bên
Khu biệt về tần số thể hiện rõ ở cấu trúc ốc tai đến vùng nhân ốc tai
Hình 2: Khu biệt tần số âm thanh trên màng đáy và nhân ốc tai [13].
Chặng thứ 2: Từ hành não đến đồi thị cụ thể từ nhân ốc tai đến thể gối
giữa, chia làm 3 chặng nhỏ:
+ Nhân ốc tai đến phức hợp nhân trám trên
+ Nhân trám trên đến củ não sinh tư dưới
+ Củ não sinh tư dưới đến thể gối giữa đồi thị
Chặng này phức tạp, từ nhân ốc tai có các nơron ngắn tới phức hợp nhântrám trên cùng bên và nơron dài hơn bắt chéo sang bên đối diện tới phức hợpnhân trám trên bên đối diện
Từ phức hợp nhân trám trên sẽ cho các sợi đi tới củ não sinh tư dướitheo dải Reil bên hay còn gọi là liềm bên
Từ củ não sinh tư dưới cho các sợi trục chạy tới thể gối giữa đồi thì cùng bênMỗi nhân gối giữa đều tiếp nhận xung thần kinh đến từ cả hai tai và nóđóng vai trò trung khu thính giác dưới vỏ não, có khả năng lĩnh hội những tínhiệu đơn giản thay cho vỏ não
Trước
Sau
Ốc tai
Thần kinh ốc tai
Hạch xoắn Đáy
Đỉnh
Ốc tai
Tế bào lông
Màng đáy
Trang 13Chặng thứ 3: từ đồi thị đến vỏ não cụ thể là từ thể gối giữa lên vùng
thính giác sơ cấp ở thuỳ thái dương vỏ não (vùng 41, 42), vùng này ở dọctheo đáy và bờ trong của rãnh Sylvius
2 Phân khu thính giác trên vỏ não và mối liên hệ với các phân khu khác
Ở vỏ não các trung tâm thính giác rất phức tạp và nằm sâu trong rãnhSylvius của thùy thái dương 2 bên, hiện nay biết đến các vùng thính giác gồmvùng 41, 42 và vùng 22
Hình 3: Phân khu chức năng vỏ não[13]
Hình 4 Khu biệt tần số âm thanh ở vỏ não[13]
(a) Vỏ não thính giác sơ cấp (màu tím- vùng 41,42) và vỏ não thính giác thứ cấp (màu
vàng- vùng 22- Vùng Wernicke) ở thùy thái dương trên (b) Khu biệt tần số âm thanh
Vùng thính giác sơ cấp (41), Vùng thính giác thứ cấp (42), Vùng Wernicke (22)
Mặt ngoài bán cầu não
Mặt trong bán cầu não
Trang 14Phần phía trước của vùng thính giác sơ cấp sẽ tiếp nhận âm thanh có tần
số thấp, còn phần phía sau sẽ tiếp nhận các âm thanh cao tần Vùng thính giác
sơ cấp cho ta cảm giác tiếng động thô sơ Tổn thương một bên vùng thínhgiác có thể làm nghe kém một phần cả hai tai nhưng nặng hơn cho tai đối diện
vì vùng thính giác sơ cấp tiếp nhận nhiều nơron thần kinh có nguyên uỷ từ các
tế bào Corti phía đối diện
Vùng thính giác thứ cấp (Vùng 22) nằm sau vùng thính giác sơ cấp Nónhận các tương tác thần kinh từ vùng thính giác sơ cấp và thông tin từ đồi thịcùng bên Đây là vùng thính giác được cho là rất cần thiết cho sự tiếp nhận
âm thanh và liên kết âm thanh đầu vào với các thông tin giác quan khác nhưthị giác, xúc giác Khi tổn thương vùng này bệnh nhân không phân biệt được
âm thanh loại gì
Vùng Wernicke hội tụ tất cả các vùng chi phối thính giác, thị giác và cảmgiác cơ thể (xúc giác), nên nó được coi là vùng rất quan trọng và giúp conngười có khả năng thấu hiểu ngôn ngữ ở dạng nói hay viết hay chữ nổi chongười khiếm thị, cho phép chúng ta đọc câu, hiểu nó và diễn đạt nó bằng lời.Khi tổn thương vùng này làm mất khả năng hiểu nhận ngôn ngữ nói và viết.Nhờ có hiểu nhận được các tín hiệu nên chúng ta mới phân biệt được nhữngcường độ, trường độ, âm sắc, tần số, mới phân biệt được tiếng động với tiếngnói, mới nhận ra được giọng người quen, người lạ, giọng vui, giọng buồn.Trong quá trình học, hình thành và tích lũy vốn từ ở vỏ não là sự liênquan chặt chẽ từ phân khu 41, 42 là khu vực nghe nhận rồi liên kết đến vùngVernicke phân khu 22, sự liên kết với các phân khu lân cận như phân khu thịgiác vùng trẩm, thái dương, vùng đỉnh để có thể nhìn chữ viết mà chúng tahiểu được Sự liên kết vời vùng cảm giác xúc giác ở thùy đỉnh giúp ngườikhiếm thị có thể hiểu được, đọc được qua chữ nổi bằng cảm giác xúc giác quacác ngón tay Sự tích lũy và hình thành kho từ vựng ở vỏ não là mối liên hệ
Trang 15phức tạp với các phân khu chức năng lân cận cũng như các phân khu ở xahơn Kết quả của quá trình tích lũy vốn từ vựng và ngôn ngữ tạo ra một khuvực phía sau vùng Vernicke nơi chứa các vốn từ mà sẽ đối chiếu và xác nhận
từ, câu chúng ta nghe được là gì
Hình 5: Mối liên hệ giữa các khu vực của vỏ não trong việc nghe hiểu,
tích lũy từ vựng và nghe nói [13]
Tuy nhiên các phân khu của não không bao giờ làm việc độc lập và đơnđộc như vậy, chúng có sự liên kết và ngày càng hoàn thiện trong việc thựchiện các chức năng mà một trong các chức năng nghe hiểu- nói là chức năngquan trọng và phức tạp của con người
Với đường liên hợp phía trên từ vùng Vernicke và khu vực ngôn ngữphía sau của nó các tín hiệu lời nói nghe được sẽ được truyền tín hiệu tớivùng trán khu nhận thức, thông qua một loạt các suy nghĩ sẽ quyết định phảinói gì sau đó tín hiệu sẽ dẫn tới vùng Broca để ra thông tin nói như thế nào vàđiểm thực thi là nhân dây X chi phối các hoạt động cơ của thanh quản giúp
Trang 16chúng ta nói được Mặt khác có sự liên kết trực tiếp về thông tin trực tiếpphản hồi giữa vùng Broca và vùng Vernicke để vùng Vernicke có thể cảmnhận được những gì sắp nói ra khi thông tin tới nhân dây X và diễn đạt bằnglời nói qua thanh quản.
Vùng Wernicke và Vùng Broca phân bố không đều ở 2 bán cầu Ở ngườithuận tay phải hai vùng này phát triển rất rộng bên bán cầu trái, bán cầu phảikhông đáng kể và bán cầu trái được gọi là bán cầu ưu thế Ở người thuận taytrái ưu thế bán cầu như nhau, số người ưu thế bán cầu phải rất ít
Các tín hiệu ở mỗi tai đều truyền về cả 2 bên bán cầu não, bán cầu nãođối diện nhận được nhiều thông tin hơn so với bán cầu não cùng bên
Chỉ có dẫn truyền phía trước nhân ốc tai là tiếp nhận đơn thuần thông tin
từ ốc tai cùng bên còn các đường dẫn truyền từ nhân ốc tai trở nên đều tiếpnhận thông tin cùng bên và đối bên
3 Sinh lý quá trình nghe hiểu, tích lũy vốn từ, nghe-nói [14].
Tất cả các từ của một ngôn ngữ mà chúng ta biết được được lưu trữtrong kho từ vựng của não bộ Nghiên cứu về sinh lý ngôn ngữ ở trên não bộ
mô tả cách thức các từ vựng được lưu trữ như thế nào và chúng được tiếp cận
và sử dụng ra sao khi cần tới
Việc chúng ta nhận ra các từ chúng ta nghe được có nhiều cơ chế và giảthuyết khác nhau nhưng có 3 điểm chung:
+ Các từ gần giống với các từ chúng ta nghe được được kích hoạt trongkho dữ liệu từ vựng
+ Sự đối chứng giữa các từ nghe được và các từ vựng được kích hoạt vềmặt cấu trúc ngữ âm, âm vị đoạn tính và siêu đoạn tính
+ Tìm ra được từ chính xác từ mà chúng ta nghe được
Trang 17Quá trình xử lý thông tin được phân làm 2 cấp từ vựng và cấu tạo chi tiếtcủa từ Đặc biệt trong tiếng Việt thì mỗi âm tiết là một từ độc lập, khác vớimột số ngôn ngữ khác từ có thể là 1 ,2, 3 âm tiết.
Thời kỳ trước đây các thuyết nhận biết từ được phát triển dựa trên cơ sởcác dữ liệu có được khi thực hiện kỹ năng đọc- nhận biết từ và áp dụng sangnghe- nhận biết từ Sau đó từ những năm 1980 thì các thuyết phát triển dựatrên thông tin dữ liệu có được từ việc nghe- nhận biết từ
Phương thức khác nhau nghiên cứu nhận biết tiếng nói chủ yếu khácnhau ở 2 khía cạnh về mặt lý thuyết:
+ Phương thức để loại bỏ các từ có liên quan đến nhau về mặt cấu trúc
để lựa chọn ra từ đúng nhất
+ Phương thức về cách xử lý thông tin của não bộ ở cấp thấp là âm thanh
và âm vị (acoustic-phonetic processing) và ở cấp cao hơn liên quan đến từ vựng Với phương thức mang tính tương tác thì thông tin có thể xử lý từ thấpđến cao hoặc từ cao xuống thấp nhưng với thuyết đơn hướng thì chỉ có luồngthông tin 1 chiều từ thấp lên cao
Các phương thức không chỉ khác nhau về mặt lý thuyết nêu trên mà còn
là cách thức để nhận biết lời nói khi tiến hành nghiên cứu:
+ Cách nhận biết lời nói theo lối nói ra các từ nghe được
+ Cách nhận biết lời nói thông qua nắm bắt quá trình xử lý nhận biết lờinói bằng công thức toán học
+ Cách nhận biết lời nói thông qua phương thức xử lý nhận thức(cognitive proscesses) thông tin để hiểu lời nói (speech comprehension) làphương thức mô phỏng
Hai phương thức sau được thực hiện trên máy tính là phương thức phổbiến hiện nay
Sơ lược qua các thuyết nhận biết lời nói [15], [16]:
Trang 18+ Thuyết Cohort là thuyết sinh lý ngữ âm đầu tiên về sự nhận biết lờinói từ những năm 1978 của các tác giả Marlsen- Wilson và Welsh Cốt lõi củathuyết này là phân tích theo thời gian thực thông tin về âm thanh và ngữ âm(acoustic- phonetic information) gọi là thông tin âm ngữ qua 3 giai đoạn tiếpcận- lựa chọn và tích hợp Giai đoạn tiếp cận thông tin ngữ âm của lời nói sẽkích hoạt những từ có cấu âm tương tự trong kho từ vựng ví dụ sau 150-200ms khi có thông tin của 2 âm vị đầu tiên của lời nói sẽ kích hoạt tất cả các
từ trong kho từ vựng có cùng các âm vị đó Giai đoạn lựa chọn khi các âm vịtiếp theo xuất hiện sẽ loại bỏ các từ vựng không chứa các âm vị đó Giai đoạntích hợp là giai đoạn cú pháp và ngữ nghĩa của từ được kích hoạt sẽ tính đến
để có thể tích hợp trong ngữ cảnh phù hợp Thuyết Cohort này có hạn chế làchưa giải thích được việc người nghe có thể nhận biết các từ không có sựtương thích về ngữ âm cũng như phù hợp với ngữ nghĩa, cú pháp Chưa tínhđến tần suất các từ khác nhau thì khả năng nhận biết cũng sẽ khác nhau, từthông dụng tần suất sử dụng thường xuyên hơn sẽ dễ nhận biết hơn các từ ítđược sử dụng
+ Tiếp đến là các thuyết mô phỏng dùng đến sự trợ giúp của máy tínhTRACE, shorlist, Fine- tracker, NAM (Neighborhood Activation Model),Minerva, Cohort cải biên và một số thuyết khác
Hiện nay thuyết NAM (thuyết kích hoạt các từ lân cận) [17] nghiên cứu
sự kích hoạt các từ có cấu trúc gần giống với từ chúng ta nghe được, cũng nhưtần suất các từ đó được sử dụng hàng ngày khắc phục hạn chế của các thuyếttrước đây trong việc giải thích khả năng nhận biết lời nói và nó được sử dụngphổ biến để nghiên cứu các ngôn ngữ khác nhau Trong tiếng Anh và tiếngPháp và một số ngôn ngữ khác nghiên cứu chỉ ra rằng các từ nằm ở khu vực
có mật độ dày đặc do tính chất của cấu trúc từ gần giống nhau thì khả năngnhận biết ra các từ này chậm hơn so với khu vực có mật độ thưa hơn do cấutrúc của các từ ít giống nhau Mặt khác các từ có tần suất sử dụng thườngxuyên hơn sẽ được nhận biết nhanh hơn các từ ít được sử dụng thường xuyên
Trang 19Thuyết NAM đề cập đến các thông tin về ngữ âm (acoustic-phoneticinformation) thông tin từ vựng (lexical information) và thông tin cao hơn từvựng như thông tin về tần suất các từ.
Các yếu tố tác động đến quá trình xử lý từ vựng
+ Từ ngắn hay dài, một hay nhiều âm tiết
+ Tính khu biệt do âm vị cấu tạo nên âm tiết, từ có sự khác biệt như thế nào.+ Tần suất sử dụng các từ
+ Kích thước và mật độ khu vực chứa các từ có cấu âm tương tự với từnghe được
+ Ngữ nghĩa, cú pháp và các thông tin khác liên quan
Sơ đồ 1: Xử lý thông tin lời nói và mối liên hệ[14]
Giai đoạn sớm nhất xử lý lời nói ở vỏ não liên quan đến phân tích phổ
âm lời nói vùng thái dương liên quan cụ thể đến vùng trên thùy thái dương
Sự phân tích phổ âm này diễn ra ở 2 bán cầu nhưng khác nhau ở hai bên.Mức độ cao hơn là xử lý các âm vị liên quan đến phần giữa và phần sau củarãnh thái dương trên ở hai bên mặc dù bên phải ưu thế hơn bên trái
Hệ thống nhận thức (Phân bố rộng rãi)
Phân tích phổ âm- thái
dương (vùng trên hồi thái
dương trên)- Ưu thế 2 bên
Mạng lưới âm vị, âm tiết (vùng giữa và sau rãnh thái dương trên)- Ưu thế
2 bên
Hệ thống cấu âm
(Vùng sau hồi trán dưới
vùng trước thuỳ đảo)- Ưu
thế bán cầu trái
Hệ thống phức hợp
(vùng trước hồi thái dương
giữa, vùng trước khe thái
dương dưới)- Ưu thế trái
Khu vực từ vựng (vùng sau hồi thái dương giữa, phần sau rãnh thái dương dưới)
Khu vực tiếp giáp vận động cảm giác (vùng đỉnh- thái dương- trên cùng rãnh bên)- Ưu thế bán cầu não trái
Thông tin
từ các giác quan khác
Hệ thống trên cao thùy trán
Liên hợp trên
Liên hợp dưới