Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại.. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương.
Trang 1I/ Mở đầu.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều có đồng tiền riêng cho mình Ví dụ: Việt Nam có đồng tiền riêng là VNĐ, Trung Quốc có đồng tiền riêng là nhân dân tệ, Nhật Bản có đồng yên Nhật Đa số các quốc gia trên thế giới đã và đang đi theo nền kinh tế hàng hóa, mở cửa thị trường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhưng có một rào cản đó là mỗi nước có một đồng tiền riêng không có được đồng tiền chung để thanh toán tài chính Như vậy yêu cầu đặt ra là họ phải thanh toán như thế nào? Có cách nào để xóa bỏ rào cản đó? Từ đó tỉ giá hối đoái được hình thành
Ta có thể hiểu đơn giản tỉ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của một quốc gia khác Hay nói cách khác nó chính là giá cả của tiền tệ, tiền tệ giống như một thứ hàng hóa Ví dụ: 1usd=22500vnđ
Tỉ giá hối đoái là một biến số kinh tế vĩ mô luôn biến động và chiu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Nó không tĩnh tại mà thay đổi theo sự thay đổi của cung, cầu, lãi suất, lạm phát, Tỉ giá hối đoái luôn biến động một cách phức tạp mà không ai có thể biết trước được Mỗi quốc gia lại có tỉ giá đối với đồng tiền của mình riêng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quốc gia đó về kinh tế đối ngoại, xuất nhập khẩu, cán cân thương mại Vì vậy việc tìm hiểu tỉ giá hối đoái của mỗi quốc gia là vô cùng cần thiết đặc biệt trong hoạt động đầu tư
ra nước ngoài bởi nó là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới Nếu tỉ giá hối đoái của một quốc gia mà tăng cao sẽ khuyến khích nước ngoài đầu tư nhưng sẽ hạn chế nước đó đầu tư ra nước ngoài Ngược lại tỉ giá mà thấp sẽ hạn chế đầu tư vào nước đó
Tóm lại tỉ giá hối đoái vừa có mặt lợi vừa có mặt hại Cơ sở nghiên cứu khi nghiên cứu
về tỉ giá hối đoái cần tìm hiểu khái niệm, nhân tố ảnh hưởng,tầm quan trọng (tác động đến giá cả hàng hóa trong nước và nước ngoài, tác động đến lãi suất, hoạt động kinh tế đối ngoại, cán cân thương mại) ,mặt lợi ,mặt hại Từ đó liên hệ Việt Nam
II/ Lý thuyết chung
Trang 22.1 Tỷ giá hối đoái
2.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
- Tỷ giá hối đoái là giá cả một đơn vị tiền tệ của quốc gia này được biểu diễn qua số đơn vị tiền tệ của quốc gia khác xác định bằng một thời gian và không gian cụ thể Ví dụ: Tỷ giá hối đoái giữa USD và VNĐ là 1USD= 22500 VNĐ
- Theo tập quán kinh doanh tiền tệ, tỷ giá hối đoái thường được yết giá theo hai phương pháp sau:
Phương pháp yết giá trực tiếp: lấy ngoại tệ làm đơn vị so sánh vơi đồng tiền trong nước
Phương pháp yết giá gián tiếp: lấy tiền trong nước làm đơn vị so sánh với tiền nước ngoài
2.1.2 Phân loại
Căn cứ vào ý nghĩa và tác động của tỷ giá hối đoái thì chia làm 3 loại:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: Là tỷ giá hối đoái được công bố trên các phương tiện
thông tin đại chúng Mức tỷ giá hối đoái này được xác định dựa trên mức tỷ giá hối đoái do NHTW xác định
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đc sử dụng phổ biến trong các hợp đồng mua bán thương mại, thanh toán tín dụng, hợp tác đầu tư và là mức tỷ giá được sử dụng trong việc phân tích tác động của tỷ giá đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, cũng như khu vực và toàn bộ nền KTTG
- Tỷ giá hối đoái thực tế: là loại tỷ giá hối đoái được sử dụng để điều hành chính sách
của CP trong việc kiểm soát tiền tệ và điều hành thị trường ngoại hối, được xác định dựa trên mức tỷ giá hối đoái danh nghĩa và mức chỉ số giá trong nước và chỉ số giá quốc tế
TGHĐ TT= TGHĐ danh nghĩa × chỉ số giá quốc tế : tỷ số giá trong nc
Chỉ số giá(%)= Tỷ lệ lạm phát (%) + 100%
- Tỷ giá hối đoái ngang giá sức mua: được xác định bằng tỷ lệ giữa giá trị (chi phí sx,
giá thành hoặc giá cả) của cùng một lượng hàng hóa đó tính bằng đồng ngoại tệ ở thị
Trang 3trường nước ngoài.
Để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia và XK thì mức TGHĐ danh nghĩa áp dụng trên thị trường cần phải cao hơn mức tỷ giá ngang giá sức mua
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến TGHĐ
- Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia:
Giả sử các yếu tố khác không thay đổi, nếu mức lạm phát trong nước có xu hướng cao hơn mưac lạm phát của nước ngoài thì xét về mặt thực tế và việc so sánh ngang giá sức mua thì đồng nội tệ có xu hướng giảm so với đồng ngoai tệ Do lượng tiền tăng thêm để mua được một lượng hàng hoa tính bằng đồng nội tệ cao hơn so với tính bằng đồng ngoại tệ Hay nói cách khác, mức độ mất giá của đồng nội tệ cao hơn so với đồng ngoại tệ trong trường hợp ngược lại, khi tỷ giá lạm phát trong nước thấp hơn dẫn đến TGHD giảm, nội tệ tăng giá
- Mức độ tăng hay giảm của GNP (Tổng sản phẩm quốc dân)
GNP tăng hay giảm xuống, trong điều kiện các nhân tố khác ko đổi, sẽ làm tăng hay giảm nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu, do đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu sẽ tăng lên hoặc giảm xuống
- Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước
Giả sử như mức lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối so với nước khác, trong đk các nhân tố khác không đổi, thì vốn ngắn hạn từ nước ngoài sẽ chảy vào nước đó tăng lên nhằm thu mức chênh lệch lãi suất Điều này làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi dẫn đến sự thay đỏi tỷ giá
- Những dự đoán về TGHĐ
Là dự đoán của những người tham gia vào thị trường ngoại hối về triển vọng lên giá hay xuống giá của đồng tiền nào đó, có thể là một nhân tố quan trọng có thể là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự biến động của tỷ giá
- Sự can thiệp của CP
Bất kỳ một CS nào của CP mà có tác động đến tỷ lệ lạm phát , thu nhập thực té hoặc mức lãi suất trong nước đều có ảnh hưởng đến sự biến động của TGHĐ CP sử dụng 3 loại hình can thiệp chủ yếu : can thiệp vào thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và can
Trang 4thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối (mua vào hoặc bán ra ngoại tệ)
Ngoài ra, TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như: khủng hoảng kinh tế, ngoại hối, tín dụng, chiến tranh, thiên tai,…
2.2 Cán cân thương mại
2.2.1 Khái niệm cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
- Nhập khẩu: Có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn Sự
gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ) MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài Nếu giá cả trong nước tăng tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại
- Xuất khẩu: Chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì
xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng Chính vì thế trong các
mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định
- Tỷ giá hối đoái: Là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế
Trang 5Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên
Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quan trọng: xuất khẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhân đầu tư tư nhân và số nhân chi tiêu chính phủ khác đi do một phần chi tiêu bị "rò rỉ" qua thương mại quốc tế
- Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến cán cân thương mại của một nước thông qua việc
tăng hay giảm giá trị đồng tiền của một quốc gia Khi lạm phát một nước tăng cao so với đối tác, trước tiên do giá hàng hóa trong nước tăng nên người tiêu dùng trong nước sẽ chuyển sang sử dụng hàng hóa nước ngoài làm nhập khẩu tăng, kéo theo nhu cầu đối với ngoại tệ tăng làm cho đồng ngoại tệ tăng giá Thứ hai, giá cao cũng làm giảm sút nhu cầu hàng hóa của nước ngoài đổi hàng trong nước (giảm xuất khẩu), từ
đó làm ngoại tệ tăng giá do nguồn cung giảm Hai lực thị trường này sẽ làm tăng giá trị đồng ngoại tệ hay nói cách khác đồng tiền của nước có lạm phát cao đã bị giảm giá để bù lại mức chênh lệch lạm phát, từ đó không làm tăng nhu cầu đối với hàng hóa nhập khẩu và làm cho lạm phát của một nước sẽ ít có tác động lên nước khác Tuy nhiên nếu các lực thị trường này đủ lớn và nếu có sự can thiệp của chính phủ làm tỷ giá nội tệ/ ngoại tệ tăng cao hơn tốc độ tăng giá hàng hóa trong nước so với nước ngoài thì hàng hóa trong nước sẽ có giá rẻ hơn gia nước ngoài và khi đó ta goi đồng nội tệ được định giá thấp, cán cân thương mại được cải thiện Ngược lại nếu tỷ giá tăng không đủ bù lạm phát thì đồng nội tệ sẽ bị định giá cao và cán cân thương mại bị xấu đi
- Ngoài ra cán cân thương mại còn bị ảnh hưởng bởi Các biện pháp của chính phủ
như chính sách bảo hộ mậu dịch Nhằm bảo vệ hàng hóa trong nước trước sự cạnh tranh của hàng ngoại, chính phủ có thể tăng thuế hàng nhập khẩu Động thái này làm
Trang 6tăng giá hàng ngoại nhập, hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng, từ đó cán cân thương mại cũng có thể được cải thiện (nếu các điều kiện khác không đổi)
2.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái và mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
2.3.1 Vai trò
- Vai trò so sánh sức mua của các đồng tiền : Thông qua vai trò này, tỷ giá trở thành công cụ hữu hiệu để tính toán và so sánh giá trị nội tệ với giá trị ngoại tệ, giá cả hàng hóa trong nước với giá quốc tế, năng suất lao động trong nước với năng suất lao động quốc tế ; trên cơ sở đó, tính toán hiệu quả ngoại thương, hiệu quả của việc liên doanh với nước ngoài, vay vốn nước ngoài, và hiệu quả của các chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước
-Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tới tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Khi sức mua của đồng tiền trong nước giảm đi (có thể do nhà nước chủ trương phá giá tiền tệ để đẩy mạnh xuất khẩu chẳng hạn), tỷ giá hối đoái tăng lên làm giá hàng nhập khẩu đắt hơn Nếu hàng nhập khẩu để trực tiếp tiêu dùng thì làm tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trực tiếp Nếu hàng nhập khẩu dùng cho sản xuất thì làm tăng chi phí sản xuất và dẫn tới tăng giá thành sản phẩm Kết quả cũng là sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng Vì vậy, lạm phát có thể xảy ra Nhưng khi tỷ giá tăng, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu được lợi và phát triển, kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước nói chung, nhờ vậy thất nghiệp giảm và nền kinh tế tăng trưởng Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm (giá đồng nội tệ tăng lên), hàng nhập khẩu từ nước ngoài trở nên rẻ hơn Từ đó lạm phát được kiềm chế, nhưng lại dẫn tới sản xuất thu hẹp và tăng trưởng thấp
Tóm lại, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến quan hệ kinh tế đối ngoại, tình trạng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp Khi điều chỉnh tỷ giá hối đoái để thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội, Nhà nước phải xem xét nhiều mặt, tính toán đến nhiều tác động khác nhau, trái chiều nhau của tỷ giá Mặt khác còn phải cảnh giác đối phó với nạn đầu cơ tiền tệ trên thế giới có thể làm cho nội
Trang 7tệ bất ngờ lên giá hoặc hạ giá do tác động của sự di chuyển các luồng vốn ngoại tệ gây
ra làm cho nền kinh tế trong nước không ổn định
2.3.2 Mối quan hệ
Tỉ giá hối đoái là 1 tỉ lệ không nhất định, thay đổi bất thường với diễn biến khó lường Tác động của tỉ giá hối đoái lên cán cân thương mại đồng thời cũng là tác động của phá giá lên cán cân thương mại
Phá giá tiền tệ là làm giảm giá trị đồng nội tệ so với các ngoại tệ khác Phá giá sẽ làm tăng tỉ giá danh nghĩa (tỉ giá danh nghĩa là tỉ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của 1 đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua dịch vụ và hàng hóa giữa chúng) kéo theo tỉ giá thực (Tỉ giá thực là tỉ giá danh nghĩa được điều chỉnh bằng tương quan giá cả trong và ngoài nước) tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại
Khi tỉ giá tăng (phá giá) giá xuất khẩu rẻ đi khi tính bằng ngoại tệ, giá nhập khẩu tính theo nội tệ tăng (hiệu ứng giá cả) và làm tăng khối lượng xuất khẩu (hiệu ứng khối lượng) Cán cân thương mại được cải thiện hay xấu đi tùy thuộc vào hiệu ứng giá cả hay hiệu ứng khối lượng cái nào trội hơn
Trong ngắn hạn, khi tỉ giá tăng và tiền lương trong nước tương đối cứng nhắc sẽ làm giá xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt hơn: các hợp đồng được kí kết theo giá
cũ, doanh nghiệp chưa huy động đủ nguồn lực để sản xuất nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cũng như nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng Tuy nhiên, hàng nhập khẩu cũng chưa thể giảm ngay do tâm lí người tiêu dùng còn nghi ngờ về chất lượng hàng tiêu dùng trong nước Do đó, số lượng hàng xuất khẩu trong ngắn hạn tăng nhanh chóng nhưng hàng nhập khẩu vẫn không giảm mạnh Vì vậy, hiệu ứng giá cả
có tính trội hơn hiệu ứng số lượng trong ngắn hạn làm cán cân thương mại xấu đi Trong dài hạn, giá nội địa giảm đã kích thích sản xuất trong nước và người tiêu dùng trong nước cũng có đủ thời gian để tiếp cận, so sánh chất lượng hàng nhập với hàng nội Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng có thời gian tập hợp đủ các nguồn lực để tăng
Trang 8khối lượng sản xuất Lúc này sản lượng bắt đầu co giãn, hiệu ứng số lượng trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện
III/ THỰC TRẠNG
3.1 Thực trạng cán cân thương mại ở Việt Nam 2004-2014
- Trong 5 năm trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua những thăng trầm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như xuất phát từ nội tại của nền kinh tế: Tăng trưởng cao nhưng chưa ổn định; Lạm phát tăng cao và đặc biệt là tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia tăng Bên cạnh đó, do tác động của cuộc khủng hoảng và môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được cải thiện như mong đợi, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa vững chắc Mặc dù mức thâm hụt hiện nay có xu hướng được cải thiện song tình trạng này chắc chắn sẽ gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế, khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam thấp và không vững chắc
Trang 9- Phân tích :
Nhìn vào biểu đồ trên, ta thấy cán cân thương mại của Việt Nam thâm hụt khá cao
• Đặc biệt vào năm 2007, mức thâm hụt ấy tăng kỉ lục, lên đến 10,36 tỷ USD Vào năm 2008, mức độ thâm hụt cán cân thương mại còn cao hơn, lên tới 12,78 tỷ USD Nhìn chung, từ năm 2004 – 2011, cán cân thương mại Việt Nam rơi vào trạng thái thâm hụt
- Nguyên nhân :
+ Nhập khẩu quá nhanh Kim ngạch nhập khẩu tăng từ 32 tỷ USD năm 2004 lên tới 110 tỷ USD năm 2011 Tương tự, kim ngạch xuất khẩu cũng tăng nhanh chóng nhưng cả giai đoạn, thì kim ngạch nhập khẩu luôn vượt trội hơn kim ngạch xuất khẩu Dẫn đến cán cân thương mại luôn bị thâm hụt trong giai đoạn này
+ Do tự do hóa thương mại Việt Nam là thành viên của WTO, thực hiện các cam kết về giảm thuế quan và các hạn chế thương mại và mở cửa thị trường theo cam kết Nhu cầu nhập tư liệu sản xuất như máy móc, hàng tiêu dùng xa xỉ tăng lên vì dân cư được cải thiện thu nhập Điều này cho thấy hàng rào thuế quan đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng thâm hụt thương mại
+ Do chính sách tỷ giá Việt Nam Cơ chế này ở Việt Nam không đảm nhận được chức năng điều hòa cán cân thương mại Do nhập siêu tăng mạnh mà tỉ giá lại không thay đổi
• Từ năm 2012 – 2014, tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu đều duy trì ở mức khá, xuất khẩu của khu vực trong nước được cải thiện, cán cân thương mại duy trì trạng thái thặng dư trong 3 năm liên tiếp
Trang 10- Thành tựu :
Năm 2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước đạt hơn 298,24 tỷ USD, tăng 12,9%, tương ứng tăng 34,17 tỷ USD so với năm 2013; nhập khẩu đạt hơn 148,05 tỷ USD, tăng 12,1%, tương ứng tăng hơn 16,02 tỷ USD Cán cân thương mại hàng hóa năm 2014 đạt mức thặng dư 2,14 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay
Xét từng khu vực kinh tế, kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 101,6 tỷ USD, tăng khoảng 15,2%, chiếm tỷ trọng khoảng 67,7% tổng kim ngạch của cả nước; kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt khoảng 48,4 tỷ USD, chiếm khoảng 32,3% tổng kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu khu vực trong nước được cải thiện hơn với tốc độ tăng trưởng khoảng 10,4%, cao hơn mức tăng 3,5% của năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012
Nhìn chung, tình hình thương mại quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn này khá tích cực Xuất khẩu duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cán cân thương mại tiếp tục thặng dư ở mức cao, cơ cấu mặt hàng và cơ cấu đối tác tương đối ổn định, xuất khẩu của khu vực trong nước cải thiện, các tác động từ diễn biến biển Đông là không lớn
- Hạn chế :
+ Tăng trưởng xuất khẩu chưa thực sự bền vững, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
có xu hướng chững lại Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu còn chậm, các mặt hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu là các mặt hàng gia công, lắp ráp, chưa thực sự đem lại giá trị gia tăng cao
+ Do tác động của cuộc khủng hoảng và môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được cải thiện như mong đợi, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa vững chắc Mặc dù mức thâm hụt hiện nay có xu hướng được cải thiện song tình trạng này chắc chắn sẽ gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền