1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề án môn Tài chính doanh nghiệp:Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

38 155 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 303,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Đã bao thời nay, loài người đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đưa vào vận hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước. Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại giá của giá, bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì đó để ngắm mà trái lại, là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc xử lý những vấn đề cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế. Và do vậy, nhận thức một cách đúng đắn và xử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái là một nghệ thuật. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc tế hoá đã bao trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống, thì sự gia tăng của hợp tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những lợi thế so sánh của mình đã làm cho việc quản lý đời sống kinh tế của đất nước và là mối quan tâm đặc biệt của chính phủ các nước trong quá trình phục hưng và phát triển kinh tế. Việt Nam là một trong những nước như vậy. Xuất phát từ những lý do trên đây, Em chọn đề tài của mình là Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam. Tập đề án được chia làm 2 phần chính. Chương I: Những vấn đề lý thuyết chung Chương II: Những chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các phạm trù kinh

tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong việc tác động đếnquan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chínhsách tiền tệ quốc gia Đã bao thời nay, loài người đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề

có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn

để từ đó xác định và đưa vào vận hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến

nó trở thành một công cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước

Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại "giá của giá", bị chi phốibởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng vốn có của bản thân nó

Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì đó để ngắm mà trái lại, là cái mà con người cần phảitiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc xử

lý những vấn đề cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế Và dovậy, nhận thức một cách đúng đắn và xử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái làmột nghệ thuật

Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc tế hoá đã baotrùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống, thì sự gia tăng của hợp tácquốc tế nhằm phát huy và sử dụng những lợi thế so sánh của mình đã làm cho việc quản lýđời sống kinh tế của đất nước và là mối quan tâm đặc biệt của chính phủ các nước trong quátrình phục hưng và phát triển kinh tế Việt Nam là một trong những nước như vậy

Xuất phát từ những lý do trên đây, Em chọn đề tài của mình là "Một số vấn đề về tỷ

giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam" Tập đề án được chia làm 2 phần

chính

Chương I: Những vấn đề lý thuyết chung

Chương II: Những chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

Trang 2

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.1 Tỷ giá hối đoái và sự hình thành tỷ giá hối đoái

1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái:

Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm quốc gia liên kết (như liên minh Châu Âu) đều

có đồng tiền riêng của mình Việt nam có tiền đồng (VNĐ), Trung quốc có Nhân dân tệ(CNY), Mỹ có Dollar (USD)

Mối liên hệ kinh tế giữa các nước, các nhóm nước với nhau mà trước hết là quan hệmua bán trao đổi đầu tư dẫn đến việc cần có sự trao đổi đồng tiền của các nước khác nhauvới nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia, từ đó ta có thể nói rằng: tỷ giá hối đoái là giá

cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác Thông thường,thuật ngữ "Tỷ giá hối đoái" được ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để muamột đơn vị ngoại tệ, tuy nhiên ở Mỹ và Anh được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượngđơn vị ngoại tệ cần thiết để mua một đồng USD hoặc đồng bảng Anh; ví dụ: ở Mỹ 0,8xu/USD

Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ gia hối đoái:

- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là tỷ giá hôí đoái được biết đến nhiều nhất dongân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày

- Tỷ giá hối đoái thực tế (er) được xác định er = en * Pn/Pf

Pn: chỉ số giá trong nướcPf: chỉ số giá nước ngoài

Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát giữa cácnước và phản ánh đúng sức mua và sức cạnh tranh của một nước

1.1.2 Sự hình thành tỷ giá hối đoái

1 Cầu về tiền trên thị trường ngoại hối

Trang 3

Có cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại hối khi dân cư từ các nước khác muahàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra tại nước A Một nước xuất khẩu càng nhiều thì cầu đốivới đồng tiền nước đó càng lớn trên thị trường ngoại hối.

Đường cầu về một loại tiền là hàm của tỷ giá hối đoái của nó xuống dố phía bên phải,điều này cho thấy nếu tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá của nước ấy càng trở lên đắt hơnđối với những người nước ngoài và ít hàng hoá xuất khẩu hơn

2 Cung về tiền trên thị trường ngoại hối

Để nhân dân nước A mua được các sản phẩm sản xuất ra ở nước B họ phải mua mộtlượng tiền đủ lớn của nước B, bằng việc dùng tiền nước A để trả Lượng tiền này của nước

A khi ấy bước vào thị trường quốc tế

Đường cung về tiền là một hàm của tỷ giá hối đoái của nó, dốc lên trên về phía phải

Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá nước ngoài càng rẻ và hàng hoá ngoại được nhập khẩungày càng nhiều

Các tỷ giá hối đoái được xác định chủ yếu thông qua các lực lượng thị trường cung vàcầu Bất kỳ cái gì làm tăng cầu về một đồng tiền hoặc làm giảm cung của nó đều có xuhướng làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên Bất kỳ cái gì làm giảm cầu về một đồng tiền hoặclàm tăng cung đồng tiền ấy trên các thị trường ngoại hối sẽ hướng tới làm cho giá trị trao đổicủa nó giảm xuống ở hình vẽ dưới, ta thấy được tỷ gía hối đoái cân bằng Lo của đồng VN vàUSD Mỹ thông qua giao điểm S và D

L USD S

Lo

D

Trang 4

Qo Q(đ)

1.1.3 Phân loại tỷ giá hối đoái

Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia ra nhiều loại tỷ giá khác nhau:

1 Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được chia ra làm hai loại:

- Tỷ giá điện hối là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyểnngoại hối bằng điện (telegraphic transfer -T/T)

- Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyểnngoại hối bằng thư ( mail transfen M/T)

2 Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái chia ra các loại:

- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do Nhà Nước công bố được hình thành trên cơ sở nganggiá vàng

- Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung cầu

- Tỷ giá thả nổi là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước không canthiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này

- Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào đó

3 Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các loại:

- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ

- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằngngoại tệ

- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc chuyển khoản ngoạihối không phải bằng tiền mặt, bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng

- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối bằng tiềnmặt

4 Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:

Trang 5

- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối củachuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.

- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối củachuyến giao dịch cuối cùng trong ngày

- Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối sẽđược thực hiện chậm nhất trong 2 ngày làm việc

- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối

sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng(có thể là 1,2,3 tháng sau)

5 Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá::

- Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào

- Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái:

1- Cán cân thương mại: trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập khẩu của mộtnước tăng thì đường cung về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển về phía bên phải, tỷ giá hốiđoái giảm xuống; nếu xuất khẩu tăng thì đường cầu về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển sangtrái tỷ giá hối đoái tăng lên

2- Tỷ giá lạm phát tương đối: nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn tỷ lệ lạm phátcủa một nước khác thì nước đó sẽ cần nhiêù tiền hơn để mua một lượng tiền nhất định củanước kia Điều này làm cho cung tiền dịch chuyển sang phải và tỷ giá hối đoái giảm xuống

3- Sự vận động của vốn: khi người nước ngoài mua tài sản tài chính, lãi suất có ảnhhưởng mạnh Khi lãi suất của một nước tăng lên một cách tương đối so với nước khác thìcác tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều người dân nước ngoài muốn muatài sản ấy Điều này làm cho đường cầu về tiền của nước đó dịch chuyển sang phải và làmtăng tỷ giá hối đoái của nó Đây là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất tới tỷ giá ởcác nước phát triển cao

Trang 6

4- Dự trữ, phương tiện thanh toán, đầu cơ: tất cả đều có thể làm dịch chuyển đườngcung và cầu tiền tệ Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền, đặc biệt trong điều kiệnthông tin liên lạc hiện đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao ddổi hàng tỷ USD giátrị tiền tệ mỗi ngày.

Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây lên sự dịch chuyển đường cung và cầu trên thịtrường ngoại hối Sự dịch chuyển này đến lượt nó sẽ gây ra những dao động của tỷ giá hốiđoái, và như vậy phản ứng dây chuyền, những biến động của tỷ giá hối đoái lại tác động đếnnền kinh tế trong nước

1.3 Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế

1.3.1 Thực trạng quan hệ giữa tỷ giá với ngân sách:

Mọi sự biến động của các loại tỷ giá đều tác động trực tiếp tới thu chi ngân sách.Trước năm 1990 nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá kết toán nội bộ, mức tỷ giá nhà nướccông bố thường cố định trong thời gian tương đối dài ở thời điểm công bố mức tỷ giá thấphơn nhiều so với mức giá trên thị trường và tình hình sức mua của đồng tiền tính chung thời

kỳ 1985-1988, 1rúp mua trên dưới 1.500VND hàng xuất khẩu, 1USD trên dưới 3.000VND,trong khi đó tỷ giá kết toán nội bộ thanh toán trong quan hệ xuất nhập khẩu giữu mức150VND/Rúp và 225VND/USD Nhìn chung 1Rúp hàng xuất khẩu phải bù lỗ 1.350VND và1USD phải bù 2.775VND Kim ngạch xuất khẩu của năm 1987là 650 triệu R-USD trong đókhu vực đồng Rúp 500 triệu và khu vực đồng USD 150 triệu, Ngân sách nhà nước đã phải

bù lỗ 900 tỷ Như vậy, các ngành, các địa phương được phân phối các loại vật tư,nguyên liệu

đó thì được hưởng phần giá thấp còn ngân sách nhà nước lại không thu được chênh lệch giá.Việc thực hiện cơ chế tỷ giá kết toán nội bộ trong thanh toán xuất - nhập khẩu và bù lỗ hàngxuất khẩu đó là:

- Nếu thực hiện nghiêm trọng nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu cho bạn để có thể đưahàng nhập về đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, thì mức lỗ của ngân sách cho hàngxuất khẩu lớn gây trở ngại cho việc điều hành ngân sách

Trang 7

- Nếu trì hoãn cho việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu nhưng trong khi đóvẫn yêu cầu bạn giao hàng nhập cho ta theo tiến độ, thì việc bù lỗ hàng xuất khẩu được giảm

ở mức độ nhất định, nhưng nghĩa vụ nợ của ta với bạn lại tăng lên đáng kể

Tỷ giá hối đoái bị bóp méo so với thực tế đã khiến cho thu chi ngân sách Nhà nướckhông phản ánh đúng nguồn thu từ nước ngoài và các khoản cấp phát của ngân sách Nhànước cho nền kinh tế quốc dân và cho các hoạt động khác có sử dụng ngoại tệ

Việc tạo ra một tỷ giá chính thức tưởng là giữ giá trị đồng Việt Nam so với ngoại tệ

để kế hoạch hoá và ổn định kinh tế, nhưng thực chất là đẩy xuất khẩu Việt Nam vào ngõ cụt,không khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu và đẩy mạnh hàng xuất khẩu, hệ quả là cán cânthương mại bị nhập siêu nghiêm trọng, ngân sách Nhà nước phải gánh chịu thêm các thuathiệt

Khi buộc phải thả nổi và phá giá mạnh đã làm cho chi phí của các doanh nghiệp tănglên đáng kể và lợi nhuận bị giảm, do đó mức thu từ thuế lợi tức của các tổ chức kinh tế chongân sách Nhà nước cũng bị ảnh hưởng Mặt khác, các khoản chi tiêu cho các cơ quan và tổchức được Nhà nước cấp cũng được tăng lên tương ứng với mức mất giá của đồng nội tệ.Tình hình đó đã tác động đến yếu tố làm tăng bội chi ngân

Từ năm 1989, cùng với các cải cách kinh tế, tài chính, tiền tệ, Nhà nước đã bỏ chế độ

tỷ giá trước đây (tỷ giá kết toán nội bộ) , giảm căn bản bù lỗ cho hoạt động xuất - nhập khẩu

và thực hiện chính sách giá sát với tỷ giá thị trường Ngân hàng nhà nước công bố tỷ giáchính thức của VNĐ với các ngoại tệ mạnh, nhất là với USD trên cơ sở đó các ngân hàngthương mại xây dựng và công bố tỷ giá hàng ngày với biên độ chênh lệch cho phép (khoảng5%) so với tỷ giá chính thức

Về mặt ngân sách Nhà nước, chính sách một tỷ giá hối đoái sát với thị trường khiếncho việc tính toán thu chi Ngân sách Nhà nước phản ánh trung thực và chính xác hơn, không

bị bóp méo Tỷ giá đó góp phần làm cho công tác kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nước ngoài

từ ngân sách Nhà nước thuận lợi hơn và có cơ sở vững chắc hơn

Trang 8

* Mặc dù có những thành công rất đáng kể trong lĩnh vực tỷ giá và quản lý ngoại tệ,nhưng vẫn còn một số hạn chế đã làm ảnh hưởng không tốt đến quản lý, điều hành ngânsách, đó là:

+ Nguồn ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ, còn bị buông lỏng đã khiến cho lựclượng ngoại tệ của Nhà nước tăng chậm và chưa tương xứng với mức độ tăng của cán cânthương mại, một cơ sở của sự ổn định thu chi ngân sách Nhà nước là quĩ ngoại tệ chưa đượctăng cường

+ Vì tỷ giá hối đoái chính thức theo sát tỷ giá thị trường nếu không ổn định thì khôngnhững ngân sách bị động mà việc tính toán thu chi Ngân sách bằng ngoại tệ theo không kịpthời dẫn tới không sát với thực tế thị trường, điều hành NSNN không tránh khỏi lúng túng,nhất là trường hợp bị thiếu hụt khi trả nợ đến hạn đòi phải giải quyết

1.3.2 Thực trạng quan hệ tỷ giá và nợ nước ngoài

Tỷ giá có mối quan hệ hữu cơ với nợ nước ngoài và công tác quản lý nợ Trước năm

1979, Việt Nam có sử dụng 20tỷ Yên Nhật tương đương 92 triệu USD (tỷ giá 216 Yên =1USD) Ngày 6/11/1992 chính phủ Nhật mở lại tín dụng với Việt Nam và cho Việt Nam vay

20 tỷ Yên, tương đương 159 triệu USD (tỷ giá 126 Yên= 1USD) Ngoài ra, vào thời điểm

1987 trở về trước còn có các khoản vay các công ty của Nhật 20 tỷ Yên, tương đương 125triệu USD ( tỷ giá 160 Yên= 1USD) Đầu năm 1995, đồng Yên lên giá, 1USD chỉ còn 90Yên là như vậy, xét về góc độ tỷ giá thì trong thời gian qua sự tăng giá của đồng Yên Nhật,

đã làm tăng thêm gánh nặng nợ gốc qui ra USD, làm thiệt thòi cho người đi vay

Tương tự, việc sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp ở nước ta liên quan đến nhiềuyếu tố, trong đó tỷ giá có tác động mạnh đến khả năng thanh toán của các doanh nghiệp.Trong các năm 1989-1990 có 81 doanh nghiệp vay nợ nước ngoài theo phương thức tự vay

tự trả với doanh số vay là 5722 triệu Yên là 10,9 triệu USD, tỷ giá lúc này là 130Yên=1USD, do đó tổng vay nợ bằng đồng Yên quy ra USD là 44 triệu USD Đến năm 1995,

do chưa trả được nợ mà đồng yên lại tăng giá, nên nợ gốc vay tăng từ 44 triệu USD lên 58triệu USD (chưa tính đến yếu tố lãi suất tiền vay và tỷ giá giữa đồng VN và USD) Do tổng

Trang 9

hợp nhiều yếu tố, rong đó có yếu tố về tỷ giá, nên đại bộ phận trong số 81 doanh nghiệp vayvốn theo phương thức này đều bị sức ép của cả hai loại tỷ giá.

- Tỷ giá giữa Yên và USD (đại bộ phận doanh số vay của các doanh nghiệp kể trên làvay đồng Yên cuả các công ty Nhật trong khi đó đồng Yên tăng giá)

- Tỷ giá giữa đồng VN và USD (trong khi đó đồng Việt nam bị giảm giá)

Sự biến động của tỷ giá cùng các với yếu tố ngoại hối, nhưng nó có ý nghĩa đặc biệtriêng của nó đối với việc huy động vốn, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu chingân sách nhà nước, ổn định kinh tế và xã hội Ngược lại, vực nợ nước ngoài nếu khôngquản lý tốt và không sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành gánh năngk đối với nền kinh tế hiệntại và tương lai, có khi còn ảnh hưởng đến nền độc lập và chủ quyền quốc gia

Về viện trợ: viện trợ không hoàn lại không nhiều, nhưng cũng phải được quản lý chặtchẽ Những khoản viện trợ cuả nước ngoài cho chính phủ và các cấp chính quyền phải đượcđưa vào ngân sách nhà nước để cân đối và sử dụng, không hình thành quỹ riêng Tuy cáckhoản này ngân sách không phải trả lại nhưng là một nguồn khá quan trọng góp phần giảiquyết các vấn đè của đất nước

Để đáp ứng yêu cầu trên, chính phủ cần thành lập một tổ chức trực tiếp quản lý nợ,viện trợ Cơ quan này không những nắm các khoản nợ, viện trợ, tài trợ của chính phủ, cáccấp chính quyền, mà cả các khoản nợ của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếnhằm thực hiện yêu cầu quản lý vĩ mô của nhà nước trong điều kiện kinh tế mở Chỉ xétriêng trong cán cân vay lãi, cán cân thanh toán quốc tế, thì không phải chỉ có nợ chính phủmới nằm trong đó mà ngay cả nợ của các doanh nghiệp tư nhân các của nước cũng phải đưavào Bởi vì, vốn đưa vào dù ai sử dụng thì vẫn là cho cả nền kinh tế và khi trả, dù ai trả cũngphải lấy một phần GDP để trả nợ mà việc đó liên quan đến lợi ích quốc gia, trực tiếp tácdộng đến sự cân bằng của cán cân thanh toán là quốc gia có số nợ nước ngoài lớn nếu so vớiGDP, trong tương lai còn phải vay và đồng thời phải trả nợ đến hạn vì vậy với việc hìnhthành chiến lược vay và trả nợ có ý nghĩa chiến lược to lớn

1.3.3 Thực trạng tác động của tỷ giá đến lãi suất và trái phiếu chính phủ.

Trang 10

Tỷ giá ngoại hối có liên quan chặt chẽ đến lãi suất và có tác dụng điều chỉnh lãi suất.Trong nền kinh tế thị trường khi đồng nội tệ mất giá khối lượng nội tệ cung ứng ngoài thịtrường lớn đòi hỏi phải điều chỉnh tăng lãi suất, trong trường hợp này làm tăng chi ngân sách

về thanh toán lãi suất huy động nội tệ Khi đồng nội tệ lên giá nhà nước phải điều chỉnhgiảm mức lãi suất, điều này sẽ giảm chi ngân sách về thanh toán lãi suất huy động nội tệ, nếukhông điều chỉnh mức lãi suất thì những nhà sản xuất kihn doanh sẽ bán ngoại tệ cho ngânhàng lấy nội tệ gửi vào ngân hàng hoặc mua trái phiếu chính phủ để hưởng lãi suất cao Điềunày sẽ tác động xấu đến sản xuất-kinh doanh trong khi đó ngân sách phải tiếp tụcthanh toánlãi suất về huy động tiền gửi Kinh nghiệm của một số nước châu á (như Malaixia, Thái lan,Indonexia) cho thấy việc sử lý hài hoà phối hợp điều hành lãi suất và tỷ giá ngoại hối đã làmcho tỷ giá giữ được biên độ ổn định và tiền tệ không có biến động mạnh

Do đồng USD mất giá ở mức cao, nên hiện nay Mỹ đang đẩy mạnh xu hướng nângcao lãi suất Việc làm này sẽ làm tăng lãi suất tiền vay bằng ngoại tệ USD, và do đó sẽ tácđộng trực tiếp đến các khoản vay nợ của Việt nam Với diễn biến này đòi hỏi chúng ta cần

có sách lược chọn đồng tiền với mức lái suất thích hợp, nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốnvay đạt hiệu quả

Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên đây và thực trạng Việt nam cho thấy, tình

hình tài chính quốc gia (đặc biệt là ngân sách nhà nước) và chế độ ngoại tệ, tỷ giá có quan hệbiện chứng qua lại hết sức chặt chẽ, một mặt tình hình tài chính (mà biểu hiện tập trung làngân sách nhà nước) là một nhân tố hàng đầu quyết định đến sự lựa chọn tỷ giá, phương ánđiều chỉnh tỷ giá, mặt khác chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá cũng có ảnh hưởng hết sức mạnh

mẽ, toàn diện đến quản lý Nền tài chính quốc gia thông qua nhiều kênh, dưới nhiều hìnhthức và góc độ khác nhau, chính vì vậy khi đặt vấn đề lựa cọn chính sách, phương án điềuchỉnh tỷ giá sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu như không đề cập, phân tích thực trạng tài chínhhiện hành của quốc gia

1.3.4 Tỷ giá hối đoái đối với điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại.

Các nước đang phát triển thường thiết ké chính sách tỷ giá hối đoái nhằm duy trì sứccạnh tranh quốc tế ở mức phù hợp với vị thế cán cân thanh toán quốc tế lâu bền Bằng cách

Trang 11

tăng giá các hàng thương mại hoá được so với các hàng hoá không thương mại hoá được; sựphá giá đồng thời chuyển dịch cầu tổng thể có lợi cho các cho các hàng hoá không thươngmại hoá được, và cung tổng thể có lợi cho các hàng hoá thương mại hoá được, và do đógiảm bội dư cầu đối với hàng hoá thương mại hoá được (tức là cải thiện được vị thế của cáncân vãng lai) Ngoài tác dộng của chính sách chuyển đổi chi tiêu, phá giá cũng giảm cầutổng thể thông qua ảnh hưởng của khối lượng tài sản, một sự tăng giá nội địa sẽ làm cho sựphá giá đồng tiền nội địa tháp hơn giá trị thực của tài sản tài chính và giảm hấp thụ.

Do vai trò cốt yếu của tỷ giá hối đoái đói với việc duy trì sức cạnh tranh đối với bênngoài tỷ giá có thể làm thay đổi vượt ra khỏi điểm cân bằng của nó Bởi vì điểm cân bằngnày được xác địng nội sinh, chính sách tỷ giá hối đoái cần lưu ý đến các tác động của cáccơn sốc khác nhau lên điểm cân bằng của tỷ giá thực Phần này đề cập đến các tiếp cận khácnhau trong việc xác định điểm cân bằng tỷ giá thực và nghiên cứu tác dộng của các cơn sốcbên trong và bên ngoaig lên điểm cân bằng đó, sau đó sẽ tập trung vào chính sách cụ thểnhằm duy trì sức cạnh tranh trong quá trình điều chỉnh

Xác định tỷ giá hối đoái cân bằng:

Nói chung có hai tiếp cận để xác định tỷ giá hối đoái thực "cân bằng" Tiếp cận đơngiản và phổ biến nhất là dựa vào khái niệm tỷ giá theo sức mua so sánh Nguyên lý trungtâm của tỷ giá so sánh sức mua là tỷ thực cân bằng tỷ lệ với các mức giá tương đối giữa mộtnước với đối tác ngoại thương của mình, tức là đối với sức mua so sánh giữa các đồng tiềncác quốc gia Như vậy tỷ giá sức mua so sánh được coi là chỉ số thích hợp cho cân bằng tỷgiá giưã các đồng tiền với tỷ lệ lạm phát quy định tỷ lệ thay đổi của tỷ giá danh nghĩa theothời gian Việc áp dụng tỷ giá so sánh sức mua bao gồm việc sử dụng tỷ giá hối đoái hiệnhữu để tính mặt bằng giá tương đối theo các đại lượng tiền tệ thông dụng Bất cứ sự sai lệchnào của tỷ giá thực so với giá trị gốc của nó sẽ được coi là dấu hiệu tỷ giá đã đi lệch ra khỏigiá trị tỷ giá so sánh sức mua cân bằng

Tiếp cận khác, có sức hấp dẫn hơn là định nghĩa tỷ giá hối đoái thực như là giá sosánh tương đối giữa hàng hoá mậu dịch và hàng hoá không mậu dịch hoá được, nó đưa rathước đo các động lực quyết định sự phân phối nguồn lực giữa hai khu vực trọng yếu này

Trang 12

của nền kinh tế: nếu giá nội địa của hàng hoá thương mại hoa so với hàng hoá không thươngmại hoá được thì nguồn lực sẽ được phân phối lại sang khu vực hàng hoá thương mại hoá vàcán cân ngoại thương sẽ được cải thiện Theo nghĩa đó, thì điểm cân bằng của tỷ giá thực sẽtương ứng với giá so sánh giữa hàng hoá thương mại hoá và hàng hoá không thương mại hoáđem lại đồng thời sự cân bằng nội và cân bằng ngoại Cân bằng nội có nghĩa là thị trườnghàng hoá không thương mại hoá được thanh toán liên tục, cân bằng ngoại có nghĩa là thâmhụt cán cân vãng lai được tài trợ một cách bền vững từ luồng vốn nước ngoài vào.

Ngoài chỉ số giá thực tế thì vẫn còn có các vấn đề tiềm tànglên quan đến biến độngchỉ số và sức cạnh tranh với bên ngoài Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra sự thay đổi chỉ số

tỷ giá thực quan được có thể là biểu hiện của sự thay đổi điểm cân bằng của tỷ giá thực docác loại cơn sốc trong nước và nước ngoài gây ra (ví dụ: sự tác động cảu chênh lệch mứctăng năng suất, thay đổi điều kiện ngoại thương, cải cách thuế quan, thay đổi trong điều hànhngân sách chính phủ, sự tăng lên của lãi suất thực quốc tế) lên cân bằng của tỷ giá thực

Phân tích về tác động của cải cách thuế nhập khẩu cho thấy: giảm thuế nhập khẩuthường là tương đương với tăng tỷ giá thực cânbằng về phương diện định tính thì tác độngcủa tự do hoá nhập khẩu cũng giống như việc cải thiện điều kiện ngoại thương (do giảm giáxuất khẩu) Thuế nhập khẩu thấp hơn sẽ giảm giá tương đối của hàng nhập khẩu, tạo nên sự

dư thừa cầu đối với hàng hoá này, và dư thừa cung đối với hàng hoá xuất khẩu để đưa vềcân bằng thì giá tương đối của hàng hoá không thương mại hoá sẽ giảm Như vậy phản ứngđối với việc giảm thuế nhập khẩu là tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng lên

Tỷ giá thực cân bằng cũng bị tác động của các biện pháp ngân sách, ngay cả khi thiếuhụt ngân sách không thay đổi thì sự thay đổi trong cơ cấu thu chi ngân sách cũng làm cho tỷgiá thực cân bằng thay đổi Vì vậy điểm cân bằng của tỷ giá hối đoái thực không chỉ định do

vị thế ngân sách quy định, mà còn do cơ cấu chi và thu của chính phủ quy định

Tỷ giá hối đoái thực, sức cạnh tranh quốc tế và lạm phát:

Trong khi tỷ giá thực có thể chênh lệch ra khỏi điểm cân bằng vì một số các cơn sốcgây nên thì nguyên nhân chủ yếu của viêvj xấu đi sức cạnh tranh đối với bên ngoài ở hầu hết

Trang 13

các nước đang phát triển là tỷ lệ lạm phát nội địa cao kèm theo việc duy trì chế độ tỷ giá tỷgiá danh nghĩa cố định Các tiếp cận để ngăn ngừa sự xấu đi của sức cạnh tranh quốc tế làthực hiện quy tắc tỷ giá thực.

Như vậy quy tắc tỷ giá có thể ngăn ngừa được sự xuất hiện mất cân đối lớn và lâu dàicủa các giá cả tương đối và do đó tránh được mất cân bằng ngoại, bằng cách cho tỷ giá danhnghĩa được điều chỉnh thường xuyên và theo liều lượng tương đối nhỏ Người ta lập luậnrằng: tỷ giá hối đoái thực tế có thể giữ được ở mức đúng đắn, không gây ra cái giá điềuchỉnh phải trả cho nền kinh tế, và do đó che lấp được vấn đề phá giá có thể nổi lên trên chiếntrường chính trị Hơn thế nữa, người ta còn khẳng định quy tắc tỷ giá thực cung cấp mộtmức cho dự đoán bởi vì nó cung cấp cho những người tham gia thị trường thông tin bổ ích

về chiều hướng có thể xảy ra các giá tương đối và do đó tránh được các quyết định sản xuấtdựa trên các dự đoán mong đợi sai lệch

Kinh nghiệm các nước lạm phát cao đã làm tăng sự phản đối việc chấp nhận các quytắc tỷ giá thực Nhiều nước trên đã trải qua tình trạng tỷ lệ lạm phát cao trong thập kỷ trước

mà đặc trưng "mặt bằng cao" Lạm phát nhảy từng bước đến các thời kỳ lạm phát cao hơnnhưng lại tương đối ổn định Trong một số trường hợp thì bước nhảy như vậy liên quan đếnphá giá từng đợt, tiếp theo là "cố định" dựa vào các quy tắc tỷ giá so sánh sức mua Điều nàycũng không kết luận rằng: gắn cố định dựa trên cơ sở tỷ giá so sánh sức mua là gây nên lạmphát cao, nhưngnthực tiễn cho thấy nguy cơ ngày càng cao

Tóm lại, một khi đích mục tiêu đặt ra đối với tỷ giá thực vẫn còn đúng, thì tiềm năng

gây lạm phát do sử dụng đích mục tiêu tỷ giá thực gây ra có thể được kìm hãm bằng cách sửdụng các chính sách ngân sách và tiền tệ thắt chặt, tiếp cận này sẽ ngăn ngừa sự xuất hiệnbiến động gây mất ổn định của giá cả, ngay cả khi nếu tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh đểduy trì sức cạnh tranh quốc tế Khi không biết chắc chắn giá trị cân bằng của tỷ giá thực thìkhông nên quá chú trọng vào việc đặt ra đích mục tiêu tỷ giá thực, ngya cả khi nếu cácchính sách ngân sách và tiền tệ được sử dụng một cách thận trọng Gánh nặng của điều chỉnh

ít nhất là một phần do các chính sách tài chính chịu, hơn là hoàn toàn dồn cho điều chỉnh tỷ

Trang 14

giá Theo nghĩa đó thì cần phải chú ý rằng các chính sách như vậy bản thân chúng có thểchịu tác động bởi chế độ tỷ giá hối đoái mà chính phủ đưa ra.

Để phân tích tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế ta đưa ra khái niệm khả năngcạnh tranh Khả năng cạnh tranh = ePo/P

trong đó: Po: giá sản phẩm ngoài tính theo gía thi trường nước ngoài

P: giá sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước tính theo đồng nội tệ

e:tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước ngoài tính theo đồng nội địa

Với P và Po không đổi khi E tăng , EPo sẽ tăng Giá của sản phẩm nước ngoài trở nênđắt tương đối so với giá của sản phẩm trong nước và ngược lại, giá của sản phẩm trong nướctrở nên rẻ, tương đối so với sản phẩm nước ngoài Sản phẩm trong nước do đó có khả năngcạnh tranh cao hơn xuất khẩu sẽ tăng ( X tăng ), nhập khẩu giảm đi (IMgiảm), điều này làmcho xuất khẩu ròng (NX= X_IM) tăng lên Vì AD=C+I+G+NV nên NX tăng lên làm cho

AD dịch phải, trên hình vẽ ta thấy sản lượng cân bằng Q tăng lên tỷ lệ thất nghiệp giảm

AD'

AD

Q* QNhư vậy sự thay đổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa, do đó tỷ giá hối đoái thực tế sẽ tácđộng đến cân bằng cán cân thương mại, do đó tác động đến sản lượng, việc làm giá cả

Hãy mở rộng tác động của tỷ giá hối đoái với cán cân thanh toán, ở đây có mối quan

hệ giữa lãi xuất và tỷ giá hối đoái

Trang 15

Khi lãi suất tăng lên, đồng tiền nội địa trở nên có giá trị hơn, tỷ giá hối đoái của đồngnội địa tăng lên, trong điều kiện tư bản vận động một cách tự do thì tư bản nước ngoài sẽtràn vào thị trường trong nước, giả định cán cân thương mại là công bằng thì cán cân thanhtoán là thặng dư.

Như vậy tỷ giá hối đoái là một biến cố rất quan trong, tác động đến sự cân bằng củacán cân thương mại và cán cân thanh toán, do đó tác động đến sản lượng, việc làm cũng như

sự cân bằng của nền kinh tế nói chung Chính vì vậy, một số nước trên thế giới vẫn còn duytrì tỷ giá hối đoái cố định, còn phần lớn các nước theo đuổi chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi

có quản lý nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái chỉ biến động trong một phạm vi nhất định, để ổnđịnh và phát triển nền kinh tế

1.4 Các chế độ tỷ giá hối đoái

1.4.1 Tỷ giá hối đoái cố định bản vị vàng

Theo chế độ bản vị vàng,tỷ giá hối đoái được qui định căn cứ vào hàm lượng vàngcủa các đồng tiền Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, khi thương mại quốc tế tănglên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản vị vàng này không đáp ứng được nhu cầu pháttriển và các nước thôi áp dụng từ năm 1971

1.4.2 Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp

Loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại các nước Xã hội chủ nghĩa thời kỳ kinh tế

kế hoạch hoá tập trung Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp thường chênh lệch nhiều lần so với

tỷ giá hối đoái thị trường, không có vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô đối với xuất nhập khẩu,loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại Việt Nam trước năm 1989

1.4.3 Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do

Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được quyết định hoàn toàn bởicác lực lượng cung cấp cầu về ngoại tệ Trong hệ thống này chính phủ giữ thái độ thụ động,

để cho thị trường ngoại tệ đánh giá giá trị của ngoại tệ - loại tỷ giá hối đoái này ít được áp

Trang 16

dụng vì các thị trường tiền tệ thường không hoàn hảo và do vậy luôn cần có vai trò can thiệpcủa nhà nước

1.4.4 Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết

Theo chế độ này, chính phủ không cam kết duy trì một tỷ lệ cố định với ngoại tệ, màthả nổi đồng tiền của mình và có biện pháp can thiệp mỗi khi thị trường trở nên (mất trậttự) , hoặc khi tỷ giá hối đoái đi chệch xa mức thích hợp loại tỷ giá hối đoái này hiện đangđược áp dụng tại các nước Tư Bản Chủ Nghĩa, nơi mà lạm phát đạt thấp, các thị trường pháttriển ở trình độ cao

1.4.5 Tỷ giá hối đoái ổn định có điều tiết

Theo chế độ này, chính phủ không để ngoại tệ trôi nổi tự do, mà can thiệp vào thịtrường ngoại tệ bằng cách mua bán ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá qui định Sau mỗi thời giannhất định, mức tỷ giá hối đoái lại được điều chỉnh cho phù hợp và duy trì ổn định

1.5 Sự can thiệp của nhà nước vào tỷ giá hối đoái:

Việc thực hiện một chế độ tỷ giá linh hoạt vừa phải có sự kiểm soát với một mức tỷgiá gọi là tỷ giá chính thức được công bố bởi ngân hàng nhà nước, cùng với một biên độ quyđịnh cho các mức tỷ giá giao dịch trên thị trường so với tỷ giá chính thức đòi hỏi chính phủnói chung và ngân hàng nhà nước nói riêng cần phải có sự can thiệp điều phối thị trường đểduy trì biên độ quy định trong hoạt động can thiệp đó cần phải chú ý một số vấn đề sau:

+ Ngân hàng nhà nước luôn phải xác định mình là một thành phần chủ chốt, thườngtrực của các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng

+ Trong công tác điều hành hệ thống tỷ giá hối đoái nói chung và thị trường ngoại hốinói riêng, NHNN cần có sự phân tích rõ ràng giữa hai chức năng: chức năng ngân hàng đạidiện cho nhà nước với chức năng can thiệp thị trường Trong đó chức năng ngân hàng đạidiện cho nhà nước là để thực hiện các chức năng giao dịch nhằm thanh toán các khoản thuchi của nhà nước và giao dịch tăng tích luỹ ngoại tệ theo mục tiêu, còn chức năng can thiệpthị trường là nhằm điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường

Trang 17

+ NHNN phải không ngừng chú trọng việc xây dựng và tăng cường bộ khung của thịtrường ngoại tệ liên ngân hàng bằng việc tăng số lượng thành viên trên thị trường Từngbước cho các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng thương mại tham gia đầy đủ cácnghiệp vụ như kỳ hạn hoán đổi mặc dù có thể giới hạn ở việc các giao dịch này chỉ đượcthực hiện với các NHTM và NHNN.

+ NHNN và các bộ ngành phải có kế hoạch dự tính trước các giao dịch của mình mộtcách cụ thể và không để các thành phần kinh tế khác bật ra khỏi thị trường chính thức bằngcách các giao dịch của nhà nước không chỉ được thực hiện trên thị trường ngoại tệ liên ngânhàng mà còn phải mở rộng giao dịch trên khu vực tự do của thị trường

+ Việc can thiệp của ngân hàng nhà nước và nhằm vào điều phối các quan hệ cungcầu trên thị trường chứ không nên có sự can thiệp sâu vào các nghiệp vụ mang tính kỹ thuậtcủa thị trường

+ Mục đích can thiệp của ngân hàng trung ương không hoàn toàn giống nhau, điềunày phụ thuộc vào tình hình, ý đồ chiến lược của mỗi nước, ngay ở một quốc gia thì mụcđích can thiệp ở mỗi thời kỳ cũng khác nhau Để thực hiện điều chỉnh tỷ giá hối đoái đã vàđang tồn tại nhiều phương pháp khác nhau, sau đây là một vài phương pháp phổ biến:

1.5.1 Phương pháp lãi suất chiết khấu:

Đây là phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thịrường Với phương pháp này, khi tỷ giá hối đoái đạt đến mức "báo động" cần phải can thiệpthì ngân hàng trungương nâng cao lãi suất chiết khấu Do lãi suất chiết khấu tăng, lãi suấtcho vay trên thị trường cũng tăng lên kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽdồn vào để thu lãi cao hơn Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, tỷ giáhối đoái không có cơ hội để tăng nữa Vào năm 1971 đến năm 1973 USD rơi vào khủnghoảng Tổng thống Mỹ Nich-xơn đã phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu nguycho USD banừg cách tăng lãi suất chiết khấu lên rất cao để thu hút vốn ngắn hạn trên thịtrường tiền tệ quốc tế Tuy nhiên chính sách lãi suất chiết khấu cũng có những hạn chế nhất

Trang 18

định, vì quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại gián tiếp, chứ khôngphải quan hệ trực tiếp nhân quả.

1.5.2 Các nghiệp vụ thị trường hối đoái:

Thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một trongnhững biện pháp rất quan trọng của nhà nước để giữ vững sự ổn định sức mua của đồng tiềnquốc gia Đây là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá hối đoái Đây là hoạt động mangtính chủ quan, do vậy việ lựa chọn các thời điểm cần mua bán ngoại tệ trên thị trường với tỷgiá nào để đạt được mục tiêu điều chỉnh có ý nghĩa quyết định Để nắm được một cách đầy

đủ tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường, nagỳ nay nhiều nước trên thế giới đã và đang

tổ chức các thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, một trong những điều kiện không thể thiếuđược cho bất kỳ quốc gia nào là cần phải thường xuyên có một lượng dự trữ ngoại tệ dư sức

để can thiệp vào thi trường khi cần thiết

1.5.3 Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái:

Trong điều kiện tình hình giá cả thị trường luôn không ổn định, thậm chí xảy ranhững biến động lớn, các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái như là một trongnhững công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái Nguồn vốn để hình thành quỹ thường là:

+ Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia

+ Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái Theo phương pháp này, khi cáncân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, quỹ sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cáncân thanh toán

1.5.4 Vốn để phá giá đồng tiền:

Phá giá đồng tiền là việc nâng cao hoặc hạ thấp sức mua của đồng tiền đối với cácngoại tệ Kết quả của phá giá đồng tiền sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái Trên thế

Trang 19

giới, việc phá giá đồng tiền thường được sử dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế dồi dào,nhưng phải đối đầu với suy thoái kinh tế đi đôi với lạm phát trầm trọng.

Trên đây là một số công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động vào tỷ giá hối đoáinhằm mục đích cao nhất: duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua của đồngtiền, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội

đã dự kiến

CHƯƠNG II

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM

2.1 Nhìn lại cơ chế điều hành tỷ giá Việt Nam

Trong quan hệ với các nước thuộc khối XHCN trước đây, tỷ giá của Việt nam đượctính theo đồng Rúp clearing (sau này đổi là rúp chuyển khoản- transferable ruble) đồng tiềnghi sổ dùng trong thanh toán mậu dịch giữa các nước thuộc khối XHCN tự quy định vớinhau để làm sao cho tài khoản các bên, sau khi trao đổi ngoại thương theo khối lượng đãđược quy định trong hiệp định ký kết vào đầu năm thì cuối năm không còn số dư Đặc trưngcủa chế độ tỷ giá Việt nam trong thời kỳ này là cố định, đã bộc lộ nhiều mặt bất hợp lý, nókhông những không thể hiện vai trò điều tiết tỷ giá hối đoái trong việc cân bằng cán cânthanh toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm hãm các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước

ta là nghuyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế trong một thời gian dài

Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những chủ trương và giảipháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã từng bước xoá bỏ cơ chế độcquyềnngoại thương, cho phép các tổ chức kinh tế được phép xuất nhập khẩu trực tiếp vớinước ngoài Số lượng các công ty được trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừngtăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi căn bản;chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đã đượcnhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh thực tế Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính

Ngày đăng: 12/05/2018, 07:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w