Qua đó, tác giả nhận thấy thật sự rất cần thiết để nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát tại Việt Nam bằng phương pháp kinh tế lượng phi tuyến TVAR với ngưỡng lạm phát và ngưỡng thay
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Văn Hùng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 Tổng quan phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Đóng góp của nghiên cứu 5
1.5 Kết cấu nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 9
2.1 Lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) 9
2.1.1 Khái niệm về truyền dẫn tỷ giá 9
2.1.2 Cơ chế truyền dẫn 10
2.1.3 Mô hình định giá so le theo sức mạnh thị trường 13
2.1.4 Mô hình Mark up 15
2.1.5 Mối quan hệ giữa thay đổi trong tỷ giá và truyền dẫn tỷ giá 17
Trang 42.2 Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi
suất 18
2.2.1 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát dưới các điều kiện cân bằng quốc tế (International Parity Conditions) 18
2.2.2 Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái 23
2.2.3 Mối quan hệ giữa lỗ hổng sản lượng và lạm phát 24
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về các kết quả nghiên cứu trước đây 25
2.3.1 Truyền dẫn tuyến tính 25
2.3.2 Truyền dẫn phi tuyến 33
2.3.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài 33
2.3.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở trong nước 37
2.4 Kết luận chương 2 38
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 40
3.1 Mô hình nghiên cứu 40
3.2 Phương pháp ước lượng 41
3.2.1 Mô hình VAR 41
3.2.2 Mô hình TVAR 42
3.3 Dữ liệu 45
3.4 Các bước trong quy trình nghiên cứu 55
3.5 Kết luận chương 3 64
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
4.1 Ước lượng bằng phương pháp TVAR với ngưỡng lạm phát 65
Trang 54.2 Ước lượng bằng phương pháp TVAR với ngưỡng thay đổi tỷ giá 83
4.3 Kết luận chương 4 98
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
5.1 Tóm lược các kết quả nghiên cứu chính 100
5.2 Hạn chế của nghiên cứu 101
5.3 Hướng nghiên cứu trong tương lai 101
5.4 Khuyến nghị chính sách 102
Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo
Phụ Lục
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VAR Vector Autoregression Mô Hình Vectơ Tự Hồi Quy VECM Vector Error Correction Model Mô Hình Vectơ Hiệu Chỉnh Sai Số TVAR Threshold Vector Autoregression Mô Hình Vectơ Tự Hồi Quy
Ngưỡng TVECM Threshold Vector Error Correction
Model
Mô Hình Vectơ Hiệu Chỉnh Sai Số
Ngưỡng TAR Threshold Autoregression Mô Hình Tự Hồi Quy Ngưỡng STAR Smooth Transition Threshold
Autoregression
Mô Hình Tự Hồi Quy Ngưỡng Chuyển Tiếp Trơn ESTAR Exponential Smooth Transition
Threshold Autoregression
Mô Hình Tự Hồi Quy Ngưỡng Chuyển Tiếp Trơn Dạng Hàm Mũ DLSTAR Double Logistic Smooth Transition
Threshold Autoregression
Mô Hình Tự Hồi Quy Ngưỡng Chuyển Tiếp Trơn Dạng Hàm Logit
Kép GMM Generalized Method of Moments Phương Pháp Moment Tổng Quát WTO World Trade Organization Tổ Chức Thương Mại Thế Giới OECD Organisation for Economic Co-
operation and Development
Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển
Kinh Tế UNDP United Nations Development
Programme
Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp
Quốc IFS International Financial Statistics Tổ Chức Thống Kê tài Chính Quốc
Tế SBV State Bank of Vietnam Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam GSO General Statistics Office of Vietnam Tổng Cục Thống Kê Việt Nam
BIS Bank of International Settlements Ngân Hàng Thanh Toán Quốc Tế ERPT Exchange Rate Pass-Through Truyền Dẫn Tỷ Giá Hối Đoái
UIP Uncovered Interest Rate Parity Ngang Giá Lãi Suất Không Phòng
Ngừa CIA Covered Interest Arbitrage Kinh Doanh Chênh Lệch Lãi Suất
Có Phòng Ngừa
Trang 7GAP Output Gap Lỗ Hổng Sản Lượng
RFI Refinancing Interest Rate Lãi Suất Tái Cấp Vốn
NEER Nominal Effective Exchange Rate Tỷ Giá Danh Nghĩa Có Hiệu Lực Đa
PP Phillips–Perron Test Kiểm Định Phillips–Perron KPSS Kwiatkowski-Phillips-Schmidt-Shin
Test
Kiểm Định
Kwiatkowski-Phillips-Schmidt-Shin AIC Akaike Information Criterion Tiêu Chuẩn Thông Tin Akaike
SC Schwarz Information Criterion Tiêu Chuẩn Thông Tin Schwarz
HQ Hannan-Quinn Information Criterion Tiêu Chuẩn Thông Tin
Hannan-Quinn FPE Final Prediction Error Tiêu Chuẩn Sai Số Dự Báo Cuối
Cùng
LR Sequential modified LR test statistic Tiêu Chuẩn Thống Kê Kiểm Định
LR điều chỉnh theo tuần tự
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Tỷ trọng thương mại của 20 quốc gia dùng trong tính toán NEER
3.2 Các biến nghiên cứu
4.1 Kết quả kiểm định tính dừng cho giai đoạn 2002-2015
4.2 Kết quả xác định độ trễ tối ưu cho giai đoạn 2002-2015
4.3 Kết quả kiểm định tính phi tuyến cho giai đoạn 2002-2015 – ngưỡng lạm phát 4.4 Xác định độ trễ của biến ngưỡng giai đoạn 2002-2015 - ngưỡng lạm phát 4.5 Kết quả ước lượng cho giai đoạn 2002-2015 bằng TVAR với ngưỡng lạm phát 4.6 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 1 giai đoạn 2002-2015 bằng TVAR
4.12 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 1 giai đoạn 2002-2015 bằng TVAR
với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.13 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 2 giai đoạn 2002-2015 bằng TVAR
với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.14 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 3 giai đoạn 2002-2015 bằng TVAR
với ngưỡng thay đổi tỷ giá
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
2.1 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá vào giá nội địa dựa theo nghiên cứu của Hüfner và
Schröder (2003)
3.1 Quy trình nghiên cứu
3.2 NEER theo tháng trong giai đoạn 2002-2015
3.3 Thay đổi NEER (%) theo tháng trong giai đoạn 2002-2015
3.4 CPI theo tháng trong giai đoạn 2002-2015
3.5 Tỷ lệ lạm phát hàng tháng (%) trong giai đoạn 2002-2015
3.6 Sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng trong giai đoạn 2002-2015
3.7 Lỗ hổng sản lượng trong giai đoạn 2002-2015
3.8 Lãi suất tái cấp vốn trong giai đoạn 2002-2015
4.1 Tỷ giá hối đoái và lạm phát trong giai đoạn 2002-2015
4.2 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 1 giai đoạn 2002–2015 bằng TVAR
4.5 Kết quả phản ứng xung trong trạng thái 1 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng lạm phát
4.6 Kết quả phản ứng xung trong trạng thái 2 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng lạm phát
4.7 Kết quả phản ứng xung trong trạng thái 3 giai đoạn 2002– 2015 bằng
TVAR với ngưỡng lạm phát
4.8 Kết quả phân rã phương sai trong trạng thái 1 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng lạm phát
4.9 Kết quả phân rã phương sai trong trạng thái 2 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng lạm phát
4.10 Kết quả phân rã phương sai trong trạng thái 3 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng lạm phát
4.11 Thay đổi tỷ giá và lạm phát trong giai đoạn 2002-2015
4.12 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 1 giai đoạn 2002–2015 bằng TVAR
với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.13 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 2 giai đoạn 2002–2015 bằng TVAR
với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.14 Hệ số truyền dẫn tỷ giá trong trạng thái 3 giai đoạn 2002–2015 bằng TVAR
với ngưỡng thay đổi tỷ giá
Trang 104.15 Kết quả phản ứng xung trong trạng thái 1 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.16 Kết quả phản ứng xung trong trạng thái 2 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.17 Kết quả phản ứng xung trong trạng thái 3 giai đoạn 2002– 2015 bằng
TVAR với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.18 Kết quả phân rã phương sai trong trạng thái 1 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.19 Kết quả phân rã phương sai trong trạng thái 2 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng thay đổi tỷ giá
4.20 Kết quả phân rã phương sai trong trạng thái 3 giai đoạn 2002–2015 bằng
TVAR với ngưỡng thay đổi tỷ giá
Trang 11TÓM TẮT
Nghiên cứu này xem xét truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam bằng việc sử dụng mô hình phi tuyến vectơ tự hồi quy ngưỡng TVAR, với dữ liệu hàng tháng từ tháng 1 năm 2002 đến tháng 12 năm 2015 Tác giả sử dụng ngưỡng lạm phát
và ngưỡng thay đổi tỷ giá khi thực hiện nghiên cứu với mô hình phi tuyến này Khi sử dụng lạm phát làm biến ngưỡng, nghiên cứu chỉ ra 2 giá trị ngưỡng lạm phát là 0.0765%/tháng và 0.4004%/tháng Kết quả nghiên cứu với ngưỡng lạm phát chỉ ra rằng tác động truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát có ý nghĩa thống kê khi lạm phát vượt trên mức 0.4004%/tháng Khi sử dụng thay đổi tỷ giá làm biến ngưỡng, nghiên cứu chỉ ra 2 giá trị ngưỡng thay đổi tỷ giá là -0.1657%/tháng và 0.8162%/tháng Kết quả nghiên cứu với ngưỡng thay đổi tỷ giá chỉ ra rằng truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát có ý nghĩa thống kê khi thay đổi tỷ giá dưới mức -0.1657%/tháng và khi thay đổi tỷ giá vượt trên mức 0.8162%/tháng
Từ Khóa: Truyền dẫn tỷ giá, lạm phát, vectơ tự hồi quy ngưỡng, ngưỡng lạm phát,
ngưỡng thay đổi tỷ giá
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ đề về truyền dẫn tỷ giá hối đoái luôn được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, bởi vì tầm quan trọng của chúng trong quá trình ổn định và phát triển của nền kinh tế Trong giai đoạn gần đây, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, với dấu mốc quan trọng là việc gia nhập Tổ Chức Thương mại Thế Giới (WTO) vào năm 2007, cùng với một trong những mục tiêu chính sách hàng đầu được đề ra đó là kiểm soát lạm phát (cụ thể là ở mức mục tiêu 4% trong năm 2017) Bên cạnh đó, biến động tỷ giá luôn được các nhà điều hành chính sách quan tâm, nhất
là trong giai đoạn sắp tới khi nền kinh tế thế giới tiềm ẩn những thay đổi lớn ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam Do đó, việc hiểu biết về truyền dẫn tỷ giá (đặc biệt là vấn đề truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát) thật sự rất quan trọng trong việc quản lý chính sách tỷ giá cũng như chính sách tiền tệ một cách phù hợp trong hiện tại và cả trong tương lai
(Ball, 1999; Zorzi và cộng sự, 2007; Shitani và cộng sự, 2013) Trong khuôn khổ các
mô hình vĩ mô mới về nền kinh tế mở, mức độ truyền dẫn tỷ giá vào các mức giá nội địa là một trong các nhân tố chủ đạo đánh giá mức độ của hiệu ứng lan tỏa quốc tế của chính sách tiền tệ (Shitani và cộng sự, 2013) Bên cạnh đó, khi hiểu về tác động của các thay đổi trong tỷ giá lên các mức giá có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách phán đoán và thiết kế chính sách tiền tệ phù hợp nhằm phản ứng lại với các thay đổi trong tỷ giá (Zorzi và cộng sự, 2007) Do đó, ngày càng có nhiều nghiên cứu thực nghiệm với các cách tiếp cận đa dạng khác nhau tại Việt Nam về chủ đề truyền dẫn tỷ giá Chính vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu về chủ đề này, và cụ thể hơn là nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam
Tác giả đã lược khảo các nghiên cứu trước đây về chủ đề này và nhận thấy rằng các nghiên cứu trước đây về truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát tại Việt Nam chỉ tập trung
Trang 13vào việc xem xét mối quan hệ tuyến tính với một số mô hình kinh tế lượng thông dụng
Cụ thể hơn, các nghiên cứu trước đây về truyền dẫn tỷ giá đã tập trung vào việc sử dụng 3 kỹ thuật kinh tế lượng bao gồm hồi quy phương trình đơn nhất, mô hình vectơ
tự hồi quy (VAR), và mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số (VECM) Tuy nhiên, thông qua các mô hình lý thuyết (mô hình định giá so le theo sức mạnh thị trường và mô hình Mark up) và các bằng chứng thực nghiệm trước đây (điển hình như Devereux và Yetman, 2010), tác giả nhận thấy rằng truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá nội địa có thể
là phi tuyến Chính vì sự hiện diện của tính phi tuyến trong truyền dẫn tỷ giá cho nên các kỹ thuật kinh tế lượng tuyến tính có lẽ đưa ra các kết quả ước lượng truyền dẫn tỷ giá không chính xác Chính vì vậy, tác giả sử dụng mô hình kinh tế lượng phi tuyến trong nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát tại Việt Nam
Thông qua việc lược khảo các mô hình kinh tế lượng phi tuyến, tác giả nhận thấy
mô hình vectơ tự hồi quy ngưỡng (TVAR) có nhiều điểm thuận lợi hơn trong nghiên cứu và mô hình này cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Aleem và Lahiani (2014) Vì vậy, trong luận án này, tác giả sử dụng mô hình TVAR ứng dụng trong nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát tại Việt Nam
Luận án của tác giả đề cập 2 vấn đề sau mà rất khác biệt so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam
Thứ nhất, môi trường lạm phát có tác động đến phản ứng của các tác nhân kinh tế đối với một cú sốc tỷ giá Trong thực tế, các tác nhân kinh tế sẽ thay đổi kỳ vọng lạm phát nếu tỷ lệ lạm phát cao hơn một ngưỡng nhất định nào đó Điều này là bởi vì khi nền kinh tế có lạm phát cao, các công ty nhận thấy rằng khi chi phí sản xuất gia tăng vượt quá một ngưỡng nhất định nào đó thì đều trở nên dai dẳng hơn Do đó, trong một môi trường lạm phát cao, họ sẽ điều chỉnh giá thường xuyên hơn để duy trì biên lợi
nhuận và làm gia tăng chi phí thực đơn Aleem và Lahiani (2014) cho rằng các mức giá
nội địa có lẽ sẽ không phản ứng với các cú sốc tỷ giá trong một môi trường lạm phát thấp và ổn định, nhưng các mức giá nội địa sẽ phản ứng với các cú sốc tỷ giá nếu lạm
Trang 14phát vượt trên một ngưỡng nhất định nào đó Điều này là đúng ngay cả trong trường hợp cú sốc tỷ giá là như nhau giữa môi trường lạm phát thấp và ổn định với môi trường lạm phát vượt trên một ngưỡng nhất định nào đó Tóm lại, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, truyền dẫn tỷ giá vào các mức giá nội địa sẽ cao hơn trong suốt giai đoạn lạm phát cao so với trong giai đoạn lạm phát thấp Từ đó, tác giả nhận thấy có một sự khác biệt đáng kể giữa truyền dẫn tỷ giá trong môi trường lạm phát cao và trong môi trường lạm phát thấp
Thứ hai, mối quan hệ giữa thay đổi tỷ giá và truyền dẫn tỷ giá phản ánh sự đánh đổi trong chiến lược chính yếu của nhà xuất khẩu để ổn định khối lượng xuất khẩu hay lợi nhuận biên Mức độ truyền dẫn tỷ giá càng thấp khi những nhà xuất khẩu thay đổi biên lợi nhuận để nắm giữ hay gia tăng thị phần trong môi trường thay đổi tỷ giá cao Tuy nhiên, khi những nhà xuất khẩu muốn ổn định biên lợi nhuận thì lúc này mức độ truyền dẫn tỷ giá cao
Qua đó, tác giả nhận thấy thật sự rất cần thiết để nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát tại Việt Nam bằng phương pháp kinh tế lượng phi tuyến TVAR với ngưỡng lạm phát và ngưỡng thay đổi trong tỷ giá Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá phi tuyến, nhưng tại Việt Nam hiện nay số lượng nghiên cứu truyền dẫn tỷ
giá phi tuyến là rất hạn chế Chính vì vậy, tác giả thực hiện luận án với đề tài “Nghiên
cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu chính là: Xác định mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam bằng việc vận dụng
mô hình phi tuyến TVAR
Từ mục tiêu nghiên cứu đã được xác định ở trên, tác giả đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát ở Việt Nam trong các trạng thái lạm phát khác nhau có khác nhau không?
Trang 15 Truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát ở Việt Nam trong các trạng thái thay đổi tỷ giá khác nhau có khác nhau không?
1.3 Tổng quan phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này dựa trên nhiều nghiên cứu khác nhau trước đây, đặc biệt là
nghiên cứu của Aleem và Lahiani (2014), và sử dụng 4 biến nghiên cứu bao gồm chỉ số
giá tiêu dùng (CPI), lỗ hổng sản lượng (GAP), tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực
đa phương (NEER), và lãi suất tái cấp vốn (RFI) để nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam
Đầu tiên, tác giả thực hiện kiểm định tính dừng và lựa chọn độ trễ tối ưu bằng mô hình VAR để làm cơ sở cho việc thực hiện ước lượng bằng mô hình TVAR
Thứ hai, tác giả thực hiện kiểm định tính phi tuyến cho mô hình TVAR
so với mô hình tuyến tính VAR, cũng như xác định giá trị ngưỡng trong
mô hình TVAR
Thứ ba, tác giả thực hiện ước lượng bằng mô hình TVAR với ngưỡng lạm phát và ngưỡng thay đổi tỷ giá, trong đó các ngưỡng được tự xác định trong khi thực hiện hồi quy trên phần mềm, và phân tích kết quả trong các trạng thái lạm phát khác nhau cũng như trong các trạng thái thay đổi tỷ giá khác nhau
1.4 Đóng góp của nghiên cứu
Luận án này bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về tính phi tuyến trong truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam, trong khi các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ tập trung vào việc xem xét truyền dẫn tỷ giá tuyến tính, điển hình như Võ Văn Minh (2009), Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn Cường (2013), Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013), Nguyễn Kim Nam và cộng sự (2014)
Trang 16 Tác giả sử dụng mô hình kinh tế lượng phi tuyến TVAR trong nghiên cứu này Mô hình TVAR có điểm thuận lợi hơn so với các mô hình phi tuyến khác, và cụ thể là so với nhóm mô hình tự hồi quy ngưỡng (TAR, ESTAR, LSTAR, DLSTAR) Với nhóm mô hình tự hồi quy ngưỡng, tỷ giá được giả định là ngoại sinh và được kiểm soát bởi ngân hàng trung ương Tuy nhiên, trong thực tế, tỷ giá lại có thể bị tác động bởi chính các biến ở trong mô hình Điều này có thể dẫn đến đưa ra các ước lượng không đúng về truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát Vì vậy, mô hình TVAR đã nắm bắt thêm mối quan hệ đồng thời giữa tỷ giá và các biến khác, và các biến trong mô hình đều được xem là nội sinh
Tác giả đề cập 2 vấn đề mà rất khác biệt so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam: Thứ nhất, môi trường lạm phát có tác động đến phản ứng của các tác nhân kinh tế đối với một cú sốc tỷ giá Trong thực tế, các tác nhân kinh tế sẽ thay đổi kỳ vọng lạm phát nếu tỷ lệ lạm phát cao hơn một ngưỡng nhất định nào đó Điều này là bởi vì khi nền kinh tế có lạm phát cao, các công ty nhận thấy rằng khi chi phí sản xuất gia tăng vượt quá một ngưỡng nhất định nào đó thì đều trở nên dai dẳng hơn Do đó, trong một môi trường lạm phát cao, họ sẽ điều chỉnh giá thường xuyên hơn để duy trì biên lợi nhuận và làm gia tăng chi phí thực đơn Thứ hai, mối quan hệ giữa thay đổi tỷ giá và truyền dẫn tỷ giá phản ánh sự đánh đổi trong chiến lược chính yếu của nhà xuất khẩu để ổn định khối lượng xuất khẩu hay lợi nhuận biên Mức độ truyền dẫn tỷ giá càng thấp khi những nhà xuất khẩu thay đổi biên lợi nhuận để nắm giữ hay gia tăng thị phần trong môi trường thay đổi tỷ giá cao Tuy nhiên, khi những nhà xuất khẩu muốn ổn định biên lợi nhuận thì lúc này mức độ truyền dẫn tỷ giá cao
Tác giả sử dụng 2 biến ngưỡng trong mô hình nghiên cứu, bao gồm ngưỡng lạm phát và ngưỡng thay đổi trong tỷ giá Tác giả sử dụng
Trang 17ngưỡng lạm phát trong nghiên cứu này là dựa trên khung lý thuyết bao gồm mô hình định giá so le theo sức mạnh thị trường và mô hình Mark
up, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ phi tuyến giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát Tác giả sử dụng ngưỡng thay đổi tỷ giá là dựa trên những lập luận khi xem xét mối quan hệ giữa thay đổi tỷ giá và truyền dẫn tỷ giá cũng như dựa trên các bằng chứng thực nghiệm trước đây Ngưỡng lạm phát được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu phi tuyến về truyền dẫn tỷ giá, trong khi đó ngưỡng thay đổi tỷ giá thì lại ít được sử dụng phổ biến hơn
1.5 Kết cấu nghiên cứu
Bài nghiên cứu này được kết cấu theo 5 chương, và nội dung của từng chương như được thể hiện dưới đây:
Chương 1: Giới thiệu, trong chương này tác giả trình bày tính cấp thiết của
đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cũng như trình bày tổng quan phương pháp nghiên cứu để có một cái nhìn khái quát toàn bài trước khi đi vào nội dung chi tiết Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những đóng góp của luận án ở trong chương này
Chương 2: Khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về truyền dẫn tỷ
giá hối đoái, trong chương này tác giả trình bày các vấn đề liên quan đến tỷ
giá, lạm phát, truyền dẫn tỷ giá như các khái niệm, cơ chế truyền dẫn, cũng như khung lý thuyết nghiên cứu liên quan đến truyền dẫn tỷ giá, và tiếp đó là các kết quả nghiên cứu đạt được từ các nghiên cứu trước đây trên thế giới và các nghiên cứu tại Việt Nam về tác động của truyền dẫn tỷ giá Tất cả các phân tích trên nhằm tạo cho tác giả một cơ sở thật sự vững chắc để đưa ra mô hình nghiên cứu thực nghiệm phù hợp, cũng như đánh giá kết quả mà tác giả đạt được với các kết quả nghiên cứu trước đó với mục đích đưa ra các suy
Trang 18luận thống kê chính xác, cũng như đưa ra các hàm ý chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu, trong chương này tác giả
xây dựng nên mô hình nghiên cứu, mô tả các biến nghiên cứu cũng như cách thức thu thập và xử lý dữ liệu Đồng thời, tác giả cũng trình bày về phương pháp ước lượng VAR và TVAR để có một cái nhìn chi tiết và toàn diện về các phương pháp này Cuối cùng, tác giả trình bày cách thức vận dụng phương pháp ước lượng TVAR vào nghiên cứu các vấn đề trong bài
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày các kết
quả đạt được từ các kiểm định tính dừng, lựa chọn độ trễ tối ưu, kiểm định tính phi tuyến, các kết quả ước lượng, phân tích phản ứng xung và phân rã phương sai, cũng như tính toán hệ số truyền dẫn tỷ giá trong các trạng thái lạm phát khác nhau, trong các trạng thái thay đổi tỷ giá khác nhau, và tiến hành thảo luận các kết quả nghiên cứu đạt được
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị, trong chương này tác giả trình bày một
cách tổng quát các kết quả nghiên cứu đạt được, các hạn chế của nghiên cứu này, cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai Bên cạnh
đó, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị chính sách điều hành tỷ giá cho phù hợp với tình hình thực tiễn tại Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM VỀ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Trong chương này, tác giả trình bày khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá để làm nền tảng xây dựng nên mô hình nghiên cứu Cụ thể hơn, tác giả trình bày khung lý thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố được đề cập đến trong mô hình nghiên cứu, bao gồm tỷ giá hối đoái, lãi suất, lỗ hổng sản lượng và lạm phát Bên cạnh đó, tác giả trình bày lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá hối đoái bao gồm khái niệm và cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái Tác giả cũng đề cập đến nền tảng lý thuyết về mô hình truyền dẫn tỷ giá phi tuyến với lạm phát là biến ngưỡng, bao gồm
mô hình định giá so le theo sức mạnh thị trường và mô hình Markup, cũng như các lập luận gắn kết mô hình truyền dẫn tỷ giá phi tuyến với thay đổi tỷ giá là biến ngưỡng Ngoài ra, tác giả trình bày thêm các bằng chứng thực nghiệm về truyền dẫn tỷ giá hối đoái trên thế giới cũng như tại Việt Nam để làm nền tảng xây dựng nên mô hình nghiên cứu và để so sánh kết quả nghiên cứu của luận án với các nghiên cứu trước đây
2.1 Lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT)
2.1.1 Khái niệm về truyền dẫn tỷ giá
Nghiên cứu của Goldberg và Knetter (1997) và Campa và Goldberg (2002) xác định truyền dẫn tỷ giá là phần trăm thay đổi trong giá nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ khi tỷ giá danh nghĩa giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu thay đổi 1%
Khái niệm này có thể được mở rộng ra như nghiên cứu của Bhattacharya và cộng
sự (2011), đó là, phần trăm thay đổi trong các thước đo giá nội địa khác (chỉ số giá sản
xuất và chỉ số giá tiêu dùng) khi tỷ giá danh nghĩa thay đổi 1%
Về mặt lý thuyết, truyền dẫn tỷ giá có thể trong phạm vi giữa 0% và 100% phụ thuộc vào các chiến lược định giá của những nhà xuất khẩu Hệ số truyền dẫn tỷ giá sẽ bằng 0 nếu các nhà sản xuất thiết lập mức giá các sản phẩm xuất khẩu bằng đồng tiền
Trang 20của thị trường nhập khẩu (định giá bằng đồng nội tệ (LCP)) Ngược lại, truyền dẫn tỷ giá hoàn toàn (hệ số truyền dẫn tỷ giá bằng 1) nếu các mức giá được thiết lập bằng đồng tiền của thị trường nhà sản xuất (định giá bằng đồng tiền của nhà sản xuất (PCP)) Nếu giá nhập khẩu thay đổi một lượng đúng bằng với thay đổi trong tỷ giá thì
truyền dẫn tỷ giá là hoàn toàn (Goldberg và Knetter, 1997) Nhìn chung, nếu nhà xuất
khẩu điều chỉnh giá xuất khẩu theo đồng tiền riêng của họ một lượng nhỏ hơn thay đổi trong tỷ giá thì truyền dẫn tỷ giá là không hoàn toàn (Osbat và Wagner, 2006)
Có một số nguyên nhân của truyền dẫn tỷ giá không hoàn toàn mà có liên quan đến nghiên cứu, bao gồm:
Thứ nhất, do sự điều chỉnh lợi nhuận biên phản ứng lại với cú sốc tỷ giá trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo (Dornbusch, 1987) Theo Rowland (2004), nhiều công ty xuất khẩu và nhập khẩu quyết định lựa chọn giữ giá không đổi, và cắt giảm hay gia tăng biên lợi nhuận trên giá khi tỷ giá thay đổi Hành vi này được gọi là hành vi định giá theo thị trường (pricing-to-market) Hành vi này được nhiều công ty chọn lựa với các tổn thất tạm thời nhưng không mất thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh Khi đó
đã hấp thụ một phần thay đổi trong tỷ giá bằng việc thay đổi biên lợi nhuận, và truyền dẫn tỷ giá không hoàn toàn
Thứ hai, các công ty phải chi trả một khoản chi phí thực đơn (menu costs) để điều chỉnh mức giá của họ Vì vậy, điều này dẫn đến các công ty điều chỉnh mức giá không thường xuyên và dẫn đến truyền dẫn tỷ giá không hoàn toàn khi có sự thay đổi trong tỷ giá
2.1.2 Cơ chế truyền dẫn
Chuỗi định giá (pricing chain) là sự truyền dẫn các cú sốc thông qua các chi phí sản xuất đến giá tiêu dùng (Landau và Skudelny, 2009) Sự thay đổi trong tỷ giá được truyền dẫn lần lượt đến các mức giá (price level) bao gồm giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất, và chỉ số giá tiêu dùng qua các giai đoạn khác nhau Chỉ số giá sản xuất (PPI) là chỉ số thể hiện mức giá trung bình của một giỏ hàng hóa mà một doanh nghiệp mua ở
Trang 21kỳ này so với kỳ gốc Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số thể hiện mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ mà một hộ gia đình mua ở kỳ này so với kỳ gốc Truyền dẫn trong giai đoạn đầu là truyền dẫn các thay đổi tỷ giá đến giá nhập khẩu, sau đó là truyền dẫn trong giai đoạn thứ hai là phản ứng của giá tiêu dùng với các thay đổi trong giá nhập khẩu
Nhìn chung, các thay đổi trong tỷ giá có thể tác động đến giá nội địa thông qua các kênh trực tiếp và gián tiếp
Kênh truyền dẫn tỷ giá trực tiếp đó là tác động ngắn hạn trực tiếp lên nguyên liệu thô và hàng hóa được nhập khẩu Nhìn chung, khi đồng tiền giảm giá dẫn đến giá nhập khẩu trở nên cao hơn (do sự gia tăng trong tỷ giá làm cho hàng hóa hay các nguyên liệu đầu vào được nhập khẩu trở nên đắt hơn một cách tương đối đối với người mua trong nước khi tính bằng đồng nội tệ), và làm cho chi phí sản xuất trong nước gia tăng, và dẫn đến mức giá nội địa tăng lên Tác động của tỷ giá lên các mức giá sẽ lớn hơn nếu phần hàng hóa được nhập khẩu chiếm phần lớn trong rổ hàng hóa dùng để tính CPI McCarthy (1999) nhận thấy tác động của truyền dẫn tỷ giá thì mạnh hơn cho những quốc gia có phần nhập khẩu chiếm phần lớn khi tác giả xem xét 9 nền kinh tế công nghiệp
Trong kênh truyền dẫn tỷ giá gián tiếp, khi đồng tiền giảm giá sẽ làm gia tăng xuất khẩu (do sự gia tăng trong tỷ giá làm cho sản phẩm nội địa trở nên rẻ hơn một cách tương đối đối với người mua ở nước ngoài), và dẫn đến làm gia tăng tổng cầu, và làm cho giá nội địa tăng lên Hơn thế nữa, khi đồng tiền giảm giá dẫn đến làm gia tăng cầu hàng hóa trong nước, bởi vì khi đồng tiền giảm giá làm cho giá hàng hóa nhập khẩu trở nên cao hơn, dẫn đến làm gia tăng cầu hàng hóa thay thế được sản xuất trong nước Sự gia tăng trong tổng cầu thậm chí cũng dẫn đến sự gia tăng trong cầu lao động,
và do đó làm gia tăng lương, đến lượt nó làm cho mức giá nội địa tăng lên Bên cạnh
đó, sự tăng lên trong cầu hàng hóa thay thế trong nước sẽ dẫn đến sự gia tăng trong giá bán của các hàng hóa thay thế ở trong nước, dẫn đến làm gia tăng mức giá nội địa
Trang 22Cơ chế truyền dẫn tỷ giá vào giá nội địa dựa theo nghiên cứu của Hüfner và
Schröder (2003) được trình bày tóm gọn như trong hình 2.1 dưới đây
Hình 2.1: Cơ chế truyền dẫn tỷ giá vào giá nội địa dựa theo nghiên cứu của Hüfner và Schröder (2003)
Đồng nội tệ giảm giá
Tác động gián tiếp
Cầu xuất khẩu trong nước gia tăng
Cầu lao động gia tăng
Mức giá nội địa gia tăng
Nhập khẩu hàng hóa cuối cùng tính bằng đồng nội tệ đắt hơn
Cầu hàng hóa thay thế trong nước gia tăng
Hàng hóa thay thế trong nước đắt hơn
Trang 232.1.3 Mô hình định giá so le theo sức mạnh thị trường
Mô hình định giá so le theo sức mạnh thị trường được đưa ra trong nghiên cứu của Taylor (2000) và sau này được rất nhiều nhà nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá phi tuyến trích dẫn Sau đây, tác giả trình bày về mô hình này
Không giống như trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo với các công ty là người chấp nhận giá, các công ty thường nhận thấy họ có sức mạnh thị trường bởi vì họ có thể thiết lập được mức giá Sức mạnh thị trường phụ thuộc vào 3 điểm sau: sự khác biệt sản phẩm của họ với các sản phẩm khác, tính thay thế sản phẩm của họ bằng các sản phẩm khác (2 điểm này nằm trong hàm hữu dụng của người tiêu dùng), và phản ứng có thể có của các công ty khác trên thị trường Để xem xét giả thuyết sức mạnh định giá thay đổi, Taylor xây dựng nên mô hình kết hợp tác động của 3 thay đổi trên quyết định giá của một công ty: thay đổi trong chi phí, thay đổi việc thiết lập giá bởi các công ty khác, thay đổi trong cầu Mức độ mà một công ty gia tăng trong chi phí hay một sự gia tăng trong mức giá của các công ty khác là thước đo sức mạnh thị trường, và thay đổi trong sức mạnh thị trường sẽ làm thay đổi mức độ truyền dẫn tỷ giá
Mức giá tối ưu tại thời kỳ t được Taylor đưa ra như sau:
x t = 0.125 ∑
Hệ số 0.125 hàm ý rằng sự gia tăng 1 đơn vị trong mức giá của các công ty khác (pt đến pt+3) và sự gia tăng 1 đơn vị trong chi phí biên (ct đến ct+3) dẫn đến sự gia tăng 1 đơn vị y hệt trong giá xt của công ty Nếu chỉ có ct đến ct+3 gia tăng 1 đơn vị thì giá xtgia tăng 0.5 đơn vị
ct+i là chi phí sản xuất biên của hàng hóa này tại thời kỳ t + i, pt+i là mức giá bình quân của 4 nhóm công ty trong thời kỳ t+i
Qua đó có thể nhận thấy mức độ gia tăng trong chi phí biên của một công ty dẫn đến sự gia tăng trong mức giá riêng của công ty mà mức giá riêng này phụ thuộc vào tính dai dẳng của sự gia tăng chi phí biên Tương tự, mức độ gia tăng trong mức giá của các công ty khác sẽ dẫn đến sự gia tăng trong mức giá riêng của công ty mà mức
Trang 24giá riêng này sẽ phụ thuộc vào tính dai dẳng của sự gia tăng trong mức giá kỳ vọng của các công ty khác
Đường cầu tuyến tính có dạng như sau:
y t = – β (x t - )
Mức độ truyền dẫn tỷ giá phụ thuộc vào độ dốc của đường cầu tuyến tính β Một sự dịch chuyển đường cầu sẽ dẫn đến sự thay đổi trong mức giá, mà phụ thuộc vào độ dốc của đường cầu, một yếu tố dùng để xác định sức mạnh thị trường Giá trị β càng cao đại diện cho sức mạnh thị trường càng kém, do đó β làm gia tăng tác động của sự thay đổi trong cầu lên sự sụt giảm trong mức giá Sức mạnh thị trường càng kém dẫn đến sự gia tăng càng nhỏ trong mức giá của công ty khi có một sự thay đổi trong cầu Do đó, khi thị trường trở nên cạnh tranh hơn thì có thể kỳ vọng một sự gia tăng nhỏ hơn trong mức giá để phản ứng lại với sự thay đổi trong cầu Mức độ phản ứng trong mức giá với sự dịch chuyển của cầu phụ thuộc vào tính dai dẳng của sự gia tăng trong cầu
Sức mạnh định giá phụ thuộc nhiều vào kỳ vọng biến động giá và chi phí trong tương lai Nếu sự gia tăng trong chi phí được kỳ vọng kéo dài thì lúc đó cần phải điều chỉnh mức giá với một mức độ lớn hơn Do đó, sức mạnh định giá phụ thuộc rất nhiều vào kỳ vọng lạm phát
Đối với một công ty nhập khẩu đầu vào để sản xuất thì chi phí ct sẽ phụ thuộc vào
tỷ giá Đối với một công ty bán lẻ nhập khẩu hàng hóa thì nhập khẩu là yếu tố đầu vào trung gian mà công ty cộng thêm vào giá trị của công ty dưới hình thức dịch vụ bán lẻ
Sự giảm giá đồng nội tệ sẽ làm gia tăng chi phí nhập khẩu được tính bằng đồng nội tệ Nếu sự giảm giá đồng nội tệ được kỳ vọng là tạm thời (so với tỷ lệ lạm phát) thì công
ty sẽ truyền dẫn một phần nhỏ giá trị sụt giảm của đồng nội tệ dưới hình thức giá xt cao hơn Do đó, sự biến động tỷ giá ít dai dẳng hơn sẽ dẫn đến hệ số truyền dẫn tỷ giá nhỏ hơn
Trang 252.1.4 Mô hình Mark up
Mô hình Mark up được đưa ra trong nghiên cứu của Campa và Goldberg (2005), Barhoumi (2006), Al-Abri và Goodwin (2009), và sau này được Junttila và Korhonen (2012) mở rộng và phát triển mô hình cũng như ứng dụng vào nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá phi tuyến Sau đây, tác giả sẽ trình bày về mô hình Mark up đã được mở rộng và phát triển bởi Junttila và Korhonen (2012)
Dựa vào các nghiên cứu trước đó, Junttila và Korhonen (2012) xem xét một công
ty xuất khẩu có sức mạnh định giá hàng hóa trong quốc gia nhập khẩu Giá nhập khẩu vào thời kỳ t ( ) là một hàm Mark up của nhà xuất khẩu và chi phí biên
= e t + + Dưới quan điểm của nhà xuất khẩu thì et là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, được đo lường bằng đồng tiền quốc gia nước ngoài (nhập khẩu) trên mỗi đơn vị đồng tiền của quốc gia nội địa (xuất khẩu)
Sau đó, Junttila và Korhonen (2012) đã mở rộng mô hình cơ bản ở trên bằng việc
giả định mức độ thay đổi chính sách tiền tệ của quốc gia nhập khẩu sẽ xác định sự điều chỉnh Mark up của nhà xuất khẩu Do đó, là một hàm của quan điểm chính sách tiền tệ Giờ đây Mark up được giả định phản ứng với các điều kiện chính sách tiền
tệ (st) trong quốc gia nhập khẩu hay nói cách khác là môi trường chính sách tiền tệ quốc gia nhập khẩu được nắm bắt bởi biến thông tin (st) mà đóng vai trò trong việc định giá Mark up của công ty xuất khẩu Họ cho rằng truyền dẫn tỷ giá phụ thuộc vào biến này Họ giả định rằng các điều kiện chính sách tiền tệ được nắm bắt tốt nhất bởi tỷ
lệ lạm phát hàng năm của quốc gia nhập khẩu được tính trên chỉ số giá tiêu dùng Sự phụ thuộc chính sách tiền tệ này được giả định được phản ánh trong chiến lược của công ty mà các điều kiện chính sách tiền tệ quốc gia nhập khẩu tác động truyền dẫn biến động tỷ giá vào giá nhập khẩu
Trang 26Giả định công ty nhập khẩu thiết lập giá trước cho một vài thời kỳ, Mark up phản ứng mạnh hơn với các thay đổi trong tỷ giá nếu lạm phát cao Do đó, trạng thái lạm phát cao có xu hướng gia tăng truyền dẫn tỷ giá Mark up có thể được biểu diễn bằng , trong đó là hàm phi tuyến của lạm phát theo chỉ số giá tiêu dùng của quốc gia nhập khẩu Từ đó, đạt được:
= e t + + Trong đó , , là các tham số dương
Phương trình trên chỉ ra rằng các thay đổi trong tỷ giá cũng có một tác động gián tiếp mà tác động này phụ thuộc vào môi trường lạm phát của quốc gia nhập khẩu Họ giả định chỉ có 2 trạng thái lạm phát trong quốc gia nhập khẩu: lạm phát thấp và lạm phát cao Họ cũng giả định có giá trị ngưỡng của lạm phát (π*) phân tách giữa các trạng thái lạm phát này Trạng thái lạm phát thấp (πt < π*) được xác định là môi trường cạnh tranh mà công ty xuất khẩu không thể sử dụng chiến lược định giá theo thị trường Trong trường hợp này truyền dẫn tỷ giá gián tiếp bằng 0 và công ty sẽ chuyển biến động trong tỷ giá trực tiếp vào giá xuất khẩu mà công ty thiết lập Trạng thái lạm phát cao (πt > π*) là môi trường mà công ty có thể thực hiện đầy đủ chiến lược định giá theo thị trường và truyền dẫn tỷ giá trên mức 0 Dựa trên các giả định này tác giả viết tác động truyền dẫn gián tiếp như sau :
= 0 khi π t ≤ π* (trạng thái lạm phát thấp)
= > 0 khi π t > π* (trạng thái lạm phát cao)
Họ tìm thấy 2 hệ số truyền dẫn khác nhau trong 2 trạng thái lạm phát Nếu quốc gia nhập khẩu trong trạng thái lạm phát thấp, truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu là Nếu quốc gia nhập khẩu trong trạng thái lạm phát cao, truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu là + Do đó, truyền dẫn tỷ giá thấp trong trạng thái lạm phát thấp so với trạng thái lạm phát cao bởi vì < + Trạng thái lạm phát thấp là môi trường chính sách tiền tệ mà công ty nước ngoài đối mặt với sự cạnh tranh trong thị trường xuất khẩu và không thể truyền dẫn tất cả các thay đổi trong tỷ giá vào các mức giá Tuy nhiên, trong
Trang 27trạng thái lạm phát cao, công ty có thể truyền dẫn tất cả các thay đổi trong tỷ giá vào các mức giá Cụ thể hơn, họ cho rằng lạm phát cao hơn làm gia tăng hệ số truyền dẫn theo dạng phi tuyến Họ viết lại dưới dạng sai phân như sau :
= ( + + Trong đó, tác động của chính sách tiền tệ được dùng để giải thích tác động của tỷ lệ lạm phát lên truyền dẫn tỷ giá
Khi tỷ lệ lạm phát dưới hay trên một chút so với mức ngưỡng được xác định trước, hầu hết các công ty nhận thấy điều này như là sự cần thiết của các thay đổi vừa phải trong chính sách tiền tệ quốc gia nhập khẩu, vì vậy các công ty xuất khẩu không thay đổi các chiến lược định giá trong tình huống này Tuy nhiên, khi tỷ lệ lạm phát bắt đầu gia tăng rõ ràng trên mức ngưỡng, hầu hết các công ty không chắc chắn đây là một tín hiệu thay đổi thực sự ở mức độ nào trong chính sách tiền tệ, nhưng ngày càng nhiều công ty xuất khẩu nhận thấy điều này và có thể thay đổi giá xuất khẩu bằng đồng nội
tệ Khi tỷ lệ lạm phát đủ cao so với mức ngưỡng, hầu hết tất cả các công ty nhận thấy rằng chính sách tiền tệ của quốc gia nhập khẩu thay đổi Các công ty sẽ xem xét sự thay đổi trong chính sách tiền tệ khi quyết định chính sách định giá cho các thị trường quốc gia nhập khẩu
2.1.5 Mối quan hệ giữa thay đổi trong tỷ giá và truyền dẫn tỷ giá
Các nghiên cứu về mặt lý thuyết đã chỉ ra mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và thay đổi trong tỷ giá nhưng phương hướng tác động thì không rõ ràng Sự thay đổi tỷ giá càng cao có quan hệ với truyền dẫn tỷ giá càng thấp (tức là mối quan hệ ngược chiều) trong môi trường cạnh tranh cao bởi vì những nhà xuất khẩu thay đổi biên lợi nhuận để nắm giữ hay gia tăng thị phần (Froot và Klemperer, 1989) Nhưng ngược lại, nếu những nhà xuất khẩu có nhiều khả năng tìm kiếm để ổn định biên lợi nhuận của họ thì họ sẽ có xu hướng duy trì để cố định mức giá theo đồng tiền của họ, tức là truyền dẫn tỷ giá cao và vì vậy tác động kỳ vọng là cùng chiều (Devereux và Engel, 2002) Theo Gaulier và cộng sự (2008), mối quan hệ này phản ánh sự đánh đổi trong chiến
Trang 28lược chính yếu của nhà xuất khẩu để ổn định khối lượng xuất khẩu hay lợi nhuận biên Một lập luận có liên quan đó là liệu khi có cú sốc thay đổi được nhìn nhận là tạm thời hay kéo dài bởi những nhà xuất khẩu Nếu sự thay đổi là tạm thời thì có khả năng điều chỉnh giảm biên lợi nhuận hơn là gánh chịu các chi phí liên quan đến thay đổi giá thương xuyên (Froot và Klemperer, 1989)
Mann (1986) cũng cho rằng thay đổi tỷ giá tạm thời thì làm cho những nhà xuất khẩu thận trọng hơn trong việc thay đổi mức giá và càng sẵn lòng hơn điều chỉnh biên lợi nhuận, do đó cắt giảm truyền dẫn tỷ giá Tuy nhiên, nếu các công ty kỳ vọng thay đổi tỷ giá là dai dẳng thì có khả năng họ sẽ thay đổi giá hơn là điều chỉnh biên lợi nhuận để phản ứng lại với các thay đổi trong tỷ giá, mà điều này sẽ làm gia tăng truyền dẫn tỷ giá
2.2 Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa lạm phát, tỷ giá hối
đoái và lãi suất
2.2.1 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát dưới các điều kiện
cân bằng quốc tế (International Parity Conditions)
Tác giả đề cập đến lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) khi xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái Lý thuyết ngang giá sức mua được phát triển bởi nhà kinh tế học người Thụy Điển Gustavav Casell vào năm 1920 khi xem xét mối quan hệ giữa giá cả của một hàng hóa nhất định tính bằng đồng tiền của các nước khác nhau
Lý thuyết ngang giá sức mua được xây dựng dựa trên một số giả định cơ bản Các giả định này chủ yếu là tạo ra một thị trường mà không có các rào cản khi thực hiện các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá:
Không có chi phí giao dịch
Thị trường là hoàn hảo, chính phủ của các quốc gia không sử dụng các hàng rào mậu dịch và các hàng rào mậu dịch ẩn Hàng hóa có thể được trao đổi và di chuyển một cách tự do
Trang 29 Các nhà kinh doanh chênh lệch giá đều nắm bắt được tất cả những thông tin về giá cả hàng hóa trên thế giới một cách hoàn hảo
Cơ sở để xây dựng nên lý thuyết ngang giá sức mua đó chính là quy luật một giá Quy luật một giá cho rằng giá cả của những loại hàng hóa tương tự khi được tính bằng một đồng tiền chung tại mức tỷ giá hiện hành ở cả hai thị trường phải ngang bằng nhau Trong phần này, tác giả dựa trên nền tảng của quy luật một giá để trình bày 2 hình thức của ngang giá sức mua, bao gồm hình thức tuyệt đối và hình thức tương đối Hình thức ngang giá sức mua tuyệt đối cho rằng: tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa hai đồng tiền phải ngang bằng với tỷ lệ mức giá của rổ hàng hoá giữa hai quốc gia Do
đó, tiền tệ của quốc gia này sau khi được quy đổi qua tỷ giá danh nghĩa đó sẽ có sức mua tương đương trong quốc gia kia
Gọi S là tỷ giá hối đoái danh nghĩa cân bằng; P* là giá của rổ hàng hóa nước ngoài; P là giá của rổ hàng hóa trong nước
S= P/P*
Hình thức ngang giá sức mua tương đối cho rằng: tỷ lệ lạm phát của một quốc gia chỉ có thể cao hơn (thấp hơn) so với tỷ lệ lạm phát của một quốc gia khác khi mà tỷ giá hối đoái sụt giảm (gia tăng) (Copeland, 2005)
Phần trăm thay đổi trong đồng ngoại tệ sẽ thay đổi để duy trì ngang giá trong chỉ
số giá cả mới của cả hai nước
Trang 30tệ sẽ tăng giá khi lạm phát trong nước vượt quá lạm phát ở nước ngoài Nếu Ih < If thì ef
âm Điều này hàm ý rằng đồng ngoại tệ sẽ giảm giá khi lạm phát nước ngoài vượt quá lạm phát ở trong nước
Tác động của các yếu tố khác đến tỷ giá hối đoái: Ngoài chênh lệch lạm phát thì còn có nhiều yếu tố khác tác động đến tỷ giá hối đoái, chẳng hạn như chênh lệch lãi suất hay các biện pháp kiểm soát của chính phủ…Trong lý thuyết ngang giá sức mua, sự điều chỉnh trong tỷ giá là do hành vi của những nhà kinh doanh chênh lệch giá hàng hóa tạo nên, và những giao dịch này được ghi nhận trong tài khoản vãng lai Trong khi đó, trong lý thuyết ngang giá lãi suất, sự điều chỉnh tỷ giá là do hành vi của những nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch giá tài sản tạo nên, và những giao dịch này được ghi nhận trong tài khoản vốn Chính vì vậy, mức độ tác động nào đến tỷ giá mạnh hơn còn phụ thuộc vào những giao dịch trên tài khoản vốn hay trên tài khoản vãng lai chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cán cân thanh toán
Không có hàng hóa thay thế cho hàng nhập khẩu: Theo lý thuyết ngang giá sức mua, khi giá cả trở nên cao hơn một cách tương đối ở quốc gia này, thì tại quốc gia kia sẽ ngưng nhập khẩu và chuyển sang sử dụng hàng nội địa để thay thế hàng nhập khẩu Nhưng không phải lúc nào cũng có hàng hóa thay thế cho hàng nhập khẩu đó Chính vì vậy, tỷ giá sẽ không điều chỉnh đúng như ngang giá sức mua dự kiến
Trang 31 Hàng rào mậu dịch và hàng rào mậu dịch ẩn: Lý thuyết ngang giá sức mua dựa trên giả định thị trường hoàn hảo và không có chi phí giao dịch Trong thực tế, chính phủ các nước vẫn sử dụng các hàng rào mậu dịch và các hàng rào mậu dịch ẩn để can thiệp dòng hàng hóa vào và ra khỏi quốc gia Chính vì vậy, việc xuất hiện các hàng rào mậu dịch này sẽ làm gia tăng chênh lệch giá của những hàng hóa giống nhau tại các quốc gia khác nhau trên thế giới
Tỷ trọng nhập lượng phi mậu dịch trong hàng hóa: Có những loại hàng hóa
và dịch vụ đồng nhất với nhau, nhưng mức giá vẫn chênh lệch nhau giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới Nguyên nhân dẫn đến mức chênh lệch này
là do các loại hàng hóa này có tỷ trọng nhập lượng phi mậu dịch lớn Chính vì vậy, đối với những hàng hóa này thì không thể kinh doanh chênh lệch giữa các quốc gia khác nhau trên thế giới
Thông tin bất cân xứng: Lý thuyết ngang giá sức mua dựa trên giả định rằng tất cả những nhà kinh doanh chênh lệch giá đều nắm bắt toàn bộ thông tin về giá cả hàng hóa trên thế giới một cách hoàn hảo Tuy nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào những nhà kinh doanh chênh lệch giá cũng nắm bắt đầy
đủ và chính xác toàn bộ thông tin về giá cả hàng hóa trên thế giới Bất kể có một nhóm nhỏ những nhà kinh doanh chênh lệch giá nắm bắt thông tin một cách hoàn hảo, thì các giao dịch của họ cũng không đủ lớn để thu hẹp được mức chênh lệch giá hàng hóa, và mức chênh lệch giá này vẫn tồn tại
Các loại hàng hóa và tỷ trọng của các loại hàng hóa được đưa vào rổ hàng hóa dùng để tính chỉ số giá sẽ khác nhau ở những quốc gia khác nhau Chính
vì vậy, ngay từ ban đầu giá cả của rổ hàng hóa của các nước không thể giống nhau hoàn toàn
Bên cạnh đó, nhiều tranh luận cho rằng ngang giá sức mua trong thực tế không luôn luôn tồn tại Theo Copeland (2005), Dornbusch đã nhận thấy giá cả trong thị trường hàng hóa được điều chỉnh chậm hơn so với tốc độ điều chỉnh của thị trường tài
Trang 32chính Vì vậy, thị trường tài chính phải điều chỉnh vượt mức với các cú sốc để bù đắp cho sự neo giá trong thị trường hàng hóa Khi đó, tỷ giá hối đoái có khuynh hướng biến động quá mức so với mức cân bằng trong ngắn hạn so với sự thay đổi trong giá cả hàng hóa Điều này là do có sự chênh lệch về tốc độ điều chỉnh giá cả giữa thị trường hàng hóa và thị trường tài chính Chính vì thế, ngang giá sức mua sẽ lệch đi trong ngắn hạn Vậy trong dài hạn, ngang giá sức mua có tồn tại không? Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã xem xét vấn đề này dựa trên việc phân tích hành vi của tỷ giá hối đoái thực Nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng ngang giá sức mua trong dài hạn có tồn tại, và trong ngắn hạn thì tỷ giá sẽ xoay quanh mức cân bằng dài hạn này Nếu chứng minh được hành vi của tỷ giá hối đoái thực là có khuynh hướng hội tụ về mức tỷ giá hối đoái ngang giá sức mua (tỷ giá hối đoái thực là 1) thì ngang giá sức mua sẽ tồn tại trong dài hạn Nhiều nghiên cứu thực nghiệm với các phương pháp luận khác nhau đều nhất trí rằng độ lệch của PPP có xu hướng tắt dần, nhưng tốc độ thì rất chậm
Tuy nhiên, mô hình Harrod – Balassa – Samuelson đưa ra lý giải về ngang giá sức mua không tồn tại trong dài hạn là do có sự thay đổi theo thời gian của tỷ giá thực cân bằng trong dài hạn Trong mô hình này, nền kinh tế của các nước giả định tăng trưởng chủ yếu dựa vào sự gia tăng trong năng suất lao động trong khu vực sản xuất hiện đại, bởi vì năng suất lao động trong khu vực này có độ nhạy lớn với sự thay đổi trong công nghệ Trong khi đó, khu vực sản xuất truyền thống và dịch vụ lại có năng suất lao động không nhạy với sự thay đổi trong công nghệ Khi năng suất lao động trong khu vực sản xuất hiện đại gia tăng dẫn đến có sự gia tăng trong mức lương của khu vực sản xuất truyền thống và dịch vụ với năng suất lao động không đổi để giữ chân lực lượng lao động Ở những quốc gia phát triển có trình độ khoa học công nghệ cao hơn, mức lương ở khu vực sản xuất truyền thống và dịch vụ cao hơn so với các quốc gia đang phát triển Chính vì vậy, đồng tiền của các quốc gia phát triển có khuynh hướng được định giá cao Do đó, tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong dài hạn có thể bị tác động bởi sự thay đổi trong khoa học công nghệ của một quốc gia
Trang 332.2.2 Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái
Trong mô hình nghiên cứu của tác giả có đưa vào biến lãi suất, vì vậy cần có cơ
sở khoa học về mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về truyền dẫn tỷ giá có đưa vào biến lãi suất, điển hình như Aleem và Lahiani (2014), Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013), Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Thị Ngọc Trang (2015)
Lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa sử dụng chênh lệch lãi suất danh nghĩa giữa hai đồng tiền để giải thích cho sự thay đổi trong tỷ giá giao ngay của đồng ngoại tệ
Tỷ suất sinh lợi có hiệu lực (tỷ suất sinh lợi sau khi đã tính đến sự thay đổi trong
tỷ giá) khi đầu tư ra nước ngoài sẽ phụ thuộc vào hai nhân tố đó là: (1) lãi suất nước ngoài, (2) sự thay đổi giá trị của ngoại tệ
r f = (1 + i f )(1 + e f ) - 1
rf là tỷ suất sinh lợi có hiệu lực khi đầu tư ra nước ngoài
ih là lãi suất trong nước
if là lãi suất của nước ngoài
ef: % thay đổi giá trị của đồng ngoại tệ
Nếu ngang giá lãi suất tồn tại thì tỷ suất sinh lợi có hiệu lực khi đầu tư ra nước ngoài sẽ bằng với lãi suất trong nước
Trang 34lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất nước ngoài thì đồng ngoại tệ sẽ giảm giá một mức tương đương với chênh lệch lãi suất
Hiệu ứng Fisher quốc tế cho rằng: một quốc gia mà có lãi suất cao tương đối so
với một quốc gia khác thì đồng tiền của nước đó sẽ giảm giá tương đương với chênh lệch lãi suất
Theo Fisher, lãi suất danh nghĩa sẽ tương đương với lãi suất thực và lạm phát Fisher giả định rằng lãi suất thực là bằng nhau ở mỗi quốc gia, cho nên sự chênh lệch trong lãi suất danh nghĩa thể hiện chênh lệch trong lạm phát Theo đó, quốc gia nào có lãi suất danh nghĩa cao hơn thì đồng tiền của quốc gia đó sẽ giảm giá, khi lãi suất thực
là như nhau giữa hai quốc gia
Tóm lại, tỷ giá có mối quan hệ với lãi suất danh nghĩa (dựa trên ngang giá lãi suất không phòng ngừa), và lãi suất danh nghĩa có mối quan hệ với lạm phát (hiệu ứng Fisher quốc tế) Điều này cũng hàm ý mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát dưới góc độ hành vi kinh doanh chênh lệch lãi suất của các nhà đầu tư trên thị trường Trong khi đó, mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát trong ngang giá sức mua PPP dưới góc độ hành vi kinh doanh chênh lệch giá hàng hóa
2.2.3 Mối quan hệ giữa lỗ hổng sản lƣợng và lạm phát
Tác giả dựa theo lý thuyết đường cong Phillips để xem xét mối quan hệ giữa lỗ hổng sản lượng và lạm phát Khi xem xét lý thuyết đường cong Phillips và có tính đến
sự phù hợp với các bằng chứng thực nghiệm có liên quan, Galí và Gertler (1999) cùng một số nghiên cứu khác có đề cập đến một phiên bản khác biệt của đường cong Phillips khi cho rằng lạm phát πt phụ thuộc vào lỗ hổng sản lượng (chênh lệch giữa sản lượng
thực tế yt và sản lượng tiềm năng và “chi phí đẩy” phản ánh tác động của lạm phát
kỳ vọng Et(πt+1), cũng như lạm phát trong quá khứ πt-1
π t = (y t - ) + (1 - ) E t (π t+1 ) + π t-1 , với 0 < < 1 Phương trình này thể hiện lạm phát phụ thuộc vào lạm phát kỳ vọng trong tương lai cũng như lạm phát trong quá khứ Việc thêm vào lạm phát trong quá khứ nhằm nắm
Trang 35bắt sự dai dẳng của lạm phát mà không được giải thích trong các mô hình lý thuyết đường cong Phillips trước đó
Đây chính là sự kết hợp giữa lý thuyết đường cong Phillips truyền thống (lạm phát phụ thuộc vào lỗ hổng sản lượng và lạm phát trong quá khứ) và lý thuyết đường cong Phillips thuộc trường phái New Keynes (lạm phát phụ thuộc vào lỗ hổng sản lượng và kỳ vọng lạm phát) Phương trình này có được từ những chứng minh trong nghiên cứu của Galí và Gertler (1999) với phương trình lạm phát là một hàm của chi phí biên và kỳ vọng lạm phát, và có mối quan hệ theo tỷ lệ giữa chi phí biên và lỗ hổng sản lượng
Mối quan hệ giữa lạm phát và lỗ hổng sản lượng cũng có hàm ý tương tự như mối quan hệ giữa sự thay đổi trong lương và tỷ lệ thất nghiệp mà thường được đề cập đến trong các tài liệu kinh tế tài chính, với lỗ hổng sản lượng có mối quan hệ với tỷ lệ thất nghiệp theo quy luật Okun
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về các kết quả nghiên cứu trước đây 2.3.1 Truyền dẫn tuyến tính
Nghiên cứu của Menon (1995) đã trình bày tổng hợp 43 nghiên cứu thực nghiệm trước đó về truyền dẫn tỷ giá, và chỉ ra rằng truyền dẫn tỷ giá là không hoàn toàn, nhưng mức độ truyền dẫn tỷ giá khá là khác nhau giữa các quốc gia và phần lớn vẫn còn ổn định theo thời gian Các kết quả nghiên cứu khác nhau theo tác giả chủ yếu
là do sử dụng các phương pháp luận, các chỉ định mô hình, lựa chọn các biến khác nhau hơn là do sử dụng các giai đoạn nghiên cứu khác nhau Kể từ nghiên cứu này, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau đó về truyền dẫn tỷ giá đã cố gắng cải thiện những thiếu sót của các nghiên cứu trước đó bằng các phương pháp khác nhau để đưa
ra các kết quả ước lượng ít bị sai lệch
Khá nhiều nghiên cứu trước đây ước lượng phản ứng của thước đo giá nội địa với các thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa bằng mô hình hồi quy phương trình đơn nhất với
dữ liệu chuỗi thời gian hay dữ liệu bảng (Campa và Goldberg, 2002; Goldfajn và
Trang 36Werlang, 2000) Cách tiếp cận VAR thì tốt hơn cách tiếp cận phương trình đơn nhất, bởi vì cách tiếp cận này xem xét mối quan hệ nhân quả động giữa 2 biến Cách tiếp cận này được chấp nhận rộng rãi trong các nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau
(McCarthy, 2000; Billmeier và Bonato, 2002; Gueorguiev, 2003; Ito và Sato, 2008)
Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn gặp phải hạn chế đó là việc lấy sai phân bậc nhất ở các biến nghiên cứu đã làm thông tin ở dạng mức độ bị mất đi (Billmeier và Bonato,
2002) Để giải quyết vấn đề này, một vài nghiên cứu sử dụng VECM mà kết hợp chặt
chẽ các mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa các biến nội sinh ở dạng mức độ để phân tích truyền dẫn tỷ giá (Bhattacharya và cộng sự, 2011) Sau này, một số nghiên cứu thực hiện ước lượng bằng mô hình VAR cấu trúc SVAR (Jiang và Kim, 2013) Do
sự hiện diện của tính phi tuyến trong truyền dẫn tỷ giá, các phương pháp kinh tế lượng tuyến tính này có lẽ đưa ra các hệ số truyền dẫn tỷ giá không chính xác
Nhìn chung các nghiên cứu thực nghiệm nhận thấy truyền dẫn tỷ giá là không hoàn toàn trong ngắn hạn (truyền dẫn tỷ giá danh nghĩa đến các mức giá nội địa sẽ nằm trong khoảng giữa 0 và 1) Trong dài hạn, nhìn chung truyền dẫn tỷ giá gần như là bằng
1 (Goldberg và Knetter, 1997; McCarthy, 2000; Campa và Goldberg, 2002)
Bằng chứng thực nghiệm thường chỉ ra rằng mức độ truyền dẫn tỷ giá cao nhất đối với giá nhập khẩu, kế tiếp là giá sản xuất và cuối cùng là giá tiêu dùng (Burstein và
cộng sự, 2002; Choudhri và cộng sự, 2002; Ito và Sato, 2008; McCarthy, 2000) Nhiều
nghiên cứu trước đây đã đưa ra một loạt các giải thích (như nghiên cứu của Bhattacharya và cộng sự, 2011; Burstein và cộng sự, 2002; Gueorguiev, 2003), có thể
là do rổ hàng hóa dùng để tính CPI đã đưa vào các hàng hóa phi ngoại thương (hàng hóa được sản xuất và tiêu dùng hoàn toàn ở trong nước) mà các hàng hóa này ít phản ứng lại với các thay đổi trong tỷ giá Hầu như các nghiên cứu thực nghiệm nhận thấy ở các quốc gia phát triển truyền dẫn tỷ giá vào các mức giá nội địa thấp (Campa và
Goldberg, 2002; Choudhri và cộng sự, 2002; McCarthy, 2000) trong khi các nghiên
cứu thực nghiệm ở các quốc gia đang phát triển và mới nổi thì thường nhận thấy truyền
Trang 37dẫn tỷ giá đến các mức giá nội địa cao và nhanh hơn so với các quốc gia phát triển (Goldfajn và Werlang, 2000) Các nghiên cứu trước đây quy cho sự khác biệt này là do
tỷ lệ lạm phát cao hơn trong các quốc gia đang phát triển và mới nổi
Sau đây, tác giả trình bày cụ thể hơn một số nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá theo các phương pháp kinh tế lượng tuyến tính khác nhau
Ranki (2000) xem xét truyền dẫn tỷ giá cho toàn bộ khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu bằng việc ước lượng OLS, với kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng truyền dẫn tỷ giá EUR/USD vào chỉ số giá tiêu dùng là hoàn toàn và tốc độ truyền dẫn trong một tháng Một nghiên cứu khác sử dụng ước lượng với dữ liệu bảng của Goldfajn và Werlang (2000) xem xét truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng cho một bộ mẫu quan sát gồm 71 quốc gia trong giai đoạn 1980-1998 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của truyền dẫn tỷ giá lên chỉ số giá tiêu dùng gia tăng theo thời gian và đạt tối
đa sau 12 tháng Nhìn chung, hệ số truyền dẫn thấp đáng kể trong các nền kinh tế phát triển hơn là các quốc gia thị trường mới nổi Basher và Elasmadisy (2010) cũng ứng dụng kỹ thuật kinh tế lượng dữ liệu bảng để phân tích các tác nhân chính yếu của lạm phát và truyền dẫn tỷ giá tại các quốc gia thuộc Hội đồng hợp tác vùng vịnh GCC trong suốt giai đoạn 1980-2008 Kết quả nghiên cứu chỉ ra cung tiền là nhân tố chính yếu của lạm phát cả trong ngắn và dài hạn Bên cạnh đó, tỷ giá danh nghĩa có hiệu lực đa phương NEER thành công trong việc giải thích lạm phát trong dài hạn hơn là trong ngắn hạn Ali và Mim (2011) đánh giá tác động của các nhân tố quyết định tiền tệ và phi tiền tệ lên lạm phát cho một bộ mẫu bao gồm 8 quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (MENA): Algeria, Bahrain, Iran, Morocco, Oman, Saudi Arabia, Tunisia và United Arab Emirates trong suốt giai đoạn 1980-2009 bằng kỹ thuật ước lượng GMM Tác giả nhận thấy hệ số truyền dẫn tỷ giá đến lạm phát có ý nghĩa thống kê đối với các quốc gia này Brun-Aguerre và cộng sự (2012) sử dụng một bộ mẫu quan sát lớn bao gồm 18 nền kinh tế mới nổi và 19 nền kinh tế phát triển để xem xét truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu cũng bằng các mô hình dữ liệu bảng trong giai đoạn quý 1 năm 1980 đến
Trang 38quý 3 năm 2009 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lạm phát, độ biến động tỷ giá, mức độ
mở cửa của nền kinh tế và mức độ giàu có tương đối là các tác nhân chính yếu của truyền dẫn tỷ giá tại các thị trường mới nổi Kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng mức
độ truyền dẫn tỷ giá sẽ khác biệt giữa những thay đổi tỷ giá lớn và nhỏ
Kim (1998) ước lượng truyền dẫn tỷ giá cho Mỹ bằng việc sử dụng phân tích đồng liên kết và VECM Nghiên cứu liên kết lạm phát tính theo chỉ số giá sản xuất với
tỷ giá danh nghĩa có hiệu lực đa phương, cung tiền, thu nhập, và lãi suất Kết quả nghiên cứu chỉ ra tỷ giá đã góp phần đáng kể vào việc giải thích chỉ số giá sản xuất, và kết quả này càng được củng cố hơn bởi kiểm định nhân quả Granger Kenny và McGettigan (1998) cũng sử dụng phân tích đồng liên kết và VECM như Kim (1998) để nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá cho Ireland, nhưng lại nhận thấy hệ số truyền dẫn tỷ giá cao hơn so với nghiên cứu của Kim (1998) Hossain và Ahmed (2009) đã nỗ lực giải thích các chính sách tỷ giá tại Bangladesh từ năm 2000 đến năm 2008 và cũng cố gắng đánh giá tính phù hợp của các chính sách này nhằm xem xét các điều kiện tài chính quóc tế tạm thời lẫn các hoàn cảnh kinh tế nội địa bằng việc sử dụng các kỹ thuật kinh
tế lượng đồng liên kết và VECM Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý để ước lượng
tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đa phương cũng như tỷ giá hối đoái thực có hiệu lực đa phương với các kết quả chỉ ra rằng hệ số truyền dẫn tỷ giá trong dài hạn là rất cao và có ý nghĩa cho quốc gia Bangladesh Xa hơn họ còn chỉ ra một hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý với sự ổn định trong ngắn hạn và sự linh hoạt trong dài hạn có lẽ phù hợp hơn cho Bangladesh
Rowland (2004) nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá vào mức giá nội địa bằng việc sử dụng dữ liệu hàng tháng qua 20 năm từ năm 1983 đến năm 2002 bằng việc sử dụng mô hình VAR cũng như đồng liên kết đa biến Kết quả nghiên cứu cho rằng truyền dẫn tỷ giá không hoàn toàn vào giá nội địa Một cú sốc tỷ giá có tác động rất giới hạn lên lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng (xấp xỉ nhỏ hơn 15%) và có tác động rất khiêm tốn lên lạm phát tính theo chỉ số giá sản xuất (khoảng 28%) Một nghiên cứu toàn diện của
Trang 39McCarthy (2000) xem xét truyền dẫn tỷ giá lên các mức giá (giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng) của các nền kinh tế công nghiệp bằng việc ước lượng mô hình VAR cho giai đoạn quan sát 1976-1998 và nhận thấy hệ số truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng nhỏ trong hầu hết các quốc gia mà tác giả xem xét Bên cạnh đó, phần nhập khẩu của một quốc gia và sự dai dẳng của các thay đổi trong tỷ giá có tương quan dương với mức độ truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng, trong khi đó độ biến động
tỷ giá lại có mối tương quan âm với mức độ truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng Liang (2007) phân tích các tác động của truyền dẫn tỷ giá đến một loạt các mức giá khác nhau (giá nhập khẩu, giá xuất khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng) cho 12 quốc gia châu Âu bằng việc sử dụng cách tiếp cận VAR Tác động của truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá khác nhau được phân tích bằng việc sử dụng mô hình cơ sở dựa trên phản ứng đẩy của phân rã Cholesky Kết quả chỉ ra rằng: thứ nhất, giá phản ứng nhạy với các thay đổi trong tỷ giá; thứ hai, hệ số truyền dẫn tỷ giá dài hạn cao hơn ngắn hạn; thứ ba, mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát là dương và có ý nghĩa thống kê Zorzi
và cộng sự (2007) cũng ước lượng bằng các mô hình VAR để xem xét mức độ truyền dẫn tỷ giá vào giá tiêu dùng và giá nhập khẩu cho 12 thị trường mới nổi bao gồm Châu
Á, Mỹ Latin, Trung Âu và Đông Âu (trong giai đoạn 1975-2004), và cho các nền kinh
tế công nghiệp, chủ yếu là khu vực châu Âu, Mỹ và Nhật (giai đoạn 1983-2004) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng truyền dẫn tỷ giá vào cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng thì thấp cho các nền kinh tế phát triển hơn là các thị trường mới nổi Một nghiên cứu khác của Shu và cộng sự (2008) nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá nội địa (giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng) tại Trung Quốc bằng việc sử dụng mô hình VAR Kết quả nghiên cứu chỉ ra truyền dẫn tỷ giá đến giá nhập khẩu gần 0.5 trong ngắn hạn và 0.6 trong dài hạn Truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng xấp xỉ 0.07 trong ngắn hạn và 0.2 trong dài hạn Nghiên cứu này đã chỉ ra truyền dẫn tỷ giá thấp đối với chỉ số giá tiêu dùng tại Trung Quốc
Trang 40Hyder và Shah (2004) sử dụng bộ dữ liệu hàng tháng trong giai đoạn 1988-2003
để ước lượng truyền dẫn tỷ giá đến giá bán sỉ nội địa và giá tiêu dùng bằng việc sử dụng mô hình VAR đệ quy tại Pakistan Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng truyền dẫn tỷ giá vào giá nội địa rất thấp tại Pakistan và truyền dẫn này yếu sau khi chấp thuận
tỷ giá thả nổi tự do vào 7/2000, và truyền dẫn tỷ giá mạnh hơn cho chỉ số giá bán sỉ (WPI) so với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Volkan và Korap (2007) xem xét độ lớn của
hệ số truyền dẫn tỷ giá vào giá nội địa tại Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt giai đoạn trước và sau
2003 bằng việc sử dụng unrestricted VAR Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng truyền dẫn tỷ giá có tác động lên lạm phát nội địa nhưng tác động này sụt giảm cho giai đoạn sau 2003 so với giai đoạn trước 2003 Stulz (2007) sử dụng dữ liệu hàng tháng để xem xét truyền dẫn tỷ giá và các cú sốc giá nhập khẩu vào các mức giá khác nhau tại Thụy Sỹ bằng việc ước lượng mô hình identified VAR và phân tích phản ứng đẩy Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng truyền dẫn tỷ giá thì đáng kể (mặc dù không hoàn toàn) vào giá nhập khẩu, nhưng rất nhỏ khi truyền dẫn tỷ giá vào giá tiêu dùng Hơn nữa, phân tích mẫu con đã chỉ ra rằng truyền dẫn tỷ giá vào giá tiêu dùng giảm đáng kể vào những năm 1990 khi so sánh với thập kỉ trước Sự sụt giảm này trùng khớp với sự dịch chuyển hướng về lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng thấp hơn và ổn định hơn cũng trong giai đoạn này
Mwase (2006) xem xét tác động của truyền dẫn tỷ giá lên giá tiêu dùng tại Tanzania bằng việc sử dụng mô hình SVAR cùng với mô hình VECM và kiểm định nhân quả Granger Hệ số truyền dẫn tỷ giá thấp trong suốt giai đoạn 1990-2005 Sanusi (2010) sử dụng mô hình bao gồm 4 biến: ngoại hối, cung tiền, tỷ giá và giá nội địa để giải thích truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát tại Ghana Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý trong suốt giai đoạn 1983-2006 bằng việc sử dụng kỹ thuật ước lượng SVAR Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ truyền dẫn tỷ giá tại Ghana lớn nhưng tốc độ truyền dẫn tỷ giá chậm Các cú sốc cung tiền tác động nhiều hơn (3% - 22%) đến lạm phát sau
đó mới là các cú sốc tỷ giá (8% - 17%)