những quyết định chính sách đúng đắn trong việc điều hành tỷ giá nhằmđạt các mục tiêu kinh tế cụ thể.TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời nó cũng tác động tới nh
Trang 1Môn học : KINH TẾ VĨ MÔ QUỐC TẾ
Họ và tên : Nguyễn Thị Thùy Dung
Chuyên ngành : Kinh tế học
Trường : Đại học Kinh tế Quốc dân
Đề bài: Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam năm 2011: Thành công,
thất bại và một số khuyến nghị
Bài làm:
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng
tiền của hai nước khác nhau Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá củamột đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủquan và khách quan Nhưng nhìn chung, có ba yếu tố chính tác động đến
Trang 2tỷ giá Đó là mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ, độ lệch về lãi suất và lạmphát giữa các nước.
Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếpđến sự biến động của tỷ giá hối đoái Cung cầu ngoại tệ lại chịu sự ảnhhưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong đó có cán cân thanh toán quốc
tế Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năng cungngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại Sự cân bằng của cán cânthanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các nguốn cung và cầu ngoại tệ cấuthành nên cán cân thanh toán quốc tế Khi nền kinh tế có mức tăngtrưởng ổn định, nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng do đónhu cầu về ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên Ngược lại,khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thì các hoạt động sản xuấtkinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ
Trang 3giảm đi Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnhtrong ngắn hạn việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao.
Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước là yếu tố thứ hai ảnhhuờng đến TGHĐ Nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãisuất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thuphần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tănglên, TGHĐ sẽ giảm xuống
Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biếnđộng của tỷ giá Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suấtlao động của hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối
tự do, khi đó tỷ giá biến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phátcủa hai đồng tiền Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiềncủa nước đó bị mất giá so với đồng tiền nước còn lại
Trang 4Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của đồngtiền PPP Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối sovới mức tăng giá của nước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng tiền củanước đó giảm giá và ngược lại Như vậy, yếu tố chênh lệch lạm phát chỉ
có ảnh hưởng đến biến động của tỷ giá trong dài hạn Việc nghiên cứuyếu tố này để làm cơ sở dự đoán biến động của tỷ giá trong ngắn hạn sẽđem lại kết quả không đáng tin cậy
Ngoài những yếu tố nêu trên TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của cácyếu tố khác, chẳng hạn như yếu tố tâm lý, chính sách của chính phủ, uytín của đồng tiền…
Nhìn chung, TGHĐ biến động tăng hoặc giảm là do tác động củanhiều yếu tố khác nhau Do đó, để có một mức tỷ giá phù hợp cho từngthời kỳ, chúng ta cần phải xác định được các yếu tố chủ quan, kháchquan; trực tiếp và gián tiếp tác động lên tỷ giá Trên cơ sở đó, mà đưa ra
Trang 5những quyết định chính sách đúng đắn trong việc điều hành tỷ giá nhằmđạt các mục tiêu kinh tế cụ thể.
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời
nó cũng tác động tới nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế trong đó quantrọng nhất là tới hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, tín dụng quốc tế
Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoạithương thông qua kênh giá cả Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tínhđược giá xuất nhập khẩu của một loại hàng hoá của một nước theo tiền tệcủa một nước khác Vì vậy, tỷ giá thay đổi kéo theo sự thay đổi của giá
cả hàng hoá xuất nhập khẩu Chúng ta hãy cùng xem xét tình huống sau.Chẳng hạn khi TGHĐ tăng, đồng nội tệ mất giá Sự biến động này có lợicho hoạt động xuất khẩu vì giá xuất khẩu của hàng hoá và dịch vụ củanước đó sẽ giảm đi tương đối trên thị trường nước ngoài, với điều kiệngiá cả hàng hoá và dịch cụ đó giữ ở mức ổn định trên thị trường nội địa
Trang 6Do đó, sẽ góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụcủa nước đó Khi TGHĐ tăng, giá cả hàng nhập khẩu sẽ đắt lên tươngđối trên thị trường nội địa với điều kiện giá nhập khẩu ổn định Chính vìvậy mà một số nước sử dụng chinh sách phá giá đồng nội tệ để hạn chếnhập khẩu.
Ngoài ra, TGHĐ tăng hay giảm còn có ảnh hường không nhỏ tớidòng vốn ngoại tệ lưu chuyển giữa các nước tức tới hoạt động đầu tư vàtín dụng quốc tế Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào nhiềuyếu tố khác nhau
Vậy NHNN đã điều hành chính sách tỷ giá trong năm 2011 như thếnào? Kết quả ra sao và kinh nghiệm rút ra là gì?
1 Bối cảnh:
Ngày 11/02/2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNH) đã có một quyếtđịnh tương đối bất ngờ là điều chỉnh tỷ giá USD/VND tăng khá cao so
Trang 7với những lần điều chỉnh khác, tăng 9,3% đồng thời giảm biên độ giaođộng từ (+/-3%) xuống còn (+/-1%) Nguyên nhân của lần điều chỉnhnày là do:
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát hai con số và
có xu hướng tăng cao trở lại, lạm phát tháng 01/2011 đã ở mức1,74%
Nhập siêu kéo dài trong nhiều năm đã làm sụt giảm nguồn dự trữngoại hối, tăng nợ quốc gia và gây sức ép giảm giá đồng nội tệ.Thâm hụt cán cân vãng lai lớn cùng với thâm hụt ngân sách cao, nợcông có xu hướng tăng nhanh (từ 45% GDP năm 2008 lên gần 60%GDP vào năm 2011) là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tếtrong những năm tới đây
Dự trữ ngoại tệ của nước ta giảm xuống mức thấp đáng báo động
do tình trạng nhập siêu cao và kéo dài, có thể làm mất khả năng
Trang 8nhập khẩu và trả nợ, đồng thời khó có thể can thiệp vào thị trườngngoại hối khi cần thiết.
Lãi suất huy động vốn của các NHTM có xu hướng tăng, cácNHTM đua nhau “xé rào” lãi suất bằng nhiều hình thức làm choVND tăng giá so với USD, dẫn tới tình trạng nhập siêu ngày càngnghiêm trọng hơn
Từ lâu ở Việt Nam tồn tại cơ chế hai tỷ giá, chính thức và thịtrường tự do khiến cho các doanh nghiệp và người dân gặp khókhăn, việc quản lý thị trường ngoại hối của Nhà nước gặp nhiều trởngại Các nhà đầu tư nước ngoài e ngại đầu tư vào Việt Nam vì longại rủi ro tỷ giá, ngoại tệ chạy ngầm từ thị trường chính thức sangthị trường chợ đen vì giá cao hơn, ngoại tệ trở nên khan hiếm.Trong khi dự trữ ngoại hối của nước ta mỏng, Chính phủ nhiều khibất lực trước việc đầu cơ, thao túng giá USD trên thị trường tự do
Trang 9Các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hạch toán chi phí vìphải mua ngoại tệ ở thị trường tự do với giá cao nhưng lại phải
“phù phép” làm hợp lý hóa chi phí thực phải bỏ ra (vì tỷ giá giaodịch chính thức do NHNN quy định thấp hơn làm cho thị trường tàichính và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thiếuminh bạch và tin cậy
Ngoại trừ cú sốc điều chỉnh tỷ giá tăng đến 9,3%, mức tăng mạnhnhất trong lịch sử của thị trường ngoại hối Việt Nam vào ngày 9/2 cộngvới việc siết biên độ từ +/-3% xuống còn +/-1%, năm 2011 được xem làmột năm thành công của chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhànước
Trái ngược với những lo lắng của các chuyên gia kinh tế về cú sốc
tỷ giá sẽ diễn ra những tháng cuối năm 2011, thực tế đã chứng minh thịtrường ngoại hối trong những ngày cuối năm vẫn ở trong trạng thái bình
Trang 10ổn Sau những lần điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng mộtcách linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trần của các ngân hàngthương mại giữ vững ở mức 21.036 đồng/USD Trong khi đó, giá USD
tự do ngày 26/12 mua vào - bán ra ổn định ở 21.270 - 21.300 đồng/USD,cao hơn tỷ giá ngân hàng gần 300 đồng
Đánh giá một cách công bằng, sự bất ổn định của tỷ giá trong batháng đầu năm 2011 là kết quả của chính sách tỷ giá năm 2010 để lại Sựcăng thẳng của thị trường ngoại hối đã bắt đầu từ tháng 10/2010 nhưngkhông được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh kịp thời Áp lực của thịtrường ngoại hối đè nặng lên vai những người điều hành chính sách tỷgiá vào những tháng cuối năm 2010 và đầu năm 2011
Điều chỉnh tăng tỷ giá USD tới 9,3%, một con số gây bất ngờ chonhững nhà quan sát thị trường ngoại hối vào thời điểm 9/2 Tuy nhiên,
sự ổn định của tỷ giá trong hơn 7 tháng còn lại của năm 2011 cho thấy
Trang 11sự đúng đắn biện pháp điều chỉnh mạnh tay tỷ giá của Ngân hàng Nhànước Kể từ tháng 8/2011, hai động thái điều hành tỷ giá xuất hiện Thứnhất trong hai tháng 9 và 10, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tiếpbán ngoại tệ can thiệp sau khi Thống đốc tuyên bố tỷ giá không biếnđộng quá 1% cho đến cuối năm Ước đoán khoảng 2 tỉ USD đã được
“bơm” vào thị trường nhằm kéo tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chínhthức về gần nhau, chỉ còn chênh lệch khoảng 100-150 đồng/USD Đây
là đợt can thiệp dồn dập, có hệ thống, có chủ đích và công khai nhấttrong nhiều năm trở lại đây
Kế đó, NHNN bắt đầu điều hành linh hoạt tỷ giá bằng 15 lần điềuchỉnh tỷ giá công bố hàng ngày Sự linh hoạt này khiến thay vì nhìn vào
tỷ giá thị trường tự do, giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàngquay sang nhìn vào tỷ giá công bố chính thức
Trang 12Cùng lúc, các giao dịch ngoại tệ qua một đồng tiền thứ ba (chủ yếu
là Euro, Đô la Úc, Đô la Canada, Singapore ) được mở lại Hai nămtrước, giao dịch ngoại hối qua một đồng tiền thứ ba bị cấm hoàn toàn.Bây giờ NHNN không nói rõ là “hết cấm”, song gần như lờ hẳn việc cácngân hàng mời chào doanh nghiệp giao dịch ngoại tệ khác thay thế
Bên cạnh việc điều chỉnh tỷ giá theo tín hiệu thị trường, Ngân hàngNhà nước cũng đã áp dụng các biện pháp hành chính khác như áp trầnlãi suất huy động USD của các ngân hàng thương mại từ 6% về còndưới 2%, thực hiện kết hối và mở rộng đối tượng kết hối, xử lý một loạtcác giao dịch ngoại hối bất hợp pháp trên thị trường tự do Tất cả nhữngbiện pháp hành chính mạnh tay đó cộng với chênh lệch lãi suất VND vàUSD cao đã giúp nguồn USD từ thị trường chuyển sang VND một cáchhiệu quả, giúp bình ổn thị trường ngoại hối Trong khi đó, việc lãi suấthuy động tiền đồng đứng ở mức cao và chưa có dấu hiệu rời khỏi trần
Trang 1314%/năm khiến các nhà xuất khẩu tăng các hợp đồng kỳ hạn bán ngoại
tệ cho ngân hàng trước khi ngoại tệ về để lấy tiền đồng Sự găm giữngoại tệ giảm hẳn, bằng chứng rõ nhất là số tiền ký gửi thanh toán quốc
tế trên tài khoản tụt xuống nhanh chóng
2 Những thành công đạt được:
Việc thực thi các chính sách một cách quyết liệt, đồng bộ đã manglại những thành công đáng kể trong việc điều hành chính sách tỷ giá củaNgân hàng Nhà nước, cụ thể như sau:
- Ổn định giá USD: Giá USD đến cuối năm 2011 duy trì ổn định ở
mức 21.036 VNĐ/USD Việc ổn định giá USD có ý nghĩa rất lớn
và được coi là một điểm sáng trong điều hành chính sách của Nhànước
TỶ GIÁ TRUNG BÌNH ĐỒNG ĐÔLA MỸ SO VỚI VIỆT NAM ĐỒNG
CÁC THÁNG 2011
Trang 14(Nguồn: Website Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Thị trường ngoại tệ tự do đã thu hẹp đáng kể; tỷ giá trên thị trường
tự do đã giảm khá mạnh trong thời gian dài hiếm thấy Giá USD
Trang 15trên thị trường tự do từ chỗ cao hơn thị trường chính thức có lúc tớigần 2.000 VND/USD (gần 10%), đã giảm xuống mức thấp chỉ còn200- 300 VND/USD hay 1-2%; thậm chí có lúc còn thấp hơn Tỷgiá trên thị trường chính thức mức tối đa có lúc còn thấp hơn tỷ giáliên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày.
Trong 2 năm trước, cán cân thanh toán tổng thể bị thâm hụt lớn,làm cho lượng ngoại tệ dự trữ bị giảm mạnh, có lúc chỉ còn tươngđương với 3,5 tuần nhập khẩu, thì nay, nhờ tỷ giá ổn định và giảmliền trong 4 tháng giữa năm, Ngân hàng Nhà nước đã mua vàođược một lượng khá ngoại tệ để tăng dự trữ Đây là trạng thái mớicủa năm nay khác hẳn với 2 năm trước
- Tỷ giá VND/USD ổn định đã góp phần chống tình trạng “đô lahóa”, giảm bớt sự bất ổn tâm lý kỳ vọng lạm phát, một kết quả
Trang 16quan trọng và là một yếu tố góp phần làm cho CPI tăng chậm lại từtháng 5.
- Sự ổn định của tỷ giá VND/USD càng có ý nghĩa, khi được thựchiện trong điều kiện CPI của Việt Nam cao hơn của các nước, trongđiều kiện trong dư luận còn có lúc chưa tin tưởng về khả năng ổnđịnh thị trường
- Việc điều chỉnh tỷ giá thực hiện theo tín hiệu thị trường, tránh tìnhtrạng để sức ép bị dồn tích lại buộc phải tăng và khi tăng lại phảităng với tốc độ quá cao (như đã xảy ra vào ngày 9/2/2011)
- Thay đổi phương thức điều hành tỷ giá Trước đây, việc điều hành
tỷ giá thường mang tính “giật cục”, cứ khoảng 6 tháng 1 lần tăngvới tốc độ khá cao Phương thức điều hành mới mà Ngân hàng Nhànước áp dụng thông qua việc công bố tỷ giá giao dịch trên thịtrường liên ngân hàng hàng ngày, mỗi lần chỉ tăng 5-10 đồng, nên
Trang 17có ưu điểm là ít gây sốc, các nhà đầu cơ làm giá cũng khó “đónlõng”; mức độ điều chỉnh mỗi lần thường không lớn, sóng nhỏ, nênviệc “lướt sóng” cũng khó thực hiện.
- Áp trần lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đối vớiUSD ở mức 2% để hạ mạnh lãi suất từ 6% trước đó xuống, thấp xa
so với lãi suất huy động VND đã tác động đến 2 mặt Một mặt, thúcđẩy người dân bán ngoại tệ cho ngân hàng, chuyển từ quan hệ vaysang quan hệ mua đứt đoạn Mặt khác, lãi suất huy động VND caohơn so với huy động bằng USD nên khuyến khích người có USDbán cho ngân hàng lấy VND gửi tiết kiệm
- Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các ngành, các cấp trong việcthanh tra, xử lý việc niêm yết giá mua bán bằng ngoại tệ, các tụđiểm giao dịch ngoại tệ hiệu quả và bước đầu đủ sức răn đe
3 Những hạn chế còn tồn tại:
Trang 18Tuy nhiên, chính sách điều hành tỷ giá năm 2011 vẫn còn một sốhạn chế như sau:
- Việc tăng tỷ giá đột biến vào đầu tháng 02/2011 làm cho nền kinh
tế rơi vào lạm phát tăng cao liên tục trong những tháng đầu năm,các nhà đầu tư bi quan hơn vào các cơ hội đầu tư, thị trường chứngkhoán và bất động sản không khởi sắc Trước hết việc tăng tỷ giá làlàm gia tăng chi phí của các nhà sản xuất Giá các hàng hoá cơ bảnnhư xăng dầu, phân bón, dược phẩm đã tăng mạnh làm hầu hết cáchàng hoá đến tay người tiêu dùng bị tăng theo Chỉ số giá tiêu dùng
vì vậy sẽ bị ảnh hưởng trong các tháng tới Để tiếp tục kiềm chếlạm phát, lãi suất sẽ tiếp tục phải duy trì ở mức cao trong thời giantới Điều này có thể khiến nền kinh tế rơi vào vòng luẩn quẩn: kiềmchế lạm phát thì tăng lãi suất, lãi suất tăng khiến chi phí đầu vàotăng dẫn tới lạm phát chi phí đẩy và lại tăng lãi suất
Trang 19- Việc phá giá VND sẽ khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài đã vàđang đầu tư ở thị trường chứng khoán Việt Nam bị thua lỗ do thịtrường giảm điểm liên tục, giá trị đầu tư quy ra USD bị giảm sútnghiêm trọng Ngoài ra, việc điều chỉnh tỷ giá khiến các nhà đầu tưnước ngoài gánh thêm khoản thiệt hại về tỷ giá
- Đối với các doanh nghiệp có tỷ lệ vay nợ bằng USD cao sẽ phảigánh chịu thêm một gánh nặng nợ “từ trên trời rơi xuống” từ ngàyđiều chỉnh tỷ giá, buộc các doanh nghiệp này phải tiến hành lập dựphòng rủi ro tỷ giá cuối năm, làm giảm lợi nhuận và tăng trưởng kỳvọng của các nhà đầu tư với các công ty trên Còn các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩunguyên liệu từ nước ngoài sẽ phải chịu mức tổn thất lớn do giánguyên liệu nhập khẩu tăng cao, đẩy giá thành tăng, giảm tính cạnhtranh và tác động làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 204 Khuyến nghị chính sách:
Mặc dù còn một số hạn chế, chủ yếu là vào những tháng đầu năm
2011, sự điều hành chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước được coi
là thành công và là một trong những nguyên nhân có tầm quan trọnghàng đầu Tuy nhiên, sự ổn định hiện nay của tỷ giá mới chỉ là bước đầu
Do đó, để ổn định tỷ giá, cần thực hiện nhiều giải pháp nhằm phát huyhơn nữa những kết quả tích cực, cụ thể như sau:
- Một là, tiếp tục phối hợp kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các đại
lý thu đổi ngoại tệ, các giao dịch thanh toán trực tiếp bằng USD
- Hai là, rà soát việc cung ứng ngoại tệ để giảm thiểu, đi đến loại trừtình trạng vay USD, đổi ra VND rồi gửi ngược lại ngân hànghưởng để chênh lệch lãi suất, khi đáo hạn lại mua USD trên thịtrường tự do trả nợ ngân hàng