Trong hơn 15 năm qua, do công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nướccùng với những thay đổi của nền kinh tế - xã hội đã kéo theo sự thay đổi củanhiều yếu tố liên quan đến tình trạng sâu răng
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng là một trong những bệnh gặp phổ biến trong cộng đồng
ở Việt Nam cũng như trên thế giới Tổ chức y tế thế giới đã xếp bệnh răngmiệng đứng thứ ba về mức độ nghiêm trọng, sau ung thư và bệnh tim mạch.Bệnh răng miệng gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống và tiêu tốn chi phícao cho việc phòng ngừa và điều trị
Năm 2000, được sự chỉ đạo của Bộ Y tế, Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội đãhợp tác với Viện Nghiên cứu và Thống kê sức khỏe răng miệng Úc tiến hành
đề tài “Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần 2” Kết quả của đề tài nàyđóng góp một phần quan trọng trong việc xây dựng chính sách phát triểnngành Răng Hàm mặt trong giai đoạn 2000 – 2010 của Bộ Y tế Từ đó đếnnay, đã có thêm một số điều tra lẻ tẻ ở phạm vi hẹp và khu trú cho một số đốitượng Kết quả của các cuộc điều tra này cho thấy tỷ lệ về các bệnh răngmiệng trong cộng đồng rất cao như trên 90% có bệnh vùng quanh răng, trên50% có sâu răng…Tuy vậy, kết quả của những cuộc điều tra này không thểđại diện cho mức toàn quốc
Trong hơn 15 năm qua, do công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nướccùng với những thay đổi của nền kinh tế - xã hội đã kéo theo sự thay đổi củanhiều yếu tố liên quan đến tình trạng sâu răng và các bệnh răng miệng khác
Do đó, kết quả của Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần 2 không cònthích hợp để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách lớn về Răng HàmMặt của Bộ Y tế trong giai đoạn tới Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng cácbệnh răng miệng phổ biến trên phạm vi cả nước với một thiết kế khoa học,đầy đủ là một nhu cầu bức xúc cho việc hoạch định chính sách chiến lược Mặt khác, trong giai đoạn 2000 – 2015, mặc dù đã có nhiều chươngtrình dự phòng sâu răng và các bệnh răng miệng cho cộng đồng như chương
Trang 2trình Nha học đường, chương trình Nha khoa cộng đồng, chương trình MuốiFluor… nhưng tỷ lệ mắc sâu răng và các bệnh răng miệng khác vẫn gia tăng.
Từ thực tiễn cấp bách trên, Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội tiến hành đề
tài:“Nghiên cứu thực trạng sức khỏe răng miệng ở Việt Nam năm 2015”
nhằm các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng bệnh sâu răng, nha chu và lệch lạc răng ở Việt Nam.
2 Xác định một số yếu tố liên quan chính gây bệnh sâu răng, nha chu và lệch lạc răng ở Việt Nam
3 Đề xuất giải pháp dự phòng bệnh răng miệng phổ biến ở Việt Nam
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Các bệnh răng miệng phổ biến ở Việt Nam
1.1.1 Bệnh sâu răng
Trang 31.1.1.1 Khái niệm, bệnh căn, bệnh sinh
Sâu răng là bệnh gặp phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới, bệnh cóthể mắc từ rất sớm ngay sau khi răng mọc Bệnh sâu răng nếu không đượcđiều trị kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng như viêm tủy răng, viêm quanhcuống răng ảnh hưởng tới ăn uống, làm giảm khả năng học tập và làm việc.Sâu răng là bệnh có tỷ lệ người mắc cao, là một trong hai nguyên nhân chủyếu làm mất răng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe Ngoài ra, sâu răng còn lànguyên nhân của một số bệnh nội khoa như viêm nội tâm mạc, viêm cầu thận,viêm khớp
Sâu răng là một bệnh của tổ chức cứng của răng được đặc trưng bởi sựhủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của tổ chứccứng; biểu hiện là tổ chức cứng bị hủy và tạo thành hố trên răng gọi là lỗ sâu.Sâu răng do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó có 3 yếu tố chủ yếu cùngtác động để gây sâu răng là:
- Vi khuẩn trong khoang miệng, chủ yếu là Streptococus mutans
- Glucid và gluocose (chất bột, đường) dính vào răng sau khi ăn bị lênmen do tác động của vi khuẩn để tạo thành acid
- Acid phá hủy men răng, tạo điều kiện để hình thành lỗ sâu răng
1.1.2 Đánh giá tình trạng sâu răng của cộng đồng
Để đánh giá tình trạng sâu răng của cộng đồng, người ta dựa vào 2 tiêuchuẩn là tỷ lệ người bị sâu răng và chỉ số sâu mất trám
Tỷ lệ sâu nói lên mức độ lưu hành sâu răng trong cộng đồng Năm 1981,
Tổ chức y tế thế giới đã dùng tỷ lệ sâu răng để làm tiêu chuẩn để đánh giá sâurăng và đặt ra mục tiêu toàn cầu trong dự phòng sâu răng cho năm 2000 là50% trẻ em 5 và 6 tuổi không bị sâu răng
Chỉ số sâu mất trám nói lên tình trạng sâu răng, răng đã bị mất do sâu vàrăng sâu được hàn trung bình ở mỗi cá thể Có 2 loại chỉ số sâu mất trám:
Trang 4- Chỉ số “răng sâu mất trám”, viết tắt tiếng Anh là DMFT (Decayed,Missing, Filling Teeth) nói lên số răng sâu, số răng mất do sâu hoặc số răng
1.1.3 Dịch tễ học sâu răng
1.1.3.1 Sâu răng ở các nước công nghiệp hóa
- Từ những năm cuối của thập kỷ 1970 tới nay, tình hình sâu răng tại cácnước công nghiệp hóa cao có xu hướng giảm dần Tới những năm giữa thập
kỷ 1990, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở những nước này đã giảm nhiều Chỉ sốDMFT tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức thấp và rất thấp
- Tuy vậy tỷ lệ sâu răng ở người lớn còn ở mức rất cao, theo những thôngbáo gần đây ở Mỹ, 84% thanh niên lứa tuổi 17 có sâu răng và trung bình mỗi
cá thể có 11 mặt răng bị phá hủy do sâu; người 40 tuổi có trung bình 30 mặtrăng bị sâu và 41% người từ 65 tuổi trở lên không còn răng
1.1.3.2 Sâu răng ở các nước đang phát triển
Nhìn chung, tình trạng sâu răng ở tất cả các nước đang phát triển đều có
xu hướng tăng Năm 1997, chỉ số DMFT tuổi 12 ở mức cao trên 4,4 còn gặp ở
Ba Lan (Châu Âu), Philippin (Châu Á), một vài nước ở Trung Mỹ như Braxil,Colombia, Chile, Peru, Bolovia và Paragoay Ở lứa tuổi 35-44, trung bình mỗingười có trên 13,9 răng sâu, mức độ sâu răng rất cao
1.1.3.3 Tình hình sâu răng ở Việt Nam
- Năm 1977, Nguyễn Dương Hồng đã có thông báo về tình hình sâu răngsau một điều tra nhỏ ở khu vực Hà Nội và nông thôn Ở Hà Nội, có 77% trẻ
em 6 tuổi có sâu răng sữa, 30% trẻ em 13 tuổi và 48% thanh niên 18 tuổi có
Trang 5sâu răng Ở nông thôn, tỷ lệ này thấp hơn, 61% trẻ em 6 tuổi có sâu răng sữa,4% trẻ em 13 tuổi và 29% thiếu niên 17 tuổi có sâu răng vĩnh viễn.
- Sau đợt điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc năm 1991, Võ ThếQuang đã so sánh kết quả này với tình trạng sâu răng đã điều tra trước đó từnăm 1983 và cho thấy sâu răng ở Việt Nam tăng dần theo tuổi cả về tỷ lệ sâurăng và chỉ số DMFT Tại từng thời điểm điều tra từ 1983 đến 1991, tìnhtrạng sâu răng ở các tỉnh phía Nam cao hơn các tỉnh phía Bắc nhưng mức độgia tăng sâu răng ở các tỉnh phía Bắc cao hơn các tỉnh phía Nam Nhìn chung,
từ thập kỷ 1980 sang thập kỷ 1990, tình trạng sâu răng ở Việt Nam có xuhướng gia tăng
- Năm 2001, Trần Văn Trường và Trịnh Đình Hải công bố tình trạng sâurăng ở Việt Nam sau điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần 2 năm 2000.Kết quả là tình trạng sâu răng ở Việt Nam gia tăng theo tuổi, từ trung bình có2,84 răng sâu ở tuổi 18 đến 8,93 răng sâu ở tuổi 45 trở lên Số trung bình răngmất gia tăng theo tuổi từ 0,52 răng ở tuổi 18 lên tới 6,64 răng ở tuổi 45 trở lên
và có rất ít răng được hàn ở các nhóm tuổi
1.2 Bệnh vùng quanh răng
Bệnh vùng quanh răng là một trong những bệnh răng miệng thường gặpnhất ở Việt Nam và là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người trên 45tuổi Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc của Trần Văn Trường vàcộng sự năm 1999-2000, tỷ lệ người bị viêm lợi chiếm 74,6%, riêng ở lứa tuổi
35 - 44, tỷ lệ người bị viêm quanh răng là 29,7%
1.2.1 Khái niệm, bệnh căn, bệnh sinh
Bệnh vùng quanh răng phổ biến là viêm lợi và viêm quanh răng
Viêm quanh răng là một bệnh nhiễm trùng có liên quan đến quá trìnhviêm và đáp ứng miễn dịch của cơ thể gây phá hủy tổ chức quanh răng
Trang 6Tuy cơ chế bệnh sinh của viêm quanh răng còn chưa rõ ràng nhưng ngàynay, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng sự khởi phát và tiến triển củabệnh viêm quanh răng phụ thuộc và 2 yếu tố chính là vi khuẩn trong mảngbám răng và đáp ứng của cơ thể với tác nhân vi khuẩn đó Ngoài ra, còn cómột số yếu tố nguy cơ làm bệnh nặng thêm như sang chấn khớp cắn, các bệnhtoàn thân như béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch, cao huyết áp hút thuốc lá.
1.2.2 Đánh giá tình trạng bệnh vùng quanh răng của cộng đồng
Để ghi nhận và đánh giá tình trạng quanh răng ở một cộng đồng, giúpcho việc quản lý bệnh quanh răng, người ta sử dụng các chỉ số quanh răng.Việc dùng các chỉ số giúp cho ta có thể đánh giá được sự lưu hành củabệnh, mức độ nặng, nhẹ và mối liên quan với các yếu tố khác như tuổi, tìnhtrạng vệ sinh răng miệng… Hơn nữa, việc sử dụng chỉ số còn giúp cho ngườiquan sát so sánh được tình trạng quanh răng giữa các nhóm tuổi, giữa cáccộng đồng ở bất kỳ nơi nào trên thế giới trong cùng một thời điểm hoặc giữacác thời điểm khác nhau
Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng (comminity periodontalindex of treatment needs) do Ainamo và cộng sự giới thiệu năm 1983 và đãtrở thành chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá tình trạng vùng quanhrăng và nhu cầu điều trị cho cộng đồng Chỉ số này đã được sử dụng rộng rãitrong nhiều nghiên cứu điều tra trên khắp thế giới của Tổ chức y tế thế giới và
đã thể hiện là một phương tiện rất hữu ích
1.2.3 Tình hình bệnh vùng quanh răng trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.3.1 Trên thế giới
Các nghiên cứu về dịch tễ học trước đây đã nhấn mạnh tính chất phổbiến của bệnh vùng quanh răng Năm 1996, nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnhviêm quanh răng ở Mỹ, Brown LJ và cộng sự cho thấy ở người lớn từ 18-64
Trang 7tuổi có 44% viêm lợi, 57% có mất bám dính t mm trở lên, 14% có túi trungbình và sâu Bourgeois DM và cộng sự (1999) điều tra trên 603 người tuổi từ
64 – 75 tuổi ở Pháp thấy 16,3% mất răng toàn bộ, 31,5% có túi quanh răngsâu trên 4 mm và 2,3% có túi sâu trên 6 mm
1.2.3.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam cũng có nhều công trình nghiên cứu điều tra về bệnh quanhrăng Các công trình này cho thấy, các lứa tuổi dễ mắc bệnh quanh răng, tỷ lệmắc bệnh tăng dần theo tuổi và là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ởngười lớn sau tuổi 35
Theo Vũ Xuân Uông và cộng sự điều tra ở Cao Thành, Ứng Hòa, Hà SơnBình (1978), bệnh viêm quanh răng có tỷ lệ mắc cao ở lứa tuổi 45-54 và caonhất ở lứa tuổi 65 (51,47%), thấp nhất ở lứa tuổi 15- 19 (1,44%), nam cao hơn
ở nữ (18,62%; 17,92%)
Theo Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc của Viện Răng Hàm Mặt
Hà Nội (2001), tỷ lệ bệnh vùng quanh răng ở trẻ em lứa tuổi 6-8 là 42,7%; lứatuổi 12 – 14 là 71,4%; tỷ lệ bệnh quanh răng ở người lớn trên 18 tuổi rấtcao:96,7%; trong đó có 31,8% người có túi lợi nông và sâu
1.3 Tình trạng lệch lạc răng
- Phân loại khớp cắn theo Angle
+ Khớp cắn loại I (Angle I): Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứnhất hàm trên trùng với rãnh giữa ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
Hình 1.1 Tương quan răng hàm lớn thứ nhất loại I [12]
Trang 8+ Khớp cắn loại II (Angle II): Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhấthàm trên nằm ở phía gần rãnh giữa ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
Hình 1.2 Tương quan răng hàm lớn thứ nhất loại II [12]
+ Khớp cắn loại III (Angle III): Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớnthứ nhất hàm trên nằm phía xa rãnh giữa ngoài của răng hàm lớn thứ nhấthàm dưới
Hình 1.3 Tương quan răng hàm lớn thứ nhất loại III [12]
- Tương quan răng cửa:
+ Độ cắn trùm: đánh giá mức độ che phủ răng cửa hàm trên và hàm dướitheo chiều đứng Độ cắn trùm là khoảng cách từ rìa cắn của răng cửa hàmdưới tới điểm ở mặt ngoài răng cửa dưới tương ứng với rìa cắn răng cửa trên khikhớp cắn ở vị trí lồng múi tối đa Độ cắn trùm bình thường từ 2 - 4mm [12]
● Khớp cắn sâu: độ cắn trùm > 4mm Khi răng cửa dưới cắn chạm niêmmạc vòm miệng: khớp cắn sâu hoàn toàn
● Khớp cắn hở: khi hàm răng ở tư thế lồng múi tối đa không có sự tiếpxúc của các răng đối diện
Trang 9Hình 1.4 Khớp cắn sâu [12]
Hình 1.5 A: Cắn hở vùng phía trước [12]
B: Cắn hở vùng phía sau + Độ cắn chìa: đánh giá sự che phủ của răng hàm trên và răng hàm dướitheo mặt phẳng ngang Độ cắn chìa là khoảng cách từ mặt ngoài của răng phíatrước hàm dưới đến rìa cắn các răng phía trước hàm trên ở vị trí khớp cắnlồng múi tối đa Độ cắn chìa bình thường từ 2- 4 mm
Hình 1.6: Độ cắn trùm, cắn chìa vùng cửa [12]
- Tình trạng cắn ngược và cắn chéo:
Theo Graber, cắn ngược hay cắn chéo là tình trạng một hay một nhóm răng
có vị trí bất thường với răng đối diện (ngả má hoặc ngả lưỡi), dẫn đến tươngquan bình thường theo chiều má – lưỡi hoặc môi – lưỡi bị đảo ngược [13]
B A
Trang 10+ Cắn ngược vùng phía trước: là tình trạng răng cửa hàm trên ngả trong
so với răng cửa hàm dưới Tình trạng này gây ảnh hưởng đến chức năng vàthẩm mỹ trong giai đoạn trẻ đang phát triển [14]
Cắn ngược vùng phía trước chiếm tỷ lệ 4-5%, thường gặp ở giai đoạnrăng hỗn hợp với nhiều nguyên nhân: hướng mọc của răng cửa hàm trên vềphía lưỡi, chấn thương răng, có răng thừa gây cản trở hay còn sót chân răngsữa…[15], [16] ,[17], [18]
+ Cắn chéo vùng phía sau: là tình trạng bất hài hòa theo chiều nganggiữa cung răng hàm trên và hàm dưới Có thể gặp cắn chéo một hay nhiềurăng, một bên hay cả hai bên Theo nghiên cứu của Kutin và Hawes trên 515trẻ em từ 3- 9 tuổi, tỷ lệ cắn chéo vùng răng sau chiếm 7,7%, gặp cả ở hàmrăng sữa và hỗn hợp [19]
- Đường cắn khớp:
Là đường qua rãnh trung tâm của răng hàm, gót răng cửa, răng nanh hàmtrên và đường qua núm ngoài răng hàm, rìa cắn răng cửa, đỉnh múi răng nanhhàm dưới Bình thường, đường cắn khớp là đường cong đối xứng, đều đặn,liên tục
Trang 11Hình 1.7 Đường cắn khớp [12]
1.4 Bất thường số lượng răng
Bình thường, ở người số răng sữa là 20 chiếc, răng vĩnh viễn từ 28 đến
32 chiếc
Trong một số trường hợp, số lượng răng có thể thay đổi, thường gặp ởhàm răng vĩnh viễn
a) Thiếu răng ( Hypodontia)
Hàm răng bị thiếu một hay nhiều răng, gặp trong một số di tật bẩm sinh:hội chứng loạn sản đòn- sọ, bệnh nhân khe hở môi- vòm miệng…
b) Thừa răng ( Hyperdontia)
Răng thừa là sự gia tăng về số lượng (nhiều hơn so với bình thường) Cóthể gặp ở bất kỳ vùng nào trên cung răng Răng thừa là một trong những bấtthường thường gặp trong giai đoạn răng sữa và răng hỗn hợp Chúng có thểgây ra những ảnh hưởng đến sự mọc răng, khớp cắn và thẩm mỹ của bệnhnhân Răng thừa thường gặp ở hàm răng vĩnh viễn hơn là ở hàm răng sữa[20],[21],[22]
Hàm dưới
Hàm trên
Trang 12Răng thừa có thể do sự chia tách của mầm răng Răng thừa có thể thấy ởvùng răng sau hoặc ở cuối cung răng, thường phối hợp với một khe hở toàn
bộ (môi, xương hàm, khẩu cái) Nhiều trường hợp răng thừa nằm ở vùng phíatrước Các răng thừa thường có hình dạng bất thường, nhỏ [9],[12]
Hình 1.8 Hình ảnh răng thừa hàm trên [21]
1.5 Các yếu tố phổ biến liên quan đến các bệnh răng miệng ở Việt Nam
1.5.1 Các yếu tố liên quan
Theo các nhà khoa học, các yếu tố liên quan của các bệnh răng miệngđược chia làm ba nhóm sau:
- Nhóm yếu tố liên quan về tập quán ăn uống
- Nhóm yếu tố liên quan về chăm sóc vệ sinh răng miệng
- Nhóm yếu tố liên quan về các đặc trưng cá nhân
1.5.2 Fluor và vai trò của Fluor đối với các bệnh răng miệng
Fluor tác động lên nhiều yếu tố gây sâu răng để hạn chế quá trình sâu răng:
- Quan trọng nhất là Fluor tác động lên men răng làm men răng trở nêncứng hơn, không bị tiêu hủy trong môi trường acid có pH bằng 5, do đó menrăng có khả năng đề kháng cao hơn trong môi trường miệng
- Fluor làm tăng quá trình tái khoáng hóa men răng Các ion Fluor ở bềmặt men răng có khả năng di chuyển vào men răng ở nơi có hủy khoáng Khi
di chuyển vào men răng, ion Fluor kéo theo một số khoáng chất sẵn có trongnước bọt, dịch lợi và gây nên hiện tượng tái khoáng Nhờ quá trình tái khoánghóa ở vùng men răng bị hủy khoáng mà các tổn thương ban đầu được hàn gắn
và giảm độ hòa tan của men răng
Trang 13- Fluor cản trở việc hình thành mảng bám răng bằng việc ức chế cácenzym của vi khuẩn tham gia vào quá trình tổng hợp các polysaccarid(glucan) là chất tựa hữu cơ cho vi khuẩn định cư và phát triển.
- Fluorcos tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn tham gia vào quá trìnhgây sâu răng bao gồm cả Streptococcus mutans
Như vậy, Fluor tác động vào nhiều yếu tố gây sâu răng và có tác dụng dựphòng sâu răng và bệnh vùng quanh răng
1.6 Tình hình khảo sát bệnh răng miệng trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu ở trẻ em
2.1.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang
Trong nghiên cứu này thì các vùng đã chọn mẫu được lựa chọn dựa vàocác khu vực địa lý bao phủ cả nước Việt Nam được phân làm bảy vùng dựavào vị trí và các đặc điểm địa lý Từ 7 vùng này chọn ra 14 tỉnh Riêng HàNội và thành phố Hồ Chí Minh được chọn có chủ ý, còn tất cả các tỉnh khácđược chọn ngẫu nhiên từ danh sách các tỉnh trong từng vùng Ở Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh, mỗi nơi chọn 02 quận/huyện từ các danh sách khôngphân tầng của tất cả các quận/huyện Còn 12 tỉnh còn lại, các huyện/thị đượcphân thành các vùng thành thị và nông thôn Ở nơi nào có thể thì mỗi tỉnh lạichọn ra một quận/thị (thành thị) và một huyện (nông thôn) (14 huyện/thị) Tất
cả có 28 quận/huyện được chọn ngẫu nhiên từ 14 tỉnh thành Ở mỗi cấp lựachọn thì xác suất lựa chọn cân xứng với số lượng dân số
Trong mỗi quận /huyện được chọn, lập danh sách tất cả các trường.Mỗiquận/huyện sẽ chọn ngẫu nhiên 02 nhóm trường (mỗi cụm gồm 1 trường tiểuhọc, 1 trường THCS và 1 trường phổ thông trung học)
cơ sở, và phổ thông trung học
Trang 15Nhóm 1 (6-8 tuổi): lớp 1,2,3 (trường tiểu học)
Nhóm 2 (9-11 tuổi): lớp 4,5 (trường tiểu học) và lớp 6 (trường trunghọc cơ sở)
Nhóm 3 (12-14 tuổi): lớp 7,8,9 (trường trung học cơ sở)
Nhóm 4 (15-17 tuổi): lớp 10,11,12 (trường phổ thông trung học)
Nhóm tuổi then chốt là 12,15 tuổi
Công thức tính cỡ mẫu cho đơn vị mẫu nhỏ nhất :
Trong đó: n = cỡ mẫu nghiên cứu
: hệ số tin cậy, α = 0,05 thì = 1,96 (tương ứng với hệ số tin cậy là 95%)
P = tần suất ước tính mắc bệnh sâu răng ở trẻ em (80%) p=0,8
q= 1-p = 0,2
e = độ chính xác tuyệt đối mong muốn (confident limit around the pointestimate), thường lấy = 0.05 (5%)
n = 122 Ước lượng sai số 5% ta có cỡ mẫu là 128
Như vậy, cỡ mẫu cho mỗi trường là 128 đối tượng Mỗi nhóm tuổi sẽ
có 32 đối tượng
Mỗi quận/huyện sẽ chọn 256 đối tượng
Cỡ mẫu của điều tra ở trẻ em là: 7168 đối tượng.
2.1.3 Các phương pháp thu thập số liệu
Bảng câu hỏi
Các bảng câu hỏi cho phụ huynh được gửi đến tất cả các phụ huynh cảcác học sinh đã chọn trước khi khám răng miệng Bảng câu hỏi này thu thậpcác thông tin dưới đây:
2
) 2 / 1 (
2
e
q p
Trang 16a) Các số liệu về cá nhân: tên, địa chỉ, tuổi và thời gian cư trú.
b) Các nguồn nước dùng hàng ngày để uống và ăn
c) Các thói quen về vệ sinh răng miệng: tuổi bắt đầu chải răng và chảirăng với kem, loại kem và số lần dung kem đánh răng và nước súc miệng đã
Trước khi khám răng miệng, mỗi học sinh đều gửi trả lại một bảng câu hỏi
đã hoàn tất mà tất cả câu hỏi đều đã được bố mẹ hoặc người giám hộ trả lời
Khám lâm sàng
Chỉ sử dụng những người khám đã được tập huấn và định chuẩn Việc tậphuấn và định chuẩn đã được tiến hành ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trẻ em được khám tại trường học ở tư thế nằm và sử dụng đèn soi trongmiệng với ánh sáng sợi quang học
Sử dụng chỉ số dmft và DMFT để dánh giá tình trạng sâu răng ở trẻ em Tình trạng nhiễm Fluor răng được xác định bằng việc sử dụng chỉ sốnhiễm Fluor của Dean theo các tiêu chuẩn “Phương pháp cơ bản của tổ chứcSức Khỏe Thế Giới - 2013”
Ngoài ra, tình trạng quanh răng cũng được đánh giá bằng việc sử dụngchỉ số chảy máu và chỉ số cao răng
Trong điều tra, có 5% trẻ em được chọn ngẫu nhiên để khám lại cho việc xácđịnh độ tin cậy ở cùng một người khám và giữa những người khám khác nhau
Các tiêu chí đánh giá tình trạng bệnh răng miệng ở trẻ em
- ghi lại tình trạng nhiễm fluor ở các răng 12, 11, 21, 22 (chỉ số Dean)Các mã số để ghi nhận nhiễm fluor
Trang 17Mã số 0 - Bình thường Bề mặt răng bình thường
Mã số 1 – Nghi ngờ
Có một vài vết nhỏ hoắc đốm nhỏ Mã số này được ghi trong trường hợp nếu không đảm bảo được nó là nhiễm Fluor nhẹ nhất mà cũng không chứng minh được đó là bình thường.
Mã số 2 – Rất nhẹ
Bị nhiễm Fluor, các dấu hiệu để chẩn đoán là: có các đốm trắng, hình ảnh mũ tuyết, các đường trắng, nhưng tổng số men bị nhiễm dưới 25%.
Mã số 3 – Nhẹ
Các dấu hiệu để chẩn đoán là: có nhiều đốm trắng hơn, hoặc các đường trắng đục và các vùng trắng phấn, nhưng tổng số men bị nhiễm dưới 50%.
Mã số 4 –Trung bình Toàn bộ bề mặt men răng bị nhiễm màu trắng phấn,
có thể có màu nâu, một vài hố và vết mẻ ở các rìa cắn.
Mã số 5 – Nặng
Bề mặt men răng bị nhiễm nặng, các dấu hiệu chẩn đoán là có các hố, thiểu sản, nhiễm màu nâu, phần men còn lại thì có màu trắng phấn.
Mã số 9 – Không ghi
nhận được
Người khám không thể chẩn đoán chính xác được do tình trạng hiện tại của răng có các tổn thương trong quá trình phát triển nhai, chấn thương, các tác động
lý học ví dụ như mòn bề mặt.
Ghi tình trạng sâu răng ở từng mặt răng của các răng
Trang 18Có 10 mã số được ghi lại để chỉ ra tình trạng của từng mặt răng Một mã
số phải được ghi lại cho tình trạng của từng mặt răng
Lành: (mã A cho răng sữa hoặc mã 0 cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: Thân răng không có dấu hiệu về sâu răng đã điều trị hoặckhông điều trị
Hướng dẫn lâm sàng: mã này bao gồm cả mặt thân răng có hàn mà dothẩm mỹ
Sâu răng (mã B cho răng sữa hoặc mã 1 cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: một mặt của thân răng có sâu chưa được điều trị hoặc chấthàn bong ra Loại này không tính sâu răng thứ phát mà còn chất hàn (ví dụsâu răng tái phát, mã C cho răng sữa hoặc mã 2 cho răng vĩnh viễn)
Nguyên tắc lâm sàng: người khám phải đánh gía về lâm sang để xácđịnh các tổn thương sâu nghi ngờ Nếu có nghi ngờ thì sử dụng đến các tiêuchuẩn như đáy mềm, men bị tổn thương hoặc thành mềm để đánh giá sâurăng Nếu toàn bộ thân răng đã bị phá hủy do sâu và chỉ còn lại chân răng thìtất cả các mặt răng bị sâu
Răng hàn bị sâu (mã C cho răng sữa hoặc mã 2 cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: mặt răng có chất hàn đã được hàn ban đầu để điều trị sâunhưng lại có tổn thương sâu không được điều trị nguyên phát ở cùng mặt răng
Nguyên tắc lâm sàng: trường hợp hàn phủ toàn bộ thân răng thì xácđịnh lý do hàn và nếu lý do hàn ban đầu là do sâu thì ghi mã D hoặc mã 3 chotất cả các mặt răng Trường hợp hàn được xác định là do các lý do khác (mònrăng, thẩm mỹ) không phải do sâu thì ghi là răng lành (mã A cho răng sữahoặc mã 0 cho răng vĩnh viễn)
Răng hàn không bị sâu (mã D cho răng sữa hoặc mã 3 cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: một răng
Trang 19 Nguyên tắc lâm sàng:
Răng mất do sâu (mã E cho răng sữa hoặc mã 4 cho răng vĩnh viễn)
n
Răng mất do các lý do khác (mã 5 cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: một răng vĩnh viễn đã bị nhổ do chấn thương nắn chỉnhrăng hoặc do các lý do khác không liên quan đến sâu răng
Nguyên tắc lâm sàng: mã này chỉ sử dụng với răng vĩnh viễn không sửdụng với răng sữa
Trám bít hố rãnh (mã 6 cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: Trường hợp dùng chất trám bít dính để dự phòng vàkhông có dấu hiệu của sâu răng và hàn phục hồi Trường hợp nó được sửdụng như vật liệu phục hồi thì mặt răng đó được ghi là hàn (mã 3)
Nguyên tắc lâm sàng: mã này chỉ sử dụng với răng vĩnh viễn không sửdụng với răng sữa
Chấn thương (mã T cho răng sữa hoặc mã 7 cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: một răng vĩnh viễn đã bị gãy hoặc hàn do chấn thươngkhông phải do sâu răng
Răng chưa mọc (mã U cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: răng vĩnh viễn không mọc hoặc do thiếu bẩm sinh
Nguyên tắc lâm sàng: răng đã mọc một phần thì phải được xem là đãmọc Thăm thám châm thấy bất kỳ phần nào của răng thì răng đó phải đượcghi như răng đã mọc bình thường Mã này chỉ sử dụng với răng vĩnh viễnkhông sử dụng với răng sữa
Không ghi nhận được (mã X cho răng vĩnh viễn)
Định nghĩa: tình trạng răng vĩnh viễn không thể đánh giá được do nẹpnắn hàm hoặc thiểu sản nặng, vv… Mã này chỉ sử dụng với răng vĩnh viễnkhông sử dụng với răng sữa
Trang 20 Ghi nhận tình trạng quanh răng
Đánh giá lợi:
Các điểm má và điểm gần của các răng 16, 11, 26, 36, 31 và 46 sẽ đượcđánh giá Đưa thám châm CPITN vào rãnh lợi không quá 2 mm, bắt đầu từgóc xa mặt má, sau đó di chuyển nhẹ nhàng về phía vùng kẽ gần Mỗi răngphải ghi lại một mã số
Mã số 0: mã số này được ấn định nếu như không thấy chảy máu lợi khi
thăm khám bằng thám châm
Mã số 1: chảy máu lợi xuất hiện ở bất kỳ điểm nào khi thăm khám bằng
thám châm
Mã X: không thể đánh giá được hoặc mất răng.
Thu thập mẫu nước
Sau khi kết thúc khám răng miệng trẻ em ở nhóm thì bảng câu hỏi củamỗi học sinh ở từng trường (tiểu học, trung học cơ sở, và phổ thông trung học)được soát lại để tìm ra các loại nguồn nước được dùng để nấu ăn và uống
Các mẫu được thu thập từ mỗi nguồn nước khác nhau ở nơi thuận tiệngần sát trường học Các mẫu nước được lấy bắt đầu ở các nguồn nước dùngcho học sinh tiểu học, sau đó là trung học cơ sở, và cuối cùng là phổ thôngtrung học
2.1.4 Phương tiện nghiên cứu
- Nghiên cứu sử dụng nguồn sáng từ đèn sợi quang học với gương khámdùng một lần đảm bảo ánh sáng khi khám trong miệng
- Xác định độ tập trung Fluor trong các nguồn nước ăn: sử dụng phươngpháp điện cực chọn lọc với Fluor
2.1.5 Phân tích số liệu
- Các số liệu về tình trạng sức khỏe răng miệng và điều tra các yếu tố liênquan được thống kê và phân tích bằng phần mềm thống kê y học SPSS 16.0
Trang 21- Độ tập trung Fluor trong các nguồn nước uống được xác định bằng kỹthuật điện cực chọn lọc với Fluor.
2.2 Thiết kế nghiên cứu ở người lớn
Nghiên cứu này được thiết kế là một nghiên cứu cắt ngang Nó bao gồmcác mẫu đại diện của tất cả các cộng đồng ở nông thôn và thành thị, tất cả cácvùng địa lý và tất cả các nhóm kinh tế - xã hội Vì vậy, nghiên cứu này baogồm hai nghiên cứu gắn kết với nhau là khám lâm sàng răng miệng và điềutra xã hội học bao gồm các yếu tố dân số - xã hội học, lịch sử bệnh, lịch sửnha khoa và các thông tin về hành vi chăm sóc răng miệng
Chiến lược chọn mẫu cho nghiên cứu là chọn ngẫu nhiên phân tầngnhiều giai đoạn những người lớn cư trú trong cộng đồng
2.2.1 Thiết kế mẫu
- Để thiết kế mẫu nghiên cứu, Việt Nam được chia ra làm bảy vùng dựa
vào các đặc điểm địa lý Trong 7 vùng địa lý này, Hà Nội và thành phố HồChí Minh được chọn có chủ đích Như vậy số tỉnh được chọn thêm là 12 tỉnh
- Trong mỗi tỉnh thành, chúng tôi lên danh sách các huyện/quận, thị vàphân tầng thành khu vực thành thị và nông thôn.Từ các quận/thị và huyện,chúng tôi chọn ngẫu nhiên các phường/xã và sau đó lại chọn ngẫu nhiên cácmẫu nhóm
- Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chọn ngẫu nhiên mỗi thành phố
02 quận/huyện thay cho việc phân tầng thành khu vực thành thị và nông thôn.Như vậy toàn quốc sẽ có 28 quận/huyện được chọn
- Từ các danh sách tất cả các xã/phường trong từng quận/huyện, chọnngẫu nhiên ra hai xã/phường để chọn mẫu ở người lớn nói chung, một cụm(nhóm hành chính nhỏ nhất) được chọn ngẫu nhiên ở mỗi xã/phường và nóđược xem là một nhóm nghiên cứu trong điều tra Tất cả các bước chọn mẫuđều được thực hiện ngẫu nhiên với xác suất tương ứng cỡ dân số
Trang 22- Như vậy sẽ có 56 xã/phường được chọn.
- Tất cả cư dân là người lớn trong nhóm được phân tầng thành ba nhómtuổi: 18-34; 35- 44 và từ 45 tuổi trở lên, sau đó lên danh sách theo nhóm
2.2.2 Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu cho mỗi quận/huyện:
Trong đó: n = cỡ mẫu nghiên cứu
: hệ số tin cậy, α = 0,05 thì = 1,96 (tương ứng với hệ số tin cậy là 95%)
P = tần suất ước tính mắc bệnh quanh răng ở người lớn (90%) p=0,9q= 1-p = 0,1
e = độ chính xác tuyệt đối mong muốn (confident limit around the pointestimate), thường lấy = 0.05 (5%)
n = 139 Ước lượng sai số 5% ta có cỡ mẫu là 150
Như vậy, cỡ mẫu cho mỗi quận/huyện là 150 người Mỗi xã/phường có
cỡ mẫu là 75 người Mỗi nhóm tuổi sẽ có 25 đối tượng
Cỡ mẫu của điều tra ở người lớn là: 4200 đối tượng.
2.2.3 Kỹ thuật thu thập thông tin
* Tập huấn và định chuẩn:
Hai lớp tập huấn và định chuẩn sẽ được tổ chức ở cả Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh, Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội đảm nhiệm Mỗi lớp có 16người và chọn ra 8 người khám và 8 người ghi Ngoài ra, các cán bộ y tế địaphương liên quan đến cuộc điều tra cũng được mời tham dự lớp tập huấn
*Dụng cụ khám
- Toàn bộ người khám sử dụng dụng cụ khám như nhau trong điều kiện
làm việc như nhau (ánh sáng, tư thế…)
2
) 2 / 1 (
2
e
q p
Z Z2( 1 / 2 )
Trang 23- Sử dụng nguồn sáng từ đèn khám sợi quang học với gương dùng một
lần và thám châm nha chu theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới
- Các mẫu nước được đựng trong lọ chuyên dụng có chứa hóa chất bảo quản
- Các phương tiện khác: găng tay, thuốc sát khuẩn, các phương tiện bảo
hộ và các dụng cụ cần thiết khác…
2.2.4 Các bước tiến hành
Trước khi bắt đầu điều tra, Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội gửi công vănđến Ủy ban Nhân dân và cơ quan y tế của các tỉnh/thành, huyện/quận và xã/phường đã được chọn và đề nghị cộng tác với dự án Cán bộ quản lý địaphương hoặc cán bộ y tế địa phương cùng phối hợp với đoàn điều tra trongthời gian khám
2.2.5 Các phương pháp thu thập số liệu
2.2.5.1 Nghiên cứu về xã hội học
Sử dụng bảng câu hỏi để điều tra về xã hội học trong cuộc điều tra Bảngcâu hỏi chứa đựng các thông tin về:
Trang 24Tình trạng niêm mạc miệng.
Mất răng từng hàm hoặc toàn bộ
Có/ thiếu các răng vĩnh viễn
Sâu thân răng ở từng răng (DMFT – WHO, 2013)
Sâu chân răng (DFT – WHO, 2013)
Các nhu cầu điều trị quanh răng (CPITN cải tiến – WHO, 2013)
Các chỉ số cho nghiên cứu ở người lớn
A.Niêm mạc miệng: Mỗi đối tượng đều được đánh giá các thương tổn
niêm mạc Mỗi một tổn thương quan sát được được ghi vào vị trí của nó Cóthể có vài tổn thương ở một vị trí hoặc ở vài vị trí
B.Chỉ số răng sâu, mất và trám (DMFT) (WHO, 2013)
Chỉ số DMFT được tính toán bằng việc đánh giá hàm răng trên từng răng
Thành phần D: bao gồm tất cả các răng bị sâu ở thân và chân răng và
các răng đã hàn lại có sâu
Thành phần M: bao gồm các răng mất do sâu đối với các đối tượng
dưới 30 tuổi và các răng mất do sâu và do bất kỳ nguyên nhân nào khác đốivới người trên 30 tuổi
Thành phần F: bao gồm các răng đã hàn không sâu.
Số 0:Thân răng lành: một thân răng được ghi nhận là lành nếu như
không có dấu hiệu sâu răng lâm sàng đã điều trị hoặc không được điều trị
Trang 25Chân răng lành: một chân răng được ghi nhận là lành nếu như không có
dấu hiệu sâu răng lâm sàng đã điều trị hoặc không được điều trị
Số 1: Thân răng sâu: sâu răng được ghi nhận khi có một tổn thương
ở hố hoặc rãnh hoặc ở một mặt nhẵn có 1 lỗ sâu có thể nhận thấy đã làm tổnthương men hoặc đáy mềm hoặc có thành Một răng với chất hàn tạm cũngđược tính vào loại này
Chân răng sâu: Sâu được ghi nhận khi thăm khám bằng thám châm
thấy một tổn thương mềm hoặc dai Trường hợp có một tổn thương ở cả thân
và chân răng thì vị trí nguyên thủy của tổn thương phải được ghi nhận là sâu.Nếu trên một nửa tổn thương ở dưới đường ranh giới men- xương răng thì nóchỉ được xem là một tổn thương bề mặt chân răng Khi không xác định được
vị trí nguyên thủy, thì cả thân răng và chân răng được ghi nhận là sâu
Số 2: Thân răng đã hàn có sâu: Khi một thân răng có một hoặc trênmột chỗ hàn vĩnh viễn và có một hoặc trên một chỗ bị sâu
Chân răng đã hàn sâu: khi một chân răng có một hoặc trên một chỗ hàn
và có một hoặc trên một chỗ bị sâu
Số 3: Thân răng đã hàn không sâu: khi một thân răng có một hoặctrên một chỗ hàn vĩnh viễn, bao gồm cả cầu răng đã đặt do sâu trước đây, vàkhông có:
+ Sâu
+ Các chỗ hàn không thỏa đáng
Chân răng hàn không sâu: khi có một hoặc trên một chỗ hàn và không
có sâu ở bất cứ chỗ nào trên chân răng
Số 4: Răng mất: được ghi nhận khi có một răng bị mất vì bất cứ lý do nào
Số 5: Thân răng đã hàn với vết hàn không thỏa đáng: được ghi
nhận khi có một hoặc trên một khuyết hổng không thể chấp nhận được màkhông sửa chữa được
Trang 26+ Bề mặt bị bong hoặc vỡ
+ Bề mặt không thể chấp nhận được về thẩm mỹ
+ Bộc lộ ngà hoặc đáy
+ Miếng hàn bị mất hoặc lỏng ra
+ Sang chấn khớp cắn gây đau hoặc làm tổn thương các tổ chức
+ Chất hàn thừa làm hư hại tổ chức
Chân răng với vết hàn không thỏa đáng: khi mà một chân răng đã
hàn có một hoặc nhiều hơn các sai sót kể trên
Số 6: Chất trám bít rãnh: được ghi nhận khi mặt nhai của răng được
phủ bởi chất trám bít và không có sâu
Số 7: Trụ cầu, cầu đặc biệt hoặc veneer: được ghi nhận khi một răng
tham gia một phần của một cầu cố định ( ví dụ trụ cầu) cho các thân cầu vàcác veneer vì các nguyên nhân khác không phải sâu
Implant: được ghi nhận tình trạng chân răng
Số 8: chấn thương: một thân răng được ghi là vỡ khi có vài mặt răng
bị mất do chấn thương và không có biểu hiện của sâu răng
Số 9: không ghi nhận được: được sử dụng đối với bất kỳ một răng
vĩnh viễn nào đã mọc mà không thể khám được vì bất cứ lý do nào ( ví dụ dođeo hàm nắn, thiểu sản nặng…); mã số này được ghi nhận ở tình trạng chânrăng khi không thể khám được chân răng do có nhiều cao răng
Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng (CPITN cải tiến, WHO - 2013)
Những người có các bệnh dưới đây phải được loại trừ và không khámquanh răng:
o Bệnh tim có tiền sử thấp khớp
o Cấy ghép bộ phận
o Bệnh ưa chảy máu
Trang 271 Các dấu hiệu chỉ thị: có 3 dấu hiệu chỉ thị được dùng là chảy máu lợi
khi thăm thám trâm nhẹ nhàng và có túi quanh răng
Sử dụng một thám châm CPITN nhẹ đặc biệt với đầu tròn đường kính 0,5mm, có dải đen ở giữa 3,5 và 5,5mm và các vạch tròn xung quanh ở chỗ cách đầu thám trâm 8,5 và 11,5mm.
Hình 2.1 Que dò Chỉ số Nha chu Cộng đồng cửa WHO khuyến nghị sử dụng
cho thăm khám lâm sàng.
Đánh giá cháy máu lợi và đo túi lợi quanh răng
Cần khám phần lợi của toàn bộ răng có trong miệng bằng cách cẩn thậnđưa đầu tròn của que dò CPI của WHO vào giữa khe lợi và răng để đánh giáxem có phản ứng chảy máu hay không Lực sử dụng để cảm nhận không nênquá 20 g
Khi que dò đã được đưa vào, đầu tròn phải đi theo hình dạng giải phẫucủa bề mặt chân răng Nếu đối tượng được khám cảm thấy đau khi dò, điềunày chứng tỏ lực sử dụng quá mạnh Cần đưa đầu que dò một cách nhẹ nhàngvào khe lợi hoặc túi lợi và thăm dò hết cỡ khe lợi hoặc túi lợi Ví dụ, đặt que
dò và túi lợi trên bề mặt ngoài xa (distobuccal) của răng hàm thứ hai, ở vị trígần nhất có thể với điểm tiếp xúc với răng hàm thứ ba, giữ cho que dò song
Trang 28song với trục dài của răng Di chuyển que dò nhẹ nhàng với khoảng cách ngắn
di lên và di xuống dọc theo khe lợi hoặc túi lợi bên má (buccal) tới mặt bêngần (mesial) của răng hàm thứ ba Một thủ tục tương tự được thực hiện chocác mặt mặt lưỡi của răng, bắt đầu từ mặt lưỡi xa của răng hàm thứ hai
Cần khám toàn bộ răng có trong miệng và ghi điểm số vào ô tương ứng.Túi nha chu không được ghi nhận ở các cá nhân dưới 15 tuổi Các mã để ghinhận tình trạng chảy máu và túi lợi được trình bày dưới đây
Điểm số chảy máu lợi
0 = Không chảy máu
1 = Có tình trạng chảy máu lợi
9 = Răng không khám
X = Không có răng
Điểm số túi lợi
0 = Túi lợi dưới 3 mm
do sự mất đi liên tiếp của mô răng đã vôi hóa thông qua các quá trình hóa họckhông liên quan đến hoạt động của vi khuẩn Mô men răng bị mất do phơinhiễm với a-xít có thể có từ nguồn thức ăn hoặc có thể là do nội sinh, nghĩa là
cá nhân đó ăn uống không điều độ, bị trào ngược dạ dày thực quản hoặc sửdụng rượu quá nhiều và bị nôn mãn tính
Trang 29Các mã từ 1–3 sau đây được sử dụng trong trường hợp thân răng có bệnhtích mòn răng ở các mức độ khác nhau:
0 = Không có dấu hiệu mòn
1 = Bệnh tích men răng
2 = Bệnh tích ngà răng
3 = Ảnh hưởng tủy răng
Độ nghiêm trọng của tình trạng mòn răng được ghi nhận theo răng cóđiểm số mòn răng cao nhất Ngoài ra, số răng bị ảnh hưởng được ghi nhận
Tổn thương răng
Răng bị tổn thương nha khoa được gán mã như sau:
0 = Không có dấu hiệu tổn thương
1 = Tổn thương đã điều trị
2 = Chỉ nứt men răng
3 = Nứt men răng và ngà răng
4 = Ảnh hưởng tủy răng
1 niêm mạc môi và các rãnh môi (trên và dưới)
2 phần môi của mép và niêm mạc má (bên phải và trái)
3 lưỡi (mặt lưng và bụng, bờ lưỡi)
4 sàn miệng
Trang 305 vòm miệng cứng và vòm miệng mềm
6 hàm răng/lợi (trên và dưới)
Có thể sử dụng hoặc là hai gương phẳng hoặc là một gương và cán que
dò nha chu để đẩy các mô Nhân viên thăm khám cần cảnh giác và có thểchẩn đoán dự kiến đối với các tình trạng này trong khi thăm khám lâm sàng.Cần sử dụng mã 8 để ghi nhận một tình trạng không được đề cập tới trongdanh mục; ví dụ, bạch sản lông hoặc bướu thịt Kaposi Bất cứ khi nào có thể,cần ghi cụ thể chẩn đoán dự kiến vào các phần trống tới ba tình trạng
Các mã sau áp dụng cho người lớn:
0 = Không có tình trạng bất thường
1 = Khối u ác tính (ung thư miệng)
2 = Bạch sản
3 = Địa y Planus
4 = Loét (aphthae, herpe, tổn thương)
5 = Viêm lợi loét hoại tử cấp tính (ANUG)
Trang 312.3.2 Phương tiện và quy trình nghiên cứu
Phương tiện nghiên cứu
- Bộ đồ khám dùng trong nha khoa
Hình 2.2 Bộ đồ khám dùng trong nha khoa
Trang 32- Tương quan răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất: Tuỳ theo mối quan hệ
của núm ngoài gần răng hàm lớn hàm trên với rãnh ngoài gần răng hàm lớnhàm dưới ta có các loại khớp cắn theo phân loại của Angle như sau:
+ Loại I: đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên trùngvới rãnh giữa ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
+ Loại II: đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên nằm ởphía gần rãnh giữa ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
+ Loại III: đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên nằmphía xa rãnh giữa ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
- Tương quan răng nanh:
+ Loại I: đỉnh núm răng nanh hàm trên nằm khoảng giữa răng nanh hàmdưới – răng hàm nhỏ thứ nhất hàm dưới
+ Loại II: đỉnh núm răng nanh hàm trên nằm về phía gần khoảng giữarăng nanh hàm dưới – răng hàm nhỏ thứ nhất hàm dưới
+ Loại III: đỉnh núm răng nanh hàm trên nằm về phía xa khoảng giữarăng nanh hàm dưới – răng hàm nhỏ thứ nhất hàm dưới
Trang 33- Cắn hở: tình trạng răng trên không phủ răng dưới theo chiều đứng hoặctheo chiều trước – sau.
- Cắn ngược và cắn chéo: miêu tả tương quan ngoài trong của răng trên
và dưới ở cả răng trước và răng sau
- Khấp khểnh răng: là tình trạng các răng trên một hay hai cung răngkhông có đủ chỗ hay thừa chỗ để sắp xếp ngay ngắn, đều đặn theo một đườngcong cắn khớp đúng, có một hoặc nhiều răng nghiêng, xoay, mọc lệch ngoài,lệch trong hay ngầm trong xương
- Cắn chìa: khoảng cách giữa răng cửa trên và răng cửa dưới theo chiềutrước sau, được đo song song với mặt phẳng khớp cắn, tăng khi >3mm
- Răng thừa đã mọc
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ3.1 Kết quả nghiên cứu ở trẻ em
3.1.1 Kết quả nghiên cứu sâu răng ở trẻ em
Sâu răng sữa được ghi nhận trên hàm răng hỗn hợp của trẻ 6 đến 11 tuổi,bao gồm các chỉ số tỷ lệ sâu răng (%), số trung bình răng sâu (dt), răng mất(mt), răng hàn (ft), số trung bình mặt răng sâu (ds), mặt răng mất (ms), mặtrăng hàn (fs) và chỉ số dmft, dmfs
Răng vĩnh viễn được ghi nhận trên hàm răng hỗn hợp và hàm răng vĩnhviễn của trẻ 6 đến 17 tuổi, bao gồm các chỉ số tỷ lệ sâu răng (%), số trungbình răng sâu (DT), răng mất (MT), răng hàn (FT), số trung bình mặt răng sâu(DS), mặt răng mất (MS), mặt răng hàn (FS) và chỉ số DMFT, DMFS
3.1.2 Tỷ lệ đáp ứng mẫu NC trẻ em
Về cỡ mẫu nghiên cứu (bảng 3.1) đã đáp ứng được tiêu chí của chương
trình nghiên cứu, từ đó đảm bảo được tính chính chính xác, tính khả thi vàđảm bảo ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Bảng 3.1: Tỷ lệ đáp ứng – Mẫu NC trẻ em
mẫu % mẫu % mẫu % mẫu % Núi phía bắc 288 100 288 100 288 100 288 100 1152 ĐBSH 288 100 288 100 288 100 288 100 1152
DH BTB 288 100 288 100 288 100 288 100 1152
DH NTB 288 100 288 100 288 100 288 100 1152
CN Trung bộ 288 100 288 100 287 99.65 288 100 1151 ĐNB 288 100 288 100 287 99.65 288 100 1151 ĐBSCL 286 99.31 286 99.31 285 98.96 286 99.31 1143 Tổng số mẫu
đáp ứng 2014 99.9 2014 99.9 2011 99.75 2014 99.9 8053
Trang 353.1.3 Tình trạng sâu răng ở trẻ em
Tỷ lệ sâu răng sữa (bảng 3.2) ở nhóm tuổi 6 -8 tuổi là rất cao( 86,4%),
trung bình mỗi trẻ có khoảng 6,209 răng bị sâu, tỷ lệ răng được điều trị thấp.Nhóm tuổi 9-11 tỷ lệ sâu răng có giảm xuống, đồng thời chỉ số dmft cũnggiảm xuống ( dmft = 1,972)
Bảng 3.2: Sâu răng sữa
6 -8 1740 86.4 5.72 0.17 0.31 6.21 13.33 0,84 0,39 14,57
9 – 11 1047 52.0 1.79 0.06 0.07 1.93 3.01 0,19 0,07 3,27
Sâu răng vĩnh viễn (bảng 3.3) xuất hiện sớm và có chiều hướng tăng
theo thời gian Trẻ em 6-8 tuổi đã có 20,9% sâu răng vĩnh viễn, đến 15- 17tuổi đã tăng 36,3% Chỉ số DMFT cũng tăng từ 0.4781 ở nhóm trẻ 6 – 8 tuổilên đến 1.5377 ở nhóm trẻ 15 -17 tuổi, tỷ lệ răng được điều trị thấp
Bảng 3.3 : Sâu răng vĩnh viễn
Sâu răng ở các nhóm tuổi then chốt (bảng 3.4) trẻ 6 tuổi có 85,6% bị
sâu răng sữa và trung bình dmft là 7.0491 Ở trẻ 12 và 15 tuổi tỷ lệ sâu răngvĩnh viễn tương ứng là 44,8% và 35,2%,chỉ số DMFT trẻ 12 tuổi là 1.5563 vàtrẻ 15 tuổi là 1.6183
Trang 36Bảng 3.4: Sâu răng ở các nhóm tuổi then chốt
Sự phân bố sâu răng sữa theo giới tính (bảng 3.5) ở cả hai nhóm tuổi
tương tự nhau, trẻ em gái có cao hơn một chút so với trẻ em trai nhưng khôngđáng kể Chỉ số dmft cũng tương tự nhau ở cả hai giới
Bảng 3.5: Sâu răng sữa theo tuổi và giới
Sự phân bố sâu răng vĩnh viễn theo giới tính (bảng 3.6) ở nhóm 6 -8
tuổi và 9 -11 tuổi gần giống nhau, ở nhóm tuổi lớn hơn có sự khác nhau giữanam và nữ nhưng không có xu hướng cụ thể nào, nhóm 12 -14 tuổi nam caohơn nhưng nhóm 15 -17 tuổi nữ lại cao hơn Chỉ số DMFT ở hai giới cũng thểhiện giống tỷ lệ sâu răng
Bảng 3.6: Sâu răng vĩnh viễn theo tuổi và giới
Trang 37Tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi then chốt theo giới (bảng 3.7) không khác nhau
nhiều ở trẻ 6 tuổi, chỉ số dmft cũng gần bằng nhau Khi trẻ lớn hơn ở tuổi 12,sâu răng ở nam cao hơn nữ, tuy nhiên chỉ số DMFT lại gần bằng nhau Trẻ 15tuổi nữ sâu răng nhiều hơn nam rõ rệt( 40,1% > 30,6%), chỉ số DMFT cũngcao hơn nhiều( 1.9473 > 1.3121)
Bảng 3.7: Sâu răng ở các nhóm tuổi then chốt theo giới
Sâu răng sữa ở trẻ 6 tuổi (bảng 3.8) có khoảng một phần tư số trẻ sâu từ
1 đến 6 răng sữa Số trẻ sâu trên dưới 10 răng sữa có tỷ lệ thấp hơn( khoảng10%), trẻ sâu từ 15 răng trở lên chiếm tỷ lệ rất thấp
Trang 38Bảng 3.8: Sâu răng sữa phân bố tần suất ở trẻ em 6 tuổi
Ở trẻ em 12 tuổi (bảng 3.9) có hơn một phần ba trẻ có sâu từ 1 đến 4
răng vĩnh viễn, số trẻ bị sâu tù 5 đến 9 răng ít hơn, không có trẻ sâu trên 9, 10răng trở lên
Bảng 3.9: Phân bố tần suất sâu răng vĩnh viễn ở trẻ em 12 tuổi
Số R sâu Tỷ lệ %sâu răng tích lũy n
Trang 39Sâu răng sữa ở các vùng địa lý (bảng 3.10) có tỷ lệ rất cao trong nhóm 6
-8 tuổi (88% đến 95%), chỉ số dmft nằm trong khoảng từ 6 đến 7, riêng vùngđông nam bộ có tỷ lệ sâu răng thấp hơn nhiều so với các vùng khác (52,1%)đồng thời dmft cũng thấp hơn (3,0625) Nhóm tuổi 9 -11 ở các vùng đều có tỷ
lệ sâu răng thấp hơn (50% đến 60%) và chỉ số dmft dao động trong khoảng1,6 đến 2,3 Ở lứa tuổi này vùng Đông nam bộ sâu răng cũng có chiều hướnggiảm xuống (43,4%) và dmft là 2,0417
Bảng 3.10: Sâu răng sữa theo các vùng địa lý
Trang 40Bảng 3.11: Sâu răng vĩnh viễn theo các vùng địa lý
Vùng núi phía bắc 6-8 50 17.4 0.3508 0.0445 0.0497 0.4450