BệnhTNDDTQ từ 30 năm nay đã được chính thức công nhận là một bệnh, không chỉ là hội chứng như trước đây nêu trong y văn, chẩn đoán bệnh nên đề rõ: Bệnhtrào ngược dạ dày thực quản hay GER
Trang 1BÙI QUANG TRUNG
GI¸ TRÞ CñA Bé C¢U HáI GERD Q TRONG CHÈN
§O¸N BÖNH TRµO NG¦îC D¹ DµY - THùC QU¶N
Cã TæN TH¦¥NG THùC QU¶N
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2BÙI QUANG TRUNG
GI¸ TRÞ CñA Bé C¢U HáI GERD Q TRONG CHÈN
§O¸N BÖNH TRµO NG¦îC D¹ DµY - THùC QU¶N
Cã TæN TH¦¥NG THùC QU¶N
Chuyên ngành: Nội Khoa
Mã số: 60720140
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS.BS Vũ Trường Khanh
Trang 3- DD – TQ : Dạ dày thực quản
- GERD : Gastro – Esophageal reflux disease
- GIS : GERD Impact Scale
- BMI : Body Mass Index
- NERD : Non erosive reflux disease
- RDQ : Reflux Disease Questionnaire,
- TNDDTQ : Trào ngược dạ dày thực quản
- LA : Los Angeles
- NSAIDs : Non Steroidal Anti Inflammatory Drugs
Trang 4PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là bệnh lý do dịch hoặc thức ăn từ dạdày trào ngược lên thực quản gây nên các triệu chứng lâm sàng và/hoặc cáctổn thương, biến chứng khác [1], [2], [3]
Trào ngược dạ dày thực quản (TNDDTQ) là một bệnh lý đường tiêuhóa phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đây là bệnh ít dẫn đến tửvong, nhưng có thể gây ra các triệu chứng ảnh hưởng lớn đến chất lượng sốnghoặc có thể gây ra các biến chứng: hẹp thực quản do loét, Barret thực quản
và ung thư thực quản [4], [5], [6] Theo một nghiên cứu tổng quan hệ thốngcông bố năm 2014,người ta thấy rằng tỷ lệ GERD là 18,1% - 27,8% ở Bắc
Mỹ, 8,8% - 25,9% ở châu Âu, 2,5% - 7,8% ở Đông Á, 8,7% - 33,1% ở TrungĐông, 11,6% ở Úc và 23,0% ở Nam Mỹ Tỷ lệ mắc trên 1000 người-năm làkhoảng 5 trong tổng số người Anh và Mỹ, và 0,84 ở những bệnh nhi từ 1-17tuổi ở Anh Bằng chứng cho thấy sự gia tăng tỷ lệ GERD từ năm 1995, đặcbiệt là ở Bắc Mỹ và Đông Á [7], [8]
Ở Việt Nam trong 15 năm trở lại đây tần xuất mắc bệnh TNDDTQ có
xu hướng tăng dần,theo tác giả Lê Văn Dũng tỉ lệ này là 7,8%,Quách TrọngĐức và Trần Kiều Miên nghiên cứu trên 3302 bệnh nhân nội soi với triệuchứng đường tiêu hóa trên thì có tới 15,4% viêm trợt thực quản [9] BệnhTNDDTQ từ 30 năm nay đã được chính thức công nhận là một bệnh, không chỉ
là hội chứng như trước đây nêu trong y văn, chẩn đoán bệnh nên đề rõ: Bệnhtrào ngược dạ dày thực quản hay GERD (Gastro – Esophageal reflux disease)
Chẩn đoán bệnh TNDDTQ có thể dựa trên bệnh sử, các triệu chứnglâm sàng, cận lâm sàng như phương pháp nội soi thực quản sinh thiết, đo độ
pH thực quản, đo áp lực đường tiêu hóa (gastrointestinal manometry), chụplấp lánh đồ (Scintigraphy), chụp thực quản có uống thuốc Barryt và nghiệmpháp điều trị thử bằng thuốc ức chế bơm proton [10]
Nội soi từ lâu đã là công cụ chính được sử dụng để đánh giá tìnhtrạng tổn thương thực quản ở những bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ do
Trang 7GERD Tuy nhiên, đại đa số bệnh nhân bị ợ nóng và trào ngược lại khôngthấy hình ảnh tổn thương thực quản.Nội soi chỉ được khuyến cáo khi cónhững triệu chứng báo động hay để tầm soát ở bệnh nhân có nguy cơ biếnchứng cao Ở những trường hợp không phải thực quản Barrett, không cần nộisoi lại khi bệnh nhân không có thêm triệu chứng mới [11], [12].
Năm 2009 nghiên cứu đa trung tâm Diamond được thực hiện ở Đức,Thụy Điển, Canada, Đan Mạch, Na – Uy, Anh đã đưa ra bảng điểm GERD Q(các câu hỏi trong GERD Q được tổng hợp từ: RDQ – Reflux DiseaseQuestionnaire, GSRS – Gastrointestinal Symptom Rating Scale, GIS – GERDImpact Scale) [9], [13], [14]
Bộ câu hỏi được xem như công cụ chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày –thực quản (GERD) đơn giản và hiệu quả có thể thay thế cho các phương phápthăm khám lâm sàng và cận lâm sàng như nội soi thực quản bằng ống mềm,
đo pH thực quản 24h, chụp XQuang thực quản có thuốc cản quang mà vẫnmang lại giá trị chẩn đoán và điều trị cao,đặc biệt là tại các cơ sở chăm sócsức khỏe ban đầu ở các nước phương tây [10]
Ở Việt Nam bộ câu hỏi GERD Q mới được ứng dụng và còn chưa phổ biếntrên thực tế lâm sàng, hơn nữa, chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc sử dụng bộcâu hỏi GERD Q để chẩn đoán các trường hợp GERD có tổn thương thực quản
Để góp phần vào đánh giá hiệu quả ứng dụng bộ câu hỏi GERD Q vàothăm khám và chẩn đoán ban đầu,đồng thời phát hiện sớm các trường hợptrào ngược dại dày có tổn thương thực quản,chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Giá trị của bộ câu hỏi GERD Q trong chẩn đoán bệnh trào ngược dạ
dày - thực quản có tổn thương thực quản” Với những mục tiêu sau:
1. Mô tả các hình ảnh tổn thương thực quản qua nội soi ở bệnh nhân trào ngược dạ dày-thực quản.
2. Đánh giá hiệu quả của bộ câu hỏi GERD Q trong việc phát hiện các trường hợp GERD có tổn thương thực quản trên nội soi.
CHƯƠNG 1
Trang 81950 Berenberg và Newhauser mô tả GERD, sinh lý và cơ chế, tuy vaitrò của cơ vòng thực quản dưới (LES) còn hiểu biết rất hạn chế
2005 Ford ra danh từ Larygopharyngeal reflux (LPR) được coi là biếnchứng của GERD hay trào ngược ngoài thực quản
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Nguyễn Tuấn Đức (2008) đã nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng và hìnhảnh nội soi TMH trong bệnh TNDDTQ ở người lớn
Bồ Kim Phượng (2011) đã đưa ứng dụng bảng GERD Q vào chẩn đoánTNDDTQ
Quách Trọng Đức, Hồ Xuân Linh (2012) nói lên được giá trị của bộ câuhỏi GERD Q trong chẩn đoán GERD của lĩnh vực nội tiêu hóa
1.2 DỊCH TỄ HỌC BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN
Bệnh TNDDTQ là bệnh lý thường gặp và tỷ lệ mắc ở các nước trên thếgiới là khác nhau,tỷ lệ GERD là 18,1% -27,8% ở Bắc Mỹ, 8,8% -25,9% ởchâu Âu, 2,5% -7,8% ở Đông Á, 8,7% -33,1% ở Trung Đông, 11,6% ở Úc và23,0% ở Nam Mỹ [7], [15]
Trang 91.3 GIẢI PHẪU THỰC QUẢN
1.3.1 Hình dạng, kích thước và vị trí
Ở người lớn, chiều dài thực quản khoảng 25 cm, đường kính ngangtrung bình 2 - 3 cm, khi giãn thực quản có 4 chỗ hẹp: Ngang vị trí sụn nhẫn,chỗ phế quản gốc bắt chéo qua thực quản, chỗ chui qua cơ hoành và tâm vị
Hình 1.1 Định khu và các chỗ hẹp của thực quản
1.3.2 Liên quan
1.3.3 Cấu tạo thực quản
Thực quản từ ngoài vào trong có 4 lớp: Lớp áo ngoài, lớp cơ, lớp dướiniêm mạc và lớp niêm mạc
Hình 1.2 Sơ đồ cấu tạo thực quản (cắt ngang)
Trang 101.3.4 Mạch và thần kinh
- Động mạch: Thực quản được cấp máu bởi động mạch giáp dưới, phầnxuống của động mạch chủ, các động mạch phế quản, động mạch vị trái vàđộng mạch hoành dưới
- Tĩnh mạch: Tĩnh mạch ở phần cổ đổ vào tĩnh mạch giáp dưới, ở ngực
đổ vào tĩnh mạch đơn, bán đơn và tĩnh mạch bán đơn phụ, ở bụng đổ vào tĩnhmạch đơn và tĩnh mạch vị trái
- Thần kinh: Đoạn thực quản cổ được chi phối bởi các nhánh của thầnkinh thanh quản quặt ngược và các nhánh từ thần kinh giao cảm cổ, đoạn ngực
do các nhánh của thân X, đám rối thực quản, thân giao cảm và các thần kinh tạnglớn, đoạn thực quản bụng được chi phối bởi các nhánh của hai thân X, thân giaocảm ngực, thần kinh tạng lớn, đám rối vị trái và thần kinh hoành dưới
1.4 SINH LÝ THỰC QUẢN
Chức năng chính của thực quản là vận chuyển thức ăn từ hầu họngxuống dạ dày và chống sự trào ngược dịch dạ dày lên phía trên Sự vậnchuyển của thực quản được hỗ trợ bởi nhu động thực quản Hàng rào chốngtrào ngược dịch dạ dày lên trên là 4 cấu trúc: cơ thắt thực quản trên, cơ thắtthực quản dưới, van Gubaroff và góc Hiss
Trang 111.5 TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN
1.5.1 Đại cương
Định nghĩa Montréal về GERD [15]
“GERD là tình trạng bệnh lý khi chất trong dạ dày trào ngược gây
triệu chứng khó chịu và/hoặc gây biến chứng”
Triệu chứng tại thực quản Triệu chứng ngoài thực quản
+Viêm thực quản trào ngược
+Hẹp thực quản
+Thực quản Barrett
+ Ung thư biểu mô tuyến
Các triệu chứng đi kèm đa xác định:
+Ho do trào ngược
+Viêm thanhquản do trào ngược
+Hen do trào ngược
+Mòn răng
do trào ngược
Các bệnh lý được nghỉ là
có liên quan:
+Viêm họng
+Viêm xoang
+Xơ hoá phổi vô căn.+Viêm tai giữa tái đi tái lại
1.5.2 Nguyên nhân của trào ngược dạ dày- thực quản:
Hiện nay, nguyên nhân gây GERD còn chưa được rõ song người ta tìmthấy những yếu tố nguy cơ sau:
- Tuổi: Thường gặp nhiều ở tuổi > 40
- Giới: Nam gặp nhiều hơn Nữ
- Chế độ sinh hoạt không điều độ: Hút thuốc lá, uống rượu, bia, cà phê,chocolate, những thức ăn có nhiều gia vị và dùng các thuốc chống viêmkhông Steroide, theophylline, các thuốc chẹn kênh canxi đều ảnh hưởng đếnkhả năng TNDDTQ
Trang 121.5.3 Bệnh sinh các tổn thương ở thực quản do trào ngược
Hình 1.3 Trào ngược dạ dày – thực quản
1.5.4 Triệu chứng lâm sàng
Các triệu chứng thường gặp
Ợ trớ, ợ nóng, hoặc cả hai, mà thường xảy ra sau bữa ăn (nhất là saucác bữa ăn thịnh soạn, nhiều chất béo) rất có thể là GERD Bệnh nhân cảmthấy nóng hoặc bỏng sau xương ức, thường liên quan đến vị trí của cơ thể, đôikhi có tăng tiết nước bọt triệu chứng này giảm khi dùng thuốc kháng acid.Một số trường hợp, bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng GERD với đau ngực,khản giọng, hen suyễn, hoặc ho Đáng chú ý là một số bệnh nhân bị GERD cóthể trình bày với các triệu chứng tối thiểu hoặc không có Biến chứngcủa GERD bao gồm thực quản Barrett, hẹp thực quản, xuất huyết, hoặc thủng,
và các biến chứng ngoài thực quản như khát vọng, hen suyễn, ho mãn tính,đau ngực, và viêm họng thanh quản Các triệu chứng báo động (nghi ngờ ungthư) bao gồm khó nuốt, nuốt đau, giảm cân, nôn ra máu, phân có màu đenhoặc có máu, đau ngực, hay nghẹt thở (axit trào ngược gây ho, khàn tiếng,hoặc khó thở) Bệnh nhân có các triệu chứng báo động yêu cầu ngay lậptức làm các test chẩn đoán loại trừ
Trang 131.5.5 Chẩn đoán
a Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng:
Chẩn đoán GERD trước đây theo tiêu chuẩn Rome II dựa vào thời gianxuất hiện các triệu chứng ít nhất 12 tuần (không cần liên tục) trong 1 năm và
ít nhất 1 lần trong 1 tuần Nhưng ngày nay thường dựa vào triệu chứng nóngrát xảy ra từ 2 ngày trở lên trong 1 tuần, tuy nhiên nếu những triệu chứng này
ít thường xuyên thì cũng không loại trừ được bệnh
* Theo Đồng thuận về GERD ở Châu Á- Thái Bình Dương 2002 trong
đó có kết luận: Nóng rát và hoặc ợ chua mà xảy ra sau bửa ăn là những triệuchứng có tính đặc hiệu cao cho chẩn đoán GERD
GERD là một bệnh phổ biến hiện tại chưa có các biện pháp chẩn đoánđược coi là tiêu chuẩn vàng, nên hiện nay trên thế giới các thầy thuốc tiêu hoánhất trí hỏi bệnh được coi là biện pháp quan trọng nhất để chẩn đoán và điềutrị bước đầu Chính vì vậy đã ra đời khá nhiều các bảng câu hỏi khác nhau
- Bảng GIS (GERD Impact Scale): Bảng câu hỏi gồm 8 ý đo tần suấtcủa những triệu chứng như nóng rát và ợ chua trong tuần qua và ảnh hưởngcủa chúng trong hoạt động hàng ngày, bảng này chỉ ứng dụng cho lựa chọnđiều trị hợp lý, kiểm tra việc đáp ứng với điều trị [9]
- RDQ (Reflux Disease Questionnaire): Chỉ chẩn đoán GERD nhưngkhông thể biết được mức độ tổn thương cũng như những biến chứng củaGERD [10], [16], [17]
- Carlsson– Dent quesitionnaire với 7 câu hỏi về triệu chứng: Chỉ giúpphát hiện GERD và những triệu chứng giống GERD, GERD nhưng không thểbiết được mức độ tổn thương cũng như những biến chứng của GERD Phươngpháp này có độ nhạy 70%, độ đặc hiệu chỉ 46% [10]
- Bảng GERD Q của Trung Quốc cũng cho độ nhạy 82% và độ đặc hiệu84% nhưng chỉ được khuyến cáo cho sử dụng nghiên cứu dịch tễ
Trang 14- Năm 2009 nghiên cứu đa trung tâm Diamond đã đưa ra bảng điểmGERD Q như sau [9], [18], [19]:
BỘ CÂU HỎI GERD Q
A. Các triệu chứng khác biệt tùy theo từng người: Được cho điểm từ 0-3
1. Ông/ bà có thường cảm thấy bị nóng rát giữa ngực sau xương ức haykhông (ợ nóng)?
0 ngày 1 ngày 2-3 ngày 4-7 ngày
B. Các triệu chứng khác biệt tùy theo từng người: Được cho điểm từ 3-0
1. Ông/ bà có thường bị đau ở giữa vùng bụng trên hay không?
0 ngày 1 ngày 2-3 ngày 4-7 ngày
3 đ 2 đ 1 đ 0 đ
2. Ông/ bà có thường bị buồn nôn hay không?
0 ngày 1 ngày 2-3 ngày 4-7 ngày
3 đ 2 đ 1 đ 0 đ
C. Câu hỏi về mức tác động: Được cho điểm từ 0-3
1. Ông/ bà có thường bị khó ngủ vào ban đêm do cảm giác nóng rát sauxương ức và/ hoặc ợ hay không?
0 ngày 1 ngày 2-3 ngày 4-7 ngày
0 đ 1 đ 2 đ 3 đ
2. Ông/ bà có thường phải uống thêm thuốc khác ngoài thuốc bác sĩ đã kêtoa (chẳng hạn như Phosphalugel, Maalox) để trị chứng ợ nóng và/ hoặc
ợ chua hay không?
0 ngày 1 ngày 2-3 ngày 4-7 ngày
0 đ 1 đ 2 đ 3 đSau khi hoàn thành bảng câu hỏi,bác sĩ sẽ tính điểm GERD Q của bệnhnhân bằng cách cộng điểm các câu hỏi lại và xác định khả năng bị GERD củabệnh nhân theo bảng sau:
BẢNG ĐIỂM GERDQ Tổng
điểm
Điểm tác động Chẩn đoán
Viêm trợt (%)
pH bất thường(%)
Trang 150-2 Khả năng GERD thấp 0.0 0.03-7 Khả năng GERD thấp 21.5 31.1
b Chẩn đoán xâm lấn:
Nội soi, mô bệnh học, xạ hình, đo pH 24h, chụp dạ dày thực quản có uốngBaryte, test bơm dung dịch axit của Berstein, đo áp lực thực quản chẩn đoánGERD và biết được mức độ tổn thương và biến chứng của GERD nhưngthường có độ nhạy thấp, riêng phương pháp đo pH 24h có độ nhạy và độ đặchiệu cao cho chẩn đoán GERD thì rất khó thực hiện thường xuyên [9]
c Nội soi:
Hiện tại nội soi được xem là chuẩn để chẩn đoán mức độ lan rộng củaviêm thực quản và loại trừ những nguyên nhân khác, tuy nhiên chỉ 40-60%những bệnh nhân với GERD có bằng chứng nội soi là viêm thực quản (đượckiểm tra thông qua test pH 24h)
- Hình ảnh tổn thương thực quản được đánh giá theo phân loại của LosAngeles 1999
Độ A: Có một hay nhiều tổn thương niêm mạc không dài quá 5mm,không lan rộng giữ 2 đỉnh của 2 nếp niêm mạc
Trang 16Độ B: Có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc dài quá 5mm, khônglan rộng giữa 2 đỉnh của 2 nếp niêm mạc.
Độ C: Có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc nối liền giữa 2 đỉnh của 2hoặc nhiều nếp niêm mạc nhưng không xâm phạm quá 75% chu vi thực quản
Atlas of gastrointestinal endoscopy
Hình 1.4 Tổn thương thực quản theo độ A, B, C, D
Độ D: Có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc nối liền giữa 2 đỉnhcủa 2 hoặc nhiều nếp niêm mạc xâm phạm quá 75% chu vi thực quản
-Xác định tổn thương Barrett thực quản:
Barrett thực quản: Là sự thay thế biểu mô thực quản bình thường bằng biểu
mô trụ do trào ngược mạn tính, nhìn thấy rõ ở khu vực trên vùng nối thực quản
-dạ dày ≥ 1cm được khẳng định bằng mô bệnh học
+ Barrett thực quản đoạn ngắn: Có chiều dài (cao) tổn thương <3cm.+ Barrett thực quản đoạn dài: Có chiều dài (cao) tổn thương ≥ 3cm
Trang 17Thực quản bình thường Barrett thực quản
+ Thoát vị cạnh thực quản: Hiếm, chỉ gặp khoảng hơn 5% trong cácloại thoát vị
+ Thoát vị trượt một phần dạ dày chui qua lỗ hoành lên lồng ngực
Những nghiên cứu trong và ngoài nước về áp dụng bảng GERD Q trong chẩn đoán và theo dõi điều trị:
a. Nước ngoài:
+ Marcellus Simadibrata và cộng sự: GERD Q in Indonesian languagenghiên cứu trên 40 bệnh nhân nội soi có viêm thực quản được chẩn đoán theoGERD Q với ngôn ngữ Indonesia, nghiên cứu này kết luận GERD Q có thểđược sử dụng cho chẩn đoán GERD dựa vào những triệu chứng [20]
+ Jonasson C và cộng sự: Nghiên cứu trên 344 bệnh nhân, tác giả kếtluận: Dựa vào triệu chứng để chẩn đoán GERD theo GERD Q (sau khi đã loạitrừ những triệu chứng báo động) làm giảm chi phí thuốc điều trị, hiệu quả vẫn
Trang 18tốt GERD Q có thể trang bị cho các thầy thuốc một dụng cụ nữa để chăm sócbệnh nhân [20].
b Trong nước:
+ Quách Trọng Đức, Hồ Xuân Linh (2012): Nghiên cứu trên 201 bệnhnhân, nghiên cứu cho thấy GERD Q có tiềm năng là công cụ hỗ trợ chẩn đoánbệnh TNDDTQ tốt tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu với giá trị điểmcắt để chẩn đoán bệnh TNDDTQ là 6, đồng thời giúp định hướng chỉ định nộisoi để chẩn đoán mức độ viêm TNDDTQ ở các trường hợp có điểm GERD
Q ≥ 9 [18], [20]
+ Bồ Kim Phượng, Đào Văn Long nghiên cứu trên 104 bệnh nhân thấyviêm thực quản trên nội soi có độ đặc hiệu cao 90-95% cho GERD, nhưng độnhạy khoảng 50%, từ đó giúp cho các bác sĩ có thể dựa vào bảng GERDQ đểtheo dõi tình trạng bệnh nhân viêm thực quản ở những cơ sở chưa có máy nộisoi hoặc ở các phòng khám tư [9]
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trang 19Gồm tất cả các bệnh nhân được nội soi tại Trung Tâm Nội Soi Tiêu Hóabệnh viện Bạch Mai mà phát hiện có tổn thương ở thực quản trong thời gian
từ tháng 01/2019 – 08/2019
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Tuổi ≥18
- Tất cả những bệnh nhân sau khi nội soi được chẩn đoán xác định có
tổn thương thực quản do trào ngược dạ dày-thực quản
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Ung thư thực quản,dạ dày
- Đã được chẩn đoán GERD trước đó và có can thiệp nội soi và hoặcphẫu thuật
- Đã phẫu thuật ở dạ dày, thực quản
- Trào ngược DD-TQ do các nguyên nhân thực thể (tắc ruột cao, u dạdày, hẹp môn vị)
- Có dùng thuốc NSAIDs,Corticoid,Aspirin, ức chế bơm Proton,khángH2,… trong vòng 04 tuần trước khi đến khám
- Bệnh nhân không hợp tác
2.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang,tiến cứu
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
- Chọn mẫu thuận tiện
2.2.3 Cách thức tiến hành
Nghiên cứu cắt ngang:
Tất cả các bệnh nhân nằm trong nhóm nghiên cứu được thực hiện theothứ tự các bước như sau:
Trang 20Bước 1: Nội soi đường tiêu hóa trên và chọn những bệnh nhân nộ có hình ảnh
tổn thương thực quản do trào ngược
• Chuẩn bị và kiểm tra máy nội soi
• Tiến hành soi cho bệnh nhân:
- Đưa ống soi qua họng vào thực quản, bơm hơi, vừa đưa ống vừa quansát niêm mạc thực quản từ trên xuống dưới dừng lại ở thực quản để quan sátđiểm nối dạ dày thực quản (đường Z), quan sát tổn thương thực quản: viêmtrợt, hẹp, Barrett thực quản, ung thư thực quản , đưa ống soi xuống dạ dày,tátràng, sau đó rút máy ra và quan sát lại tổn thương khi rút máy
- Sau khi nội soi xong, nếu có tổn thương thực quản theo phân độ LA,Barrett thì tiến hành ghi kết quả nội soi vào bệnh án nghiên cứu
Bước 2: Phỏng vấn tất cả bệnh nhân trong tiêu chuẩn.
- Bệnh nhân tự điền vào bảng câu hỏi GERD Q Sau khi bệnh nhân hoànthành bộ câu hỏi GERD Q, dựa vào đó để tính tổng điểm và điểm tác động
- Phỏng vấn ghi lại theo mẫu bệnh án nghiên cứu: Các triệu chứng cơnăng: ợ chua, nóng rát vùng thượng vị sau xương ức, buồn nôn, nuốt khó,nuốt nghẹn, khàn tiếng, ho nghề nghiệp, địa chỉ, tiền sử bệnh, hút thuốc lá,uống rượu , bia,…
- Bệnh nhân được đo chiều cao và cân nặng, tính BMI
Việc đánh giá GERDQ và đánh giá tổn thương trên nội soi được tiếnhành độc lập: để đảm bảo tính khách quan, bác sĩ nội soi hoàn toàn không biếtcác thông tin lâm sàng của bệnh nhân
Trang 21Bước 3: Đối chiếu tổn thương ở thực quản với bảng điểm GERD Q
Tiến hành phân tích số liệu,xem xét các yếu tố liên quan,dùng đườngcong ROC xác định ngưỡng điểm GERD Q có độ nhạy và độ đặc hiệu cao đểchẩn đoán các trường hợp tổn thương thực quản do GERD
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
- Tính điểm bảng GERD Q của bác sĩ và bệnh nhân
- Triệu chứng thực thể: Nội soi DD-TQ được đánh giá tổn thương thực quản dotrào ngược
Viêm thực quản: theo phân loại Los Angeles 1999:
+ Độ A: có một hoặc nhiều tổn thương không kéo dài quá 5 mm, khôngkéo dài giữa 2 đỉnh nếp niêm mạc
+ Độ B: có một hoặc nhiều tổn thương kéo dài quá 5 mm, không kéo dàigiữa 2 đỉnh nếp niêm mạc
+ Độ C: có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc nối liền giữa 2 đỉnhcủa 2 hay nhiều nếp niêm mạc nhưng không xâm phạm quá 75 % chu vi ốngthực quản
+ Độ D: có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc xâm phạm quá 75 %chu vi ống thực quản