1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giá trị của bộ câu hỏi GERDQ trong chẩn đoán các trường hợp bệnh trào ngược dạ dày thực quản có hội chứng thực quản

8 333 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 410,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành nhằm xác định điểm cắt tốt nhất của tổng điểm GERDQ để chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày thực quản ở bệnh nhân Việt Nam. Nghiên cứu tiến hành trên các bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM có các triệu chứng tiêu hóa trên.

Trang 1

GIÁ TRỊ CỦA BỘ CÂU HỎI GERDQ TRONG CHẨN ĐOÁN CÁC

TRƯỜNG HỢP BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN CÓ HỘI

CHỨNG THỰC QUẢN

Quách Trọng Đức*, Hồ Xuân Linh**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Bộ câu hỏi GERDQ được xem là một công cụ chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày – thực quản

(BTNDD-TQ) đơn giản và hiệu quả tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu ở các nước phương Tây Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xác định giá trị của GERDQ ở người Việt Nam

Mục tiêu: Xác định điểm cắt tốt nhất của tổng điểm GERDQ để chẩn đoán BTNDD-TQ ở bệnh nhân Việt

Nam

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, cắt ngang trên các bệnh nhân ngoại trú tại BV ĐHYD

TP HCM có các triệu chứng tiêu hóa trên Đánh giá triệu chứng lâm sàng theo GERDQ và đánh giá tổn thương VTNDD-TQ trên nội soi theo phân loại Los Angeles BTNDD-TQ được chẩn đoán theo định nghĩa của đồng thuận Montreal Người đánh giá nội soi không biết các triệu chứng lâm sàng để đảm bảo tính khách quan khi đối chiếu Sử dụng đường cong ROC để xác định điểm cắt thích họp cho chẩn đoán

Kết quả: Có 201 bệnh nhân với tuổi trung bình là 39,4 ± 11,8 và tỉ lệ nam:nữ là 1,3 BTNDD-TQ chiếm tỉ

lệ 45,3% (91/201), trong đó VTNDD-TQ chiếm tỉ lệ 16,9% (34/201) Đau thượng vị là than phiền chính thường

gặp nhất của các bệnh nhân này, chiếm tỉ lệ 46,2% (42/91) 97,1% các trường hợp VTNDD-TQ ở mức độ độ

nhẹ Điểm cắt GERDQ ≥ 6 cho độ nhạy và độ chuyên biệt trong chẩn đoán BTNDD-TQ lần lượt là 70,3% và 72%

Kết luận: Điểm cắt của tổng điểm GERDQ để chẩn đoán BTNDD-TQ ở người Việt Nam thấp hơn so với

Phương Tây Triệu chứng đau thượng vị phổ biến ở bệnh nhân BTNDD-TQ ở Việt Nam góp phần lý giải cho giá trị điểm cắt thấp hơn này

Từ khóa: GERDQ, viêm trào ngược dạ dày – thực quản, bệnh trào ngược dạ dày – thực quản

ABSTRACT

THE ROLE OF GERDQ QUESTIONAIRE IN THE DIAGNOSIS OF GASTRO-ESOPHAGEAL REFLUX

DISEASE WITH ESOPHAGEAL SYNDROME

Quach Trong Duc, Ho Xuan Linh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 15 - 22

Background: GERDQ questionnaire has been considered as a simple and effective tool for GERD diagnosis

in primary care in Western countries This questionnaire has not been validated in Vietnamese population

Aim: To determine the optimal cut-off point of GERDQ score for the diagnosis of GERD in Vietnamese

patients

Subjects and methods: A prospective cross-sectional study was conducted on out-patients who had upper

gastrointestinal symptoms at the University Medical Center of Hochiminh City Patients’ symptoms were assessed according to GERDQ questionnaire and the severity of reflux esophagitis was assessed according to the Los Angeles classification The criteria for GERD diagnosis was based on the GERD definition of Montreal consensus The endoscopist who evaluated endoscopic finding was masked from patients’ symptoms ROC curve

Trang 2

was used to define the optimal cut-off GERDQ score for the diagnosis of GERD

Results: There were 201 patients with the mean age of 39.4 ± 11.8 and the male-to-female ratio of 1.3 The

rates of GERD and RE were 45.3% (91/201) and 16.9% (34/201), respectively Epigastric pain was the most

common chief complaint of GERD with the rate of 46.2% (42/91) 97.1% patients with RE were in mild grade

(i.e LA-A or LA-B) Using the GERDQ cut-off score of 6, the sensitivity and specificity for GERD diagnosis were 70.3% and 72%, respectively

Conclusion: The optimal GERDQ cut-off in Vietnamese is lower than that in Western population, which is

partly explained by the common of epigastric pain in Vietnamese patients with GERD

Key words: reflux esophagitis, GERDQ, GERD

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tần suất bệnh trào ngược dạ dày thực quản

(BTNDD-TQ) có xu hướng ngày càng tăng ở các

nước Châu Á(3,6,7).Một tiến bộ gần đây trong lĩnh

vực chẩn đoán BTNDD-TQ là sự ra đời của bộ

câu hỏi GerdQ, được xây dựng cơ sở tích hợp

điểm của các triệu chứng cơ năng Ưu điểm nổi

bật của bộ câu hỏi này là giúp nâng cao độ

chính xác trong chẩn đoán BTNDD-TQ của bác

sĩ đa khoa tổng quát lên ngang với bác sĩ chuyên

khoa tiêu hóa, đồng thời giúp đánh giá mức độ

nặng của bệnh và theo dõi đáp ứng điều trị.(8)

Đây là một công cụ chẩn đoán đơn giản và

không xâm lấn, do đó có tiềm năng ứng dụng

cao tại các cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu

Tuy nhiên, điểm cắt (cut-off point) của tổng

điểm GERDQ nhằm chẩn đoán BTNDD-TQ

được xác định dựa trên nghiên cứu ở dân số Âu

– Mỹ, việc ứng dụng trên người Việt Nam có thể

có một số điểm khác biệt Nghiên cứu trước đây

của chúng tôi cho thấy bệnh nhân Việt Nam bị

VTNDD-TQ thường ít có biểu hiện triệu chứng

trào ngược điển hình, trong khi đau thượng vị

lại là triệu chứng thường gặp nhất.(11) Do đó

điểm cắt của tổng điểm GERDQ khi sử dụng để

chẩn đoán BTNDD-TQ ở bệnh nhân Việt Nam

có thể thấp hơn so với nghiên cứu gốc Hiện tại

trong nước chưa có công trình nào về vấn đề

này Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác

định giá trị của bộ câu hỏi GerdQ để chẩn đoán

các trường hợp BTNDD-TQ có hội chứng thực

quản ở bệnh nhân Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Các bệnh nhân ngoại trú đến khám tại BV Đại Học Y Dược TP HCM từ tháng 03/2011 đến tháng 07/2011 thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn nhận bệnh

Tuổi ≥ 18

Có triệu chứng nghi ngờ bệnh đường tiêu hóa trên

Được chỉ định nội soi tiêu hóa trên

Tiêu chuẩn loại trừ

Dùng thuốc ức chế bơm proton, ức chế thụ thể H2, kháng sinh, NSAIDs, aspirine và corticoid trong vòng 4 tuần trước khi đến khám Tiền căn phẫu thuật đường tiêu hóa trên hoặc ung thư đường tiêu hóa

Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang, với phương pháp chọn mẫu thuận tiện Cỡ mẫu được tính theo công thức:

2

2 2 /

d

p p

Z

Trong đó: n là cỡ mẫu, chọn d (độ chính xác tuyệt đối mong muốn) là 0,05;  = 0,05 tương ứng với Z1-/2 = 1,96; p là tỉ lệ ước đoán của quần

thể, được tính dựa trên tỉ lệ VTNDD-TQ theo nghiên cứu trước đây tại BV ĐHYD TP HCM. (11)

Trang 3

Áp dụng vào công thức trên tính được cỡ mẫu

tối thiểu n = 197

Phương pháp tiến hành

Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu được

hỏi và đánh giá triệu chứng lâm sàng theo một

mẫu bệnh án khai thác triệu chứng cơ năng

thống nhất, bao gồm bộ câu hỏi GERQ đã được

Việt hóa do công ty Astra-Zeneca cung cấp

Bảng Việt hóa này đã được xác định là đảm bảo

được ý nghĩa của bản GERDQ gốc bằng tiếng

Anh khi kiểm tra bằng phương pháp dịch

ngược Việc đánh giá GERDQ và đánh giá tổn

thương trên nội soi được tiến hành độc lập: để

đảm bảo tính khách quan, người đánh giá kết

quả nội soi hoàn toàn biết các thông tin lâm

sàng của bệnh nhân Sau khi khai thác triệu

chứng cơ năng, các bệnh nhân được tiến hành

nội soi tiêu hóa với máy nội soi Olympus Video

Exera GIF-160 Trên nội soi, mức độ viêm trào

ngược dạ dày thực quản (VTNDD-TQ) được

đánh giá theo phân loại Los Angeles

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Các tiêu chuẩn chẩn đoán được thiết lập dựa

trên đồng thuận Montreal: BTNDD-TQ bao gồm

các trường hợp có hội chứng tại thực quản và

hội chứng ngoài thực quản.(14) Chúng tôi tiến

hành nghiên cứu các bệnh nhân có triệu chứng

tiêu hóa trên nhằm chẩn đoán BTNDD-TQ có

hội chứng tại thực quản

BTNDD-TQ: bệnh nhân có triệu chứng ợ

nóng hoặc ợ trớ gây khó chịu và / hoặc có tổn

thương thực quản do trào ngược quan sát thấy

trên nội soi

VTNDD-TQ: đánh giá mức độ theo tiêu

chuẩn của phân loại Los Angeles

BTNDD-TQ không viêm trào ngược trên nội

soi: bệnh nhân có triệu chứng ợ nóng hoặc ợ trớ

gây khó chịu nhưng không kèm tổn thương thực

quản do trào ngược trên nội soi

Quản lý và phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 15.0 để quản lý số

liệu và phân tích thống kê Sử dụng thống kê

dụng đường cong ROC để xác định diện tích dưới đường cong và điểm cắt thích hợp để chẩn đoán BTNDD-TQ và VTNDD-TQ

KẾT QUẢ Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Có 201 bệnh nhân với tuổi trung bình là 39,4

± 11,8 (nhỏ nhất 19, lớn nhất 82) Tỉ lệ nam: nữ là 1,3:1 Trình độ học vấn, đặc điểm triệu chứng cơ năng và kết quả nội soi của nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu được trình bày ở bảng 1,2 và 3

Bảng 1 Trình độ học vấn của bệnh nhân tham gia

nghiên cứu

Mù chữ 2 1 1 Cấp I 31 15,4 16,4 Cấp II 64 31,8 48,3 Cấp III 42 20,9 69,2 Trung cấp 11 5,5 74,6 Cao đẳng / đại học 45 22,4 97 Sau đại học 6 3 100 Tổng cộng 201 100

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân học dưới cấp III

chiếm phân nữa các trường hợp đến khám Đây

là nhóm bệnh nhân rất khó tự đánh giá triệu chứng theo bộ câu hỏi GERDQ

Bảng 2 Triệu chứng cơ năng của các bệnh nhân

tham gia nghiên cứu

Than phiền chính

Triệu chứng kèm theo*

Triệu chứng n % n %

Ợ nóng 16 8 43 21,4

Ợ trớ 17 8,5 102 50,7 Đau thượng vị 107 53,2 135 67,2 Nóng thượng vị 6 3 50 24,9 Khó chịu thượng vị sau ăn 44 21,9 111 55,2 Cảm giác no sớm 2 1 84 41,8 Buồn nôn / nôn 2 1 0 0 Đầy hơi 7 3,5 0 0 Tổng cộng 201 100

Bệnh nhân có thể có kèm một hoặc nhiều

triệu chứng cơ năng nên tổng số n ở cột triệu

chứng cơ năng kèm theo cao hơn số bệnh nhân thực tế

Trang 4

Nhận xét: than phiền thường gặp của bệnh

nhân là đau thượng vị, kế đến là khó chịu

thượng vị sau ăn

Bảng 3 Kết quả nội soi của các bệnh nhân trong

nghiên cứu

Viêm trào ngược DD – TQ

LA-A LA-B LA-C LA-D

34

30

3

1

0

16,9 14,9 1,5 0,5

0 Nghi Barrett’s thực quản trên nội soi *8 4

Nấm thực quản 5 2,5

Viêm dạ dày 142 70,6

Loét dạ dày 4 2

Ung thư dạ dày 0 0

Loét tá tràng 8 4

Viêm tá tràng 7 3,5

Bình thường 5 2,5

* 3 trường hợp có kèm và 5 trường hợp không kèm

VTNDD-TQ

** một bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều chẩn

đoán trên nội soi

Nhận xét: Tỉ lệ VTNDD-TQ cao hơn rõ rệt so

với tỉ lệ loét dạ dày tá tràng

Chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày – thực

quản

BTNDD-TQ chiếm tỉ lệ 45,3% (91/201), trong

đó có 34 là VTNDD-TQ và 57 là BTNDD-TQ

không có tổn thương trên nội soi VTNDD-TQ

chiến tỉ lệ 37,3% (34/91) trên tổng số bệnh nhân

BTNDD-TQ Có 14 (7%) trường hợp

VTNDD-TQ nhưng không có triệu chứng trào ngược

điển hình trên lâm sàng Mức độ nặng ở các

trường hợp VTNDD-TQ và than phiền chính

của các bệnh nhân bị BTNDD-TQ được trình

bày ở bảng 4 và 5

Bảng 4 Mức độ nặng của viêm trào ngược dạ dày –

thực quản trên nội soi

Mức độ VTNDDTQ

LA-A 30 88,2 88,2

LA-B 3 8,8 97,1

LA-C 1 2,9 100

LA-D 0 0 100

Tổng cộng 34 100

Nhận xét: Hầu hết các trường hợp

VTNDD-TQ là ở mức độ nhẹ

Có 6,6% (6/91) trường hợp BTNDD-TQ phối hợp với tổn thương thực thể Đặc điểm của 6 trường hợp này là: 3 kèm loét dạ dày và 3 kèm loét tá tràng; 5/6 (83,3%) là nam; 5/6 (83,3%) có triệu chứng báo động (thức giấc về đêm: 3, nuốt khó: 1, sụt cân: 1, thiếu máu: 1, xuất huyết tiêu hóa: 1)

Bảng 5 Than phiền của các trường hợp

BTNDD-TQ

Triệu chứng cơ năng ở bệnh nhân

BTNDD-TQ

Ợ nóng 40 44

Ợ trớ 69 75,8 Đau thượng vị 63 69,2 Nóng thượng vị 28 30,8 Khó chịu sau ăn 49 53,8 Buồn nôn / nôn 1 1,1

No sớm 41 45,1 Nuốt khó 5 5,5 Đầy hơi 1 1,1

Nhận xét: hơn 2/3 các trường hợp

BTNDD-TQ có triệu chứng đau thượng vị Điều này góp phần làm giảm tổng điểm GERDQ ở các bệnh nhân BTNDD-TQ

Bảng 6 Than phiền chính ở các trường hợp

BTNDD-TQ

Than phiền chính

BTNDD-TQ không kèm VTQ

VTNDD-TQ

Ợ nóng 10 17,5 5 14,7

Ợ trớ 11 19,3 5 14,7 Đau thượng vị 26 45,6 16 47,1 Khó chịu sau ăn 9 15,8 6 17,6 Buồn nôn / nôn 0 0 1 2,9 Đầy hơi 1 1,8 1 2,9 Tổng cộng 57 100 34 100

Kiểm 2, p = 0,817

Nhận xét: Triệu chứng trào ngược điển hình

không phải là than phiền thường gặp ở cả hai nhóm bệnh nhân có VTNDD-TQ và BTNDD-TQ không kèm viêm thực quản Triệu chứng cơ năng chính không giúp bác sĩ lâm sàng phân biệt các trường hợp có / không có tổn thương VTNDD-TQ

Trang 5

Giá trị của các phương pháp chẩn đoán

BTNDD-TQ

Độ nhạy của chẩn đoán BTNDD-TQ khi dựa

trên triệu chứng than phiền chính là ợ nóng / ợ

trớ là 34% (31/91) và khi dựa trên nội soi là

37,3% (34/91) Với định nghĩa BTNDD-TQ trong

nghiên cứu, cả hai phương pháp chẩn đoán này

đều có độ chuyên biệt là 100% Khi sử dụng

GERDQ, chúng tôi xác định được giá trị cắt tốt nhất của GERDQ để chẩn đoán BTNDD-TQ là 6, với độ nhạy và độ chuyên biệt lần lượt là 70,3%

và 72% (biểu đồ 1) Có mối tương quan thuận giữa tổng điểm GERDQ với tổn thương VTNDD-TQ (Pearson’s correlation = 0,182, p = 0,01) Biểu đồ 2 và bảng 7 mô tả tỉ lệ và nguy cơ mắc VTNDD-TQ tại các điểm cắt của GERDQ

1 - Specificity

1.0 0.8 0.6 0.4 0.2 0.0

1.0

0.8

0.6

0.4

0.2

0.0

Diện tích dưới đường cong = 0,806

≥ 7 53,8% 93%

≥ 8 47,3% 100%

Biểu đồ 1 Giá trị chẩn đoán BTNDD-TQ của bộ câu hỏi GERDQ

Nhận xét: Tổng điểm GERDQ ≥ 6 cho độ

nhạy và độ chuyên biệt trong chẩn đoán

BTNDD-TQ tốt nhất

Biểu đồ 2 Mối liên quan giữa điểm cắt GERDQ và

tỉ lệ VTNDD-TQ

Nhận xét: Bệnh nhân có điểm GERDQ là 6 – 8

thì nguy cơ kèm VTNDD-TQ không khác biệt

đáng kể so với nhóm GERDQ ≤ 5, tuy nhiên

nguy cơ VTNDD-TQ tăng cao dần khi điểm

Bảng 7 Nguy cơ có VTNDD-TQ trên nội soi ở các

mức điểm GERDQ

Mức điểm GERDQ

VTNDD-TQ

0-5 14/106 (13,2%) 1 - 6-8 8/65 (12,3%) 0,92

(0,36-2,34)

0,8649

≥ 9

12/30 (40%) 4,38

(1,67-11,49)

0,001

Nhận xét: So với nhóm bệnh nhân có GERDQ

< 6: nguy cơ VTNDD-TQ ở nhóm bệnh nhân có điểm GERDQ 6 – 8 không khác biệt, trong khi nguy cơ VTNDD-TQ ở nhóm GERDQ ≥ 9 cao gấp 4,38 lần

BÀN LUẬN

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỉ lệ loét

dạ dày tá tràng ngày càng giảm đi, trong khi tỉ lệ BTNDD-TQ ngày càng gia tăng là xu hướng chung trên thế giới; khuynh hướng này ở Châu

Á cũng tương tự như ở phương Tây nhưng xuất hiện muộn hơn.(7) Nghiên cứu của chúng tôi cho

Trang 6

thấy tỉ lệ VTNDD-TQ là 16,9%, cao hơn so với tỉ

lệ loét dạ dày tá tràng là 6% Trong một nghiên

cứu trước đây cũng được thực hiện tại BV

ĐHYD TP HCM năm 2005 trên 3302 trường hợp

được nội soi tiêu hóa trên, chúng tôi ghi nhận tỉ

lệ VTNDD-TQ là 15,4% và tỉ lệ loét dạ dày – tá

tràng là 14,9%.(11) Khi kiểm thống kê chúng tôi

nhận thấy tần suất loét dạ dày – tá tràng có xu

hướng giảm dần (p < 0,001) tuy nhiên không có

sự khác biệt về tỉ lệ VTNDD-TQ trong thời gian

6 năm qua

Phần lớn các trường hợp VTNDD-TQ trong

nghiên cứu này ở mức độ nhẹ Kết quả này cũng

tương tự như số liệu chúng tôi công bố năm

2005, và cũng như hầu hết các nghiên cứu trên

bệnh nhân gốc châu Á khác.(1,4) Chúng tôi ghi

nhận có 5 trường hợp nghi ngờ Barrett’s trên nội

soi không kèm VTNDD-TQ Một điểm yếu của

nghiên cứu này là các trường hợp kể trên không

được sinh thiết để chẩn đoán xác định Tuy

nhiên số liệu của một công trình nghiên cứu

trong nước mới đây cho thấy tỉ lệ thực quản

Barrett’s thực sự được chẩn đoán ở những tổn

thương này chỉ chiếm 19,3%.(9) Do đó, điều này

cũng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tổng

số bệnh nhân BTNDD-TQ và việc đánh giá kết

quả theo mục tiêu nghiên cứu

Chẩn đoán VTNDD-TQ thường không gây

tranh cãi do tổn thương viêm do trào ngược

trên nội soi rất điển hình Tuy nhiên chẩn

đoán BTNDD-TQ không kèm tổn thương

viêm trên nội soi là một vấn đề chưa đạt được

sự đồng thuận do không có tiêu chuẩn vàng

để chẩn đoán _ kể cả khi sử dụng phương

pháp đo pH thực quản 24 giờ Trong nghiên

cứu này tỉ lệ VTNDD-TQ là 16,9% Các nghiên

cứu trên thế giới nói chung và nghiên cứu tại

Châu Á nói riêng (12) đều cho thấy VTNDD-TQ

chỉ chiếm 1/3 số trường hợp BTNDD-TQ thực

sự được chẩn đoán Như vậy, kết quả xác

định được tỉ lệ BTNDD-TQ trong nghiên cứu

này dựa theo định nghĩa của đồng thuận

Montreal (14) là 45,3%, xấp xỉ gấp 3 lần so với tỉ

lệ VTNDD-TQ được phát hiện qua nội soi,

thực sự không có sự khác biệt so với số liệu

đã được thế giới công bố Điều này đánh động về vai trò và tầm quan trọng của việc quản lý bệnh lý tiêu hóa trên này trong chuyên ngành tiêu hóa ở nước ta và cho thấy

sự cần thiết của việc đẩy mạnh các nghiên cứu

về lĩnh vực này

Tỉ lệ BTNDD-TQ phối hợp với bệnh thực thể

là 6,6% Trong nghiên cứu này chúng tôi không gặp trường hợp bệnh ác tính Điểm lý thú là hầu hết các trường hợp BTNDD-TQ có kèm loét dạ dày tá tràng trong nghiên cứu này đều có triệu chứng báo động, do đó thăm dò bằng nội soi đều đã được đặt ra Điều này ủng hộ cho quan điểm có thể điều trị thử và không nhất thiết phải thực hiện nội soi ở những trường hợp

BTNDD-TQ không kèm theo triệu chứng báo động Biểu đồ 1 cho thấy điểm cắt tốt nhất để chẩn đoán BTNDD-TQ trong nghiên cứu này là 6, thấp hơn điểm cắt để chẩn đoán của bảng GERDQ nguyên thủy do Jones và cộng sự đề xuất là 8 (8) Với điểm cắt này thì độ nhạy và độ chuyên biệt để chẩn đoán BTNDD-TQ lần lượt

là 70,3% và 72%; gần như tương đương với kết quả trong nghiên cứu của Jones và cs là 65% và 71%, đồng thời có độ nhạy cao hơn so với khi chẩn đoán dựa trên than phiền chính là triệu chứng trào ngược điển hình Chúng tôi cho rằng điểm cắt thấp hơn ở bệnh nhân Việt Nam là do triệu chứng đau thượng vị chiếm tỉ lệ đến 62,9%

ở các bệnh nhân trong nghiên cứu đã góp phần đáng kể làm giảm trị số của tổng điểm GERDQ trên bệnh nhân BTNDD-TQ

Nghiên cứu này cũng cho thấy triệu chứng trào ngược điển hình (ợ nóng, ợ trớ) rất

ít khi là than phiền chính, trong khi đau thượng vị lại khá thường gặp ở các bệnh nhân BTNDD-TQ (bảng 5, 6) Đây cũng là đặc điểm chung của BTNDD-TQ ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương(3) Điều này dẫn đến một khó khăn cho bác sĩ lâm sàng là rất dễ chẩn đoán nhầm giữa BTNDD-TQ và rối loạn tiêu hóa (Dyspepsia), đặc biệt là hội chứng đau thượng

vị (Epigastric Pain Syndrome _ EPS) theo tiêu chuẩn ROME III Một nghiên cứu gần đây tại

Trang 7

Nhật cho thấy có sự chồng lắp đáng kể giữa

hai chẩn đoán này(10) Trên thực tế, yếu tố

quyết định thái độ xử trí bệnh nhân là cần xác

định xem bệnh nhân có bị VTNDD-TQ và

bệnh lý thực thể của dạ dày – tá tràng hay

không Việc phân biệt giữa BTNDD-TQ không

kèm tổn thương viêm trên nội soi và EPS

thường không đặt ra sự khác biệt đáng kể

trong chiến lược điều trị vì thuốc ức chế bơm

proton thường được chỉ định trong những

trường hợp này với liều khởi đầu tương

đương.(3,13) Đồng thời, mục tiêu điều trị chính

trong cả hai tình huống trên chỉ là cải thiện

triệu chứng, không kèm mục tiêu làm lành tổn

thương trên nội soi Một nghiên cứu tại

Singapore cho thấy rằng liều Esomeprazole

20mg hoặc Rabeprazole 10mg cũng đủ hiệu

quả để kiểm soát triệu chứng ở những trường

hợp BTNDD-TQ không có tổn thương trên nội

soi: triệu chứng trào ngược hết hẳn trong

ngày ở cả hai nhóm đều đạt được sau 9 ngày

và tỉ lệ cải thiện triệu chứng đáng kể đạt 81,4 –

98% sau 4 tuần điều trị.(2) Tuy nhiên, một

nghiên cứu gộp gần đây cho thấy tỉ lệ đáp

ứng với điều trị ức chế bơm proton ở bệnh

nhân BTNDD-TQ không có tổn thương trên

nội soi chỉ đạt 68% và yếu tố dự đoán khả

năng bệnh nhân sẽ có đáp ứng tốt là tình

trạng nhiễm H pylori và giới tính nam.(5) Về

dự đoán khả năng có VTNDD-TQ ở bệnh

nhân đã được chẩn đoán BTNDD-TQ trên lâm

sàng, bảng 6 cho thấy gần như không thể

đoán được điều này nếu chỉ dựa vào triệu

chứng lâm sàng Kết quả nghiên cứu này cho

thấy có mối liên quan thuận giữa tổng điểm

GERDQ với tỉ lệ VTNDD-TQ trên nội soi (biểu

đồ 2) Với điểm GERDQ 6 – 8, bệnh nhân có

thể được chẩn đoán BTNDD-TQ (với độ nhạy

70,3% và độ chuyên biệt 72%) nhưng đa số

không có tổn thương trên nội soi Tuy nhiên

nguy cơ VTNDD-TQ tăng gấp 4,38 khi điểm

GERDQ ≥ 9 (bảng 7) Như vậy, sử dụng

GERDQ có thể hỗ trợ chẩn đoán và chiến lược

điều trị BTNDD-TQ ở những các cơ sở chăm

KẾT LUẬN

BTNDD-TQ chiếm một tỉ lệ cao ở các bệnh nhân có biểu hiện rối loạn tiêu hóa trên, trong

đó BTNDD-TQ không kèm viêm trên nội soi chiếm khoảng 2/3 VTNDD-TQ hầu hết là ở mức độ nhẹ Các trường hợp BTNDD-TQ kèm theo bệnh lý thực thể khác của đường tiêu hóa trên chiếm tỉ lệ 6,6% và phần lớn bệnh nhân

có kèm triệu chứng báo động

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy GERDQ có tiềm năng là một công cụ hỗ trợ chẩn đoán BTNDD-TQ tốt tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu với giá trị điểm cắt để chẩn đoán BTNDD-TQ là 6, đồng thời giúp định hướng chỉ định nội soi để chẩn đoán VTNDD-TQ ở các trường hợp có điểm GERDQ ≥ 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ang TL et al (2005) A comparison of the clinical, demographic and psychiatric profiles among patients with erosive and non-erosive reflux disease in a multi-ethnic Asian country World J Gastroenterol, 11(23): 3558-61

2 Fock KM et al (2005) Rabeprazole vs esomeprazole in non-erosive gastro-esophageal reflux disease: a randomized, double-blind study in urban Asia World J Gastroenterol, 11(20): 3091-8

3 Fock KM et al (2008) Asia-Pacific consensus on the management

of gastroesophageal reflux disease: update J Gastroenterol Hepatol, 23(1): 8-22

4 Goh KL et al (2000) Gastro-oesophageal reflux disease in Asia J Gastroenterol Hepatol, 15(3): 230-8

5 Hiyama T et al (2009) Meta-analysis used to identify factors associated with the effectiveness of proton pump inhibitors against non-erosive reflux disease J Gastroenterol Hepatol, 24(8): 1326-32

6 Ho KY (2008) Gastroesophageal reflux disease in Asia: a condition in evolution J Gastroenterol Hepatol, 23(5): 716-22

7 Ho KY (2011) From GERD to Barrett's esophagus: is the pattern

in Asia mirroring that in the West? J Gastroenterol Hepatol, 26(5): 816-24

8 Jones R et al (2009) Development of the GerdQ, a tool for the diagnosis and management of gastro-oesophageal reflux disease

in primary care Aliment Pharmacol Ther, 30(10): 1030-8

9 Lê Đình Quang (2011) Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và

mô bệnh học của thực quản Barrett Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú, 2011

10 Ohara S et al (2011) Survey on the prevalence of GERD and FD based on the Montreal definition and the Rome III criteria among patients presenting with epigastric symptoms in Japan J Gastroenterol, 46(5): 603-11

11 Quach DT, Tran MK (2007) Reflux esophagitis in Vietnamese patients with dyspepsia symptoms: prevalence, spectrum and symptoms J Gastroenterol Hepatol, 22: A138

Trang 8

12 Rosaida MS, Goh KL (2004) Gastro-oesophageal reflux disease,

reflux oesophagitis and non-erosive reflux disease in a

multiracial Asian population: a prospective, endoscopy based

study Eur J Gastroenterol Hepatol, 16(5): 495-501

13 Tack J, Talley NJ (2010) Gastroduodenal disorders Am J Gastroenterol, 105(4): 757-63

14 Vakil N et al (2006) The Montreal definition and classification of gastroesophageal reflux disease: a global evidence-based consensus Am J Gastroenterol, 101(8): 1900-20

Ngày đăng: 20/01/2020, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w