1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp trước ngoài từ thực tiễn thành phố hà nội

105 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những chínhsách khuyến khích được nhiều nhà đầu tư quan tâm đến đó là ưu đãi về thuế, đặc biệt là ưu đãi thuế thuế thu nhập doanh nghiệp.Qua thực tiễn thi hành các chính sách l

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN

Hà Nội, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sựhướng dẫn khoa học của PTS Nguyễn Thị Thương Huyền Các số liệu, những kết luậnnghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toànchịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Nguyễn Vinh Hạnh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi thuế thu nhập doanhnghiệp 81.2 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài18

1.3 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo phápluật của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23

Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN TP HÀ NỘI 28

2.1 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệpđối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 282.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạtđộng

đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hà Nội 412.3 Đánh giá quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài qua thực tiễn thành phố Hà Nội 56

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

ƯU ĐÃI VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

NGOÀI 64

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi thuế thunhập doang nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 643.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi thuế thunhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài………66

3.3 Một số giải pháp đảm bảo thực hiện các quy định ưu đãi thuế thu nhập doanhnghiệp

đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn thành phố Hà Nội 71

KẾT LUẬN 76

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

Trong từng giai đoạn phát triển, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã góp phầntạo môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng, phù hợp với thông lệquốc tế nhằm nâng cao hiệu quả, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoàinước, phát huy tốt vai trò định hướng thu hút đầu tư, góp phần quan trọng chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển sản xuấtkinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở vững chắc cho nền kinh tế pháttriển bền vững Sau nhiều năm thực hiện, bên cạnh cải cách các chính sách ưu đãi thuếthu nhập doanh nghiệp, việc Quốc hội Việt Nam nhiều lần điều chỉnh sắc thuế này đãgiúp môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn so với cácnước trong khu vực và trên thế giới

Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số09/2003/QH11 là một trong những văn bản luật đầu tiên thiết lập chế độ đối xử bìnhđẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa đầu tư nướcngoài và đầu tư trong nước, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý đáp ứng điều kiện gia nhập

Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), tạo bước tiến mới về cải cách hành chính tronglĩnh vực thuế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng,thuận lợi và hấp dẫn hơn Ngày 13/6/2008 Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhậpdoanh nghiệp số 14/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thực hiện từ 01/01/2009trong đó các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế suất phổ thông được thống nhất

áp dụng cho cả đầu tư trong nước và FDI; quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanhnghiệp được đơn giản hơn và minh bạch hơn

Trang 6

Những quy định về ưu đãi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đã có nhữngtác động tích cực cả về mặt kinh tế, về thu ngân sách nhà nước, về thúc đẩy đổi mới vàsắp xếp lại doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình thi hành Luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập Ngày 19/6/2013, Luật số 32/2013/sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày01/01/2014 đã phần nào tháo gỡ được những khó khăn trong thực tiễn Tuy nhiên, luậtthuế thu nhập doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành về ưu đãi thuếthu nhập doanh nghiệp vẫn chưa thực sự đáp ứng được sự kỳ vọng của giới doanhnhân.

Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học và kinh tế lớn của cả nước Với

vị trí đặc biệt quan trọng này, việc thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trênđịa bàn là rất cần thiết Do vậy, để doanh nghiệp yên tâm, ổn định sản xuất, kinhdoanh, Nhà nước hơn lúc nào hết cần đặc biệt quan tâm đến các chính sách ưu đãi vềthuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn

Hà Nội

Mặt khác, kể từ sau năm 2012 khi giai đoạn quá độ điều chỉnh chính sách theoquy tắc của WTO được kết thúc, các ưu đãi đầu tư không còn sự khác biệt giữa nhàđầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài nhưng sự phối kết hợp giữa chính sáchđầu tư và chính sách thuế vẫn rất cần thiết Do đó để tận dụng tốt các cơ hội, việc thuhút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào những lĩnh vực, nhữngvùng cần khuyến khích của thủ đô là một vấn đề quan trọng Một trong những chínhsách khuyến khích được nhiều nhà đầu tư quan tâm đến đó là ưu đãi về thuế, đặc biệt

là ưu đãi thuế thuế thu nhập doanh nghiệp.Qua thực tiễn thi hành các chính sách liênquan đến ưu đãi đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nộicho thấy bên cạnh những ưu điểm thì vẫn còn những hạn chế nhất định Có nhiềunguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như về thể chế, chính sách; về nguồn lực thực thicác chính sách ưu đãi

Trên phương diện khoa học pháp lý cũng đã có một số công trình khoa họcnghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên, những công trình này phần lớn tiếp cận ở góc

độ chung trên bình diện quốc gia Những nghiên cứu về ưu đãi thuế thu nhập doanh

Trang 7

nghiệp nói chung, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếpnước ngoài từ thực tiễn thành phố Hà Nội nói riêng vẫn còn rất hạn chế.

Trang 8

Từ những luận giải trên, tác giả đã chọn đề tài “Ưu đãi về thuế thu nhập

doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp trước ngoài từ thực tiễn thành phố Hà Nội” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật tại Học viên Khoa học Xã

hội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về thuế và thuế thu nhập doanhnghiệp ở Việt Nam khá đa dạng Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu chuyên biệt

về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung, về pháp luật ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội nói riêngcòn khiêm tốn

Xung quanh vấn đề này có các công trình khoa học đáng chú ý sau:

“Chính sách ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam” (2007) của tác

giả Cao Thu Thủy là một đề tài nghiên cứu khá đầy đủ các vấn đề pháp lý cũng nhưthực trạng pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời, đề tàicũng đưa ra các giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với tình hình thực tiễn của ViệtNam

“Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và giải pháp chống chuyển giá ở Việt Nam” (2010) của tác giả Lê Văn Hải Công trình này đã nghiên cứu cơ bản quy định

pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Qua đó chỉ ra những hạn chế trong quy địnhpháp luật dẫn đến tình trạng chuyển giá ở các doanh nghiệp Đồng thời tác giả cũng đãđưa ra một số giải pháp nhằm chống tình trạng chuyển giá này

“Pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng cà giải pháp” của tác giả Đinh Hải Yến đã trình bày cơ bản các vấn đề lý luận và thực trạng

áp dụng định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập ở Việt Nam theo luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp năm 2008

“Pháp luật về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam” (2012) của tác

giả Lưu Thị Tuyết đã đề cập một cách căn bản các quy định pháp luật Việt Nam về ưuđãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu điểm, hạn chế Từ đó tác giả đề ra một số giảipháp hoàn thiện sắc thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 9

“Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương” (2015) của tác giả Vũ Thị Thùy Linh đã phân tích

được

Trang 10

quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp,

đề ra các kiến nghị và giải pháp trên địa bàn thành phố Hải Dương

“Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế”,

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Dương Ngọc Quang đã nghiên cứu thấu đáo về hoànthiện thuế thu nhập doanh nghiệp gắn liền với tái cấu trúc nền kinh tế

“Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp Học viện, Lý Phương Duyên (Chủ nhiệm), Học viện Tài chính, Hà Nội,năm 2014

Một số giáo trình thuế Việt Nam dành cho hệ đào tạo Cử nhân Luật; Cử nhânKinh tế của một số cơ sở đào tạo đại học Việt Nam cũng giới thiệu mang tính tổngquan về thuế thu nhập nói chung, thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng

Cùng với những ấn phẩm khoa học được đề cập trên đây, ở từng khía cạnh khácnhau của thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cũng đượcnghiên cứu và đăng tải trên các công trình khoa học chuyên ngành luật, chuyên ngànhkinh tế, kinh tế đối ngoại

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu đã đề cập cho thấy, các công trình nghiêncứu của các tác giả đã rất thành công trong việc nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn

đề lý luận và pháp luật cơ bản về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi thuế thunhập doanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Kết quả của cáccông trình nghiên cứu này đóng góp rất to lớn trong việc xây dựng, phát triển và hoànthiện các quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Tuy nhiên, các công trình khoa học trên đây vẫn thiếu các nghiên cứu cụ thểnhằm tổng kết, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện các quyđịnh về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài trên địa bàn Hà Nội

Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu có hệ thống và toàn diện ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn thành phố

Hà Nội vẫn rất cần thiết trong lĩnh vực khoa học pháp lý có ý nghĩa lý luận và thực tiễnrất lớn trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Nhiệm vụ

Luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

- Phân tích làm rõ quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi

về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thựctiễn thành phố Hà Nội;

- Phân tích thực trạng thực thi pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệpđối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội;

- Đánh giá, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế về quy định và thực trạng pháp luật

về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từthực tiễn thành phố Hà Nội;

- Đề ra các kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các vấn đề về ưuđãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư nước ngoài

Phạm vi nghiên cứu: giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn về ưu đãi thuếthu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn thànhphố Hà Nội từ năm 2014 đến 2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Về cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận củaChủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm,đường

Trang 13

lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về ưu đãi thuế cho các hoạt động đầu tư trực tiếpnước ngoài.

Về phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu như đã đềcập ở trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương phápphân tích pháp lý; phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp diễndịch, quy nạp Trong đó, các phương pháp được sử dụng cụ thể như sau:

Phương pháp phân tích pháp lý: phương pháp này sẽ áp để phân tích, luận giải

hệ thống hóa các qui định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi vềthuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằmcung cấp một cái nhìn tổng thể và toàn diện về các quy định pháp luật liên quan đếnvấn đề nghiên cứu của luận văn

Phương pháp so sánh: Phương pháp này sẽ được sử dụng nhằm làm rõ nhữngđiểm giống và khác nhau giữa các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanhnghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong pháp luật Việt Nam trướcđây và hiện nay

Phương pháp thống kê: phương pháp này sử dụng để thống kê về các ưu đãithuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địabàn Hà Nội từ năm 2008 đến nay

Phương pháp diễn dịch quy nạp: phương pháp này được sử dụng để phân tích cácquy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thực tiễn thực hiện các quyđịnh này từ đó có sự tổng hợp nội dung nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn sẽ có một số đóng góp mới như sau:

Luận văn đã làm rõ những vấn đề cơ bản về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp;những vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài như khái niệm, đặc điểm,vai trò, ý nghĩa của thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệpđối với các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài;

Luận văn đã đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc thực tiễn thi hành pháp luật về

ưu đãi

thuế thu nhập doanh đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn thành phố

Hà Nội;

Trang 14

chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc thi hành pháp luật từ đó tìm ra và phân tích các nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó.

Luận văn đã chỉ ra được phương hướng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiệnbảo đảm thực hiện các quy định pháp luật đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoàitrên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi thuế thunhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật về ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệpđối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi về thuế thunhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp 1

Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ: "Để duy trì quyền lực côngcộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân cùa Nhà nước,

đó là thuế má 2"

Khái niệm về thuế sau này ngày càng đườc bổ sung và hoàn thiện hơn Trongcuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh, Chrisopher Pass và Bryan Lowes chorằng: "Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhậnđườc của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trục thu), trên việc chi tiêu về hàng hoa

và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản"

Nhìn chung, thuế được định nghĩa là một khoản thu của Chính phủ không vìmột lời ích cụ thể nào và không đườc áp dụng dưới dạng tiền phạt (ví dụ như phạt vìkhông tuân thủ luật), ngoại trừ trường hờp phạm pháp về thuế Định nghĩa cùa Tổchức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về thuế là "khoản thanh toán bắt buộc choChính phủ mà không được đền bù" Không được đền bù ở đây có nghĩa là lợi íchngười nộp thuế được Chính phủ cung cấp thường không tỷ lệ với khoản thuế đóng góp

Thuế thu nhập doanh nghiệp dùng để chỉ những sắc thuế lấy thu nhập trong hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp làm đối tượng tính thuế Trong hệ thống thuế

ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế áp dụng có tính phổ biến và rất được coi trọng,đặc biệt là ở các

nước có nền kinh tế thị trường phát triển

1 Học viện Tài chính, Dương Ngọc Quang, Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2015.

Trang 16

Theo giáo trình Thuế của Trường đại học Kinh tế TP HCM: thuế thu nhậpdoanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã trừ các chi phí

liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Theo giáo trình Thuế của Học viện Tài chính: Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế

tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp không phải toàn bộ thunhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhậpdoanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Vìviệc đánh thuế vào loại thu nhập nào, đánh cao hay thấp vào từng loại thu nhập là tuỳthuộc vào quan điểm của mỗi Nhà nước về điều tiết thu nhập qua thuế thu nhập, phụthuộc vào nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, khả năng quản lý thuế, chi phí quản lý thuếcũng như mục tiêu của thuế thu nhập phải đạt được để góp phần thực hiện các chínhsách về kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định

Sự ra đời của thuế thu nhập nói chung, thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêngxuất phát từ những lý do khác nhau Một cách tổng quan, sự ra đời này xuất phát từ các

lý do căn bản sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập đảm

bảo công bằng xã hội

Thứ hai, sự ra đời của thuế thu nhập còn bắt nguồn từ nhu cầu tài chính của nhà

nước, nhà nước nào cũng cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, cùng với

xu thế phát triển kinh tế xã hội, khả năng mang lại thu nhập cho mỗi người ngày càngcao, nhà nước tìm thấy khả năng huy động nguồn tài chính to lớn cho mình thông quathuế thu nhập

Thứ ba, thuế thu nhập là công cụ để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động

kinh tế -xã hội.Trong hệ thống luật thực định về thuế ở các nước, thuế thu nhập đượcphân chia thành hai loại là thuế thu nhập công ty (thuế thu nhập doanh nghiệp) và thuếthu nhập cá nhân.Việc phân chia thuế thu nhập thành hai loại thuế nêu trên là căn cứvào đối tượng nộp thuế thu nhập.Thuế thu nhập công ty (thuế thu nhập doanh nghiệp )

là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cơ sở kinh doanh trong kỳ tính thuế Tuy

Trang 17

nhiên, luật các nước không có sự đồng nhất trong việc xác định phạm vi đối tượngnộp thuế.

Trang 18

Trong khi đó pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam lại quy định đốitượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức, cá nhân kinh doanh có thu nhập.Như vậy, ở Việt Nam cá nhân kinh doanh, hộ gia đình có thu nhập từ kinh doanh cũng

là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp3

1.1.2 Khái niệm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Một trong những mục tiêu cơ bản mà hệ thống chính sách thuế của các nước bắtbuộc phải hướng tới đó là đảm bảo tính cạnh tranh của hệ thống thuế trong nền kinh tếtoàn cầu Cạnh tranh về thuế là một quá trình mà ở đó, các nước cố gắng để thu hút vốncũng như lợi nhuận chịu thuế bằng cách giảm việc đánh thuế vào vốn Mặc dù các yếu

tố quyết định đến đầu tư của nước ngoài bao gồm rất nhiều yếu tố như độ lớn của thịtrường, trình độ lao động, mức thu nhập, sự ổn định về kinh tế vĩ mô hay chi phí tàichính…nhưng cũng không phủ nhận rằng, ưu đãi thuế cũng có một mức độ ảnh hưởngnhất định đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư … Theo Tax Incentives forInvestment- A global Perspective: experiences in MENA and non- MENA countries -OECD, 2007 thì thuế suất và các ưu đãi thuế chiếm 2/3 yếu tố liên quan đến quyết địnhcủa nhà đầu tư Như vậy, Ưu đãi thuế là biện pháp được sử dụng một cách phổ biến ởcác quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các quốc gia có nền kinh tếchuyển đổi Mục tiêu cơ bản của việc áp dụng các hình thức ưu đãi thuế là nhằm thuhút vốn đầu tư nước ngoài; ưu tiên phát triển một số ngành, vùng, lĩnh vực; khuyếnkhích xuất khẩu; hoặc có thể nhằm giải quyết những khó khăn tạm thời, cấp báchtrước mắt về vốn cho doanh nghiệp… 4

Thuế không chỉ gắn liền mà chúng còn có một ảnh hưởng rất lớn đối với thunhập cũng như những chính sách, chiến lược phát triển riêng của các doanh nghiệptrong từng giai đoạn khác nhau Ưu đãi thuế là một trong những yếu tố không thể thiếutrong tất cả các sắc thuế Vì chính sách ưu đãi thuế không những thể hiện sự quan tâmcủa nhà nước đối với các đối tượng nộp thuế khi họ gặp các rủi ro khách quan dẫn đếntổn thất tài sản

hoặc thu nhập, thể hiện sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế mà

3 Học viện Tài chính (2010), Giáo trình thuế thu nhập, Nhà xuất bản Tài chính., trang 195.

Trang 19

4 Lý Phương Duyên (Chủ nhiệm) (2014), Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện, Học viện Tài chính, Hà Nội, trang 4,5.

Trang 20

quan trọng hơn nữa chính sách ưu đãi thuế là công cụ để nhà nước quản lý, điều tiết vĩ

mô nền kinh tế -xã hội Gần đây, do tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranhgiữa các quốc gia ngày càng gay gắt hơn nên nhiều nước trên thế giới và trong khu vực

đã sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt là nội dung ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp, như là một công cụ quan trọng để tăng sức hấp dẫn thu hút đầu tư Hiệnnay, các quốc gia thường sử dụng chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế thu nhập doanhnghiệp để thực hiện mục tiêu điều tiết nền kinh tế xã hội của mình Thông thường cácnước áp dụng chế độ ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các lĩnh vựcquan trọng, các ngành mũi nhọn hoặc có lợi thế phát triển và các ngành tạo ra sảnphẩm có sức cạnh tranh của từng nước

Tuy nhiên, trong chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có sựkhác biệt lớn giữa các nước, điều này được lý giải bởi lý do:

- Về mặt chủ quan, chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phụthuộc vào chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốcgia Mỗi quốc gia theo đuổi một mục tiêu kinh tế cho riêng mình nhằm đưa đất nướcphát triển nhanh, vững chắc và sớm khắc phục được những khiếm khuyết nội tại trongchính nền kinh tế của quốc gia đó

- Về mặt khách quan, do trình độ phát triển kinh tế cũng như các điều kiện tựnhiên, lịch sử truyền thống văn hoá, xã hội của từng nước có sự khác nhau Nên chínhphủ của các quốc gia phải có những quy định về ưu đãi, miễn giảm thuế thu nhậpdoanh nghiệp để có thể thích ứng được mong muốn chủ quan của mình Theo báo cáocủa Hội nghị về thương mại và phát triển thuộc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc(UNCTAD) 1996, “ưu đãi đầu tư là những lợi thế kinh tế có thể lượng hóa được màchính phủ của các quốc gia dành cho những doanh nghiệp hoặc những nhóm doanhnghiệp nhất định nhằm khuyến khích họ xử sự theo một cách thức nhất định”

Theo UNCTAD, ưu đãi đầu tư được chia làm 3 loại: ưu đãi về thuế, ưu đãi vềtài chính và các ưu đãi khác Trong đó, ưu đãi về thuế được hiểu là những quy định vềbiện pháp nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư, phổ biến là thuế nhậpkhẩu nguyên vật liệu đầu vào, máy móc thiết bị và các tài sản cố định khác liên quanđến quá trình sản xuất; thuế xuất khẩu (ưu đãi thuế đối với các khoản thu nhập từxuất khẩu,

Trang 21

hoàn thuế, khấu trừ thuế đối với thuế nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu); thuế thu nhập doanh nghiệp…

Ưu đãi tài chính là các quy định về biện pháp đặc biệt do nhà nước dành cho cácdoanh nghiệp liên quan đến quá trình huy động vốn của các doanh nghiệp này, ví dụnhư cho vay với lãi suất ưu đãi; chính phủ hoặc cơ quan của chính phủ cấp tiền, tíndụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp dưới hình thức góp cổ phần Và cuối cùng, ưuđãi khác được hiểu là nhà nước thực hiện các biện pháp nhằm tăng khả năng sinh lờicủa các dự

án đầu tư theo những cách gián tiếp

Như vậy, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp về mặt pháp lý được hiểu là nhữngquy định về những biện pháp, những lợi ích nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế thunhập doanh nghiệp cho các nhà đầu tư, khuyến khích và thu hút đầu tư mà Nhà nướcdành cho những doanh nghiệp hoặc những nhóm doanh nghiệp nhất định (ưu đãi vềthuế suất, thời gian miễn, giảm thuế ) so với những đối tượng chịu thuế khác trongcùng điều kiện nhất định5

1.1.3 Các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

* Miễn toàn bộ hoặc một phần thuế thu nhập

Ở các nước đang phát triển thời kỳ ưu đãi thuế là hình thức ưu đãi thuế cho đầu

tư phổ biến nhất Thời kỳ ưu đãi thuế cho phép được miễn toàn bộ (hoặc một phần)thuế lợi tức (và đôi khi cả giảm các loại thuế khác) trong đó ưu đãi được áp dụng trongmột số năm cụ thể

Nhìn chung, khi thực hiện hình thức ưu đãi thông qua việc miễn toàn bộ hoặcmột phần thuế thu nhập trong một thời kỳ nhất định, cần cân nhắc ba yếu tố: thời giancủa kỳ ưu đãi thuế; thời điểm bắt đầu có hiệu lực; mối liên hệ giữa các quy định về kỳ

ưu đãi thuế với các quy định của hệ thống thuế thông thường

Thời kỳ ưu đãi thuế ngắn thường có giá trị hạn chế hoặc không mấy thu hút đốivới các nhà đầu tư tiềm năng nhất, và ít khi đạt hiệu quả trong việc thu hút đầu tư hơncác dự án ngắn hạn

5 Vũ Thị Thùy Linh, Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương” (2015), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, trang 8.

Trang 22

Thời kỳ ưu đãi thuế kéo dài có thể hấp dẫn hơn nhiều nhưng lại làm tăng chi phícho nước tiếp nhận đầu tư do thất thu thuế Những phản đối khác là không thể tínhtrước một cách chính xác được dù là nhỏ nhất chi phí của kỳ ưu đãi thuế cũng như chiphí gắn với khoản đầu tư, hoặc gắn với lợi ích dự kiến khoản đầu tư sẽ tích góp chonước tiếp nhận đầu tư.

Thêm vào đó, các chi phí thường trả chậm tới cuối thời kỳ ưu đãi (để hưởnggiảm thuế tương ứng với các chi phí đó) vì vậy sự tồn tại của kỳ ưu đãi thuế thực tế cóthể là rào cản cho việc bổ sung thêm vốn đầu tư Thay vì mở rộng các cơ sở hiện hữu,các nhà đầu tư thường thành lập các công ty mới để được hưởng thêm kỳ ưu đãi thuế,

và trong một số trường hợp, các hoạt động kinh doanh được chuyển giao sang cáccông ty hữu quan để các kỳ ưu đãi thuế mới Như vậy, mặc dù rất phổ biến những có

lẽ kỳ ưu đãi thuế là kém hiệu quả nhất, và gần như là loại ưu đãi thuế kém hiệu quảnhất

* Giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số hoạt động

Có thể áp dụng giảm thuế suất thuế TNDN vĩnh viễn hoặc tạm thời cho một sốhoạt động cụ thể Hình thức này có tác dụng tốt đối với việc thu hút vốn đầu tư của cácnhà đầu tư, có ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích phát triển một số lĩnh vựcnhất định, dễ dàng hơn trong quản lý và các chi phí về số thu minh bạch hơn Tuynhiên, hình thức này có thể có những hạn chế nhất định

* Khấu trừ đầu tư và khấu trừ thuế cho đầu tư: Khấu trừ đầu tư và khấu trừ thuếcho đầu tư là hình thức bổ sung hoặc thay thế cho kỳ ưu đãi thuế mà chính phủ một sốnước áp dụng Các ưu đãi này bổ sung cho các trợ cấp chi phí khấu hao thông thường

và giúp nhà đầu tư có thể xoá bỏ số chi phí vượt trội so với chi phí đầu tư Trợ cấp đầu

tư thường làm giảm thu nhập chịu thuế trong khi chiết khấu thuế cho đầu tư lại căn cứvào số thuế phải nộp

Có thể áp dụng giảm trừ hoặc chiết khấu đầu tư cho tất cả các hình thức đầu tưvốn hoặc chỉ áp dụng giới hạn cho một số nhóm cụ thể như đầu tư vào máy móc hoặcthiết bị có công nghệ tiên tiến, hoặc đầu tư vốn vào một số hoạt động như nghiên cứu

và phát triển Đôi khi tiêu chuẩn này chỉ giới hạn cho phần vốn góp vào vốn điều lệ củadoanh nghiệp: điều này khuyến khích đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu

Trang 23

Cần phân biệt giữa trợ cấp đầu tư với cái gọi là «trợ cấp ban đầu» Hình thứcgiảm trừ ban đầu phổ biến cho phép giảm ví dụ như 40% chi phí của tài sản khấu haotrong năm đầu tiên, và 60% chi phí còn lại sẽ giảm trong một số năm tiếp theo Hìnhthức giảm trừ này không cho phép giảm 100% chi phí và vì vậy thực chất là một dạngkhấu hao nhanh.

Giảm trừ thuế cho đầu tư có thể là mức cố định hoặc tăng dần Giảm trừ thuế cốđịnh cho đầu tư là tỷ lệ cố định được hưởng trên chi phí đầu tư phát sinh từ nguồn vốn

đủ tiêu chuẩn hưởng ưu đãi (vốn mục tiêu) trong một năm Ngược lại, giảm trừ thuếtăng dần cho đầu tư là tỷ lệ cố định được hưởng từ chi phí đầu tư vượt trội đủ tiêuchuẩn hưởng ưu đãi trong năm Chi phí này về đặc điểm là tính theo căn cứ trung bình

và thường dao động (ví dụ là chi phí đầu tư trung bình của đối tượng nộp thuế trong banăm trước đó) Mục đích của giảm trừ thuế tăng dần là cải thiện việc hướng các ưu đãivào các khoản chi phí tăng dần mà nếu không có ưu đãi thì không phát sinh các chi phínày Tuy nhiên hướng áp dụng ưu đãi này không được bảo đảm do các nhà đầu tư cóthể đã dự tính tăng chi phí đầu tư vượt quá các ngưỡng trong các năm trước, đồng thờicũng mang lại lợi ích hạn chế hoặc thậm chí không có lợi cho các doanh nghiệp cómức đầu tư giảm trước khi được hưởng ưu đãi (có thể do họ mới mở rộng vốn đầu tưvới quy mô lớn xong hoặc đang gặp khó khăn do thị trường suy thoái) Tuy nhiên cóthể đây lại là thời điểm mà các nhà làm chính sách muốn bắt đầu các ưu đãi đầu tư

Các khoản khấu trừ thuế chung và theo mục tiêu áp dụng đối với các dự án đủđiều kiện theo một tỷ lệ nhất định sẽ trực tiếp làm giảm thiểu nghĩa vụ thuế doanhnghiệp mà các nhà đầu tư phải nộp nếu như không có cơ chế này Điểm khác biệt giữa

cơ chế này và cơ chế giảm thuế là việc áp dụng khấu trừ thuế đầu tư không phụ thuộcvào mức thuế suất thuế thu nhập trong luật là bao nhiêu Ngoài ra, khác với cơ chếgiảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị của cơ chế khấu trừ thuế đầu tư được xem như

là một khoản trợ cấp trả trước cho các nhà đầu tư đối với chi phí huy động nguồn vốn

và chỉ áp dụng đối với các hoạt động đầu tư mới

Cơ chế này cho phép nhà đầu tư được hưởng mức giảm trừ về thuế suất thực tếcao hơn và chi phí áp dụng cũng thấp hơn nếu như tính đến sự tác động của thuế đốivới chi phí cận biên và doanh thu cận biên Cơ chế ưu đãi thông qua giảm mức thuếsuất

Trang 24

được áp dụng đối với cả những khoản vốn mới cũng như những khoản vốn đã đượcđầu tư trước đó.

Lý thuyết về ưu đãi đầu tư cũng đã chỉ ra rằng những khoản ưu đãi đầu tư cótính chất trả trước như cơ chế khấu trừ thuế đối với hoạt động đầu tư, cơ chế khấu haonhanh áp dụng đối với một số loại hình đầu tư sẽ đem đến “tác động lớn nhất” Bêncạnh đó, những lập luận chính ủng hộ cho cơ chế có tính chất trợ cấp này, khác với cơchế giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, chính là những khoản trợ cấp này chỉ

áp dụng đối với những khoản đầu tư mới Vì vậy, khi áp dụng cơ chế này, mức thuếsuất áp dụng xét theo giá trị thực tế tuy lơn hơn song sự giảm sút lớn về nguồn thu lạithấp hơn

* Giảm lỗ

Bên cạnh mức thuế suất áp dụng theo quy định, một nội dung khác được nhiềunhà đầu tư quan tâm khi xem xét đến hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp là việc xửlý

các khoản lỗ Các doanh nghiệp thực hiện các dự án lớn vào một quốc gia có thể không

có lãi trong một số năm đầu Các khoản đầu tư lớn vào ngành sản xuất chỉ có thể đemlại lợi nhuận sau khoảng 5 năm hay hơn kể từ khi tiến hành đầu tư, song đây lại nhànhững khoản đầu tư mà nhiều quốc gia mong muốn thu hút Đối với những doanhnghiệp đầu tư vào các ngành này, việc cho phép chuyển những khoản lỗ ở những nămđầu sang bù trừ vào nghĩa vụ thuế của những năm tiếp theo có một vai trò rất quantrọng

* Khấu trừ nghĩa vụ thuế ở nước ngoài

Trong khuôn khổ các quy định về hợp nhất và về khấu trừ nghĩa vụ thuế ở nướcngoài, các quốc gia nơi mà nhà đầu tư có trụ sở chính sẽ đánh thuế vào phần thu nhập ởnước ngoài nếu như lợi nhuận được chuyển về nước Song các quốc gia này đều chophép khấu trừ phần nghĩa vụ thuế đã đóng ở nước ngoài để tránh việc đánh thuế trùnglên thu nhập

Thuế khấu trừ tại nguồn được xem là những sắc thuế đánh vào thu nhập, mặc dùsắc thuế này đánh dựa trên tổng thu nhập và vì thế số thuế đã nộp được phép khấu trừ

Số thuế đóng ở nước ngoài tối đa có thể khấu trừ khi xác định nghĩa vụ thuế trong

Trang 25

nước thường được giới hạn là không vượt quá phần thuế phải đóng trong nước đối với

số thu nhập gộp này

Trang 26

* Ưu đãi đối với các khu kinh tế đặc biệt

Các khu kinh tế “đặc biệt” được thành lập với mục tiêu chủ yếu là để thu hútvốn đầu tư, thực hiện theo một số hình thức nhất định, và phục vụ cho một số mục tiêu

cụ thể nào đó Các khu này thường được gọi với nhiều tên khác nhau, trong đó nhữngtên thường gặp là khu phi thuế quan, khu thương mại nước ngoài, khu thương mại tự

do, cảng tự do, khu chế xuất (EPZ), khu thương mại quốc tế, khu kinh tế tự do và đặckhu kinh tế

Giữa các khu phi thuế quan và các đặc khu kinh tế có những điểm khác biệt rất

cơ bản Đặc điểm đặc trưng nhất của các loại hình khu phi thuế quan là hàng hoá xuấtnhập khẩu từ các khu này được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Trong khi đó,đặc trưng của các đặc khu kinh tế là các khu này áp dụng các cơ chế miễn hay giảmthuế đối với các sắc thuế khác và việc miễn giảm này thường không được áp dụng bênngoài khu Tuy nhiên, trên thực tế việc các doanh nghiệp đóng trên địa bàn các đặckhu kinh tế đồng thời được miễn cả thuế nội địa và thuế hải quan cũng không phải làđiều lạ Và thông thường việc cho miễn thuế xuất nhập khẩu thường được áp dụngtrong các đặc khu kinh tế Vì thế, có một số loại hình khu kinh tế rất khó để phân loại

là chúng thuộc loại hình nào trong số hai loại hình khu này Hơn nữa, trong một sốtrường hợp, khu phi thuế quan có thể đóng trong đặc khu kinh tế

1.1.4 Vai trò của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cũng góp phần thực hiện cácchức năng của thuế Vai trò của các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanhnghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau đây6:

1.1.4.1 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư và thay đổi cơ cấu kinh tế

Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu củangân sách nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinhdoanh phát triển Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thựchiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung

6 Vũ Thị Thùy Linh, Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương” (2015), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, trang 10-12.

Trang 27

ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sảnxuất, kinh doanh của mình Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước,

mà nhà nước có thể dùng các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động hoạt động đầu tư ở một số ngành, vùng đểkhuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn.Thông qua ưu đãi về thuế suất và miễn giảm thuế cho các dự án đầu tư sẽ góp phần thuhút vốn đầu tư nước ngoài, tạo động lực phát triển kinh tế, khuyến khích người dân bỏvốn thành lập doanh nghiệp mới, đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộngquy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái Đồng thời, hệ thống phápluật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cũng hướng các tổ chức, cá nhân đầu tư vàolĩnh vực ngành nghề, vùng kinh tế theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củaNhà nước Với các nước đang phát triển, cần phải xây dựng hệ thống pháp luật về ưuđãi thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp để thu hút được vốn đầu tư nước ngoài mà vẫnkhuyến khích được đầu tư trong nước

1.1.4.2 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò góp phần điều tiết nền kinh tế

Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tức là hình thức cho người nộp thuế đượchưởng những điều kiện thuận lợi khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Thông qua thựchiện các quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước đã điềutiết nền kinh tế một cách linh hoạt, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của nền kinh tế đểđạt được những mục tiêu đã đặt ra Tác dụng kích thích của các quy định pháp luật về

ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được xem như một hình thức Nhà nước cấp phátvốn trực tiếp cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư Tuỳ thuộc vào yêu cầuquản lý, Nhà nước có thể tăng hoặc giảm quy mô và mức độ của các ưu đãi thuế đểkích thích tăng tích luỹ và tích tụ vốn trong các doanh nghiệp và dân cư Các quy địnhpháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp rất đa dạng: quy định mức thu nhậptối thiểu không phải nộp thuế; cho phép loại trừ một số khoản chi phí trong thu nhậpchịu thuế; miễn hoặc giảm một phần hay toàn bộ số thuế phải nộp; cho hoãn nộp thuế;cấp tín dụng thuế để tái đầu tư Tuỳ theo phạm vi sử dụng, có thể phân chia các quyđịnh pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp thành hai nhóm khác nhau: ưu đãithuế mang tính chất ngành, vùng lãnh thổvà ưu đãi thuế mang tính chất cá biệt Việc

Trang 28

quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mang tính chất cá biệt được sử dụng nhằmgiải quyết nhiệm

Trang 29

vụ điều chỉnh trong phạm vi hẹp, gắn liền với lợi ích của từng chủ thể kinh doanh Tuy

có những ưu điểm nhất định, nhưng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mang tính cábiệt cũng tạo ra sự không công bằng trong sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh

tế, gây hậu quả tâm lý xấu đối với người nộp thuế và tạo ra những tiền đề trốn thuế,làm mất tính trung lập của thuế Trong giai đoạn hội nhập, các quy định pháp luật về

ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có thể bị xem là một khoản trợ cấp Tuỳ theo cáclĩnh vực được ưu đãi, đối tượng được ưu đãi và cách ưu đãi mà các ưu đãi thuế này cóthể bị xem là các khoản trợ cấp bị cấm hoặc các khoản trợ cấp đặc thù sẽ bị áp dụngbiện pháp đối kháng theo Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) Tuynhiên, nếu áp dụng biện pháp thông qua hình thức dùng thuế suất áp dụng chung có thể

sẽ tránh được những phiền phức trong thực thi các cam kết

1.1.4.3 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệchlớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trườngcàng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xuhướng gia tăng Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lựccủacả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếukhông chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng vàtạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và gây ra bất ổn xãhội Chính vì vậy, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, củacải của xã hội Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếpvào quá trình nàyvà đặc biệt các quy định pháp luật vềưu đãi thuế ngân sách nhà nướccũng góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

1.2 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1.1 Khái niệm

Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiếnthành hiện thực trong tương lai Tuy nhiên, tương lai chứa đầy những yếu tố bất định

mà ta

Trang 30

khó biết trước được Vì vậy, khi đề cập đến khía cạnh rủi ro, bất chắc trong việc đầu tưthì các nhà kinh tế quan niệm rằng: đầu tư là đánh bạc với tương lai Còn khi đề cậpđến yếu tố thời gian trong đầu tư thì các nhà kinh tế lại quan niệm rằng: Đầu tư là đểdành tiêu dùng hiện tại và kỳ vọng một tiêu dùng lớn hơn trong tương lai.

Vì vậy, một cách tổng quát ta có thể đưa ra khái niệm về lĩnh vực đầu tư như

sau: Đầu tư là một hình thức bỏ vốn vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm thu được những lợi ích kỳ vọng trong tương lai.

Theo quy định của Luật Đầu Tư 2014, không còn phân biệt những hình thứcđầu tư trực tiếp quốc tế và đầu tư gián tiếp Luật đầu tư 2014 sử dụng khái niệm “Đầu

tư kinh doanh” Theo đó, đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thựchiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặcthực hiện dự án đầu tư

Hiểu một cách chung nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc những tổ chức, cánhân nước ngoài, nhà đầu tư chi tiêu quốc tế trực tiếp đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tàisản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư chi tiêu theo pháp luật của luật đầu tư chitiêu nước ngoài tại Việt Nam

1.2.1.2 Đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

Mục tiêu của đầu tư là lợi ích Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trênhai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế- xã hội (biểu hiệnqua chỉ tiêu kinh tế - xã hội) Ở những vị trí khác nhau, người ta cũng nhìn nhận vấn đềlợi ích không giống nhau Với các doanh nghiêp, thường thiên về lợi ích kinh tế, tối đahoá lợi nhuận Còn đối với nhà nước lại muốn lợi ích kinh tế phải gắn liền với lợi ích

xã hội, trong nhiều trường hợp lợi ích xã hội được đặt lên hàng đầu

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải mang các đặc điểm chung trên đây.Đồng thời hoạt động này còn có các đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đầu tư trực tiếp gắn liền với việc dịch chuyển vốn đầu tư tiêu xài,

nghĩa là tiền và các loại tài sản khác giữa những nước nhà, hệ quả là làm tăng lượngtiền và tài sản của nền kinh tế tài chính nước tiếp nhận đầu tư chi tiêu và làm giảmlượng tiền và tài sản nước đi đầu tư

Trang 31

Thứ hai, đầu tư trực tiếp được tiến hành trải qua việc bỏ vốn thành lập các

doanh nghiệp mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), giao kèo hợp tác mua bán, mualại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiếnhành những hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp

Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ chiếm hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc

cùng sở hữu vốn đầu tư với phần trăm nhất định đủ mức tham gia quản trị trực tiếphoạt động của doanh nghiệp

Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị

trường trên mô hình thế giới, ít bị liên can của các mối quan hệ chính trị giữa nhữngnước, những chính phủ và mục tiêu căn bản luôn là đạt được hiệu quả lý tưởng

Thứ năm, nhà đầu tư chi tiêu trực tiếp điều hành và kiểm soát quá trình hoạt

động dòng vốn đầu tư

Thứ sáu, đầu tư trực tiếp bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong

nước và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn dịch rời vào mộtnước và dòng vốn dịch rời ra khỏi nền kinh tế của nước đó

Thứ bảy, đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là do những công ty quốc gia triển

khai

1.2.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Luật đầu tư 2014 đã có những bổ sung thay đổi đang kể về hình thức đầu tư,theo đó, Luật Đầu tư 2014 bao gồm các hình thức đầu tư như sau:

Một là, đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà

đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng

ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ và các điều kiệntheo quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên

Theo đó, về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốnđiều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ một số trường hợp hạn chế theo quyđịnh của pháp luật về chứng khoán, về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhànước và các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên

Hai là, đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức

kinh tế: Hình thức đầu tư này được hiểu là nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốngóp vào tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư

Trang 32

Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốngóp vào tổ chức kinh tế thực hiện theo quy định về: Hình thức và điều kiện góp vốn,mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế và Thủ tục đầu tư theo hình thức gópvốn, mua cổ phần, phần vốn góp.

Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hìnhthức sau đây: Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty

cổ phần; Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; Góp vốn vào tổchức kinh tế khác

Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo cáchình thức sau đây: Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; Muaphần vốn góp của các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viêncủa công ty trách nhiệm hữu hạn; Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trongcông ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh; Mua phầnvốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác;

Ba là, đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP:

Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP) là hợp đồngđược ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án

để thực hiện dự án đầu tư

Bốn là, đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC: Đây là hình thức đầu tư theo Hợp

đồng hợp tác kinh doanh giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợinhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế Các bên tham gia hợpđồng BCC thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng BCC Chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của ban điều phối do các bên thỏa thuận Hình thức đầu tư này đang ngàycàng được nhà đầu tư trong và ngoài nước lựa chọn khi thực hiện các hoạt động đầu tưbởi chính ưu điểm như: do không thành lập pháp nhân nên nhà đầu tư thường chủđộng, linh hoạt hơn và ít phụ thuộc vào đối tác khi quyết định các vấn đề của dự ánđầu tư Tuy nhiên hình thức này cũng có một số nhược điểm: do không thành lập phápnhân nên không có con dấu riêng… và các nhà đầu tư sẽ phải thỏa thuận lựa chọn mộttrong con dấu của các nhà đầu tư để phục vụ cho các hoạt động của dự án đầu tư điềunày có thể sẽ gây rắc rối và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư

Trang 33

1.2.2 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức di chuyển vốn trên thị trường tàichính quốc tế, trong đó bên chủ sở hữu vốn (nhà đầu tư nước ngoài, mà thường là cáccông ty đa quốc gia) tạo ra các doanh nghiệp, các chi nhánh ở nước khác; để đầu tư mởrộng thị trường, thiết lập quyền sở hữu từng phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư và giữquyền quản lý trực tiếp, ra các quyết định kinh doanh, cùng với các đối tác nước sở tạichịu rủi

ro và hưởng lợi nhuận

Theo pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nướcngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinhdoanh tại Việt Nam Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thành lập dưới cáchình thức như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợpdoanh

Nếu phân loại theo mức độ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong doanhnghiệp thì có doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.Doanh nghiệp liên doanh được hình thành trên cở sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệpđịnh ký giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài Doanh nghiệp liên doanhđược thành lập dưới nhiều loại hình khác nhau như: công ty hợp danh, công ty cổ phần

có vốn góp của một hay nhiều bên nước ngoài với một hay nhiều bên Việt Nam Doanhnghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam

Như trên đã phân tích về khái niệm, các hình thức và vai trò của ưu đãi thuế thunhập doanh nghiệp thì ưu đãi thuế nhu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tưtrực tiếp nước ngoài cũng sẽ có những nội dung tương tự Điểm khác nhau căn bản ởđây là đối tượng áp dụng bị giới hạn hơn so với ữu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nóichung Vậy ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài được hiểu là những quy định về những biện pháp, những lợi ích nhằm giảm bớtgánh nặng về thuế thu nhập doanh nghiệp cho các nhà đầu tư, khuyến khích và thu hútđầu tư mà Nhà nước dành cho những doanh doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 34

nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài so vớinhững đối tượng chịu thuế khác trong cùng điều kiện nhất định

Trang 35

1.3 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1 Malaysia 7

Trong các nước ASEAN, Malaysia là một trong những ví dụ điển hình về thànhcông trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để thực hiện công nghiệp hóa Từmột nước nông nghiệp lạc hậu, đa sắc tộc, tích luỹ nội địa thấp, Malaysia luôn coitrọng nguồn vốn FDI đối với sự phát triển nền kinh tế đất nước vì coi đây là yếu tốthen chốt để thực thiện công nghiệp hóa Từ quan điểm trên, quốc gia này luôn tích cựccải thiện môi trường đầu tư của mình để thu hút đầu tư nước ngoài Nhờ đó, dòng FDI

đổ vào Malaysia ngày càng tăng và đã đóng góp to lớn, tạo ra sự tăng trưởng nhanhcủa nền kinh tế của nước này trong nhiều năm qua Tại Malaysia, hệ thống pháp luật

về ưu đãi thuế đối với hoạt động đầu tư được quy định tại Luật Khuyến khích đầu tưLuật ThuếThu nhập, Luật Hải quan, Luật Thuế hàng hoá, Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệtnăm , Luật Các khu tự do Các ưu đãi này được cấp cho doanh nghiệp trên cơ sở giá trịgia tăng của hoạt động sản xuất, công nghệ áp dụng, hay mức độ liên kết công nghiệp

mà dự án đầu tư đem lại Các dự án được hưởng ưu đãi được coi là các hoạt động haysản phẩm khuyến khích đầu tư Doanh nghiệp đạt các tiêu chuẩn của doanh nghiệp đitiên phong (được xác nhận thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn) sẽ được giảm 70%thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm Theo đó, doanh nghiệp chỉ phải nộp30% số thu nhập chịu thuế bắt đầu từ ngày đi vào sản xuất (Production Day), ngày mà

số lượng sản phẩm đạt ít nhất 30% công suất Ngoài ưu đãi dành cho doanh nghiệp đitiên phong, nhà đầu tư có thể nộp đơn đăng ký được hưởng chế độ ITA (dự án đầu tưcông nghệ cao, công nghệ mới) Nếu được chấp thuận, doanh nghiệp sẽ được hưởngmức trợ cấp 60% đối với chi phí mua sắm trang thiết bị (nhà xưởng, máy móc và cáctrang thiết bị cho dự án) trong vòng 5 năm kể từ ngày bắt đầu bỏ vốn đầu tư mua sắmtrang thiết bị phục vụ sản xuất, nhưng tối đa không quá 70% thu nhập tính thuế trongnăm Nếu không muốn hưởng ITA, doanh nghiệp có thể thay thế bằng 70% thu nhậpchịu thuế kể từ khi ITA có hiệu

lực Các khoản hỗ trợ doanh nghiệp chưa hưởng có thể được chuyển sang năm tiếp theo

Trang 36

7 Đinh Hải Yến, “Pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng cà giải pháp” (2011), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, trang 22.

Trang 37

8 Học viện Tài chính, Dương Ngọc Quang, Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2015, trang 54

24

cho đến khi sử dụng hết Phần còn lại 30% thu nhập chịu thuế sẽ được áp dụng mứcthuế tương đương mức thuế áp dụng với doanh nghiệp cùng ngành Ngoài các ưu đãi

cơ bản như trên, doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất còn được hưởng một số

ưu đãi đặc thù theo ngành như: (i) Ưu đãi dành cho việc chuyển các hoạt động sản xuấtvào địa bàn ưu đãi đầu tư; (ii) Ưu đãi dành cho doanh nghiệp công nghệ cao; (iii) Ưuđãi dành cho các dự án chiến lược có tầm quan trọng quốc gia; (iv) Ưu đãi cho doanhnghiệp vừa và nhỏ; (v) Ưu đãi đối với các dự án có tính chất liên kết công nghiệp; (vi)

Ưu đãi cho công nghiệp sản xuất máy móc và thiết bị; (vi) Ưu đãi dành cho côngnghiệp chế biến vùng cọ nguyên liệu Ngoài ra, còn có một số ưu đãi khác dành cholĩnh vực sản xuất như hỗ trợ tái đầu tư, hỗ trợ mua sắm trang thiết bị để duy trì chấtlượng nguồn điện (nhằm giảm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp do sự cố mất điệngây ra) Về việc chuyển lỗ, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Malaysia chophép doanh nghiệp có số lỗ được chuyển lỗ vô thời hạn về sau nhưng không đượcchuyển lỗ về năm trước

1.3.2 Trung Quốc 8

Từ năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường, cảicách và mở cửa nền kinh tế với tốc độ nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốctrở thành một trong những quốc gia tăng trưởng nhanh nhất thế giới Có được kết quảnày là do chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đúngđắn, trong đó có chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấukinh tế Trung Quốc sử dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để kíchthích đầu tư phát triển tại một số lãnh thổ được quy hoạch thành các khu kinh tế đặcbiệt và các thành phố kinh tế mở Từ năm 2008, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệpphổ thông nộp cho ngân sách trung ương giảm từ 30% xuống còn 25%, ngoài ra phảinộp 3% nộp cho ngân sách địa phương Việc giảm thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp đã góp phần tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, số thu thuế thu nhập doanhnghiệp cũng tăng lên dẫn đến thu ngân sách tăng, tạo tiềm lực tài chính quan trọng đểnhà nước gia tăng đầu tư qua đó thực hiện chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Tại các đặc

Trang 38

9 Học viện Tài chính, Dương Ngọc Quang, Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2015, trang 54

24khu kinh tế, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 15% Tại các thành phố mở cửa,nếu vốn đầu tư trên 10 triệu USD,

Trang 39

9 Học viện Tài chính, Dương Ngọc Quang, Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2015, trang 55

25

thuế suất là 24% và những xí nghiệp trong các đặc khu kinh tế, các thành phố mở cửakhông phải nộp thuế cho ngân sách địa phương Một số xí nghiệp được hưởng các ưuđãi thuế như: các công trình sản xuất được miễn thuế 2 năm, giảm 3 năm kể từ khi cólãi; đối với các công trình hạ tầng được áp dụng thuế suất 15%, miễn 5 năm, giảm 50%trong 5 năm tiếp theo; thực hiện miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong 3 năm tiếp theo đốivới các công trình nông nghiệp; công trình có công nghệ tiên tiến được miễn thuế 2năm, giảm 3 năm tiếp theo và có thể giảm tiếp trong thời hạn 3 năm nữa; công trìnhxuất khẩu được miễn thuế 2 năm, giảm 3 năm tiếp theo

1.3.3 Hàn quốc 9

Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cánh từ đầu thập kỷ 60 Năm 1962, thực hiện kếhoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất, nền kinh tế Hàn Quốc đã duy trì tốc độtăng trưởng nhanh Đối với Hàn Quốc, sự chuyển dịch cơ cấu ngành, tạo nên chấtlượng mới của sự tăng trưởng Trong thời kỳ đầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dotập trung mọi nguồn lực để đảm bảo tốc độ của ngành công nghiệp và dịch vụ, cao hơncủa nông nghiệp từ 2-3 lần, nên đã làm cho chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theohướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ Để góp phần thúc đẩychuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, chính sách thuế của Hàn Quốc được sửa đổi, bổ sung

Từ năm 1961

-1972 thực hiện miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp để khuyến khích các ngànhcông nghiệp nặng Nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhất là lĩnh vựccông nghệ cao, chính phủ Hàn Quốc đã miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các hoạtđộng tư vấn công nghệ Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư tài sản như máy móc,thiết bị hoặc lắp đặt hệ thống thông tin về quản lý bán hàng và hệ thống bảo vệ thôngtin được giảm trừ 3% số thuế thu nhập phải nộp; doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt độngtrong lĩnh vực chế tạo, kinh doanh liên quan đến máy tính và xử lý số liệu; nghiên cứuđầu tư và phát triển, giao thông, xử lý rác thải được giảm 30% số thuế thu nhập công

ty nếu đầu tư tại địa bàn ngoài thủ đô hoặc các thành phố lớn, nếu ở khu vực thành phốthì được giảm

20% Hàn Quốc cũng có chính sách ưu đãi thuế nhằm thu hút đầu tư vào các ngành cóhàm lượng công nghệ cao: các công ty (trừ công ty kinh doanh bất động sản hoặc dịch

Trang 40

10 Học viện Tài chính, Dương Ngọc Quang, Hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2015, trang 55

25

vụ nhà ở) được khấu trừ đến 3% (5% đối với ngành có hàm lượng công nghệ cao)trong

Ngày đăng: 11/07/2019, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Học viện Tài chính (2014), Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện, Lý Phương Duyên (Chủ nhiệm), Học viện Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Namhiện nay
Tác giả: Học viện Tài chính
Năm: 2014
24. Lưu Thị Tuyết, “Pháp luật về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
25. Đinh Hải Yến, “Pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” (2011), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đinh Hải Yến, “Pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”
Năm: 2011
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986 - 1990 Khác
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 30 năm thu hút đ ầu tư nước ngoài tại Việt Nam – Tầm nhìn mới và cơ hội trong kỉ nguyên mới, tham khảo tại trang web:trungtamwto.vn Khác
3. Bộ Tài chính, Số liệu về nguồn thu thuế tại Việt Nam qua các năm 1991- 2013 Khác
4. Bộ Tài chính, Niên Giám Thống kê các năm từ 2015-2017 Khác
5. Bộ Tài chính, Tổng cục thuế (2001), Thuế Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
6. Bộ Tài chính, Tổng cục thuế (2001), Thuế Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
7. Bộ Tài chính, Tổng cục thống kê, Phần I, Tình hình kinh tế- xã hội thủ đô Hà Nộiqua 60 năm xây dựng và phát triển Khác
8. Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020.Trang Thông tin điện tử Chính phủ Khác
9. Học viện Tài chính (2010), Giáo trình thuế thu nhập, Nhà xuất bản Tài chính Khác
11. Phạm Thị Thu Hồng, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam: Những kết quả đạt được và một số đề xuất hoàn hiện, http://w w w . m o f .gov.v n / Khác
12. Vũ Thị Thùy Linh, Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương” (2015), Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật Khác
13. Luật đầu tư 2014, NXB Chính trị quốc gia- sự thật, Hà Nội, 2015 Khác
15. Luật thuế lợi tức 1993 (sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế lợi tức 1990) Khác
17. Luật thuế thu nhập doang nghiệp số 9/2003/QH11 ngày 17/6/2003 Khác
18. Luật thuế thu nhập doang nghiệp số 14/2008/QH 12 ngày 3/6/ 2008 Khác
19. Luật thuế thu nhập doang nghiệp số 32/2013/QH13 ngày 19/06/2013 Khác
20. Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 Quy định chi tiết Luật thuế thu nhập doang nghiệp 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w