1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư ở việt nam

49 780 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích những tác động của thuế TNDN đối với hoạt động đầu tư ở Việt Nam
Tác giả Trần Thị Xuân Thùy
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Cao học TCDN
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 394,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận, luận văn, chuyên đề, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Kính thưa thầy Nguyễn Ngọc Hùng, giáo viên giảng dạy và hướng dẫn lớp Cao học TCDNđêm 1 – K20, lời đầu tiên em xin gửi lời chúc sức khỏe đến thầy và gia đình, chúc thầy luônmạnh khỏe và tiếp tục dẫn dắt chúng em trên con đường tri thức

Thưa thầy, với đề tài tiểu luận số 5: Phân tích tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp, vì

sự hạn hẹp của quy mô và thời gian nghiên cứu, em xin thực hiện tiểu luận với đề tài số trên

nhưng em xin giới hạn phần phân tích tác động thuế ở một khía cạnh là: “Phân tích những

tác động của thuế TNDN đối với hoạt động đầu tư ở Việt Nam”

Bài tiểu luận gồm 3 phần

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Nội dung

Chương I: Tổng quan về thuế TNDN: Trọng tâm của nó là đưa ra những lý thuyết về mốiquan hệ giữa thuế TNDN và hoạt động đầu tư, các hình thức khuyến khích đầu tư và cácbiện pháp khuyến khích đầu tư bằng thuế TNDN

Chương II: Phân tích tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp (cụ thể là: Phân tích nhữngtác động của thuế TNDN đối với hoạt động đầu tư ở Việt Nam: Trọng tâm của phần này làbàn về tính trung lập của hê thống thuế TNDN và đánh giá tác động của các biện phápkhuyến khích đầu tư bằng thuế TNDN đã và đang được thực hiện và cũng bàn về những ràocản đầu tư trong công tác quản lý thuế

Chương III: Kiến nghị: Đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả tác động của thuế TNDNđối với hoạt động đầu tư ở Việt Nam

Trang 2

Phần 3: Kết luận

Trang 3

B NỘI DUNG

Chương I: Tổng quan về thuế TNDN:

I Một số vấn đề chung về thuế TNDN

1 Khái niệm về thuế TNDN

Thuế TNDN hay còn gọi là thuế thu nhập công ty (thuế TNCT) (Corporate Income Tax) Ở

Mỹ, thuế TNCT được sử dụng lần đầu vào năm 1909 và cho tới Chiến tranh thế giới thứ II,thuế TNCT vẫn chiếm số lượng nhiều hơn thuế thu nhập cá nhân nhưng sau đó thì xu hướngnày đảo ngược và vào những năm 60 của thế kỷ XX thì thuế thu nhập cá nhân đã lớn hơn gấpđôi thuế TNCT

Ở Việt Nam, Luật thuế TNDN được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày10/5/1997 và có hiệu lực thi hành ngày 1/1/1999 nhằm thay cho Luật thuế lợi tức trước đây

Và gần đây được thay thế bằng Nghị định số164/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2003 cóhiệu lực từ ngày 1-1-2004

Thuế TNDN là loại thuế trực thu được tính trên lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳkinh doanh Lợi nhuận làm căn cứ tính thuế TNDN là tổng lợi nhuận kinh tế và lợi nhuậnthông thường Thuế suất được áp dụng để tính thuế TNDN là thuế suất cố định, thuế suất lũytiễn hay thuế suất lũy thoái trên từng đối tượng chịu thuế khác nhau

2 Phương pháp xác định thuế TNDN

(Nguồn chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright)

Mức thuế Thu nhập Thuế suất

phải nộp = chịu * thuế

Trang 4

Theo luật thuế TNDN Việt Nam : Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cungứng dịch vụ, kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ quan kinh doanh được hưởng.

+Giá vốn hàng bán (COGS) căn cứ vào giá trị hàng tồn kho Nếu giá thay đổi theo thờigian (giá thực hay giá có lạm phát), phương pháp tính phải xác định rõ Có hai phương phápthường dùng: Vào trước ra trước (FIFO), Vào sau ra trước (LIFO)

Vào trước ra trước (FIFO): những hàng tồn kho lâu nhất sẽ được tính là COGS

Vào sau ra trước (LIFO): chi phí mua gần đây nhất được tính là COGS

+Khấu hao (Tiêu dùng vốn): phản ánh sự hao mòn vốn (máy móc, nhà xưởng) trongquá trình sản xuất; đó là một chi phí của quá trình kinh doanh và lỗi thời kinh tế Lý tưởngnhất là sử dụng khấu hao kinh tế Sau đây là 3 phương pháp có thể được sử dụng:

Khấu hao theo đường thẳng: C = Chi phí lịch sử

SV = Giá trị khấu hao

n = Tuổi thọ của thiết bị

D = Khấu hao hàng năm = (C – SV) / n

Trang 5

Khấu hao toàn bộ vào năm đầu tiên: Toàn bộ chi phí vốn được khấu hao vào năm đầutiên, một hình thức khấu hao cấp tốc.

Khấu hao khi kết thúc tuổi thọ hay bán tài sản: Chỉ tính khấu hao khi thanh lý tài sảnhoặc hết tuổi thọ

+Chi phí tài chính: Chi phí đối với lãi vay Nợ càng cao thì nghĩa vụ thuế càng thấp

Ví dụ: Một công ty có số vốn là 200$ Lãi suất vay:10% Giá ở mỗi giai đoạn tăng 10%

Trang 6

+Chi phí gián tiếp: chi phí quảng cáo; chi phí bán hàng; …

3 Các quan điểm về việc đánh thuế TNDN

Năm 1899 , tòa án tối cao Hoa Kỳ tuyên bố: “Quyền lực đánh thuế là một trong nhữngquyền lực cao nhất mà toàn bộ cơ cấu xã hội đặt nền tảng vào đó Nó cần thiết cho sự tồn tại

và phồn vinh của dân tộc cũng giống như không khí cần thiết cho cuộc sống con người Nókhông chỉ là sức mạnh hủy diệt mà còn là nguồn nuôi dưỡng cuộc sống ”

Trang 7

Từ nhiều thế kỷ trước, dân biểu quốc hội Pháp, Jean Bapstiste Colbert, đã phát biểu:

“Nghệ thuật đánh thuế là nghệ thuật nhổ lông ngỗng sao cho được nhiều lông nhất mà ngỗng

Bảng: Quan điểm về việc đánh thuế TNDN(Nguồn chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright)

+Theo quan điểm kinh tế đối tượng chịu

thuế phải là con người

+Theo quan điểm pháp luật đối tượng chịuthuế ở đây là một pháp nhân

+Chủ doanh nghiệp đã phải chịu thuế thu

nhập cá nhân, vì thế thu nhập của họ phải

chịu 2 lần thuế Đây là một điều bất hợp lý

+Người chủ không hoàn toàn kiểm soát doanhnghiệp, nên không thể tính được thu nhập của

họ, do đó rất khó tính chính xác thuế thu nhập

cá nhân+Các cổ đông giàu nghèo khác nhau phải

chịu cùng thuế suất

+Người chủ có lợi từ thể thức “ trách nhiệmhữu hạn ” và phải chịu chi phí cho lợi ích này.Tức trong một công ty cổ phần, mức tráchnhiệm của mỗi cổ đông phải chịu đối vớicông nợ của công ty chỉ giới hạn trong phạm

Trang 8

vi số cổ phần đã mua ( limited by shares ) haytrong một số tiền nhất định mà mình nhậntrách nhiệm (limited by guararntee)

+Đánh thuế gây ra tác động biến dạng giữa

các hình thức huy động vốn Bởi chi phí lãi

vay là một lá chắn thuế của doanh nghiệp

+Đánh thuế cũng gây ra tác động biến dạng

giữa các hình thức doanh nghiệp (doanh

nghiệp trong nước, doanh nghiệp nước

ngoài )

+Miễn thuế có thể gây ra thất thu thuế nếu lợinhuận doanh nghiệp được giữ lại (không chia

cổ tức)

II Tác động của thuế TNDN đến hoạt động đầu tư

1 Một số lý thuyết về tác động của thuế TNDN đến hoạt động đầu tư

1.1 Lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ

(Nguồn: Giáo trình Kinh Tế Đầu Tư – ĐH KTQD)

Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm quỹ nội bộ và tài trợ bên ngoài Quỹnội bộ bao gồm: Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản cố định Tài trợ bên ngoàibao gồm: đi vay, phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu

Xét các nguồn vốn trên, ta có thể thấy rõ rằng: vay mượn thì phải trả nợ, nếu xảy ra rủi

ro, doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng không trả được nợ có nguy cơ dẫn đến phá sản Do đónguồn vốn vay mang tính rủi ro và tính bị động Cũng tương tự như vậy, việc tăng vốn đầu tưbằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn Còn bán cổ phiếu để tài trợ

Trang 9

cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả dự án đầu tư là rõ ràng và thunhập do dự án mang lại trong tương lai sẽ lớn hơn chi phí bỏ ra Chính vì vậy theo lý thuyếtnày, các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ vàchính sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn Nói cáchkhác, thu nhập giữ lại ( Π ) sẽ là nguồn cơ bản chủ yếu làm gia tăng đầu tư:

I = f ( lợi nhuận thực tế)

Lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chitiêu đầu tư theo quan hệ tỷ lệ thuận Do vậy, tuy không đúng trong tất cả các trường hợpnhưng những chính sách tác động đến thu nhập giữ lại (qua chính sách giảm thuế TNDN) cótác động kích thích đầu tư

1.2 Hàm cầu đầu tư đối với nhà đầu tư

Cầu đầu tư đối với nhà đầu tư có thể được thể hiện như sau:

Di = f (I; Pi; Px; Ti)

Trong đó:

Di: Cầu đầu tư

I: Vốn của chủ đầu tư

Pi: giá đầu tư

Px: giá hàng hóa thay thế

Ti: Sở thích đầu tư

Trang 10

Kết luận: Khi thuế TNDN giảm thì sẽ làm cho lợi nhuận sau thuế của chủ đầu tư tăng do đókhi thuế giảm thì sẽ làm gia tăng sở thích đầu tư của chủ đầu tư.Bởi lợi nhuận sau thuế tăng.Như vây cầu đầu tư sẽ tăng.

2 Thuế TNDN tạo nguồn thu tài trợ cho dịch vụ công góp phần cải thiện môi trường đầu tư.

Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng cho ngân sách các nước Biểu hiện của nó chúng

ta có thể xem qua mức đóng góp vào GDP hoặc thông qua tỷ lệ của nó trong tổng nguồn thuthuế

Bảng: Mức độ đóng góp của nguồn thu của thuế TNDN trong tổng GDP và tổng thu từ thuế(năm 2001)

Thuế TNDNThuế suất chung % GDP % tổng thuếCambodia

0.81.66.24.52.62.76.21.32.93.2

3.95.322.113.610.48.424.53.79.711.3

Trang 11

Vietnam 32 5.6 17.6

(Nguồn: A “Taxing” job The IMF’s advice on tax policy in Vietnam)

Điều quan trọng của các nước là làm sao phải ra tăng được cơ sở tính thuế và giảm bớttrường hợp được miễn giảm thuế, bởi đó sẽ là nguồn thu cần thiết để tập trung đầu tư vào cơ

sở hạ tầng nhất là đối với các nước đang phát triển Và cũng bởi sự miễn giảm thuế đó làkhông hiệu quả khi mà cơ sở hạ tầng, và quản lý thuế ở các nước đang phát triển là còn yếukém

3 Một số biện pháp khuyến khích đầu tư bằng thuế TNDN

3.1 Tính trung lập và các hình thức khuyến khích trung lập

3.1.1 Tính trung lập của thuế TNDN

Tính trung lập của thuế hay cụ thể là tính trung lập của thuế TNDN được hiểu là thuếkhông nên làm thay đổi các quyết định đầu tư theo kiểu những dự án đầu tư không tốt lạiđược ưu tiên hơn những dự án đầ tư tốt.Như vậy khuyến khích mang tính trung lập:

+Không tạo điều kiện thúc đẩy những dự án có suất sinh lợi xã hội thấp

+Hay nói: Không thay đổi thứ tự các dự án được xếp hạng theo suất sinh lợi xã hội

+Suất sinh lợi xã hội theo quan điểm đơn giản của Harberger chính là suất sinh lợi sauthuế của dự án

Ví dụ: Về khuyến khích mang tính trung lập của thuế So sánh về suất sinh lợi nội tại của 3

dự án

Không có khuyến khích Khuyến khích trung lập Khuyến khích không

trung lập

Trang 12

Dự án A 15% 18% 16%

Kết luận:

+ Khuyến khích trung lập không làm thay đổi thứ tự dự án được xếp hạng theo suất sinh lợi

+ Khuyến khích không trung lập sẽ làm thay đổi thứ tự các dự án được xếp hạng theo suấtsinh lợi

3.1.2 Bốn hình thức khuyến khích trung lập

(Nguồn chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright)

3.1.2.1 Trung lập kiểu Samuelson

Trung lập kiểu Samuelson là hình thức đánh thuế lên lợi nhuận đã trừ khấu hao kinh tế

Nếu không có thuế: +Lợi nhuận hàng năm đã trừ khấu hao Yi và khấu hao Di

+Hiện giá: PV(Y) và PV(D)

+IRR = rKhi có thuế (t):Thuế chỉ đánh lên lợi nhuận đã trừ khấu hao tức thuế chỉ đánh lên Y

+Hiện giá của thuế: t*PV(Y)+Lợi nhuận sau thuế: (1-t)PV(Y)+IRR = r(1-t)

Đây là một hình thức được áp dụng phổ biến trong các luật thuế TNDN của hầu hết các nước

3.1.2.2 Trung lập kiểu Musgrave

Trang 13

Trung lập kiểu Musgrave thực chất là hình thức chính phủ không thu thuế mà trở thànhđối tác góp vốn đầu tư với chủ dự án.Do hình thức khấu hao được áp dụng là hình thức khấuhao ngay lập tức Chính phủ coi khoản đầu tư ban đầu của doanh nghiệp là I = PV(D) +PV(Y) Khoản đầu tư đó được coi là chi phí năm 0.

+Khoản đầu tư ban đầu I = PV(D) + PV(Y)

+Chính phủ tính I là chi phí năm 0 nên cho hoàn thuế (giảm thuế) một khoản I*t =PV(tD) + PV(tY)

+Vì các năm không được tính khấu hao nên hàng năm nộp thuế t(D+Y) Suy ra: Hiệngiá PV(tD)+PV(tY)

+ Như vậy PV thuế = 0 nếu suất chiết khấu được coi là IRR trước thuế

Vậy nếu với một tỷ lệ thuế 28% và hình thức khấu hao ngay lập tức theo kiểuMusgrave Chính phủ hay xã hội sẽ trở thành đối tác góp vốn đầu tư trong công ty với tỷ lệ là28%

Hình thức này chỉ có tính chất hỗ trợ Mặt khác chính phủ sẽ thu được phần thuế TNDN dướidạng không chính thức là góp vốn

3.1.2.3 Trung lập kiểu Harberger-Bradurd

Trung lập kiểu Harberger-Bradurd là hình thức trung lập kết hợp giữa hình thức Sameulson

và Musgrave Một tỷ lệ λ của đầu tư được quy thành chi phí năm không Phần còn lại (1 – λ )được khấu hao theo vòng đời kinh tế

Công nhận là chi phí năm 0 λ( PV(Y) + PV(D))

Chính phủ cho hoàn thuế năm 0 λt( PV(Y) + PV(D))

Trang 14

Nộp thuế sau đó t(Y + D) – t(1 - )D)D

Hình thức này vừa mang tính chất hỗ trợ dự án vừa đem lại một phần thuế TNDN chính thức

và một phần không chính thức (dưới dạng góp vốn) cho chính phủ Nếu áp dụng hình thứcnày thì rất phức tạp

3.2 Các biện pháp khuyến khích đầu tư bằng thuế TNDN

3.2.1 Giảm thuế suất chung (Standard tax rate reductions)

Giảm thuế suất là biện pháp mang lại hiệu quả trực tiếp đối với chủ đầu tư Do vậy đây

là một trong những cách mà hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện trong suốt thời gianqua để kích thích đầu tư trong nước và đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài Mặc dù vẫn cónhiều ý kiến phản đối về việc giảm thuế suất chẳng hạn như sẽ làm giảm thu ngân sách, hay

là đó sẽ là một cuộc đua kéo nhau xuống đáy trên phạm vi toàn cầu do các nước cạnh tranh

nhau về thu hút đầu tư.Qua biểu đồ ta có thể thấy được tỷ lệ lãi suất giảm qua thời kỳ

2001-2004 Nhưng hiệu quả của nó như thế nào thì ta sẽ xem xét sau

Biểu đồ: Thuế suất TNDN 2001-2004 (đơn vị %)

EU countries

Latin American countries Aisia-Pacific countries

(Nguồn:KPMG’s corporate tax rate Survey)

Trang 15

3.2.2 Thời gian miễn thuế, giảm thuế, và thời hạn áp dụng thuế suất ưu đãi (tax

holidays)

Thời gian miễn thuế, giảm thuế hoặc thời hạn áp dụng thuế suất ưu đãi thường được sử

dụng ở những nước đang phát triển và những nước có nền kinh tế chuyển đổi, Nó thường chỉ

hướng tới những công ty mới được thành lập còn rất ít khi áp dụng cho những công ty đang

hoạt động.Thời gian miễn thuế, giảm thuế là khoảng thời gian mà doanh nghiệp không phải

nộp thuế hoặc khi nộp thuế sẽ được giảm thuế (có thể là 50%) Thời hạn áp dụng thuế suất ưa

đãi có nghĩa là khoảng thời gian cho phép các công ty được hưởng một mức thuế suất ưu đãi

thấp hơn thuế suất bình quân áp dụng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung

Chẳng hạn như là ở Việt nam thuế suất TNDN được áp dụng chung cho hoạt động sản xuất

kinh doanh theo luật thuế hiện hành là 28% một doanh nghiệp mới thành lập nếu nằm trong

diện ưu đãi thuế suất thì sẽ được hưởng mức thuế suất là 15%, 20% 25% tùy vào một số

điều kiện quy định, nhưng cũng chỉ được ưu tiên trong một số năm nhất định

Đối với những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, với một hệ thống thuế chưa thực sự

phát triển thì việc sử dụng biện pháp khuyến khích đầu tư này là rất cần thiết bởi nó sẽ đơn

giản cho trong việc tính toán thuế trong những năm đầu hoạt động, nhưng biện pháp đó đã

thực sự mang lại kết quả hay chưa thì vẫn còn có nhiều hoài nghi bởi nhiều lý do Có thể lấy

ví dụ như là nó thường chỉ khuyến khích các hình thức đầu tư mang tính chất ngắn hạn, hay

nó sẽ làm cho chi phí quản lý thuế cao

Bảng: Lựa chọn Tax holidays ở một số nước.

Cambodia Indonesia Lao PDR Malaysia Philippines Thailand Vietnam

Trang 16

22 khu vực đặc biệt

Có thể đàm phán nhưngngắn

Thường là 5 năm Trừ khi công ty có tầmquan trọng chiến lược thì

là 10 năm

Từ 3 đến 8 năm

Từ 3 đến

8 năm

Nhiều trường hợp Dài nhất là

15 năm (luật thuế TNDN 2004)

3.2.3 Miễn thuế thu nhập bù khấu hao và khấu trừ thuế (hoàn thuế) (Investment

allowances and tax credits)

Miễn thuế thu nhập bù khấu hao và khấu trừ thuế là phần thu nhập được miễn thuế (tax

relief).Nhà nước không đánh thuế phần thu nhập được chi dùng để bù đắp lại sự hao mòn

(hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) được gọi là miễn thuế thu nhập bù khấu hao.Nó liên

quan đến việc quy định về tiêu chuẩn tài sản cố định thời gian và mức trích những điều kiện

để khấu hao thông thường Ví dụ: theo chế độ khấu hao hiện hành ở Viêt Nam thì thời gian sử

dụng tài sản cố định hữu hình được xác định bởi các doanh nghiệp, dựa trên khung tài sản

được quy định tại phụ lục 1 ban hành kèm theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày

12-12-2003 Khung này quy định thời gian sử dụng tối thiểu và tối đa của các nhóm thuộc mỗi loại

tài sản

Còn khấu trừ thuế là hình thức đã thực hiện nghĩa vụ thuế, nhưng khoản thuế đã nộp

được khấu trừ vào nghĩa vụ thuế sau này vì lý do nào đó Chẳng hạn như theo quy định của

luật thuế TNDN 1999 thì nếu như lợi nhuận được tái đầu tư 3 năm liên tiếp thì sẽ được khấu

Trang 17

trừ một phần hoặc toàn bộ số thuế đã nộp Như vậy, khác với tax holidays áp dụng cho dự ánmới thì biện pháp tax credit áp dụng cho đầu tư mới, đầu tư mở rộng.

Indonesia Malaysia Philippines Thailand VietnamInvestment

Miễn thuế thu nhập bùkhấu hao từ60% đến 100%

Khấu trừ thuếcho hoạt độngđầu tư định hướng xuất khẩu

Khấu trừ thuế 25% đốivới hình thứcđầu tư vào

cơ sở hạ tầng

Nếu lợi nhuận được tái đầu tư 3 năm liên tiếp được khấu trừ thuế

(Luật thuế TNDN1999)

3.2.4 Những lệch sai do thời gian (Timing diferences)

Những lệch sai do thời gian là những lệch sai giữa lợi nhuận kê khai để tính thuế và lợinhuận giữ lại để tính thuế và lợi nhuận ghi trong báo cáo tài chính.Thông thường có rất nhiềucông ty sử dụng phương pháp khấu hao nhanh (accelerated depreciation) để báo cáo thuế vàdùng phương pháp khấu hao đều (straight-line Depreciation) để báo cáo cho các cổ đông.Khấu hao đều là hình thức khấu hao tài sản bằng một giá trị đều nhau hàng năm Khấu haonhanh là hình thức số tiền khấu hao sẽ được phân bổ nhiều hơn trong những năm đầu và sẽgiảm dần vào những năm sau của thời gian sử dụng tài sản cố định Khấu hao nhanh làm thayđổi thời điểm ghi nhận chi phí Nói chung nếu một công ty thận trọng và thực hiện phươngpháp khấu hao nhanh tài sản, nó sẽ có xu hướng làm giảm thu nhập hiện tại, và ngược lại

3.2.5 Sự định đoạt của nhà nước (cơ quan thuế) (Administrative discretion)

Sự định đoạt của chính quyền mà cụ thể là của cơ quan thuế được xem là một biệnpháp khuyến khích đầu tư liên quan đến thuế TNDN Bởi sự định đoạt đó liên quan đến quá

Trang 18

trình đăng ký nộp thuế, liên quan đến việc xin cấp phép để có được sự khuyến khích thuế Vànhư vây nó liên quan đến chi phí, một việc phổ biến ở các nước đang phát triển, và các nước

có nền kinh tế chuyển đổi đó là chi phí này thường rất cao vì vậy nó thường làm giảm tínhkhả thi của dự án Không những thế nó còn làm nảy sinh tham nhũng, trục lợi tạo ra sự méo

mó trong đầu tư, làm giảm tính cạnh tranh trong đầu tư

Như vậy để khuyến khích hoạt động đầu tư bằng thuế TNDN không thể không kể tớibiện pháp khuyến khích này đó là làm sao tạo ra sự đơn giản nhất, thông thoáng nhất đối với

sự định đoạt của cơ quan thuế

4 Khía cạnh quốc tế của thuế TNDN – Tác động của đánh thuế trùng đối với đầu tư.

(Nguồn: Giáo trình QL thuế- ĐH KTQD)

4.1 Khái niệm và nguyên nhân của đánh thuế trùng

4.1.1 Khái niệm

Bản chất của việc đánh thuế trùng là khi một doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài doanhnghiệp sẽ không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật thuê nước mình mà còn phải chịu sự điềuchỉnh của luật thuế nước ngoài

Như vậy, đánh thuế trùng là việc thu thuế trên cùng một đối tượng chịu thuế từ hai lần trở lêntrong cùng một kỳ tính thuế hoặc đánh thuế vào đối tượng chịu thuế là doanh thu đã có thuế

từ khâu trước

4.2.2 Nguyên nhân

Thứ nhất: do xung đột về quyền đánh thuế giữa các quốc gia Trên thực tế việc đánh thuếthường căn cứ theo hai nguyên tắc: nguồn thu nhập và nơi cư trú, do có sự khác nhau về hai

Trang 19

nguyên tắc trên cộng với sự khác nhau về mức độ phát triển kinh tế và chính sách của từngnước đã dẫn đến sự xung đột Các trường hợp xung đột thường là:

Xung đột hai quốc gia về nguồn: xảy ra khi hai hay nhiều nước cùng khẳng định quyền đánhthuế của mình trên cùng một đối tượng chịu thuế vì cho rằng thu nhập đó có nguồn gốc từnước họ

Xung đột giữa quốc gia là nguồn hình thành nên thu nhập và quốc gia nơi cư trú: Xảy ra khimột quốc gia khẳng định quyền đánh thuế đối với nguồn thu nhập phát sinh tại nước này, cònnước kia lại khẳng định quyền của mình đối với đối tượng nộp thuế đó cư trú tại nước mình

Xung đột giữa hai quốc gia cư trú: Xảy ra khi hai quốc gia cùng khẳng định quyền đánh thuếđối với đối tượng nộp thuế, vì đối tượng nộp thuế cùng cư trú tại hai quốc gia Ví dụ: Đốitượng nộp thuế mang hai quốc tịch Pháp và Đức, họ cư trú một nửa thời gian tại Pháp và mộtnửa thời gian tại Đức

Thứ hai: Sự khác nhau về chính sách giữa các nước đặc biệt là về luật pháp thuế và quanđiểm kinh tế của các nước đang phát triển và các nước phát triển Ví dụ, theo luật thuế TNDNcủa Việt nam năm 1999 thì phần lợi nhuận thu được nếu đem tái đầu tư thì sẽ nhận được toàn

bộ thuế thu nhập đã nộp nhưng thu nhập này đối với một số nước khác vẫn phải đánh thuế

4.2 Tác động của việc đánh thuế trùng

Đối với các nước đầu tư trực tiếp: Những nước này muốn đầu tư ra nước ngoài nhằm tìmkiếm lợi nhuận cao nhưng hiện tượng đánh thuế trùng đã làm giảm lợi nhuận thu được và làmcản trở đầu tư ra nước ngoài

Trang 20

Đối với các nước tiếp nhận đầu tư việc đánh thuế trùng sẽ làm ngăn chặn nguồn vốn đầu tưnước ngoài vào nước này.

4.3 Các giải pháp đối với việc đánh thuế trùng

4.3.1 Biện pháp đơn phương

Nhà nước có thể đơn phương cắt giảm số thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài phải nộp tạinước mình Tuy nhiên biện pháp này rất ít khi được áp dụng bởi đơn phương cắt giảm thuếđồng nghĩa với việc nhà nước từ bỏ quyền đánh thuế và như thế đã phần nào từ bỏ chủ quyềnquốc gia mình

4.3.2 Biện pháp cam kết quốc tế

Biện pháp cam kết quốc tế được hình thành để đáp ứng các bên trong vấn đề này theo đó cácbên sẽ cam kết từ bỏ hoặc giới hạn một phần quyền đánh thuế của mình Hình thức biểu hiện

là các hiệp định thuế

Trang 21

Chương II: Đánh giá tác động của thuế TNDN đến hoạt động đầu tư ở Việt Nam

I Đánh giá tác động của thuế lợi tức kinh doanh đối với hoạt động đầu tư

Thuế lợi tức kinh doanh (corporate profit tax) là nguồn thu quan trọng tài trợ cho dịch vụcông góp phần vào cải thiện môi trường đầu tư Nguồn thu này chiếm khoảng 20% (năm

1993 là 19.4%, năm 1994 là 20%, năm1995 là 18,5%) nguồn thu từ thuế và phí tương đươngkhoảng gần 4% GDP

Bảng: Thu nhập từ thuế và phí 1990-1995 (đơn vị %)

Tổng thu nhập từ thuế và phí 100 100 100 100

Các loại thuế và phí khác 16.1 14.8 14.5 17.5

<Nguồn:International Development Research Centre>

Nhiều thuế suất: Doanh nghiệp trong nước chịu 3 thuế suất cơ bản và doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài phải chịu 4 thuế suất cơ bản khác với các mức thuế suất áp dụng đốivới những doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, do có thể có những trường hợp miễn haygiảm thuế và những tầng thuế khác nhau nên số thuế suất áp dụng trên thực tế nhiều hơnnhiều Hơn nữa, các mức thuế suất này thay đổi đáng kể giữa các ngành và trong nội bộngành kinh doanh Sự thay đổi này có 2 tác động đến hoạt động đầu tư Thứ nhất, nó tạo ranhững biến dạng trong việc đưa vốn vào sử dụng Những dự án có vốn nội địa và vốn nước

Trang 22

ngoài đầu tư vào ngành công nghiệp nặng được hưởng mức thuế suất tương đối thấp hơn sovới những dự án đầu tư khác Như vậy, các ngành công nghiệp nặng có thể được ưu đãi nhiềuhơn mặc dù tạo ra lợi ích xã hội thấp hơn so với những dự án đầu tư khác Thứ hai, một hệthống thuế tồn tại quá nhiều trường hợp miễn và giảm thuế thay đổi theo ngành, theo vị trí địa

lý hoặc theo ý muốn của chính phủ sẽ thiếu tính minh bạch làm cản trở đầu tư

Thuế suất cao: Mức thuế suất cao nhất là 45% cộng với thuế bổ sung 25% đánh vàophần lợi nhuận vượt trên 10 triệu/tháng Nói cách khác, mức thuế suất biên mà doanh nghiệpphải chịu có thể lên đến 70% Mức thuế suất cao như vậy sẽ giảm sút đáng kể về nhu cầuđầu tư và tạo động cơ mạnh mẽ cho hành vi trốn thuế Hơn nữa, phải nhớ một điều là trongmột nền kinh tế mở mà vốn dễ lưu động thì lao động hầu như luôn luôn phải gánh chịu mộtphần nhất định của thuế kinh doanh

Thuế lợi tức bổ sung đối với doanh nghiệp tư nhân: Không có nhiều lập luận trên cơ sởkinh tế hay xã hội để ủng hộ cho thuế lợi tức bổ sung Mặc dù người ta có thể hiểu ý nghĩacủa thuế TNCN lũy tiến nhưng khi áp dụng đối với thuế thu nhập của doanh nghiệp thì tínhlũy tiến không mang nhiều ý nghĩa Thuế lợi tức bổ sung có thể tạo ra sự phân đoạn trongkinh doanh thay vì duy trì qui mô kinh tế Hơn nữa, thuế này cũng có thể gây bất lợi cho bất

kỳ hoạt động đầu tư nào kinh doanh mang tính mùa vụ bởi vì thuế lợi tức được tính hàngtháng Nếu một doanh nghiệp hoạt động theo mùa vụ như chế biến và đóng hộp cây ăn quảthì trung bình trong một năm chỉ cần vài tháng của mùa vụ cũng đủ tạo ra phần lớn lợi nhuậncho năm đó Phần lợi nhuận này có thể vượt trên 10 triệu đồng một tháng (900 USD) và do

Trang 23

đó doanh nghiệp sẽ phải chịu thuế lợi tức bổ sung cho dù nếu tính bình quân tháng của cảnăm đó thì lợi nhuận thu được dưới 10 triệu đồng

Miễn thuế đối với phần lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư: Thực tế, đây là khoản hoàn thuếdành cho đầu tư với nhiều tác động biến dạng Kết quả là những khoản hoàn thuế như vậy cóthể khuyến khích đầu tư ngắn hạn nhưng lại làm cản trở những dự án đầu tư dài hạn mangnhiều lợi ích kinh tế hơn (Harberger)

Phí sử dụng vốn thấp: DNNN nộp phí sử dụng vốn thấp Tỉ lệ nộp phí ở trong khoảng

từ 0.2% đến 0.5%/tháng trong khi lãi suất vay ngân hàng ở trong khoảng từ 1% đến 2% Đây

là hình thức trực tiếp trợ cấp lớn cho những DNNN.Tạo nên sự kém hiệu quả trong hoạt độngđầu tư

Miễn thuế đối với tiền lãi vay: Trong khi tiền trả lãi vay được khấu trừ thuế thì tiền lãi

mà người cho vay kiếm được không phải chịu một khoản thuế nào Xảy ra tình trạng trốnthuế làm giảm tính cạnh tranh trong hoạt động đầu tư

Khác nhau trong hành xử thuế: Những luật thuế ở Việt Nam có lợi cho doanh nghiệpđầu tư nước ngoài hơn là doanh nghiệp đầu tư trong nước Những doanh nghiệp nước ngoàinói chung không những được hưởng thuế suất ưu đãi mà cũng có thể được miễn thuế Nhữnglợi ích này gây ra biến dạng trong việc phân bổ vốn và dẫn đến sự tập trung vốn nhiều hơnvào những ngành mà chưa chắc có thể đem lại lợi ích kinh tế cao nhất Hơn nữa, có một giảđịnh cơ bản đáng nghi vấn đó là vốn trong nước ở Việt Nam bị trói buộc Sự phân biệt đối xửđối với doanh nghiệp trong nước sau cùng có thể đưa đến kết quả là vốn trong nước sẽ đượcchuyển ra nước ngoài vì Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trang 24

Định nghĩa về các loại chi phí không rõ ràng: Những chi phí liên quan đến hoạt độngcủa doanh nghiệp không được định nghĩa rõ ràng, đặc biệt là việc định giá hàng tồn kho vàtính toán khấu hao tài sản cố định Sự thiếu minh bạch này lam xói mòn cơ sở thuế, làm tăngchi phí quản lý và chi phí đảm bảo tuân thủ nộp thuế Làm giảm cạnh tranh trong hoạt độngđầu tư.

Ngày đăng: 24/10/2013, 11:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức này vừa mang tính chất hỗ trợ dự án vừa đem lại một phần thuế TNDN chính thức - Phân tích những tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư ở việt nam
Hình th ức này vừa mang tính chất hỗ trợ dự án vừa đem lại một phần thuế TNDN chính thức (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w