1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp về phát triển cây bưởi diễn

70 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 681 KB
File đính kèm phát triển cây bưởi Diễn.rar (145 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước ta là nước có nền nông nghiệp truyền thống lâu đời, trồng trọt là một trong các ngành nghề chủ yếu; do đó trồng trọt cũng rất phát triển. Hiện nay ngành trồng trọt đóng vai trò thiết thực đối với các hộ gia đình làm nông nghiệp và xã hội phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống sinh hoạt, đem lại thu nhập cho người nông dân, đặc biệt là trồng các loại cây ăn quả, trong đó có cây bưởi Diễn (còn gọi là bưởi Ngọt Lục Ngạn) ở xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã đem lại cho người nông dân lợi ích kinh tế, nâng cao thu nhập; trước đây hầu hết các hộ đều trồng cây vải thiều thu nhập vào một thời điểm nhất định, do đó việc tiêu thụ diễn ra trong một thời gian ngắn, dẫn đến được mùa rớt giá, giá cả phụ thuộc vào tư thương, đầu ra của sản xuất chưa ổn định. Đối với sản xuất cây có múi nói chung, đặc biệt là cây bưởi Diễn có vai trò rất quan trọng, nó mang lại giá trị kinh tế cao và giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích. Hiện nay, việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng đang diễn ra mạnh mẽ, nhiều hộ gia đình đã phá một phần diện tích vải thiều hiệu quả thấp và chuyển diện tích cấy lúa sang trồng cây ăn quả khác, trong đó cây bưởi Diễn được trồng phổ biến. Do vậy, xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang được biết đến là một trong những xã đang phát triển về trồng cây bưởi Diễn. Góp phần cùng huyện Lục Ngạn hình thành vùng cây ăn quả lớn của khu vực phía Bắc. Hiện nay, cùng với những khó khăn chung của lĩnh vực trồng cây ăn quả, trong đó có các hộ nông dân trồng bưởi Diễn ở xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn; đó là việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây bưởi Diễn còn hạn chế, đặc biệt là sản xuất theo tiêu chuẩn VIETGap; giá cả đầu ra chưa ổn định, chưa thành lập được Hợp tác xã hay các Tổ liên kết giúp nhau phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chính vì vậy, về việc đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất bưởi Diễn xã Kiên Thành cho các hộ nông dân là hết sức cần thiết và thiết thực. Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp về phát triển cây bưởi Diễn (còn gọi là bưởi Ngọt Lục Ngạn) ở xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang”.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ trong một khóa luận nào.

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luậnnày đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi

Trang 2

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗisinh viên, giúp sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vậndụng những kiến thức mình đã học trong nhà trường vào thực tế, tạo điều kiệncho sinh viên khi ra trường trở thành những cán bộ khoa học - kỹ thuật đượctrang bị đầy đủ cả kiến thức lý luận và kiến thức thực tiễn, đáp ứng được nhucầu công việc của mình.

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoaKinh tế - Tài chính, dưới sự hướng dẫn của cô giáo: Thạc sĩ, Nguyễn Thị Ưng

- Trưởng bộ môn Kế toán, khoa Kinh tế - Tài chính, Trường Đại học Nông –

Lâm Bắc Giang, em đã thực hiện đề tài: “Giải pháp về phát triển cây bưởi Diễn tại xã Kiên Thành, Lục Ngạn, Bắc Giang” Qua hơn 3 tháng thực tập tại

UBND xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn đến nay đề tài đã được hoàn thành

Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân,

em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của tập thể, cá nhân

Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo NguyễnThị Ưng - Trưởng bộ môn Kế toán, khoa Kinh tế - Tài chính, Trường Đại họcNông – Lâm Bắc Giang, người đã trực tiếp hướng dẫn em một cách tận tình,chu đáo trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành đề tài này Em cũng xinbày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo Trường Đại họcNông – Lâm Bắc Giang đã dạy dỗ em trong những năm tháng học tập tạitrường

Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng chílãnh đạo xã và các ban ngành, đoàn thể xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnhBắc Giang; các hộ gia đình trồng Bưởi Diễn đã quan tâm, tạo mọi điều kiệngiúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình và cung cấp đầy đủ các tài liệu, thôngtin để em hoàn thành đợt thực tập này

Trang 3

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè những người

đã luôn động viên và giúp đỡ em trong suốt hơn 2 năm học vừa qua

Do thời gian thực tập ngắn, khối lượng công việc nhiều và năng lực bảnthân có hạn, nên đề tài không tránh được thiếu sót, em rất mong nhận được sựgóp ý của thầy, cô giáo và tất cả các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Kiên Thành, ngày 28 tháng 3 năm 2019

Sinh viên

Leo Văn Thắng

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU TỪ VIẾT TẮT

Phần thứ nhất

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta là nước có nền nông nghiệp truyền thống lâu đời, trồng trọt làmột trong các ngành nghề chủ yếu; do đó trồng trọt cũng rất phát triển Hiệnnay ngành trồng trọt đóng vai trò thiết thực đối với các hộ gia đình làm nôngnghiệp và xã hội phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống sinh hoạt, đem lại

Trang 5

thu nhập cho người nông dân, đặc biệt là trồng các loại cây ăn quả, trong đó

có cây bưởi Diễn (còn gọi là bưởi Ngọt Lục Ngạn) ở xã Kiên Thành, huyện

Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã đem lại cho người nông dân lợi ích kinh tế,nâng cao thu nhập; trước đây hầu hết các hộ đều trồng cây vải thiều thu nhậpvào một thời điểm nhất định, do đó việc tiêu thụ diễn ra trong một thời gianngắn, dẫn đến được mùa rớt giá, giá cả phụ thuộc vào tư thương, đầu ra củasản xuất chưa ổn định

Đối với sản xuất cây có múi nói chung, đặc biệt là cây bưởi Diễn có vaitrò rất quan trọng, nó mang lại giá trị kinh tế cao và giá trị thu nhập trên mộtđơn vị diện tích Hiện nay, việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng đang diễn

ra mạnh mẽ, nhiều hộ gia đình đã phá một phần diện tích vải thiều hiệu quảthấp và chuyển diện tích cấy lúa sang trồng cây ăn quả khác, trong đó câybưởi Diễn được trồng phổ biến Do vậy, xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnhBắc Giang được biết đến là một trong những xã đang phát triển về trồng câybưởi Diễn Góp phần cùng huyện Lục Ngạn hình thành vùng cây ăn quả lớncủa khu vực phía Bắc

Hiện nay, cùng với những khó khăn chung của lĩnh vực trồng cây ănquả, trong đó có các hộ nông dân trồng bưởi Diễn ở xã Kiên Thành, huyệnLục Ngạn; đó là việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăm sóc,phòng trừ sâu bệnh cho cây bưởi Diễn còn hạn chế, đặc biệt là sản xuất theotiêu chuẩn VIETGap; giá cả đầu ra chưa ổn định, chưa thành lập được Hợptác xã hay các Tổ liên kết giúp nhau phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.Chính vì vậy, về việc đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất bưởiDiễn xã Kiên Thành cho các hộ nông dân là hết sức cần thiết và thiết thực

Xuất phát từ đó tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp về phát triển cây bưởi Diễn (còn gọi là bưởi Ngọt Lục Ngạn) ở xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 6

Củng cố các môn học từ cơ sở đến chuyên ngành và gắn các môn họcvào thực tế Ngoài ra còn biết thêm được nhiều kiến thức thực tế, các phươngpháp học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học.

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo cácban, ngành tham khảo để đưa ra phương hướng để phát triển tiềm năng và thếmạnh, giải quyết những khó khăn trở ngại, nhằm phát triển cây ăn quả nói chung

và cây bưởi Diễn nói riêng nhằm phát triển kinh tế ngày càng hiệu quả hơn

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình sản xuất bưởi Diễn ở một

số thôn trên địa bàn xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Đối tượng điều tra: Những hộ trồng bưởi Diễn ở một số thôn trên địabàn xã Kiên Thành, thương lái, cán bộ địa phương

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Bắc Giang Cụ thể là ở một số thôntrên địa bàn xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn

- Thời gian: Trong 03 năm (từ năm 2016 đến năm 2018)

- Phạm vi nội dung: Đề tài tìm hiểu thực trạng sản xuất Bưởi Diễn ởmột số thôn, tập trung điều tra các đối tượng trồng, từ đó đề xuất một số giảipháp chính, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Bưởi Diễn trên địa bàn nghiêncứu

Thời gian thực hiện: Từ ngày 28/01/2019 đến ngày 19/4/2019, ở một

số thôn trên địa bàn xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Đề tài tìm hiểu thực trạng sản xuất quả bưởi Diễn trên địa bàn xã KiênThành, Lục Ngạn; tập trung điều tra các đối tượng trồng, từ đó đề xuất một sốgiải pháp chính, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất quả bưởi Diễn trên địa bànnghiên cứu

1.4 Kết cấu báo cáo: Báo cáo được kết cấu gồm 05 phần chính, đó là:

- Phần thứ nhất: Mở đầu

- Phần thứ hai: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Phần thứ ba: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

- Phần thứ tư: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về đề tài

- Phần thứ năm: Kết luận và kiến nghị

Trang 7

Phần thứ hai

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2 1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận

2.1.2 Lý luận về phát triển sản xuất

Cây bưởi, cam là cây ăn quả lâu năm, chịu ảnh hưởng rất rõ của điềukiện ngoại cảnh, biểu hiện qua sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất

và phẩm chất quả Những đặc trưng, đặc tính của cây được biểu hiện qua mộtvòng đời hay trong một năm, đều là kết quả phản ánh tổng hợp giữa đặc điểmcác loài với ngoại cảnh

Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia đều có chiến lược phát triểnkinh tế khác nhau phù hợp với điều kiện, tận dụng hiệu quả lợi thế so sánh vềvùng, lựa chọn cây trồng, vật nuôi có lợi thế để tạo ra nhiều của cải vật chất,cho đất nước phồn vinh, nâng cao mức thu nhập của người dân

Trong điều kiện nước ta hiện nay ở khu vực nông thôn, tỷ lệ thất nghiệpngày càng tăng, sức ép về việc làm lớn, do đó trong tương lai phát triển sảnxuất theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu với nhiều ngành nghề trong

đó có nghề trồng cây ăn quả ở nông thôn là hướng đi đúng đắn và cần thiết

2.1.3 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài

* Khái niệm cây ăn quả: Cây ăn quả (Nam Bộ gọi là cây ăn trái) là cácloại cây trồng hoặc quả rừng mà trái cây được dùng làm thức ăn riêng biệthoặc ăn kèm So với cây lương thực là nguồn cung cấp chính về năng lượng

và chất bột cacbohydrat trong khẩu phần thức ăn thì cây ăn quả là nguồn dinhdưỡng quý cho con người về chất khoáng, đặc biệt nhiều vitamin, nhất là cácvitamin A và vitamin C rất cần cho cơ thể con người Tùy theo nguồn gốc,xuất xứ và vùng sinh thái mà co thể chia ra cây ăn quả nhiệt đới, cây ăn quảcận nhiệt đới, cây ăn quả ôn đới,

* Khái niệm đánh giá

- Đánh giá (Assessment): Là một quá trình (có thể là hệ thống hoặckhông hệ thống) thu thập thông tin, phân tích thông tin, sau đó thiết lập mộtđiều chỉnh dựa trên cơ sở các thông tin thu thập

Trang 8

- Đánh giá (Evaluation): Là một sự xem xét, sự kiểm tra có tính chất hệthống một dự án đã được lập, một dự án đang thực hiện hoặc đã kết thúc.Đánh giá nhằm trả lời các câu hỏi quản lý đặc biệt và để đánh giá toàn bộ giátrị của một nỗ lực và cung cấp bài học kinh nghiệm để cải tiến các hoạt độngtương lai, lập kế hoạch và ra quyết định Đánh giá nói chung là tìm kiếm xácđịnh hiệu quả, hiệu lực, tác động, bền vững và thích hợp của dự án hoặc mụctiêu của tổ chức Một đánh giá có thể cung cấp thông tin hữu ích và tin cậy,đưa ra bài học kinh nghiệm cụ thể, để giúp cho các đối tác và các tổ chứcchuyên môn thực hiện các quyết định một cách đúng đắn.

- Đánh giá (Appraisal): Đánh giá có liên quan đến chỉ tiêu quyết định đãđược thiết lập, gồm tính khả thi và tính có thể chấp nhận được của một dự án hoặcchương trình ưu tiên với các thỏa thuận về ngân sách Các chỉ tiêu hay tiêu chíthông thường bao gồm tính thích ứng và tính bền vững Một đánh giá có thể quan

hệ với sự xem xét các lựa chọn như một phần của tiến trình chọn lọc

- Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khaithực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của

dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu

- Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thônbản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được

- Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt độngkhuyến nông so với kế hoạch ban đầu

* Khái niệm thị trường

- Thị trường là nơi người mua và người bán mua và bán hàng hóa vàdịch vụ Theo định nghĩa này chợ là thị trường

* Khái niệm sản xuất

- Liên hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia

đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất; sản xuất là quá trình sử dụng lao động vàmáy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tàisản, phát sinh tài sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với nhữngthực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sảnphẩm là vật chất và dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sảnxuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấpcho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền

- Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong cáchoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử

Trang 9

dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào nhữngvấn đề chính sau: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giáthành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác cácnguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm.

- Sản xuất là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thànhcác các sản phẩm hoặc dịch vụ ở đầu ra Theo nghĩa rộng sản xuất bao hàmbất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu con người

* Khái niệm phát triển sản xuất

Từ những khái niệm về phát triển và khái niệm về sản xuất trên, ta cóthể hiểu về phát triển sản xuất như sau:

Phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của conngười vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy môvới số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục

vụ đời sống ngày càng cao của con người Như vậy, có thể thấy phát triển sảnxuất được nhìn nhận dưới hai góc độ:

Thứ nhất: Đây là quá trình tăng quy mô về số lượng sản phẩm, hànghóa, dịch vụ

Thứ hai: Là quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ

Cả hai quá trình này đều nhằm mục đích phục vụ cho đời sống của con người.Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển củamỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất còn có vai trò quan trọng hơnnữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ngày càng được nâng cao,đặc biệt hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm

Ngoài ra với xu thế hiện đại hóa chúng ta cần phát triển nông nghiệptheo một số hướng khác, không còn phát triển theo kiểu truyền thống cơ bản,

đó là:

- Phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật tiên tiến, phù hợp với từng ngành nghề nông nghiệp nhằm cải thiện chấtlượng sản phẩm nông sản, tiếp tục duy trì các thế mạnh cây trồng, vật nuôicủa địa phương, đầu tư nguồn lực chất lượng cao để phù hợp với thời thế pháttriển hàng hóa

- Phát triển nông nghiệp theo bề rộng, xem xét sự phù hợp của câytrồng vật nuôi, chúng ta sẽ tăng các nguồn lực phù hợp để tăng thêm sự tăngtrưởng Đặc biệt là trong nông nghiệp vốn và lao động là hai yếu tố cần đầu tư

Trang 10

rất nhiều, bởi sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất thủ công, sản xuất chủyếu bằng tay chân.

Phát triển sản xuất bưởi là áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, phùhợp với cây bưởi nhằm cải thiện chất lượng và tăng quy mô về số lượng bưởi

2.2 Nội dung cơ bản của đề tài

2.2.1 Đánh giá thực trạng cây bưởi Diễn ở xã Kiên Thành

Từ năm 2015 trở về trước, xã Kiên Thành diện tích trồng bưởi Diễncòn nhỏ lẻ, chủ yếu là trồng để tự cung tự cấp là chính, do vậy quả bưởi Diễnchưa phải là hàng hóa, thu nhập của người nông dân trồng bưởi Diễn khôngđáng kể Nhưng từ năm 2016 trở về đây, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu câytrồng, người nông dân đã mạnh dạn chuyển đổi một số diện tích trồng vảithiều và đa số diện tích cấy lúa sang trồng các loại cây có múi có giá trị kinh

tế cao hơn, gồm cam, bưởi, chanh Năm 2018, tổng diện tích cây ăn quả toàn

xã là 985,4 ha, trong đó: diện tích cây vải thiều = 523,6 ha; diện tích nhãn =

127,5 ha; diện tích bưởi = 137,5 ha; diện tích cam các loại = 182,6 ha; ngoài

ra còn có một số loại cây ăn quả khác = 14,2 ha Trong số diện tích cây bưởiDiễn được người nông dân chú trọng hơn và đầu tư thâm canh để quả bưởiDiễn trở thành hàng hóa Năm 2018, diện tích bưởi các loại đạt 137,5 ha,trong đó: thì có 115 ha là bưởi Diễn, ước sản lượng đạt 964,8 tấn, còn lại làbưởi Da Xanh, bưởi Hoàng

2.2.2 Nội dung về giải pháp về phát triển quả Bưởi Diễn (còn gọi là

Bưởi Ngọt Lục Ngạn) ở xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Để nâng cao hiệu quả cho người nông dân trồng bưởi Diễn Theo kếhoạch phát triển cây bưởi của xã, phấn đấu đến năm 2020 toàn xã có trên150ha, cho thu nhập từ 300 đến 400 triệu đồng/ha, trong đó đã tính đến cácyếu tố phân tích thị trường, cân đối cung cầu và tính trên tổng thể phát triểncủa các địa phương, tuy nhiên quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, chủ yếu là hộ giađình, ở một số nơi, người dân còn nặng tâm lý chạy theo lợi nhuận, thấy sảnphẩm bán chạy lại đua nhau trồng Theo kết quả điều tra sơ bộ diện tích sảnxuất bưởi Diễn tập trung hiện nay có 95,5ha, đạt 82,6%, còn lại là trồng xencanh các loại bưởi và cây ăn quả khác Diện tích bưởi các loại trồng theo tiêuchuẩn VietGAP là 54 ha, trong đó bưởi Diễn là 35,6 ha

Hiện nay, các hộ gia đình trông bưởi Diễn chưa có sự liên kết giữa sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm, chủ yếu việc tiêu thụ qua thương lái, không có hợpđồng chặt chẽ, công nghệ chế biến, bảo quản còn nhiều hạn chế Theo lãnh

Trang 11

đạo UBND xã Kiên Thành, “Để cây bưởi, trong đó chủ yếu là bưởi Diễn pháttriển bền vững, điều quan trọng là phải thành lập hợp tác xã, tổ liên kết giúpnhau sản xuất sản phẩm sạch và tiêu thụ sản phẩm Đẩy mạnh sản xuất theochuỗi liên kết từ trồng - bảo quản - chế biến - tiêu thụ, đồng thời tăng cườngcông tác xúc tiến thương mại, đa dạng hóa công tác giới thiệu, quảng bá sảnphẩm, đẩy mạnh các kênh phân phối chính thống, siêu thị, phát triển hìnhthức truy xuất nguồn gốc sản phẩm, bên cạnh đó việc xây dựng nhãn hiệu tậpthể cũng là điều vô cùng quan trọng”

* Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bưởi Diễn

- Kỹ thuật trồng

+ Đào hố trồng: Do cây bưởi Diễn tán tương đối lớn nên cần đào hố rộng

và thưa để cây dễ quang hợp phát triển Theo tiêu chuẩn đào hố trồng cần phân

lô thẳng hàng dọc, so le hàng ngang, với khoảng cách là 5m x 6m, tùy theo độdốc của địa hình vườn trồng bưởi, mật độ trung bình từ 300 - 350 cây/ha

+ Cách trồng: Bón lót: Từ 15 - 20 kg phân hữu cơ; 0,4 - 0,5 kg lân +

0,1 - 0,2 kg Kali và từ 0,5 - 01 kg vôi bột; trộn đều lượng phân trên với lớpđất mặt và lớp đất giữa (khi đào hố để riêng) Trả lớp đất dưới xuống hố, tiếp

đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôilên mặt hố và lấp đất mỏng 4 - 6 cm Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng

10 - 15 ngày sau rắc ít thuốc sâu bột trên mặt hố, dùng cuốc đảo trộn đềukhoảng 15 ngày sau là trồng được Đặt bầu cây thẳng đứng, lấp đất sao chobầu cây nổi so với mặt đất, đóng cọc ghim tránh cho cây bị long gốc Sau mộtthời gian đất lún là vừa

Thời vụ trồng: Nên trồng cây vào cuối mùa mưa tháng 8 - 11 dương lịch.

- Kỹ thuật chăm sóc

+ Làm cỏ và vun xới: Trong quá trình điều tra chúng tôi thấy việc làm

cỏ của các hộ nông dân trồng bưởi à tuỳ theo sinh trưởng, phát triển của cỏdại Đa số các hộ sử dụng phương pháp thủ công (máy cát cỏ) Thông thườngvào mùa đông cỏ sinh trưởng chậm, khoảng 30 - 40 ngày, hộ tiến hành làm cỏ

01 lần bằng phương pháp nhổ, sới hoặc cào Vào mùa hè cỏ sinh trưởng, pháttriển nhanh, chỉ sau khoảng 15 ngày họ phải tiến hành làm cỏ lại

Quá trình điều tra cho biết, hầu hết các hộ trồng bưởi Diễn hàng nămphải vun xới 4 - 6 lần Họ thường kết hợp bón phân với việc vun, xới

Nước là một nhân tố sinh thái rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng

và phát triển của cây Hiện nay người nông dân đã chú trọng, nên đã có

Trang 12

khoảng trên 80% số hộ trồng bưởi tưới nước cho bưởi thường xuyên để luôngiữ độ ẩm cho cây phát triển, bằng vòi phun, nước tưới từ giếng khoan củacác hộ gia đình và các ao, hồ, đập; có khoảng 5% số hộ đã lắp được hệ thốngtưới nhỏ giọt, còn lại là phụ thuộc vào nước mưa.

+ Bón phân cho cây bưởi :

Bón phân cho cây quả bưởi Diễn có ý nghĩa rất quan trọng Cây quả bưởiDiễn có cho năng suất, chất lượng cao hay không phụ thuộc vào việc bón phânnhư thế nào, với liều lượng bao nhiêu… Qua điều tra cho thấy mỗi hộ bón phâncho cây quả bưởi Diễn khác nhau, sử dụng loại phân khác nhau, với liều lượngkhác nhau

Trong giai đoạn này toàn bộ chi phí được tính bình quân chia đều theolứa tuổi của cây Đây là giai đoạn khó khăn nhất với bà con nông dân, đầu tưchăm sóc với nguồn vốn lớn mà không cho bất kỳ khoản thu nhập nào từ câybưởi, khi bưởi bước vào độ tuổi từ 3 – 4 năm, đã bắt đầu cho bói quả vớilượng đáng kể ( 12- 20 kg/ cây), cho giá trị kinh tế cao

- Kỹ thuật tỉa cành:

Công việc tỉa cành được thực hiện hàng năm vào thời kỳ mà cây cóhoạt động trao đổi chất thấp nhất (sau khi thu hoạch trái), trước khi cây ra đợtmới để chuẩn bị cho mùa trái mới, đây là thời điểm thích hợp nhất Khôngnên tỉa quá nhiều cành (khoảng 15%) Khi tỉa cành, cần loại bỏ những cànhsau đây:

+ Cành đã mang trái (thường rất ngắn khoảng 10-15 cm)

+ Cành bị sâu bệnh, cành ốm yếu, cành nằm bên trong tán không cókhả năng cho trái

+ Cành đan chéo nhau, những cành vượt (cành có thân hình tam giác)trong thời kỳ cây đang mang trái nhằm hạn chế việc cạnh tranh dinh dưỡngvới trái

+ Loại bỏ các cành già cỗi để trẻ hoá, góp phần cho cây được sung mãn

và dễ đậu trái hơn

- Kỹ thuật thu hái:

Bưởi được thu hoạch mỗi năm một lần, tuy nhiên có thể kéo dài thờigian thu hoạch trong nhiều tháng, thu hoạch chủ yếu bằng phương pháp thủcông, bưởi trồng trên địa hình bằng phẳng, vào mỗi vụ thu hoạch bưởi phảihuy động một số lượng lao động lớn để cắt

Trang 13

Khâu thu hái cũng được bà con rất coi trọng về kỹ thuật cũng như thờiđiểm thu hái, các biện pháp thu hái chủ yếu là thủ công truyền thống, tuynhiên các phượng tiện chứa đựng thô sơ không đảm bảo an toàn, hơn nữa cónông hộ thu hoạch quá sớm hoặc quá muộn nên có ảnh hưởng không nhỏ chấtlượng quả và sinh trưởng của cây.

Thu hoạch không đúng và đảm bảo khoa học, các vật dụng chứa đựngkhông đủ tiêu chuẩn làm cho thời gian bảo quản bị rút ngắn, hơn nữa phươngtiện vận chuyển giao thông không thuận lợi làm cho quả bưởi Diễn hay bịdầm bì mau thối, khó khăn cho bảo quản

Thu hoạch quá sớm có lợi về khối lượng, nhưng bưởi chưa đảm bảo vềchất lượng, giá thành dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp

Thu hoạch quá muộn, bưởi ngon nhưng số lượng suy giảm mặc dù giáthành cao, tuy vậy hiệu quả kinh tế cũng không được cao

Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của Nhà nước và các cấp chínhquyền địa phương, người dân cũng đã được tham gia vào các lớp tập huấn

kỹ thuật trong các biện pháp canh tác mới do các cán bộ khuyến nôngphòng NN & PTNT tổ chức, nhờ đó hiệu quả của quả bưởi Diễn đang dầnđược tăng lên

2.2.4 Các loại sâu bệnh hại quả bưởi Diễn

- Sâu vẽ bùa

+ Đặc điểm hình thái:

Thành trùng là một loại bướm rất nhỏ, thân hình mỏng mảnh, dài khoảng

2 mm, sải cánh rộng khoảng 4 – 5 mm Toàn thân có màu vàng nhạt, hơi có ánhbạc Cánh sau rất hẹp so với cánh trước, cả hai cánh đều có rìa lông dài Cánhtrước có hai gân dọc màu đen kéo dài đến giữa cánh, khoảng 1/3 về phía đầucánh có một vân xiên giống hình chữ Y Chiều dài râu đầu khoảng 3/4 chiều dàicủa cánh Do kích thước nhỏ và hoạt động về đêm nên trong điều kiện tự nhiênrất khó phát hiện được thành trùng Sâu mới nở có màu xanh nhạt trong suốt, dàikhoảng 0,4mm Sâu mới nở có màu xanh giống màu xanh của lá non, lớn lên sâu

có màu vàng xanh dài khoảng 4mm, mình sâu hơi dẹp Có thể quan sát dễ dàng

sự hiện diện của sâu trong đường đục Sau khi nở, sâu non đục vào lá và ăn phầnthịt lá dưới lớp biểu bì của mặt lá tạo thành các đường hầm ngoằn ngoèo Lá non

bị hại kém phát triển, cong queo nên khả năng quang hợp kém Kết qủa làm câysinh trưởng chậm, đặc biệt khi vườn cây ở thời kỳ mới trồng và trong giai đoạn

Trang 14

kiến thiết cơ bản, thì mức độ tác hại lớn hơn vì làm cho cây còi cọc chậm lớn.Sâu vẽ bùa có thời gian vòng đời ngắn, khoảng 2 - 3 tuần.

+ Thời điểm gây hại:

Sâu vẽ bùa bắt đầu gây hại từ giai đoạn sâu còn rất nhỏ (0,5mm) Sựgây hại xảy ra rất sớm, trên những lá non 3 – 5 ngày tuổi, sâu vẽ bùa tấn côngchủ yếu những lá có kích thước biến động từ 1 - 7cm x 1 - 4cm, khi lá lớn hơnkích thước này thì tỷ lệ lá bị sâu tấn công giảm rõ rệt và gần như không đáng

kể Theo các hộ nghiên cứu thì cây còn non bị nhiều sâu vẽ bùa còn khi câylớn và già thì sâu vẽ bùa không đáng kể dường như không có

+ Mức độ gây hại:

Sâu vẽ bùa lây lan nhanh, nếu sâu tấn công sớm, lá hoàn toàn bị biếndạng, khô và rụng di sau đó Nếu mật độ sâu cao và sâu tấn công vào giaiđoạn lá còn thật non thì có thể ảnh hưởng đến năng suất Lá non bị tấn công

sẽ không phát triển và co rúm lại, giảm khả năng quang hợp, do đó cây sinhtrưởng và phát triển kém, hoa trái dễ bị rụng, nhất là cây con mới trồng

- Sâu đục thân

+ Đặc điểm hình thái: Sâu đục thân hay còn gọi là xén tóc sao hay xéntóc hoa vì trên toàn thân màu đen của con bọ trưởng thành cánh cứng này cóđiểm khoảng 28 chấm trắng

+ Thời điểm gây hại:

Sâu trưởng thành thường ăn bổ sung bằng các phần non của cây đặc biệt là

rễ non trước khi đẻ trứng vào tháng 5 tháng 6, vũ hóa vào tháng 5 - 6 Trước khi

đẻ xén tóc sao cắn vào gốc cây 1 vết hình chữ T ngược rồi đẻ trứng vào đó Sau 6đến 12 ngày thì trứng nở, sâu non di chuyển xuống phía dưới gốc, phá hại phầngốc, rễ cây tiếp giáp với thân Đầu tiên sâu hại vỏ, sau đó đục vào bên trong phần

gỗ Nhiều khi sâu đục cả những rễ to làm cho cây héo toàn bộ, rụng lá và chết.Sâu non phá hại trong 2 - 3 tháng thì nghỉ đông ở gốc cây Đến tháng 3, tháng 4năm sau thì hoá nhộng, tháng 5 - 6 vũ hoá Vòng đời của xén tóc sao là một năm

+ Mức độ gây hại:

Sâu đục thân thường thường đục cành nhỏ trên tán lá, rồi đục dần vàocành lớn, đến thân và có loại đục vòng quanh gốc ăn lớp vỏ, ngăn cản quátrình vận chuyển và lưu thông chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, làm cây bị rốiloạn trao đổi chất, tán lá héo xanh, héo vàng và có thể làm cho cây bị chết Dosâu gây hại bên trong thân cây nên biện pháp phun thuốc hoá học thườngkhông đem lại hiệu quả

Trang 15

+ Thời điểm gây hại:

Nhện đỏ xuất hiện nhiều trong giai đoạn vườn ươm và giai đoạn câynon mới trồng; vào các đợt lộc, giai đoạn quả non hàng năm

+ Mức độ gây hại:

Nhện trưởng thành và nhện non sống ở mặt trên của lá, dùng miệngchích hút dịch lá, tạo nên các chấm nhỏ li ti màu trắng vàng Khi mật độ caochúng có mặt cả trên quả, cành bánh tẻ Khi bị nặng toàn bộ lá và quả có màutrắng hơi vàng, lá bị rụng, sự phát triển của cây bị đình trệ

* Nhện trắng

- Đặc điểm sinh học của nhện trắng

Nhện trắng (white mite) - Polyphagotarsonemus latus (Banks) (HọTarsonemidae, Bộ Acari) còn có tên là nhện ớt (chili mite), nhện bạc lá bưởi(citrus silver mite), nhện trà vàng (yellow tea mite) và nhện rộng (broad mite),

là một loài gây hại chính và phổ biến trên nhiều loại cây trồng Việc kiểm soátloài này đòi hỏi một hay nhiều lần xử lý thuốc trừ nhện mỗi năm

- Đặc điểm hình thái:

Nhện trưởng thành: Nhện cái có dạng hình bầu dục dài khoảng 0,2

mm Cơ thể phồng lên theo hướng nghiêng và có màu từ vàng sáng đến hổphách hay xanh lá cây với một đường sọc không rõ, màu sáng, nằm giữa vàphân nhánh ở cuối lưng Các con đực có màu sắc tương tự con cái nhưngkhông có sọc này Hai chân sau của con cái trưởng thành thoái hoá thành phầnphụ Con đực thường nhỏ hơn (0,11mm) và di chuyển nhanh hơn con cái Cácchân sau to lớn của con đực thường được sử dụng để nâng các con nhộng cáilên và đặt vuông góc với cơ thể con đực khi giao phối

+ Trứng:

Trang 16

Trứng không màu sắc, có hình bầu dục Mỗi trứng dài khoảng 0,08mm

và được bao phủ bởi 29 đến 37 chùm lông trên bề mặt

+ Ấu trùng:

Nhện trắng con chỉ có 3 cặp chân Chúng thường di chuyển rất chậm và

có màu hơi trắng được tạo thành từ những điểm nhỏ trên da Khi ấu trùng pháttriển, chúng sẽ tăng chiều dài từ 0,1 lên 0,2mm Giai đoạn không hoạt độngxuất hiện như một ấu trùng bất động

+ Nhộng:

Sau một ngày, ấu trùng biến thành nhộng bất động có hai đầu trong suốt

và nhọn Giai đoạn nhộng kéo dài khoảng một ngày Các con nhộng thườngđược tìm thấy trong các lổ lõm trên trái, mặc dù nhộng cái thường được mangbởi các con đực

+ Điểm sinh học

Vòng đời của nhện trắng gồm bốn giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng vàtrưởng thành Con cái trưởng thành đẻ từ 30 đến 76 trứng (trung bình 5 trứngmỗi ngày) ở mặt dưới của lá và trong những lổ lõm của trái trong thời gian từ

8 đến 13 ngày và chết ngay sau đó, trong khi con đực trưởng thành có thểsống từ 5 đến 9 ngày Con cái không được giao phối đẻ trứng đực, và ngượclại, con cái được giao phối thường đẻ 4 trứng cái trên mỗi trứng đực

Trứng nở trong khoảng 2 đến 3 ngày và ấu trùng sinh ra từ vỏ trứng đểgây hại Ấu trùng thường di chuyển chậm và không phân tán xa Sau 2 hoặc 3ngày, ấu trùng phát triển sang giai đoạn ấu trùng bất động (nhộng) Ấu trùngcái bất động trở nên hấp dẫn với con đực, con đực sẽ nâng con cái lên vàmang chúng đến bộ lá mới Con đực và cái đều rất hoạt động nhưng con đực

rõ ràng đóng góp nhiều vào sự phân tán của quần thể nhện trắng do có khảnăng mang ấu trùng cái đến vị trí mới Khi con cái thoát khỏi giai đoạn bấtđộng, con đực ngay lập tức sẽ giao phối với nó Cũng có báo cáo cho rằngnhện trắng sử dụng các côn trùng, đặc biệt là một số loài ruồi trắng(whiteflies) để di chuyển từ cây này đến cây khác

Trang 17

+ Thời điểm gây hại:

Rệp sáp xuất hiện gây hại quanh năm

+ Mức độ gây hại:

Rệp sống và hút nhựa trên chồi non, lá và trái làm lá héo vàng, chồi vàtrái chậm phát triển Cả trưởng thành và rệp non đều gây hại Nếu bị nhiễmnặng, lá bị vàng, rụng, cành bị khô và chết, trái cũng có thể bị biến mầu, pháttriển kém và bị rụng Bên cạnh đó mật ngọt do rầy tiết ra sẽ giúp nấm bồ hóngphát triển, làm vỏ trái bị đen, ảnh hưởng đến vẻ đẹp bên ngoài của trái Nguyhiểm nhất là rệp sáp gây hại trên rễ bưởi Vào mùa khô rệp sáp chuyển xuốngđất quanh gốc cây để sinh sống, hút nhựa, phá hoại gốc và rễ, mật độ rệp cao

có thể làm cho cây bị héo vàng và chết

* Bệnh ghẻ (Citrus scab)

Bệnh ghẻ do một loài nấm (Elsinoe fawcetti - thể không hoàn chỉnh củaSphacema fawcetti) gây ra Nấm bệnh gây hại ở cành lá non, trái non kể cả khivừa mới đậu Biểu hiện là những mụn giống như mụn ghẻ nhưng hình thù khôngđều đặn Giống như những cụm nhỏ li-e (nút chai) đôi khi dính vào nhau, màuvàng nâu, một đôi chỗ màu đen do các bào tử thoát ra Điểm khác biệt với bệnhloét là mụn chỉ bám ở một mặt lá trong khi nếu là bênh loét thì vết loét xuyênqua bề dày phiến lá, biểu hiện ở cả hai mặt lá Lá bị hại bị xoăn lại

Bảo tử nấm do gió, sâu bọ mang tới bám vào mặt búp, lá, trái non v.v

Độ nhiệt dưới 350C, độ ẩm cao giúp cho bảo tử nảy mầm phát sinh bệnh.Chanh, cam (tắc), bưởi bị bệnh này khá nặng bưởi bị nhẹ hơn

* Bệnh vàng lá (Bệnh Greening)

Triệu trứng: Lá vẫn xanh nhưng có đốm vàng, trong khi ở một số lá phiến

lá bị vàng, gân lá vẫn còn xanh, lá nhỏ và hẹp dài như tai thỏ, rụng sớm Trêncây bị bệnh trái nhỏ, méo mó, hạt bị thui đen, ra bông nhiều đợt trên cùng mộtcây

* Bệnh gỉ sắt

Triệu trứng: Đầu tiên trên mặt dưới của lá xuất hiện những chấm nhỏ màuvàng nhạt như những giọt dầu Sau đó các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiệnbột màu vàng bưởi , đó là bào tử của nấm gỉ sắt Bào tử chuyển dần sang màutrắng từ trung tâm ra ngoài và cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy Cácvết cháy có thể liên kết với nhau thành vết cháy lớn, dẫn đến cháy toàn bộ lá vàrụng Khi bệnh nặng, cây rụng hết lá và chết Xuất hiện và gây hại trong mùa

Trang 18

mưa khi ẩm độ không khí cao Có thể gây hại trên diện rộng, gây hại trên lá, ảnhhưởng đến quang hợp của cây trồng, giảm sản lượng cây ăn quả.

2.3 Vị trí và vai trò của vấn đề nghiên cứu

2.3.1 Đặc điểm chung của cây bưởi Diễn

Là loài cây ăn quả lâu năm, thuộc nhóm cây có múi, thân gỗ, khá dễtrồng thích hợp nhất trên loại đất thịt Cây khi trưởng thành và bắt đầu cho thuhoạch sẽ có chiều cao trên 2 mét, bề rộng tán cũng vậy Cây bưởi Diễn ra quả

1 năm 1 lần, thường ra hoa vào tháng hai, quả chín từ tháng 10 đến đúng vàodịp tết Khi bước vào thời kỳ chính thức cho thu (thường là năm thứ 5) mộtcây có thể cho 80 trái

Về quả bưởi Diễn, khác biệt với các loại quả bưởi khác, nó có kíchthước nhỏ, đường kính chừng 15 cm, trọng lượng bình quân từ 0,8 – 1,5 kg.Phần cùi và vỏ của đặc sản này mỏng người bổ phải rất khéo nếu không muốncắt vào ruột Múi bưởi có tép tráng hoặc hơi xanh, hạt bên trong se nhỏ, khi

ăn sẽ thấy vị ngọt đậm đà, khi ăn xong rồi còn lưu mãi ở đầu lưỡi

Do nhu cầu lớn về chuyển đổi cây trồng, cây bưởi Diễn được rất nhiều

bà con lựa chọn đưa vào khu vườn và trang trại của mình Mỗi cây giống hiện

có giá bán dao động trong mức 20.000 - 70.000 đồng tùy loại, đem lại giá trịkinh tế không hề nhỏ cho người nông dân

Cùng với việc bán quả và cây giống, việc phát triển mô hình trồng bưởicảnh cũng đang trở thành một xu hướng được nhiều người dân chú ý và pháttriển Đặc biệt trong dịp tết một cây khi lên chậu cũng được ít nhất từ 500nghìn đến 2 triệu đồng

2.3.3 Công dụng trái bưởi

Bưởi Diễn cũng giống như nhiều loại quả có múi khác có hàm lượngvitamin rất lớn như A, C, E cùng nhiều axit tự nhiên tốt cho sức khỏe người

sử dụng, trong đó có chất pectin giúp giảm lượng cholesterol trong máu nên

hỗ trợ tốt cho người bị béo phì tiểu đường Chưa kể, nó còn là vị thuốc khá

Trang 19

phổ biến trong dân gian trị các bệnh như tiêu đờm, rối loạn tiêu hóa, cảmcúm

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng

* Đặc điểm sinh học:

Theo ông Tăng Huy - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Lục Ngạn chorằng: Tuổi thọ cây có múi thường cao, đặc biệt là nơi có khí hậu ôn hòa, đấttốt nhưng có độ dốc thoát nước tốt Ở các vườn bưởi á nhiệt đới hoặc nhiệtđới, nếu trồng đúng kỹ thuật, chọn địa điểm thích hợp, tuổi thọ vườn bưởitrung bình là từ 10 đến15 năm

- Mưa và độ ẩm: Nước cần cho suốt quá trình sinh trưởng của bưởinhưng cần nhất vào lúc nảy mầm Ở nước ta có lượng mưa phù hợp cho sinhtrưởng và phát triển của cây bưởi Tuy nhiên, phân bố không đồng đều trongnăm, mùa khô phải tưới ẩm cho cây, mức nước ngầm cao hoặc ngập úng sẽ làm

rễ thối, lá rụng

- Ánh sáng: Bưởi là cây ưa sáng, nếu đủ ánh sáng thì mã quả đẹp, chấtlượng tốt, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh mẽ làm xám quả

Với những đặc điểm trên, khí hậu khu vực huyện Lục Ngạn nói chung

và xã Kiên Thành nói riêng rất phù hợp để trồng và phát triển mạnh cây bưởi,trong đó có cây bưởi Diễn

* Về thổ nhưỡng

- Đất đai: Các giống bưởi có yêu cầu khác nhau về đất, nhưng đất trồngbưởi tốt nhất là phù sa cổ, đất thịt nhẹ tầng đất dầy, nhiều mùn, có độ pH từ5,5 - 6,5 Mực nước ngầm thấp, độ dốc vừa phải không quá 150, tránh trồngtrên đất sét hoặc đất có mực nước ngầm cao

- Dinh dưỡng: Bưởi là cây cho sản lượng cao, nên yêu cầu nhiều dinhdưỡng để cây sinh trưởng và phát triển để bù lại lượng dinh dưỡng đã bị mất

đi theo sản phẩm thu hoạch Bưởi cần đầy đủ và cân đối các nguyên tố đalượng như N, P, K, Ca và các nguyên tố vi lượng như Fe, Cu, Bo, Mo

Trang 20

Với những yếu tố trên, khu vực huyện Lục Ngạn nói chung và xã KiênThành nói riêng rất phù hợp để trồng và phát triển mạnh cây bưởi, trong đó cócây bưởi Diễn.

* Về nguồn nhân lực

Theo Báo cáo của UBND xã Kiên Thành, năm 2018 có 10.478 nhânkhẩu, trong đó có 5.695 nhân khẩu trong độ tuổi lao động, trong đó có 5.015lao động trực tiếp, đây là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển kinh tế, trong

đó có lĩnh vực trồng trọt Tuy nhiên, do xu thế chung, một bộ phận lao độngtrẻ, có trình độ đều đi làm các công ty và các ngành nghề khác, chỉ còn laođộng nhiều tuổi và trình độ thấp mới ở nhà trồng trọt Do vậy việc áp dụngkiến thức vào sản xuất tương đối khó khăn, chủ yếu là áp dụng kinh nghiệm làchính, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất

2.5 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

- Những năm gần đây, trong công cuộc đổi mới, Đảng rất chú trọngphát triển nông nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn, ưu tiênphát triển những ngành nghề như chăn nuôi, trồng trọt tạo nên sự cân đốihài hòa giữa ngành nông, lâm, ngư nghiệp; ví dụ như Quyết định số1006/QĐ-BNN-TT ngày 13/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNTBan hành kế hoạch thực hiện tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt năm 2014 - 2015

và giai đoạn 2016 - 2020

- Trong giai đoạn hiện nay nghề trồng cây ăn quả được xác định là mộtngành kinh tế quan trọng trong ngành kinh tế nông nghiệp nước ta, đặc biệt làtrong nông thôn, nó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tăng thunhập cho hộ, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa

- Phát triển sản xuất quả bưởi Diễn thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóatrong nông nghiệp nông thôn, góp phần chuyển nền sản xuất tự cung, tự cấpsang nền kinh tế sản xuất hàng hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo trong nôngthôn hiện nay, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ởnông thôn

- Phát triển sản xuất bưởi Diễn là một khâu quan trọng thúc đẩy quátrình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp Sản phẩm sảnxuất có giá trị và nhu cầu tiêu thụ cao và có thể xuất khẩu để thu ngoại tệ vềcho nước ta

- Qua đây có thể nhìn thấy phát triển sản xuất bưởi, cam ở khu vựcnông thôn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa

Trang 21

phương quan tâm, tạo điều kiện phát triển nhằm thúc đẩy kinh tế ở địaphương, giúp người dân có công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hộ, xóa đóigiảm nghèo

2.6 Kinh nghiệm trong nước và trên thế gới

2.6.1 Kinh nghiệm trong nước

Tình hình sản xuất, tiêu thụ bưởi ở Việt Nam

Nước ta có 3 vùng trồng cây có múi chủ yếu, đó là: Vùng Đồng bằngsông Cửu Long: cây có múi (cam, quýt, bưởi, chanh) ở đồng bằng sông CửuLong có tổng diện tích 74.400ha, chiếm 54% và sản lượng 880.800 tấn/năm,chiếm 65% so với cây có múi của cả nước Đặc biệt, có các giống cây có múiđặc sản nổi tiếng được người tiêu dùng ưa chuộng và mua với giá cao (bưởi

Da Xanh của Bến Tre; bưởi Năm Roi của Vĩnh Long, Hậu Giang; quýt Hồngcủa Đồng Tháp; quýt Đường của Trà Vinh; cam Sành và bưởi Lông Cổ Còcủa Tiền Giang )

Vùng Bắc Trung bộ: theo thống kê năm 2009 diện tích cây có múitoànvùng là 16.550 ha, trong đó có 12.520 ha cho thu hoạch Trong vùng này

có hai vùng bưởi đặc sản đó là bưởi Thanh Trà của Huế, bưởi Phúc Trạch củaHương Khê, Hà Tĩnh Với ưu việt của mình, diện tích bưởi Phúc Trạch ngàyđược mở rộng Trong năm 2008, diện tích trồng bưởi Phúc Trạch lên đến1600ha, trong đó có khoảng 1250 ha đã cho quả, sản lượng quả bình quânnhững năm gần đây đạt 15-17 nghìn tấn/năm

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: cây có múi ở vùng này đượctrồng ở những vùng đất ven sông, suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gâm,sông Chảy Hiện chỉ còn một số vùng tương đối tập trung là Bắc Sơn, BắcQuang, riêng cây bưởi ở vùng này có 474 ha chiếm 17,5% diện tích cây cómúi với giống bưởi Đoan Hùng ngon nổi tiếng

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Việt Nam năm 2011

Trang 22

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến năm 2013 cả nước có 56.600nghìn ha cây có múi, sản lượng đạt 708,6 nghìn tấn, trong đó diện tích bưởi,bòng là 45,2 nghìn ha Đặc biệt, trong những năm vừa qua, trong khi diện tíchhầu như không tăng thì năng suất đã tăng đáng kể, từ 100,123 tạ/ha năm 2005lên 125,190 tạ/ha năm 2013 Cũng dễ dàng nhận thấy rằng ở nước ta bưởiđược trồng ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước, và có nhiều vùng sản xuất tậptrung nổi tiếng tới hàng trăm hecta bưởi là: vùng bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ(khoảng 300 ha), bưởi Diễn - Hà Nội (riêng xã Phú Diễn có khoảng 53 ha với

600 hộ trồng, xã Thượng Mỗ, huyện Hoài Đức - Hà Tây diện tích bưởi Diễnkhoảng 125 ha), Phúc Trạch - Hà Tĩnh (1.250 ha), Thanh Trà - Thừa ThiênHuế (165,2 ha), Biên Hòa - Đồng Nai vv…, đặc biệt là vùng bưởi Đồng bằngsông Cửu long Theo Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, chỉ riêng bưởiNăm roi ở Đồng bằng sông Cửu Long diện tích đã khoảng trên 10.000 ha, sảnlượng đạt 60.000 tấn/năm, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long với diện tích 4,5nghìn ha cho sản lượng 31,3 nghìn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% vềsản lượng Năm Roi của cả nước, trong đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4nghìn ha với sản lượng gần 30 nghìn tấn Tiếp theo là tỉnh Hậu Giang: 1,3nghìn ha Giống bưởi Da Xanh mới chọn lọc cách đây khoảng chục nămnhưng diện tích trồng giống bưởi này ở Bến Tre đã có 1.544 ha Trồng bưởi làmột nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Ở Đồng bằng sôngCửu Long hiệu quả của trồng bưởi Năm Roi là rất cao vì giá mỗi chục bưởi(14 quả) loại 1 thấp nhất là 68 ngàn đồng và lên đến 120 ngàn đồng trong thờiđiểm từ tết Nguyên đán đến tháng 5 âm lịch Như vậy 1 công bưởi (1000 m2)thu được vài chục đến cả trăm triệu đồng mỗi năm Các hộ trồng bưởi DaXanh ở tỉnh Bến Tre đều thu nhập trên 150 triệu đồng/ha Ở Thượng Mỗ, HàTây người ta tính được hiệu quả kinh tế của trồng bưởi gấp 4 -5 lần so vớitrồng lúa Giá trị thu nhập của 1 sào bưởi lên khoảng trên 10 triệu đồng Cònđối với bưởi Đoan Hùng, thông thường những nhà trồng 30 cây bưởi cũng thuđược mỗi năm 15 - 20 triệu đồng/năm Trước đây bưởi ở Việt Nam chủ yếu sửdụng ăn tươi và sản xuất bưởi của nước ta chỉ đủ để cung cấp cho thị trườngtrong nước Một vài năm gần đây đã có một số công ty như Hoàng Gia, ĐôngNam đã bắt đầu những hoạt động như đầu tư sản xuất, áp dụng các biện phápquản lý chất lượng theo GAP, đăng ký thương hiệu một số giống bưởi ngon ởnước ta như Năm Roi, Da Xanh, Phúc Trạch vv với mục đích xuất khẩu rathị trường nước ngoài Bưởi Năm Roi ở Đồng bằng sông Cửu Long đượcnhiều khách nước ngoài ưa chuộng Hội Làm vườn huyện Vĩnh Cửu (ĐồngNai) đã ký hợp đồng xuất khẩu trên 40.000 trái bưởi đặc sản Tân Triều sang

Trang 23

thị trường Singapore với giá 18.000đ/kg (khoảng 220.000 đ/chục) Riêng

2007, toàn huyện đã bán được trên 100.000 trái bưởi và 25.000 lít rượu bưởi.Toàn huyện hiện có gần 2.000 hộ trồng bưởi với tổng diện tích khoảng 700

ha, tập trung chủ yếu tại hai xã Tân Bình, Bình Lợi

Hiện nay mặt hàng bưởi da xanh là đặc sản của tỉnh Bến Tre, đã đượcxuất khẩu sang 50 thị trường khác nhau trên Thế giới Giá trị xuất khẩu củacây có múi tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2012 do Trung tâmthương mại quốc gia tổng hợp tại bảng 1.4

Bảng 2.2 Giá trị xuất khẩu của một số cây có múi tại Việt Nam (2010 -2012)

(Nguồn: Trung tâm thương mại Quốc gia, 2012)

Tuy nhiên, vùng còn gặp khó khăn như: Địa hình dốc, lượng mưa phân

bố không đều, đất nghèo kiệt dinh dưỡng do rửa trôi, xói mòn Việc áp dụng

kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, chủ yếu vẫn là độc canh một giống, chưaquan tâm chọn giống, địa bàn rất phân tán, giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng

cơ sở nghèo nàn, rất khó khăn trong việc vận chuyển và tìm kiếm thị trường

2.6.2 Kinh nghiệm trên thế giới

- Trên thế giới sản xuất khoảng 4 - 5 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm(Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis) chiếm 5,4 - 5,6 % tổng sản lượngcây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm (chiếm 2,8 - 3,5 triệu tấn) còn lạibưởi chiếm một lượng khá khiêm tốn khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn Sản xuất bưởichùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biếnnước quả Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á, tập trungnhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn độ, Philippines, Thái Lan,Bangladesh, được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu

- Tính đến năm 2012, diện tích trồng cây bưởi trên thế giới đạt 253.971

ha, năng suất bình quân đạt 20,85 tấn/ha và sản lượng đạt 6.565.351 tấn

Trang 24

Trong vòng gần 10 năm từ 2003 - 2012, diện tích bưởi mặc dù giảm nhưngsản lượng tăng thêm 1,1 triệu tấn, nguyên nhân chủ yếu do năng suất đượctăng lên bởi áp dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất bưởi.

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi trên thế giới

Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở một số nước trồng

bưởi chủ yếu trên thế giới năm 2012

TT Vùng/địa điểm Diện tích thu

hoạch (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 25

Cao Fan, Năm 1987 Thái Lan trồng 1.500 ha bưởi cho sản lượng 76.275tấn với giá trị 28 triệu đôla Mỹ [44] Đến năm 2007, diện tích bưởi ở Thái Lankhoảng 34.354 ha và sản lượng khoảng 197.716 tấn, bao gồm cả bưởi chùm.Năm 2012, Thái Lan trồng 14.136 ha và đạt sản lượng 193.253 tấn

Ấn Độ: bưởi và bưởi chùm trồng trên quy mô thương mại ở một sốvùng Bưởi chùm là loại quả được dùng để ăn sáng phổ biến ở nhiều nước,Những vùng khô hạn như Punjab là nơi lý tưởng với bưởi chùm Bưởi có thểtrồng được ở những vùng có lượng mưa lớn và phát triển tốt ở vùng KonKan.Năm 2005, Ấn Độ sản xuất được 142.000 tấn bưởi và bưởi chùm Năm 2012,sản lượng bưởi quả đạt 183.922 tấn xếp thứ 2 về sản xuất bưởi quả ở các nướcchâu Á Dự kiến năm 2015, Ấn Độ sẽ tăng gấp đôi diện tích trồng bưởi chùmcho xuất khẩu và sản lượng dự kiến tăng 30%

Mỹ: là quốc gia có sản lượng bưởi quả đứng thứ 2 thế giới, trong đóchủ yếu là sản phẩm bưởi chùm Ở Mỹ, việc chọn tạo giống cam quýt nóichung và giống bưởi nói riêng rất được chú trọng, vì vậy là quốc gia có bộgiống bưởi đưa vào sản xuất tốt nhất thế giới, với nhiều giống cho quả khônghạt (thể bất dục đực, bất dục cái, thể tam bội,…) Năm 2009, sản lượng bưởiquả (chủ yếu là bưởi chùm) của Mỹ đạt 1.182.970 tấn và là quốc gia xuấtkhẩu bưởi chùm lớn nhất thế giới

Trên thế giới hiện nay có 3 vùng trồng cam quýt chủ yếu, riêng với câybưởi là vùng châu Mỹ, Địa Trung Hải và châu Á Trong đó khu vực Bắc Mỹ

là vùng trồng lớn nhất sau đó đến châu Á và vùng Địa Trung Hải Theo thống

kê của FAO, năm 1997 sản lượng bưởi của khu vực Bắc Mỹ là 3,497 triệu tấnchiếm 69,4% sản lượng bưởi của thế giới, các quốc gia có sản phẩm bưởi quảngoài khu vực Bắc Mỹ có sản lượng khoảng 1.541 triệu tấn chiếm 30,6%.Châu Á: là cái nôi của cam quýt và cây bưởi và cũng là khu vực sản xuất bưởilớn trên thế giới, năm 2012 với diện tích cho thu hoạch quả là 116.914 ha,năng suất 315,549 tạ/ha thì sản lượng đạt được là 3.689.213 tấn

Một số nước ở châu Á tuy có sản lượng bưởi cao như Trung Quốc,Nhật Bản và Đài Loan, nhưng do hạn chế về trình độ canh tác nên năng suất

và chất lượng các giống bưởi ở vùng này còn thấp so với các vùng khác.Công tác chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác (trừ Nhật Bản, Hàn Quốc, ĐàiLoan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng trồng bưởi khác trên thế giới.Tuy nhiên nghề trồng cam quýt ở châu Á là sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại(Nhật Bản, Đài Loan) và sự canh tác truyền thống như: Trung Quốc, Ấn Độ,

Trang 26

Philippines Ở vùng này hiện nay tình hình sâu bệnh hại trên cây có múi xảy

ra nghiêm trọng

Về tiêu thụ bưởi: Nhật Bản vẫn là một thị trường lớn cho việc tiêu thụbưởi Trong năm 2004/05 bang Florida của Mỹ đã xuất sang Nhật Bản4.755.972 thùng (80.851 tấn) bưởi tươi, năm 2005/06: 6 - 7 triệu thùng (102-

119 nghìn tấn), năm 2006/07: 8 triệu thùng (136 ngàn tấn) Nam Phi cũngxuất sang Nhật khoảng 6 triệu thùng (96.721 tấn) bưởi trong năm 2004/2005,tăng gần 1,55 triệu thùng so với năm 2003/2004

Trong các loại cây ăn quả, cùng với nho, bưởi, cam có lịch sử trồng trọtlâu đời nhất Có nhiều báo cáo nói về nguồn gốc của bưởi, cam phần lớn đềunhất trí rằng bưởi, cam có nguồn gốc ở miền nam châu Á, trải dài từ Ấn Độqua Himalaya, Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miềnnam Indonecia hoặc kéo đến lục địa Úc Những báo cáo gần đây nhận địnhrằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loàibưởi, cam quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài bưởi hoang dại

Tóm lại, bưởi, cam có nguồn gốc ở miền nam châu Á, sự lan trải củabưởi, cam trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộcchiến tranh trước đây

2.6.3 Một số bài học kinh nghiệm

Việc đầu tư nghiên cứu chọn tạo những giống cây ăn quả có năng suấtcao, chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu của khách hàng chưa thoả đáng Đây

là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc chậm thay đổi các giốngcây ăn quả có chất lượng thấp thời gian qua

Công tác bảo quản sau thu hoạch quả bưởi ở Việt Nam gặp rất nhiềukhó khăn Các sản phẩm của nước ta thường chỉ bảo quản được khoảng 1- 2tuần, nếu để lâu hơn sẽ sảy ra tình trạng héo hoặc thối làm mất giá trị thươngphẩm và giá trị cạnh tranh của sản phẩm Trong khi bưởi, cam nhập từ TrungQuốc, Mỹ, Thái Lan có thể bảo quản lên thới 3 - 4 tháng

Thị trường bưởi, cam trong nước và xuất khẩu không ổn định, giá cả bấpbênh, nhất là sau sự sụp đổ của các nước đông Âu, thị trường xuất khẩu bưởi,cam của Việt Nam bị thay đổi theo hướng bất lợi Do sự nhập khẩu bất hợp phápbưởi, cam từ Trung Quốc với giá rẻ đã làm giá bưởi, cam nội địa giảm đi nhiều

Thiếu một kế hoạch đầu tư, quy hoạch phát triển vùng trồng bưởi,cam một cách thống nhất, đồng bộ, đôi khi các vùng bưởi, cam được hình

Trang 27

thành tự phát trong sản xuất Những yếu tố trên đã ảnh hưởng không ítnghề trồng bưởi, cam ở nước ta.

Phần thứ ba ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Phía Đông tiếp giáp xã Thanh Hải

Phía Tây tiếp giáp xã Kiên Lao

Phía Nam tiếp giáp xã Trù Hựu

Phía Bắc tiếp giáp xã Sơn Hải

Với vị trí địa lý như vậy, Kiên Thành rất thuận lợi trong việc giao lưukinh tế với các xã khác trong và ngoài huyện Đặc biệt, trên địa bàn huyện cótuyến đường Quốc lộ 31 đi qua trung tâm huyện và các xã ven quốc lộ 31, tậptrung dân cư đông đúc, tiềm năng phát triển to lớn chắc chắn sẽ thúc đẩy kinh

tế toàn huyện tiến bước vững chắc trong thời gian tới

b Đặc điểm đất đai:

Địa hình Kiên Thành đồi núi thấp, phân bố rải rác trong xã, có độ chiacắt trung bình địa hình lượn sóng, độ dốc bình quân 10-18o Độ phì của đấttrung bình, chủ yếu là đất pha sỏi, độ che phủ rừng trung bình Trên loại địahình này cho khả năng phát triển cây lâu năm (Vải thiều, nhãn, bưởi , cam )

Vùng này đất đai có độ phì khá, khả năng phát triển rừng còn rất lớn,điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt làtrồng các loại cây ăn quả

c Đặc điểm khí hậu - thủy văn…

* Về nhiệt độ:

Trang 28

Kiên Thành nằm trong vòng cung Đông Triều, có khí hậu nhiệt đới giómùa nóng ẩm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân cả năm khoảng 23,5oC Nhiệt độ trungbình cao nhất năm khoảng 26,9oC, nhiệt độ trung bình thấp nhất năm làkhoảng 21,5oC, Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7, 8; tháng có nhiệt độthấp nhất là các tháng 12 và tháng 01, 02 (có khi xuống tới 0 – 1oC) Nhữngtháng rét đậm rét hại có tác động xấu đến phát triển nông nghiệp nói chung vàviệc phát triển của Bưởi Diễn nói riêng.

* Lượng mưa:

Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.517,5 mm thuộc vùng mưa trungbình của vùng trung du bắc bộ Lượng mưa phân bố không đều trong năm.Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiến 85% tổng lượng mưa của cả năm,trong đó tập trung nhiều vào các tháng 6, 7, 8, dễ gây ngập úng ở những nơiđịa hình thấp, tuy thời gian ngập úng không dài nhưng dễ gây lũ, lốc xoáy

Ngược lại trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau lượng mưachỉ chiếm khoảng 16% tổng lượng mưa cả năm Trong mùa này lượng bốc hơicao ảnh hưởng tới trồng trọt nếu không có hệ thống tưới Lượng bốc hơi trungbình năm 1.013,2 mm Lượng bốc hơi tập trung nhiều vào các tháng 6,7,8, cáctháng còn lại lượng bốc hơi phân bố khá đều

* Độ ẩm không khí:

Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 82%, cao nhất là 87% (tháng4)

và thấp nhất là 75% (tháng12)

Nhìn chung, xã Kiên Thành nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,

có mùa Hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông ít mưa, lạnh và khô Địa bàn xã cólượng mưa trung bình, với nền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánh sáng.Đây là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Xã Kiên Thành, hiện nay có 2.366 hộ, dân số 10.478 khẩu, số lao động

trong độ tuổi là 6.450 người, với 8 dân tộc anh em sinh sống ở 22 thôn (trong

đó có 04 thôn đặc biệt khó khăn), tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm trên

66,9%; tỷ lệ hộ nghèo còn 6,56 %; có 03/03 trường học đạt chuẩn quốc gia vàtrạm y tế đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; cơ sở hạ tầng thường xuyên đượcquan tâm, tổng số trên địa bàn xã có 73,5 km đường; đến hết năm 2018 đã có38,3 km đường giao thông được nhựa hóa và bê tông hóa, đạt tỷ lệ 52,1%; xã

có chợ đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; hoàn thành 14/19 tiêu chí xây dựng

Trang 29

nông thôn mới Địa bàn xã có 02 đơn vị Quân đội và 01 công ty may Đáp cầuLục Ngạn đóng quân trên địa bàn; có tuyến đường tỉnh lộ 289 đi qua địa bàndài 1,5 km và tuyến đường huyện ( ĐH85) đi từ Chũ đi qua trung tâm xã đilên Sơn Hải dài 6,5 km, thuận lợi cho giao thông và tiêu thụ hàng hóa, sảnphẩm

Tình hình dân số và lao động được thể hiện qua bảng 3.1

Bảng 3.1: Nhân khẩu và lao động xã Kiên Thành giai đoạn 2018)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

I Tổng nhân khẩu Người 9.821 100 10.078 100 10.478 100

Trang 30

Qua bảng 3.1, chúng ta thấy, tổng số nhân khẩu tăng trong 3 năm (từ9.821 người lên 10.478 người), tăng thêm 657 nhân khẩu, trong đó số nhânkhẩu tăng lên chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp với 370 người.

Tổng số hộ cũng có mức tăng là 2.215 hộ năm 2016 tăng lên 2.366 hộnăm 2018, tăng thêm 151 hộ, trong đó hộ nông nghiệp tăng 97 hộ

Diện tích đất tự nhiện năm 2018 giảm 2,5 km2 so với năm 2017, dođiều chỉnh lại diện tích đất tự nhiên (Bản đồ hiện trạng năm 2018)

3.1.3 Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

* Tình hình phát triển kinh tế

Sản xuất nông- lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong năm qua tại

xã Kiên Thành đạt được rất nhiều thành công, cụ thể như sau:

- Về trồng trọt

Trồng trọt vẫn là nguồn thu nhập quan trọng trong cơ cấu ngành nôngnghiệp của địa phương Năm 2018, giá trị sản xuất/1ha đất nông nghiệp là 115triệu đồng, tăng 12,7 triệu đồng so với năm 2017 Cùng với việc hướng dẫnnhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt chú trọng đến ứng dụng khoahọc kỹ thuật và đầu tư thâm canh nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm

Cây ăn quả tiếp tục giữ vị thế cây chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cao,

là nguồn thu nhập chủ yếu của địa phương Năm 2018, tổng diện tích cây ănquả là 985,4 ha, trong đó: diện tích cây vải thiều = 523,6 ha, sản lượng ướcđạt 4.844 tấn; diện tích nhãn = 127,5 ha; diện tích bưởi = 137,5 ha; diện tíchcam các loại = 182,6 ha; ngoài ra còn có một số loại cây ăn quả khác = 14,2

ha Điều kiện thuận lợi cùng với sự dầy công chăm sóc của nhân dân nên cây

ăn quả được mùa, sản lượng quả tươi đạt trên 6.500 tấn, tổng giá trị ước đạttrên 52 tỷ đồng

Do nhân dân đã tự ý chuyển đổi từ một phần diện tích cấy lúa sangtrồng cây ăn quả, nên tổng diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt năm

2018 là 83,5 ha, trong đó: diện tích lúa 38,5 ha, diện tích ngô 45 ha; Diện tíchcây công nghiệp là 16,5 ha

Công tác khuyến nông: Phối hợp với Trạm Khuyến nông, Phòng Dân

tộc huyện tổ chức được 19 lớp tập huấn cho các hộ dân thực hành áp dụng cácbiện pháp kỹ thuật sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGap, cho 352 người

và phát 440 bộ tài liệu; nâng cao được kiến thức khoa học kỹ thuật và đảmbảo vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm cho người sử dụng; tổ chức chocác hộ gia đình ký cam kết áp dụng quy trình sản xuất vải thiều, cam bưởi

Trang 31

theo tiêu chuẩn VietGap; trong đó diện tích vải thiều là 356,1, sản lượng 2.325tấn; cây có múi là 38,3 ha, sản lượng ước đạt 402,2 tấn; số diện tích trên đãđược cấp giấy chứng nhận cây ăn quả theo tiêu chuẩn VietGap

- Điều kiện y tế - giáo dục:

Công tác y tế được duy trì tốt, các hoạt động khám chữa bệnh, bảo vệ

và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm chú trọng UBND xã đãchỉ đạo Trạm Y tế tập trung cao thực hiện các giải pháp phòng, chống dịchbệnh, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, qua đó kịp thờikhống chế, không để xảy ra dịch bệnh

3.1.4 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất sản xuất, kinh doanh

Bảng 3.2 Hiện trạng cơ sở hạ tầng tính đến năm 2018

I Công trình thủy lợi

II Công trình giao thông

III Công trình điện

IV Công trình cơ sở hạ tầng

Trang 32

(Nguồn: UBND xã Kiên Thành năm năm 2018)

+ Thủy lợi: Toàn xã có 47,29 km kênh mương nội đồng, 14,15 km kênhmương được kiên cố hóa Hệ thống công trình thủy lợi của xã cơ bản đáp ứngtưới tiêu cho số ruộng hiện có

+ Trường học: Cả xã có 87 phòng học, cơ sở vật chất tương đối đầy đủcho công tác dạy và học của các học sinh vào giáo viên trên toàn xã Thựchiện tốt công tác giáo dục ở địa phương, phối hợp với các nhà trường sửachữa và xây dựng đảm bảo cơ sở vật chất cho công tác dạy và học; duy trì vàgiữ vững thành quả phổ cập giáo dục Tiểu học chống mù chữ, Tiểu học đúng

độ tuổi và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở

+ Cấp thoát nước: Trên địa bàn xã có 02 tuyến mương cấp I dẫn nước

từ đập Khuôn Thần về phục vụ sản xuất Nông nghiệp, đảm bảo cung cấpnước tưới tiêu cho 20/22 thôn trên địa bàn xã

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn điểm

Xã Kiên Thành là một trong 29 xã, 01 thị trấn của huyện Lục Ngạn, cóhơn 80% các hộ gia đình trong xã làm nông nghiệp, chủ yếu trồng cây ăn quả,với tổng diện tích cây ăn quả là 985,4 ha Là một xã có nhiều lợi thế để pháttriển kinh tế đa dạng với nền tảng là nông nghiệp, trọng tâm là phát triển kinh

tế hộ Do đặc điểm nghiên cứu của đề tài nên việc chọn điểm nghiên cứu làđịa phương có ảnh hưởng lớn bởi sự biến động về giá và vùng chủ yếu sảnxuất quả bưởi Diễn ở xã Kiên Thành với sản lượng đủ lớn Với những lý dotrên, xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang được chọn làm điểmnghiên cứu của đề tài

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập cácthông tin, số liệu có sẵn đã được công bố, đảm bảo tính đại diện và kháchquan của đề tài nghiên cứu Những số liệu này mang tính tổng quát, giúp chongười nghiên cứu có bước đầu hình dung tình hình sản xuất, những vấn đềthuận lợi khó khăn mà người dân gặp phải Các thông tin này thường đượcthu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng dự án,…

Trong phạm vi đề tài này, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

sử dụng để có được các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của

xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang từ UBND xã, cán bộ

Trang 33

khuyến nông, cán bộ nông nghiệp, Hội Nông dân Lục Ngạn, Trung tâm cây

ăn quả huyện Lục Ngạn, Trạm khí tượng thủy văn huyện Lục Ngạn,

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập các

thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kỳ tài liệu nào, người thu thập

có được thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng nhữngphương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát thực tế, đánh giá nông thôn…

Để có số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu và nhằm thu được kếtquả khách quan, có tính đại diện cao, tôi tiến hành điều tra 60 hộ nông dânsản xuất quả bưởi Diễn tại 6 thôn: Núi Năng; Nương; Phượng Hoàng; TrạiGiáp; Lam Sơn và Bằng Công

Ngoài ra, cần sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp trong quá trìnhđiều tra bằng bảng hỏi để có được có thể đối chiếu với những thông tin thuthập được trong bảng hỏi Từ đó đưa ra những đánh giá về quá trình sản xuất

và tiêu thụ quả bưởi Diễn của bà con nhân dân trong xã Kiên Thành

* Cách chọn mẫu điều tra

Mẫu được chọn để tiến hành điều tra là 60 hộ gia đình chia đều cho 06thôn điển hình trong sản xuất bưởi của xã Kiên Thành Các hộ này được chọnhoàn toàn ngẫu nhiên theo hình thức lập danh sách và rút thăm danh sách các

hộ trồng bưởi của 06 thôn Từ kết quả thu thập được có thể đưa ra đánh giáchung và khách quan hơn cho đề tài nghiên cứu Cách chọn hộ nông dân đượcđiều tra, phỏng vấn tại 06 thôn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơngiản

Số lượng mẫu điều tra được phân chia như sau:

Để lựa chọn mẫu chúng tôi dựa vào trên đặc tính hay tập quán canh tác

để đi sâu hơn vào nghiên cứu phân tích mẫu

Bảng 3.3: Phân loại số lượng mẫu chọn điều tra

Tên thôn

điều tra

Tổng số (hộ)

Phân theo tập quán canh tác của hộ Chuyên sản

xuất quả bưởi Diễn

Kiêm sản xuất quả bưởi Diễn

Trang 34

Bảng 3.4: Phân chia hộ theo diện tích ta phân chia các hộ theo bảng sau

* Phương pháp phân tích SWOT

Đây là phương pháp nhằm giúp cộng đồng có thể tự tìm ra các điểmmạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của địa phương nơi họ đang sinh sống

Từ những kết quả phân tích đó có thể đề xuất hoặc đưa ra những giảipháp thích hợp nhằm phát huy điểm mạnh, tận dụng cơ hội, đẩy lùi điểm yếu

và vượt qua thách thức trong tương lai

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

3.2.3.1 Phương pháp xử lý thông tin

Đề tài dùng công cụ để xử lý số liệu là phần mềm Microsoft Word2010

3.2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

Xã Kiên Thành, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, nhưng chưavững chắc và phát triển bền vững Cơ cấu kinh tế giữa các ngành có sự chênhlệch khá lớn, cơ cấu các ngành kinh tế được thể hiện rõ qua bảng dưới đây:

Bảng 3.5: Cơ cấu kinh tế xã Kiên Thành giai đoạn (2016 - 2018)

Trang 35

STT Ngành 2016 2017 2018

(Nguồn: UBND xã Kiên Thành năm năm 2016, 2017, 2018)

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018

Hình 3.5: Cơ cấu kinh tế xã Kiên Thành năm 2016, 2017, 2018

Qua biểu đồ cho thấy:

Trong 3 năm ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 2016chiếm 74,5%, năm 2017 chiếm trên 72,4%, năm 2018 chiếm 70,8%, qua cácnăm tỷ trọng nghành nông nghiệp giảm dần, tuy nhiên giảm không đáng kể

Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp là chiếm tỷ trọng nhỏ nhất,năm 2016 chiếm 5,5%, năm 2017 chiếm 5,9%, năm 2018 chiếm 6,1%, qua cácnăm tỷ trọng ngành của ngành có xu hướng tăng, tuy nhiên tăng không đáng kể

Ngành thương mại – dịch vụ cũng chiếm tỷ lệ ít tuy nhiên cao hơnngành CN – TTCN, tỷ trọng chiếm không đáng kể, qua các năm ngành TM –

DV có xu hướng tăng Như vậy, kinh tế xã Kiên Thành đang chuyển dịch cơcấu theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành CN– TTCN, TM – DV, theo đúng xu hướng mà Nhà nước ta đã và đang tích cựcchuyển dịch Đồng thời cho thấy được ngành nông nghiệp là ngành mang lạithu nhập chính cho người dân nơi đây

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu dùng nghiên cứu đề tài

Ngày đăng: 18/06/2019, 17:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Huy Đáp (1960), “ bưởi cam”, Cây ăn quả nhiệt đới tập I, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ bưởi cam”, Cây ăn quả nhiệt đới tập I
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXBNông nghiệp
Năm: 1960
3. Vũ Công Hậu, Nhân giống cây ăn trái, NXB Nông nghiệp (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân giống cây ăn trái
Nhà XB: NXB Nông nghiệp (1999)
4. Nguyễn Tú Huy, Luận văn thạc sĩ trồng trọt ĐHNL Thái Nguyên, Mã số: 60.62.01, www. thuvienluanvan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ trồng trọt ĐHNL Thái Nguyên", Mãsố: 60.62.01, www
5. ...... Dũng, Bài giảng phương pháp Nghiên cứu khoa học, Trường Đại Học Kinh tế & QTKD Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp Nghiên cứu khoa học
6. Nguyễn Mạnh Thắng (năm 2010), Bài giảng Đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân (PRA- Participatory-Rural-Appraisal), Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Đánh giá nông thôn cósự tham gia của nông dân (PRA- Participatory-Rural-Appraisal)
7. Hoàng Ngọc Thuận, Kỹ thuật chọn tạo bưởi , cam, NXB Nông nghiệp (2000) www.tailieu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chọn tạo bưởi , cam, "NXB Nông nghiệp(2000)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp(2000) "www.tailieu.vn
8.Vũ Thị Ngọc Phùng, Kinh tế phát triển nông thôn, NXB thống kê Hà Nội, www.tailieu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển nông thôn, "NXB thống kê Hà Nội
Nhà XB: NXB thống kê Hà Nội
10. Trần Như Ý, Đào Thanh Vân, Nguyễn Thế Huấn (2000), Giáo trình cây ăn quả, Trường Đại học Nông lâm, Thái Nguyên, Nhà xuất Bản Nông nghiệp Hà nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhcây ăn quả
Tác giả: Trần Như Ý, Đào Thanh Vân, Nguyễn Thế Huấn
Nhà XB: Nhà xuất Bản Nôngnghiệp Hà nội - 2000
Năm: 2000
12. Bộ môn Côn trùng (chủ biên) - trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2004), Giáo trình Côn trùng chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Côn trùng chuyên khoa
Tác giả: Bộ môn Côn trùng (chủ biên) - trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
9. Nguyễn Mạnh Hà ( Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững trên địa bàn huyên Lục Ngạn - Bắc Giang).http://www.Irc-tnu.edu.vn Link
1. Nguyễn Thị Cúc, Phạm Hoàng Oanh (2004), Dịch hại trên bưởi , cam, chanh, bưởi (Rutaceae) và IPM, NXB Nông nghiệp, www.tailieu.vn Khác
11. Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội xã Kiên Thành năm, 2015, 2016, 2017 và phương hướng phát triển kinh tế xã hội năm 2018 Khác
13. Phòng tài nguyên & Môi trường huyện Lục Ngạn Khác
16. UBND xã Kiên Thành (2013), Đề án xây dựng nông thôn mới của xãKiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w