1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện lục nam, tỉnh bắc giang

108 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,53 MB
File đính kèm chất lượng công chức cấp xã.rar (631 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém’’. Thực hiện lời dạy của Người và trước yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, cải cách hành chính đất nước hiện nay đòi hỏi phải có đội ngũ công chức xã, phường, thị trấn (gọi chung là công chức cấp xã) đáp ứng được về năng lực, trình độ, khả năng thích ứng với nhiệm vụ đảm nhiệm, ngày càng phải đạt tiêu chuẩn theo chức danh, chương trình. Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị. Cấp xã giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân. Nhiệm vụ của chính quyền cấp xã được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức chính quyền địa phương. Sự vững mạnh của chính quyền cấp xã là nền tảng cho sự vững mạnh của hệ thống chính quyền trong cả nước và ngược lại. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đội ngũ công chức cấp xã có một vai trò rất quan trọng, bởi đội ngũ cán bộ công chức xã là lực lượng nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức chính quyền cấp xã. Vì vậy, đội ngũ cán bộ công chức của hệ thống chính trị cấp xã là một trong những nhân tố có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Qua từng thời kỳ lịch sử, chính quyền cấp xã không ngừng được xây dựng và củng cố, bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ cơ sở. Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò quyết định đến chất lượng tổ chức, hoạt động của bộ máy chính quyền Nhà nước và quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương. Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các địa phương đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã song kết quả đạt được còn nhiều hạn chế. Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX đã xác định “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở’’. Đây là một khâu đột phá nhằm đổi mới và nâng cao năng lực của Chính quyền cơ sở, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Nghị quyết số 17 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã chỉ rõ: Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất, trẻ hóa đội ngũ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là một trong 3 vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách. Đó là tiền đề, là định hướng quan trọng để tiếp tục nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cơ sở, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Do vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu ‘‘Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang với hy vọng góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong thời gian tới..

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM BẮC GIANG

Trang 2

Bắc Giang, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan, các thông tintrích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Bắc Giang, ngày…tháng…năm 2018

Tác giả

Trần Văn Thuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt luận văn này, ngoài những cố gắng của bản thân, tôi đãnhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy, cô Trường Đại học Nông -Lâm Bắc Giang, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Nông - Lâm BắcGiang, UBND huyện Lục Nam, Phòng Nội vụ huyện Lục Nam, Phòng Tàinguyên và Môi trường huyện Lục Nam, Chi cục thống kê huyện Lục Nam, toàn

bộ công chức cấp xã trên địa bàn nghiên cứu và nhân dân địa phương Nhân dịphoàn thành luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thànhtới sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin được trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của PGS TS.Nguyễn Văn Tuấn – Phó hiệu trưởng trường Đại học Lâm Nghiệp, thầy đã tận tìnhhướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốtquá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè thân thiết, các bạn học viên cùng lớpcao học, các đồng nghiệp, những người đã quan tâm, cho tôi thêm niềm tin vàđộng lực để tập trung nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Bắc Giang, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Trần Văn Thuấn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT V DANH MỤC BẢNG VI TRÍCH YẾU LUẬN VĂN VI

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thê 3

3 Câu hỏi nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Nội dung nghiên cứu

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 5

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Đặc điêm, vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ công chức cấp xã 7

2.1.3 Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã 12

2.1.4 N i dung nâng cao chất lượng đ i ngũ công chức cấp xã ô ô 17

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã 20

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ĐẢM BẢO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ

2.2.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ công chức 26

2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương của Việt Nam 30

2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Lục Nam 33

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.2 Đặc điêm kinh tế - xã hội 38

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Chọn điêm nghiên cứu khảo sát 41

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 41

3.2.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 42

3.2.4 Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 43

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

Trang 6

4.1 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN

LỤC NAM

4.1.1 Số lượng và cơ cấu đội ngũ công chức cấp xã của huyện 44

4.1.2 Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của huyện 46

4.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI HUYỆN LỤC NAM

4.2.1 Công tác tuyên dụng công chức cấp xã 56

4.2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 56

4.2.3 Chế độ, chính sách tiền lương và đãi ngộ đối với công chức cấp xã 59

4.2.4 Công tác quản lý, kiêm tra, giám sát đối với đội ngũ công chức cấp xã 60

4.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỤC NAM

4.3.1 Những thành công 62

4.3.2 Những hạn chế, yếu kém 64

4.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 66

4.4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

4.4.1 Định hướng về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lục Nam 69

4.4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lục Nam 69

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

5.1 KẾT LUẬN

5.2 KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 91

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

CBCC Cán bộ công chức

CNH Công nghiệp hóa

HĐH Hiện đại hóa

HĐND Hội đồng nhân dân

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

BẢNG 3.1 CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN LỤC NAM (2017) 37 BẢNG 3.2 DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, MẬT ĐỘ DÂN SỐ HUYỆN LỤC NAM (2017) 38 BẢNG 3.3 GIÁ TRỊ SẢN XUẤT VÀ CƠ CẤU KINH TẾ CỦA HUY N Ê 40 BẢNG 4.1 TINH HINH BIẾN Đ NG SỐ LƯỢNG VÀ CƠ CẤU CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUY N LỤC NAM Ô Ê 44 BẢNG 4.2 TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG CÁC CHỨC DANH CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN LỤC NAM 45 BẢNG 4.3 TRINH ĐỘ VĂN HÓA VÀ TRINH ĐỘ CHUYÊN MÔN ĐÀO TẠO CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM GIAI ĐOẠN 2015-2017 46 BẢNG 4.4 TRINH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM, GIAI ĐOẠN 2015 - 2017 47 BẢNG 4.5: TRINH ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ TRINH ĐỘ NGOẠI NGỮ, TIN HỌC CỦA CÔNG CHỨC CẤP

XÃ HUYỆN LỤC NAM, GIAI ĐOẠN 2015 - 2017 48 BẢNG 4.6 NĂNG LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM TRONG THỰC HIỆN CÔNG VIỆC 50 BẢNG 4.7 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN LỤC NAM 53 BẢNG 4.8 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ VỀ THÁI ĐỘ, Ý THỨC TRONG THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ 53 BẢNG 4.9 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN LỤC NAM 55 BẢNG 4.10 KẾT QUẢ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN LỤC NAM, GIAI ĐOẠN

2015 - 2017 56 BẢNG 4.11 KẾT QUẢ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN LỤC NAM NĂM 2015- 2017 57 BẢNG 4.12 Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN LỤC NAM 58 BẢNG 4.13 KẾT QUẢ KIỂM TRA, GIÁM SÁT ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM GIAI ĐOẠN 2015-2017 61

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Trang 9

Tên tác giả: Trần Văn Thuấn

Tên Luận văn: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện

Phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Chỉ tiêu nghiên cứu

Đặc điểm địa bàn nghiên

cứu

- Thu thập tông tin từ các báocáo, sách báo, các phòng banthuộc UBND huyện

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế,

- Số lượng công chức cấp xãhuyện Lục Nam

- Thực trạng chất lượng côngchức cấp xã huyện Lục NamCác yếu tố ảnh hưởng

- Phiếu điều tra:

+ Công chức cấp xã: 60 phiếu+ Cán bộ công chức cấphuyện: 30 phiếu

+ Người dân: 50 phiếu

Kết quả chính và kết luận

Với mục tiêu nghiên cứu thực trạng về chất lượng đội ngũ công chức cấp xãhuyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, nhằm đề xuất các giải pháp góp phần nâng caochất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, luận văn

đã giải quyết được một số nội dung chủ yếu sau:

- Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn chất lượng công

chức cấp xã huyện Lục Nam Trong đó tập trung nghiên cứu về khái niệm, nội dung

và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam,cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và của cácnước trên thế giới trong các giai đoạn khác nhau

Trang 10

- Luận văn đã khái quát được những đặc điểm cơ bản về kinh tế, xã hội và

đặc điểm, thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam, cũngnhư đưa ra được các phương pháp nghiên cứu đề tài từ việc lựa chọn địa điểmnghiên cứu, chọn mẫu phỏng vấn cho tới phân tích và xử lý số liệu nghiên cứu

- Luận văn đã trình bày được thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp

xã huyện Lục Nam, đánh giá được thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp

xã huyện Lục Nam và đã chỉ ra được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng chất lượngđội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Trên cơ sở đánh giá những thành công, tồn tại của đội ngũ công chức cấp

xã huyện Lục Nam, cũng như phát hiện được các nguyên nhân của các khó khăn,luận văn đã đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũcông chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Các giải pháp tập trung vào việc giải quyết các vấn đề liên quan tới chấtlượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam

Luận văn cũng đề ra một số nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn hiện nay,những định hướng trong tương lai cũng như nhấn mạnh những giải pháp đưa ranhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh BắcGiang, tỉnh Bắc Giang, để đáp ứng được thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước

Mặc dù đề tài đã đạt được những kết quả nêu trên nhưng do thời giannghiên cứu hạn chế nên các giải pháp của đề tài vẫn chưa thực sự cụ thể và sâusắc, tác giả rất mong muốn nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn

Trang 11

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định:

"Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của

Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng".

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc Muôn việcthành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém’’ Thực hiện lời dạy củaNgười và trước yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, cải cách hành chính đấtnước hiện nay đòi hỏi phải có đội ngũ công chức xã, phường, thị trấn (gọi chung làcông chức cấp xã) đáp ứng được về năng lực, trình độ, khả năng thích ứng vớinhiệm vụ đảm nhiệm, ngày càng phải đạt tiêu chuẩn theo chức danh, chương trình.Cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấpcủa Nhà nước Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị Cấp xã giữ một vaitrò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chính sách,pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến đờisống của nhân dân, là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân

Nhiệm vụ của chính quyền cấp xã được quy định trong Hiến pháp và Luật

tổ chức chính quyền địa phương Sự vững mạnh của chính quyền cấp xã là nềntảng cho sự vững mạnh của hệ thống chính quyền trong cả nước và ngược lại.Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đội ngũcông chức cấp xã có một vai trò rất quan trọng, bởi đội ngũ cán bộ công chức xã

là lực lượng nòng cốt, điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức chính quyền cấp

xã Vì vậy, đội ngũ cán bộ công chức của hệ thống chính trị cấp xã là một trongnhững nhân tố có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại của công cuộc xâydựng và phát triển đất nước

Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta thành nước côngnghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sảnxuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vậtchất và tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh,

Trang 12

xã hội công bằng, văn minh Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

Qua từng thời kỳ lịch sử, chính quyền cấp xã không ngừng được xây dựng

và củng cố, bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ cơ sở

Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò quyết định đến chất lượng tổ chức, hoạtđộng của bộ máy chính quyền Nhà nước và quá trình phát triển kinh tế - xã hội ởcác địa phương

Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các địa phương đặc biệtquan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã song kết quả đạtđược còn nhiều hạn chế Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Khóa IX đã xác định “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận

động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm,thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, trẻ hóa đội ngũ,chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đốivới cán bộ cơ sở’’ Đây là một khâu đột phá nhằm đổi mới và nâng cao năng lựccủa Chính quyền cơ sở, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Nghị quyết số 17 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã chỉ rõ:

"Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất,trẻ hóa đội ngũ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là một trong 3vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách" Đó là tiền đề, là định hướng quan trọng để tiếptục nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt nâng cao chất lượngđội ngũ công chức cơ sở, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, thực hiện thànhcông sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Do vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu ‘‘Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ

công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang" với hy vọng góp phần thiết

thực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam,đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương trongthời gian tới

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chất lượng và các yếu tố ảnh hưởng đếnchất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn nghiên cứu, luận văn đề xuất

Trang 13

giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã tại huyệnLục Nam, tỉnh Bắc Giang.

2.2 Mục tiêu cụ thê

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chất lượng đội ngũ côngchức cấp xã

- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của huyện Lục Nam

- Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xãcủa huyện Lục Nam

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyệnLục Nam, tỉnh Bắc Giang

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Luận văn sẽ nghiên cứu làm rõ và tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏinghiên cứu sau đây:

- Việc nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã cần dựatrên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nào ?

- Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã tại huyện Lục Nam, tỉnhBắc Giang hiện nay như thế nào ?

- Có những yếu tố chủ yếu nào ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ côngchức cấp xã tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang hiện nay ?

- Cần có những giải pháp gì để nâng cao đội ngũ công chức cấp xã củahuyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang ?

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng và các yếu tố ảnh hưởng tớichất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang

- Đối tượng khảo sát bao gồm:

+ Các công chức cấp xã trên địa bàn nghiên cứu

+ Cán bộ làm công tác TCCB ở cấp huyện

+ Người dân địa phương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 14

- Phạm vi về nội dung

Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã được nghiên cứu trên các khía cạnh:+ Kiến thức của đội ngũ công chức

+ Kỹ năng của đội ngũ công chức

+ Thái độ của đội ngũ công chức

- Phạm vi về không gian:

Đề tài được nghiên cứu tại các xã, thị trấn thuộc huyện Lục Nam, tỉnhBắc Giang

- Phạm vi về thời gian:

+ Các số liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian 2012 – 2017+ Các số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2017

+ Giải pháp đề xuất và kiến nghị cho giai đoạn 2018-2020

5 NÔI DUNG NGHIÊN CỨU

- Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về đánh giá chất lượng đội ngũ công chứccấp xã

- Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lục Nam

- Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của huyệnLục Nam

- Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã huyện Lục Nam,tỉnh Bắc Giang

Trang 15

PHẦN 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ

CÔNG CHỨC CẤP XÃ 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc giatrên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyêntrong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm côngchức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất Có nước chỉ giới hạn côngchức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước Một số nước khác

có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiệntrực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làmviệc trong các cơ quan có tính chất công cộng

Công chức thường được hiểu là những người công tác trong cơ quan hànhchính các cấp, trừ nhân viên phục vụ, bao gồm công chức lãnh đạo và công chứcnghiệp vụ Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước,được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều

lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp Công chức nghiệp vụ lànhững người thi hành chế độ thường nhiệm, do các cơ quan hành chính các cấp

bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, chiếm tuyệt đại đa số trongcông chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách vàpháp luật

Nhìn chung, các nước trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống nhautrong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã hội, do đặcđiểm chính trị, kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng

Luật Công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhóa XII, ngày 13 tháng 11 năm 2008 phân biệt rõ giữa khái niệm “cán bộ”,

“công chức” Điều đó được quy định tại Điều 4 Luật Cán bộ Công chức 2008:

- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ

chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc

Trang 16

trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách

Nhà nước

- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,

chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vịthuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý củađơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức

chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên

chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹlương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm

việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương

từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân

Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chứcchính trị - xã hội

- Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức

danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Theo Khoản 2, 3, 4 Điều 61 Luật Cán bộ Công chức 2008; Điều 3 của Nghịđịnh số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định về chức danh,

số lượng, một số chế độ, chính sách đối với công chức ở xã, phường, thị trấn vànhững người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì công chức cấp xã gồm:

1 Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

a Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

b Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

c Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

Trang 17

d Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

đ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

e Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

g Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam

h Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

2 Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

a Trưởng Công an;

b Chỉ huy trưởng Quân sự;

c Văn phòng - Thống kê;

d Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)

hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);

đ Tài chính - Kế toán;

e Tư pháp - Hộ tịch;

g Văn hóa - Xã hội

2.1.2 Đặc điêm, vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ công chức cấp xã

2.1.2.1 Vai trò của đội ngũ công chức cấp xã

Thực tế cho thấy, đội ngũ công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng trongviệc thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân vớiNhà nước Vì họ là những người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổchức cho nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của người dân,bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xãhội trên địa bàn cấp xã

Vai trò, nhiệm vụ của họ có tính then chốt, xét cả trong quan hệ giữa Đảngvới dân, giữa công dân với Nhà nước Thực tế đã chứng minh đội ngũ cán bộ cơ

sở có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, tạodựng các phong trào cách mạng của quần chúng, góp phần thực hiện thắng lợicác mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Sức mạnh của hệthống chính trị, sự ổn định của xã hội, sự phát triển sâu rộng và hiệu quả trongphong trào cách mạng của quần chúng luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạođức của đội ngũ công chức cấp xã Họ giữ vai trò quyết định năng lực lãnh đạo

Trang 18

và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, năng lực lãnh đạo và quản lý của chínhquyền cơ sở Mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhànước có thể thành hiện thực hay không nhất thiết phải thông qua phong trào cáchmạng của quần chúng Hiệu lực của bộ máy quyền lực ở cơ sở cũng tùy thuộctrước tiên vào năng lực của đội ngũ công chức cấp xã.

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ công chức cấp xã trongcông cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, vận dụng đúng đắn lý luận củaChủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ và công táccán bộ, Đảng ta luôn quan tâm đến đội ngũ cán bộ, nhất là công chức cấp xã.Những năm đổi mới vừa qua cũng đã chỉ ra rằng sự thành công hay thất bạicủa Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý và phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sởphụ thuộc rất lớn vào đội ngũ công chức ở cơ sở Để nắm, quản lý và sử dụng tốt độingũ công chức cơ sở lại phụ thuộc vào chính sách đối với đội ngũ công chức này.Chính vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định rằng:

"Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế - xã hội bắt nguồn từ nhữngkhuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng"

Tóm lại, vai trò của người cán bộ nói chung, công chức cấp xã nói riêngtrong thời kỳ mới đặc biệt quan trọng, như Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định

“cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán

bộ tốt hay kém” Do vậy, cán bộ là nhân tố quyết định cho sự thành bại của cáchmạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, đất nước và của cả dân tộc Sự nghiệpđổi mới đất nước muốn thành công phải tạo được sự chuyển biến tích cực từ cơ

sở, mà sự chuyển biến ở cơ sở lại phụ thuộc rất nhiều ở chất lượng đội ngũ côngchức cấp xã

2.1.2.2 Đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã

Qua nghiên cứu cho thấy công chức cấp xã là một bộ phận trong đội ngũcông chức Nhà nước, cũng được hình thành từ việc tuyển dụng nên cũng mangnhững đặc điểm giống với đội ngũ công chức nói chung Tuy nhiên, do xuất phát

là lực lượng có đặc thù riêng nên đội ngũ công chức cấp xã cũng có nhiều điểmkhác biệt Đó là:

- Là đội ngũ có số lượng lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức,triển khai thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, các chínhsách, pháp luật của Nhà nước

- Là những người được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Công chức

Trang 19

cấp xã do cấp huyện quản lý.

- Đội ngũ công chức cấp xã chủ yếu là người dân địa phương, sinh sống, có

họ hàng, gốc gác tại địa phương; chính vì vậy, công chức cấp xã là những người

am hiểu, bị ảnh hưởng rất lớn bởi những phong tục, tập quán, văn hóa vùngmiền, bản sắc truyền thống của địa phương, gia tộc Do đó, trong cách thức xử lýcông việc, giải quyết những mâu thuẫn trong nhân dân một cách đúng mực vàsuôn sẻ hơn so với những công chức ở địa phương khác tới làm việc

- Nguồn tuyển dụng công chức cấp xã chủ yếu từ học sinh, sinh viên ngườiđịa phương sau khi tốt nghiệp các lớp đào tạo về tham gia thi tuyển

- Công chức cấp xã thường xuyên biến động, thay đổi vị trí công tác do yêucầu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương

- Trong thực tế, trình độ chuyên môn của công chức cấp xã chưa đồng đều,một số trường hợp có trình độ chuyên môn chưa cao Từ thực tế đó, đòi hỏi các

cơ quan cấp trên, có thẩm quyền cần phải nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môncũng như có kế hoạch cụ thể nhằm chuẩn hóa lực lượng công chức này

Để nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức xã cần phải giải quyết tốtmối quan hệ giữa chất lượng và số lượng công chức Trong thực tế chúng ta cầnphải chống hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ítchú trọng đến chất lượng dẫn đến công chức nhiều về số lượng nhưng hoạt độngkhông hiệu quả; Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng khôngquan tâm đến số lượng Đây là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đờibình quân của đội ngũ công chức ngày càng cao, thiếu tính kế thừa

2.1.2.3 Nhiệm vụ của công chức cấp xã

Nhiệm vụ của công chức cấp xã được quy định tại Mục 2, Chương I Thông

tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chứctrách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn.Ngoài nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn theo từng lĩnh vực được phân công theo quy định của pháp luật vàthực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã giao; công chứccấp xã còn phải trực tiếp thực hiện các công việc sau:

* Nhiệm vụ của công chức Trưởng Công an xã

- Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an

Trang 20

xã và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền.

* Nhiệm vụ của công chức Chỉ huy trưởng Quân sự

- Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về dân quân

tự vệ, quốc phòng toàn dân, nghĩa vụ quân sự và các văn bản có liên quan của cơquan có thẩm quyền

* Nhiệm vụ của công chức Văn phòng - Thống kê

- Xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, lịchlàm việc định kỳ và đột xuất của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

- Giúp Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chứccác kỳ họp; chuẩn bị các điều kiện phục vụ các kỳ họp và các hoạt động của Hộiđồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã;

- Tổ chức lịch tiếp dân, tiếp khách của UBND cấp xã; thực hiện công tácvăn thư, lưu trữ, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại UBND cấp xã;nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Thường trực Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân xem xét, giải quyết theo thẩm quyền; tổng hợp, theo dõi và báocáo việc thực hiện quy chế làm việc của UBND cấp xã và thực hiện dân chủ ở cơ

sở theo quy định của pháp luật;

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác xây dựng và theo dõi việc thực hiện

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổng hợp, thống kê, báo cáo tình hình pháttriển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động kinh tế - xã hội trên địabàn cấp xã; dự thảo các văn bản theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân, Thườngtrực Hội đồng nhân dân, UBND, Chủ tịch UBND cấp xã

* Nhiệm vụ của công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã).

- Thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, lập sổ sách các tài liệu và xây dựngcác báo cáo về đất đai, địa giới hành chính, tài nguyên, môi trường và đa dạngsinh học, công tác quy hoạch, xây dựng, đô thị, giao thông, nông nghiệp và xâydựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức vận động nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất, bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp xã;

Trang 21

- Giám sát về kỹ thuật các công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản lýcủa Ủy ban nhân dân cấp xã;

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chínhtrong việc tiếp nhận hồ sơ và thẩm tra để xác nhận nguồn gốc, hiện trạng đăng ký

và sử dụng đất đai, tình trạng tranh chấp đất đai và biến động về đất đai trên địabàn; xây dựng các hồ sơ, văn bản về đất đai và việc cấp phép cải tạo, xây dựngcác công trình và nhà ở trên địa bàn để Chủ tịch UBND cấp xã quyết định hoặcbáo cáo UBND cấp trên xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật

* Nhiệm vụ của công chức Tài chính - Kế toán

- Xây dựng dự toán thu, chi ngân sách cấp xã trình cấp có thẩm quyền phêduyệt; tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách và các biện pháp khai thácnguồn thu trên địa bàn cấp xã;

- Kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động tài chính, ngân sách theohướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên; quyết toán ngân sách cấp xã và thựchiện báo cáo tài chính, ngân sách theo đúng quy định của pháp luật;

- Thực hiện công tác kế toán ngân sách (kế toán thu, chi ngân sách cấp xã,

kế toán các quỹ công chuyên dùng và các hoạt động tài chính khác, kế toán tiềnmặt, tiền gửi, kế toán thanh toán, kế toán vật tư, tài sản, ) theo quy định củapháp luật;

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác quản lý tài sản công; kiểm tra, quyếttoán các dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dâncấp xã theo quy định của pháp luật

* Nhiệm vụ của công chức Tư pháp - hộ tịch

- Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụnhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xãtrong việc tham gia xây dựng pháp luật;

- Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định;tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp xã;

- Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực, chứng nhận vàtheo dõi về quốc tịch trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật; phối hợpvới công chức Văn hóa – xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở thôn,

Trang 22

tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã;

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở

* Nhiệm vụ của công chức Văn hóa - xã hội

- Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao,

du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sốngvăn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã;

- Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế - xãhội ở địa phương;

- Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi,tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sáchlao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả cácchế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩatrang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xãhội và chươngtrình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã;

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phốxây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dụctại địa bàn cấp xã

2.1.3 Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

2.1.3.1 Quan niệm về chất lượng công chức cấp xã

Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khóđịnh lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được Dưới mỗi cách tiếp cậnkhác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau

Theo từ điển Tiếng việt thì “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị củamột con người, sự vật, sự việc”

những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểuhiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vậtlại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật vàkhông tách khỏi sự vật

Theo Juran (2011) – một giáo sư người Mỹ định nghĩa về chất lượng nhưsau: “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu”

Trang 23

Theo tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam (TCVN-ISO 8402) địnhnghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo chothực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầutiềm ẩn”.

Trong mỗi lĩnh vực khác nhau với mục đích khác nhau có nhiều quan điểm

về chất lượng khác nhau

Như vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu về chất lượng đội ngũ công chức,

có thể hiểu chất lượng của đội ngũ công chức là khả năng giải quyết các vấn đềthuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân(khách hàng) về cung ứng các dịch vụ hành chính

Tiêu chí để đánh giá chất lượng cán bộ công chức cũng đa dạng: có thể là tỷ

lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; có thể

là sự đo lường về mức độ thỏa mãn của người dân khi hưởng thụ dịch vụ hànhchính liên quan đến các yếu tố, như sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hài lòng vềthời gian giải quyết công việc của người dân

Chất lượng đội ngũ công chức được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn của độingũ công chức, là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩmchất đạo đức của những người công chức theo những tiêu chí nhất định đối vớitừng ngành nghề riêng biệt

Để đánh giá chất lượng đội ngũ công chức, cần nói tới chất lượng của mỗicông chức vì mỗi công chức là một phần, một bộ phận của đội ngũ công chức Chất lượng công chức là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe,trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin,năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệuquả nhiệm vụ đựoc giao Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước yêu cầu chất lượngđối với công chức ngày càng cao, đòi hỏi người công chức không những có trình

độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn công chức mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong

về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật rất cao, có tư duy khoa học, lý luậnsắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn gắn bó với tập thể, vớicộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹnăng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt, đồng thời luôn chấp hành nghiêmchỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

Chất lượng của đội ngũ công chức ngoài những yếu tố nêu trên còn phụ

Trang 24

thuộc vào cơ cấu đội ngũ công chức, đó là tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giữanam và nữ, giữa công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phụ trách chuyên mônnghiệp vụ.

Mỗi công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải đặt trong một chỉnhthể thống nhất của cả đội ngũ công chức Vì vậy quan niệm chất lượng đội ngũcông chức phải được đạt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từngcông chức với chất lượng của cả đội ngũ

Bên cạnh đó cũng cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng và sốlượng đội ngũ công chức Chỉ khi nào hai mặt này có quan hệ hài hòa mới tạonên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ

chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng công chức cấp xã, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ được phân công của mỗi công hức cũng như cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về ngạch, bậc và số lượng đội ngũ công chức bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã.

Chất lượng công chức cấp xã được phản ánh thông qua các tiêu chuẩn vềtrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinhnghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, tình trạng sức khỏe của đội ngũcông chức trong thực thi công vụ

Mỗi công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong mộtchính thể thống nhất của đội ngũ công chức Vì vậy, quan niệm về chất lượng độingũ công chức phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng củatừng công chức với chất lượng của cả đội ngũ Như vậy, chất lượng đội ngũ côngchức cấp xã là chất lượng của tập hợp công chức cấp xã trong một tổ chức, địaphương Chất lượng đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn về số lượng mà

là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ công chức Sức mạnh này bắtnguồn từ phẩm chất vốn có trong mỗi con người và nó được tăng lên gấp bội bởitính thống nhất của tổ chức, của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý và kỷluật Tóm lại, chất lượng của đội ngũ công chức bao gồm:

- Chất lượng của từng công chức: Cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức;trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ Chất lượng của từng côngchức là yếu tố cơ bản để tạo nên chất lượng của cả đội ngũ

Trang 25

- Chất lượng của cả đội ngũ với tính chất là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấuđội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý về số lượng và độ tuổiđược phân bố trên cơ sở các địa phương, đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đờisống xã hội.

Như vậy có thể định nghĩa về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã như sau:

“Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là tập hợp tất cả các thuộc tính của từngcông chức cấp xã cùng sự phối hợp hoạt động chặt chẽ cả về ý chí lẫn hành độngcủa đội công chức cấp xã có khả năng đáp ứng yêu cầu, mục tiêu tại một thờiđiểm nhất định”

2.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đội ngũ công chức

* Trình độ, năng lực của công chức cấp xã

Để đánh giá đúng đắn chất lượng đội ngũ công chức thì trình độ năng lựccủa công chức đóng vai trò rất quan trọng Trình độ năng lực phản ánh kỹ nănglàm việc, khả năng hoàn thành công việc của mỗi người nói chung cũng như củamỗi công chức cấp xã

- Thứ nhất, đối với người công chức cấp xã phải kể đến năng lực lãnh đạo,

quản lý Đa số công chức cấp xã là những người lớn tuổi, chỉ có số ít là người trẻtuổi nên khi nhận các chức danh lãnh đạo thì chủ yếu quản lý công chức dựa trênthâm niên và kinh nghiệm công tác hoặc dựa vào các đợt tập huấn ngắn ngày,nên công tác quản lý, điều hành thiếu tính thuyết phục, thiếu khoa học, hiệu quảhoạt động không cao

- Thứ hai, là về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn

nhiều bất cập cũng như những bảo đảm cho việc hình thành “nguồn” công chứccấp xã đã và đang là những cản trở vô hình tới công cuộc cải cách hành chính ởcấp cơ sở nói riêng và cải cách hành chính Nhà nước nói chung Hạn chế về trình

độ văn hóa, trình độ chuyên môn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực

tổ chức thực hiện các văn bản của Đảng và Nhà nước, cản trở việc thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người công chức Vì vậy, việc nâng caotrình độ chuyên môn của đội ngũ công chức cấp xã là cần thiết nhằm đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ mới

- Thứ ba, là về trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định

lập trường, quan điểm của công chức nhà nước nói chung và đội ngũ công chứccấp xã nói riêng Hiện nay, tỷ lệ công chức chưa qua bồi dưỡng lý luận chính trị

Trang 26

khá nhiều, những công chức cấp xã đã qua đào tạo chủ yếu dừng lại ở trình độtrung cấp, điều này chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác lãnh đạo,quản lý, điều hành việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ởđơn vị hành chính cơ sở, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới với nhiều nội dung, tiêuchí đòi hỏi phải có kiến thức khoa học, công nghệ, xây dựng, quản lý kinh tế…

* Phẩm chất chính trị, đạo đức của công chức

Phẩm chất chính trị thể hiện nhận thức, tư tưởng chính trị, chấp hành đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự kiên địnhvới đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,trung thành với Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Chính vì vậy,Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng, Người viết: "Cũng nhưsông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì cạn Cây phải có gốc, không

có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dùtài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"

Phẩm chất chính trị còn được thể hiện ở tinh thần đấu tranh bảo vệ quanđiểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; chống lại chủ nghĩa cơ hội,

bè phái, các biểu hiện tiêu cực, các tư tưởng thù địch, chống phá Đảng và Nhànước Đồng thời, tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cách mạng, giữvững bản lĩnh chính trị trong mọi tình huống

Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xãhội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống Nhờ đó conngười điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xãhội Chính vì vậy mà đạo đức là phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng nhất củangười công chức

Về phẩm chất đạo đức của công chức, chúng ta cần nhắc đến đạo đức cánhân và đạo đức nghề nghiệp Phẩm chất đạo đức của công chức cấp xã được thểhiện thông qua lối sống, tác phong, lề lối làm việc Đó là việc giữ gìn đạo đứctrong sáng, lối sống lành mạnh, giản dị, tiết kiệm, chống quan liêu, tham nhũng,lãng phí và những biểu hiện tiêu cực khác; Tinh thần và thái độ phục vụ nhân dânđược xem là chìa khóa thành công của công chức cấp xã Muốn được nhân dântin tưởng, tín nhiệm thì mỗi công chức cấp xã cần phải tận tụy với công việc,không hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho tổ chức, cho công dân trong thực

Trang 27

hiện nhiệm vụ Nhất là nạn hối lộ, nhận “phong bì”, lợi dụng chức vụ, cửaquyền, gây phiền hà, đòi hỏi vật chất của nhân dân.

Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của công chức được thể hiện thông qua ýthức tổ chức kỷ luật tại cơ quan, đơn vị và tinh thần trách nhiệm của công chứctrong thực thi nhiệm vụ như: Chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị,giữ gìn nếp sống văn hóa công sở, thời gian làm việc, chấp hành sự phân côngcủa tổ chức, có ý thức giữ gìn đoàn kết nội bộ; Tinh thần phối hợp trong thựchiện nhiệm vụ và thể hiện sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệmtrước những việc mình làm

Như vậy, việc đề cao phẩm chất chính trị, đạo đức của công chức cấp xã làtiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã và sinh thờiChủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta đã đúc kết đạo đức cách mạng của người cán

bộ trong 8 chữ vàng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư” vẫn còn nguyêngiá trị quý báu để mỗi CBCC học tập đến ngày hôm nay

* Khả năng hoàn thành nhiệm vụ của công chức

Là tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng đắn nhất những gì mà mỗi công chức cấp

xã đã làm được trong thời gian nhất định Khả năng hoàn thành nhiệm vụ đượcphản ánh thông qua mức độ thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm: Thể hiện ởkhối lượng công việc được giao, chất lượng công việc được hoàn thành, tiến độtriển khai thực hiện, và hiệu quả của công việc đó trong từng vị trí, từng giai đoạn,bao gồm cả những nhiệm vụ thường xuyên và những nhiệm vụ đột xuất

Dựa trên kết quả đánh giá về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũcông chức cấp xã có thể đánh giá được chất lượng hoạt động của đội ngũ đó trongthực tiễn công tác Một công chức cấp xã đạt chất lượng tốt thì phải thường xuyênđược đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ Cónhững công chức đạt trình độ chuyên môn nhưng chỉ được đánh giá là hoàn thànhnhiệm vụ hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ, người quản lý cần xem xét những khíacạnh khác của công chức đó Kết quả đánh giá này cũng là cơ sở để thực hiện tốtcông tác thi đua, khen thưởng và sắp xếp nhân sự tại cơ quan, đơn vị

2.1.4 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

2.1.4.1 Nâng cao thể lực cho công chức cấp xã

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sức khỏe là vốn quý của conngười”, con người muốn tham gia vào bất kỳ hoạt động lao động nào để tạo ra

Trang 28

của cải vật chất thì cũng cần phải có sức khỏe Nhất là đội ngũ công chức cấp xãhàng ngày phải tiếp xúc, giải quyết nhiều việc có liên quan trực tiếp đến quyềnlợi nhân dân.

Thể lực được hiểu là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự pháttriển sinh học, không có bệnh tật, có đủ sức khỏe để lao động trong hình thái laođộng ngành nghề nào đó, có sức khỏe để học tập và lao động lâu dài Đó là một

cơ thể khỏe mạnh, dẻo dai không chỉ trong điều kiện làm việc bình thường màcòn có khả năng chịu đựng áp lực công việc, tập trung cao độ khi phải đối mặtvới những yều cầu cấp bách, bức xúc của công việc hay phải làm việc trongnhững điều kiện khắc nghiệt

Công chức cấp xã muốn hoàn thành nhiệm vụ được giao rất cần một thể lựctốt, một sức khỏe dồi dào Đó không chỉ là khỏe mạnh mà còn là lòng kiên trì,tinh thần, yếu tố tâm lý khi đứng trước sự việc mới phát sinh Sức khỏe tốt giúpcho đội ngũ công chức cấp xã có tâm hồn thoải mái, sảng khoái, có trí tuệ, tư duyminh mẫn, giúp họ sáng suốt, tỉnh táo trong công tác lãnh đạo, điều hành, tránhđược stress trong công việc và có đủ bản lĩnh, sự bình tĩnh, khôn khéo tronggiải quyết khó khăn, đồng thời không bị dao động trước tư tưởng, thói quen xấu.Nếu không có đủ sức khỏe thì dù có trí tuệ, yêu nghề thì đội ngũ công chứccấp xã cũng khó lòng có thể làm việc, cống hiến cho công việc Vì vậy, Đảng ủyHĐND- UBND các xã, phường, thị trấn cần chăm lo hơn nữa đến việc rèn luyệnthể lực cho đội ngũ công chức địa phương, không chỉ khi tuyển dụng đầu vào màcòn qua cả cuộc đời công tác của họ Coi công tác thể dục, thể thao là một yếu tốquan trọng trong sự phát triển chung của địa phương Địa phương nào có cácphong trào rèn luyện thể lực mạnh thì địa phương đó sẽ làm tốt những công táckhác Đội ngũ công chức cấp xã phải là những người đầu tiên tham gia, thườngxuyên phối hợp với các đơn vị trường học, thanh thiếu niên nhi đồng, người caotuổi tổ chức thi đua thực hiện tốt các phong trào cũng như giao lưu với địa phươngkhác để nâng cao hơn nữa sự quan tâm, tham gia của mọi tầng lớp nhân dân

2.1.4 2 Nâng cao trí lực cho công chức cấp xã

Trí lực là năng lực trí tuệ, tinh thần, là trình độ phát triển trí tuệ, là học vấn,chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề Nó quyết định phần lớnkhả năng sáng tạo của con người, nó càng có vai trò quyết định trong phát triểnnguồn lực con người đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như

Trang 29

ngày nay Hay nói cách khác, trí lực còn có nghĩa biểu thị kiến thức về nhiều mặtliên quan đến hoạt động quản lý, chuyên môn, vừa tổng hợp, vừa chuyên sâu.Trí lực thể hiện qua trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lý luậnchính trị, trình độ quản lý hành chính Nhà nước, ngoại ngữ, tin học của đội ngũcông chức cơ sở Đội ngũ công chức cấp xã trước tiên phải nắm vững chuyênmôn, nghiệp vụ của ngành làm việc, phải am hiểu về nghề, thực hiện đúng vàđầy đủ những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân.

Có trình độ hiểu biết, kinh nghiệm thực tiễn sẽ tổ chức, thực hiện hiệu quảnhiệm vụ được phân công Biết phát huy năng lực, sở trường công tác, có sángkiến trong đề xuất chính sách, chủ trương công tác và nghiệp vụ chuyên môn

Có cái nhìn tổng quát, năng lực trí tuệ trong việc tiếp nhận thông tin, khảnăng tư duy, linh hoạt, sáng tạo để khái quát, phán đoán và xử lý tình huống cóhiệu quả, thể hiện tính quyết đoán trong giải quyết công việc, không máy móc,nguyên tắc, cứng nhắc

Để nâng cao trí lực đội ngũ công chức cấp xã, trước hết bản thân mỗi côngchức phải không ngừng học tập nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụcần thiết nhằm phục vụ tốt nhất cho công việc đang đảm nhận Thứ nữa là sự quantâm chính quyền địa phương trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chứccấp xã, giúp công chức cập nhật kịp thời những kiến thức liên quan lĩnh vực côngtác một cách nhanh chóng, ngày càng củng cố vững chắc nền tảng chuyên môn.Ngoài ra, để nâng cao trí lực đội ngũ công chức cấp xã cần quan tâm cơ chếtuyển dụng, bổ nhiệm, các chính sách đãi ngộ, tạo động lực và qua thực trạng bốtrí công việc đúng người, đúng việc, công chức cấp xã phát huy tối đa trí lực, sứcsáng tạo của bản thân

2.1.4.3 Nâng cao tâm lực cho công chức cấp xã

Tâm lực là sức mạnh tâm lý của con người Tâm lực cao hay thấp thể hiện ởmức độ nhận thức, ý thức trách nhiệm về động cơ làm việc, ý chí phấn đấu, thái

độ và tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tính tự lập trong thực thi nhiệm vụ,tinh thần hợp tác tương trợ, khả năng làm việc tập thể và lòng trung thành với cơquan, tổ chức Tâm lực phản ánh nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống, thể hiệnnét văn hóa của người lao động là cơ sở tâm lý cho việc nâng cao năng lực sángtạo của họ trong lao động

Tâm lực là nội dung quan trọng trong nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

Trang 30

cấp xã Như người xưa đã đúc kết: có tâm thì làm việc gì cũng xong Vậy tâm lực ởđây có nghĩa là tâm huyết, tận tâm, tận lực với tấm lòng trong sáng trong công việc,coi công việc là tất cả ý nghĩa cuộc sống, quên cả mệt mỏi Đó cũng chính là ý thứctrách nhiệm cao trong công việc của công chức nói chung Làm việc gì cũng phải cócái “ tâm”, nếu công chức cấp xã tâm huyết, yêu nghề, phục vụ nhân dân tận tụy nhưphục vụ người thân trong gia đình thì mỗi công chức cấp xã sẽ càng thêm gắn bó vàthấy vinh dự khi được đại diện cho Đảng, Nhà nước quan tâm, làm “công bộc” chonhân dân.

Tâm lực là năng lực và ý chí, là sự ham muốn sử dụng sức lực của mình:sức mạnh của ý chí, tinh thần dồn hết vào công việc, để hoàn thành công việc

Vì vậy, nếu thiếu tâm lực sẽ dẫn đến sự thờ ơ trong công việc, không hoàn thànhtốt nhiệm vụ được giao

Tâm lực còn được hiểu là lương tâm nghề nghiệp Đó là ý thức, thái độlương thiện, không lừa bịp, sách nhiễu công dân, không lợi dụng quyền hành đểlàm những việc trái lương tâm, pháp luật Là người nắm và sử dụng quyền lựccông chức cấp xã phải là người có đức tính liêm khiết, minh bạch Tâm lực cònthể hiện là lòng tự trọng, khiêm nhường, chân thành, biết cư xử lịch thiệp, giaotiếp với đồng nghiệp, với quần chúng

Muốn nâng cao tâm lực đội ngũ cong chức cấp xã, cần phải chú trọng trongcông tác đánh giá, xếp loại công chức và công tác kiểm tra, giám sát đội ngũcông chức cấp xã Vì thông qua các hoạt động khen thưởng, kỷ luật, sẽ khuyếnkhích công chức làm việc tận tụy, hết sức phục vụ nhân dân, đồng thời ngăn chặnnhững sai phạm trong công việc cũng như đời sống công chức cấp xã

Như vậy, cần phải nâng cao hơn nữa tâm lực của công chức cấp xã trongthực thi công việc vì chỉ cần có “tâm” thì dù công việc có nhiều khó khăn đichăng nữa, mỗi công chức cấp xã cũng sẽ cố gắng, có động lực để vượt qua

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

2.1.5.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã là nhân tố ảnh hưởng trựctiếp đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, nhất là trong giai đoạn hiện naykhi mà cải cách hành chính diễn ra mạnh mẽ, đội ngũ công chức cấp xã ngàycàng được trang bị những thiết bị làm việc hiện đại hơn: máy tính, máy in, máyphoto, scan hay vấn đề đơn giản là xử lý văn bản đi, đến cũng bằng hộp thư

Trang 31

điện tử trong khi đó, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lựclượng công chức cơ sở nhìn chung chưa cao, còn nhiều hạn chế Chủ tịch Hồ ChíMinh từng quan niệm "cán bộ là cái gốc của mọi công việc" Người xác định

"huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [tr.269] Chính vì vậy, đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã nhất thiết phải được quan tâm hàng đầu,thường xuyên và liên tục

Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹnăng theo quy định của từng cấp học, bậc học Còn bồi dưỡng là hoạt động trang

bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Nếu đào tạo là quá trình làmcho con người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định thì bồi dưỡng làmtăng thêm năng lực hoặc phẩm chất đó Mặc dù trình độ học vấn của công chứccấp xã ngày nay đã được nâng lên nhưng những kiến thức, kỹ năng học tập đượctrong nhà trường còn tràn lan, có những thứ chưa thể áp dụng trong thực tiễn làmviệc Do đó, trong công tác đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã đòi hỏi phải biếtchọn lựa nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, phù hợp với chuyênngành, với chức danh công việc cụ thể của mỗi công chức Đào tạo, bồi dưỡngcông chức cấp xã đạt về số lượng, tránh tình trạng đào tạo, bồi dưỡng tràn lan,hình thức, đào tạo không phải để trang bị những kỹ năng cần thiết mà chỉ lấychứng chỉ, bằng cấp bổ sung vào lý lịch công chức Trong khi đó, người có nhucầu thật sự không được cử đi, người không sử dụng kiến thức đó được đi học,gây lãng phí nguồn kinh phí đào tạo của Nhà nước Nội dung đào tạo xuất phát

từ sự cần thiết thực tế, yếu khâu nào đào tạo, bồi dưỡng khâu đó Tuy nhiên, hiệnnay, nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã vẫn mang nặng về lý luậnchính trị, ít chuyên sâu vào khoa học hành chính, các kỹ năng, nghiệp vụ quản lýNhà nước cần thiết của công chức

Bên cạnh đó, bản thân công chức cũng xem nhẹ việc đào tạo, bồi dưỡngnâng cao kiến thức, lý luận chính trị, các kỹ năng nghiệp vụ Công chức coi nhưviệc đó là bắt buộc, là phải đi học Đến lớp, tham gia tập huấn thì một số ngồidưới làm việc riêng, không chú ý Hơn thế nữa, một số chức danh công chức cấp

xã cũng thay đổi công việc theo quy định, chuyên môn công tác, như chức danhcông chức Địa chính – Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Văn hóa – Xã hội Vì vậy,nếu không được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng mới, không có ý chí họctập nâng cao trình độ sẽ khó đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ thực thi công

vụ, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

Trang 32

Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã có ý nghĩa quyếtđịnh đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Địa phương nào chú trọng côngtác đào tạo, bồi dưỡng công chức thì địa phương đó sẽ xây dựng được nền tảngvững chắc của đội ngũ công chức cấp cơ sở, hoàn thành những mục tiêu, nhiệm

vụ mà cấp trên giao phó và Đảng bộ địa phương đặt ra

2.1.5.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm và bố trí, sử dụng đội ngũ công chức

Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên có vai trò quyết định đến chấtlượng đầu vào của đội ngũ công chức Công tác tuyển dụng giúp công chức bổsung nhân lực vào đội ngũ công chức cấp xã Làm tốt khâu tuyển dụng có nghĩa

là đã lựa chọn được những người phù hợp và đáp ứng được yêu cầu vị trí côngviệc, đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức để làm việc trong cơ quanNhà nước, để phục nhân dân một cách tốt nhất Ngược lại, nếu làm chưa tốt sẽdẫn đến hình thành đội ngũ công chức cấp xã yếu kém về năng lực, trình độ,hạn chế về phẩm chất chính trị, đạo đức, gây ra tình trạng trì trệ công việc vànhững tiêu cực trong giải quyết chính sách: nhũng nhiễu, vòi tiền cuối cùng làảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhân dân

Tuy nhiên, việc tuyển dụng công chức cấp xã được xem là rất phức tạp.Tuyển dụng các chức danh chuyên môn còn nặng cơ chế “xin - cho”, “nhất thân,nhì quen” vì chủ yếu những người được tuyển vào làm việc là “con ông cháucha” mà trình độ chuyên môn có thể chưa đáp ứng được tiêu chuẩn công việc.Đây còn là nguyên nhân gây ra hiện tượng bè phái, phe cánh trong nội bộ cơ sở,gây mất đoàn kết Chính vì vậy phải chú trọng khâu tuyển dụng công chức cấp

xã để có một đội ngũ công chức trong sạch, vững mạnh

Sau khi tuyển chọn được đội ngũ công chức đáp ứng đầy đủ yêu cầu cầnthiết thì việc bố trí sử dụng công chức cũng ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũcông chức cấp xã Nếu biết sắp xếp, phân công đúng người đúng việc thì kíchthích đội ngũ công chức cấp xã làm việc hết mình, hăng hái, nhiệt tình, thúc đẩytinh thần ham học hỏi, có trách nhiệm với công việc Đồng thời sẽ hoàn thànhcông việc trôi chảy hơn vì bản thân công chức đủ tự tin vào năng lực bản thântrong lĩnh vực chuyên môn Thực tế cũng cho thấy, nếu làm tốt công tác điềuđộng, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, làm đúng quy trình, không mangtính cá nhân sẽ tạo môi trường thuận lợi cho công chức cấp xã phát huy đượctrình độ, năng lực, sở trường của mình Như vậy, để phát huy hiệu quả sử dụng

Trang 33

đội ngũ công chức trong bộ máy chính quyền cấp xã cần tiếp tục đổi mới vàhoàn thiện chính sách sử dụng công chức cấp xã.

2.1.5.3 Chính sách đãi ngộ, tạo động lực đối với công chức cấp xã

Trong xã hội hiện nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” từ khu vực hànhchính Nhà nước sang khu vực ngoài Nhà nước đang xảy ra khá nhiều Một trongnhững nguyên nhân cơ bản là chính sách đãi ngộ, tạo động lực của Nhà nướcchưa công bằng và chưa xứng đáng đối với công chức Nhiều người gắn bó vớikhu vực Nhà nước do tính ổn định, nhưng chỉ ổn định thôi chưa đủ mà các chínhsách, chế độ của Nhà nước đối với công chức cấp xã phải là động lực thúc đẩycông chức tích cực học tập, làm việc, cống hiến hết sức mình cho công việc, chonhân dân, đồng thời góp phần ngăn chặn tệ nạn tham nhũng đang ngày càng giatăng, làm trong sạch bộ máy công vụ các cấp Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

Trước đây, cán bộ chuyên môn công tác ở xã, phường, thị trấn được hưởngsinh hoạt phí theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1988 của Chính phủ,nếu đủ điều kiện, được chuyển xếp vào các chức danh công chức cấp xã, nhiềutrường hợp thiếu ngân sách xã nên phải nợ sinh hoạt phí hoặc trả theo quý, nămnên vị thế CBCC xã, phường, thị trấn bị coi nhẹ, thậm chí nhiều nơi CBCC xãchỉ làm việc nửa ngày Việc chuyển từ chế độ sinh hoạt phí sang chế độ lương đãtạo tâm lý an tâm, phấn khởi đối với CBCC cấp xã trong cả nước

Các chính sách tạo động lực của Nhà nước đối với công chức cấp xã baogồm kích thích cả vật chất và tinh thần Về vật chất, thông qua các chế độ chínhsách về tiền lương, tiền thưởng, trả lương cho công chức phải tương xứng vớinhiệm vụ, công vụ được giao, các loại phụ cấp và các khoản phúc lợi (BHYT,BHXH, nhà ở ), chính sách thu hút nhân tài, chính sách đối với người về hưutrước tuổi hoặc chính sách đối với những người đang công tác nhưng không đủsức khỏe để tiếp tục cống hiến Kích thích về tinh thần bằng các hình thứckhen thưởng, tôn vinh đối với những công chức làm việc hiệu quả cao

Nếu các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với công chức cấp xã đượcđảm bảo, kịp thời, công bằng, minh bạch sẽ thu hút lượng lớn lao động, nhất làlao động trẻ tuổi, có nhiệt huyết, trình độ, năng lực về làm việc Công chức trẻvới tư duy sáng tạo sẽ góp phần phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương Hơnnữa, nếu những chính sách, chế độ của Nhà nước tốt, tiền lương đáp ứng nhu cầu

Trang 34

sinh hoạt sẽ hạn chế tham ô, hối lộ, tham nhũng, vòi vĩnh nhân dân Các chế độ,chính sách Nhà nước chưa hợp lý: chính sách tiền lương, phụ cấp lương sẽ triệttiêu động lực làm việc, công chức cấp xã chưa tích cực học tập nâng cao trình

độ, thiếu trách nhiệm trong công việc, phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, ảnhhưởng đến phẩm chất đạo đức của người CBCC

2.1.5.4 Công tác đánh giá, xếp loại công chức cấp xã

Đánh giá đúng công chức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũcông chức cấp xã Thông qua hệ thống các chỉ tiêu đánh giá công chức do Nhànước quy định, công tác đánh giá, xếp loại đưa ra kết luận xác đáng về đức vàtài, về trình độ năng lực, khả năng phát triển của công chức Vì vậy, nếu khenđúng người, kỷ luật đúng tội, đánh giá đúng về công chức cấp xã sẽ là động lựcthúc đẩy tinh thần và trách nhiệm đối với công việc của họ Ngược lại nếu đánhgiá chưa đầy đủ, chưa chính xác về công chức sẽ nảy sinh những bất mãn, ý nghĩtiêu cực trong công chức, ảnh hưởng đến kết quả làm việc

Làm tốt công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ công chức cấp xã còn là căn cứ

để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, xác định nhu cầu và nội dung đào tạo, bồidưỡng, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế

độ, chính sách đối với cán bộ: nâng lương trước thời hạn, xem xét ưu tiên, độngviên công chức cấp xã tham dự các kỳ thi nâng ngạch, bổ nhiệm vào các vị trílãnh đạo và hưởng thêm các chế độ khác

Tuy nhiên trong thực tế, công tác này còn bị coi nhẹ, chỉ mang tính hìnhthức, đánh giá thiên về tình cảm, làm cho qua loa xong chuyện Công tác đánhgiá, xếp loại công chức không chỉ giúp cơ quan quản lý cán bộ nắm và hiểu đượccán bộ của mình mà đồng thời còn giúp cho bản thân người cán bộ công chứccấp xã hiểu đúng hơn về mình, nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm(nếu có), góp phần xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có chất lượng cao, đápứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

2.1.5.5 Công tác kiểm tra, giám sát công chức cấp xã

Trong công tác kiểm tra, giám sát, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:

"Khi có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là docách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy sơsài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" và “có kiểm tra… mới biết rõ năng lực

và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” [tr.520] Điều đó

Trang 35

cho thấy những tác động mạnh mẽ của công tác kiểm tra giám sát đến chất lượngđội ngũ công chức cấp xã Nó là căn cứ chính xác nhất để đánh giá, nhận xét vềmức độ hoàn thành công việc của đội ngũ công chức cấp xã Vì vậy, cần nghiêmtúc triển khai công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ công chức cấp xã.Thông qua đó, nắm bắt được hệ thống những tư tưởng trong từng giai đoạn vàthực trạng hoạt động của đội ngũ công chức nhằm kịp thời ngăn chặn những tưtưởng tiêu cực, lệch lạc, hạn chế những khuyết điểm, thiếu sót, phát huy nhữngmặt tích cực trong thực thi công vụ Nếu địa phương nào làm tốt, chặt chẽ vàthường xuyên công tác quản lý, kiểm tra, giám sát công chức thì địa phương đó cóđội ngũ công chức cấp xã giàu tinh thần trách nhiệm với công việc, tư tưởng, phẩmchất chính trị, đạo đức của người công chức được nâng cao.

Đây là công tác rất nhạy cảm, là nhiệm vụ khó khăn vì đôi khi ảnh hưởngđến quyền lợi của một bộ phận công chức nên trong thực tế, việc thực hiện chưathật sự quyết liệt, mạnh tay, còn cả nể, kiêng dè Đây cũng là nguyên nhân khiếncho hiệu quả giám sát, kiểm tra chưa cao, khiến cho công chức cấp xã dễ tha hóa,biến chất, lạm dụng chức quyền Chính vì vậy, công tác này có ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, nhất là khía cạnh đạo đức Để công tácquản lý, kiểm tra, giám sát được diễn ra công bằng thì phải cần sự lãnh đạo của cấp

ủy Đảng, sự phối hợp của Chính quyền; tinh thần chủ động, sáng tạo của Mặt trận

tổ quốc và các đoàn thể Chính trị - xã hội của mỗi địa phương

2.1.5.6 Trang thiết bị và điều kiện làm việc cho công chức cấp xã

Trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm: bàn ghế, tủ tài liệu, máytính, hệ thống mạng Internet, máy scan, máy in… là những điều kiện làm việcthiết yếu cho đội ngũ công chức cấp xã nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác quản

lý chỉ đạo, tìm hiểu thông tin Cơ sở vật chất đầy đủ giúp cho đội ngũ công chứcđổi mới phương pháp làm việc; thúc đẩy và nâng cao chất lượng làm việc, đảmbảo giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, giúp lưu trữ văn bản,báo cáo, thuận tiện cho những lần sử dụng tiếp theo

Việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, trang bị máy móc hiện đạisẽ đáp ứng tốt hơn các hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán công chức cấp

xã Bởi vậy, trang thiết bị và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố ảnhhưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác và chất lượng đội cán bộ, ngũ công chứcnói chung và đối với công chức cấp xã nói riêng

Trang 36

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ĐẢM BẢO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÔI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ

2.2.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ công chức

* Tại Trung Quốc

Trung quốc có 31 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trên 2000 quận,huyện và hơn 50.000 hương, trấn

Hương, trấn là cấp chính quyền cơ sở, bình quân có 2- 3 vạn dân, nơi nhiều cóđến 100.000 dân, nhưng cũng có nơi ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có vài trăm người

Ở Trung Quốc có khoảng 8 triệu công chức nhà nước, trong đó công chứccấp cơ sở (cấp hương, trấn) có tới hơn 2 triệu người

Tại Trung quốc, chính sách về CBCC có những quan điểm cơ bản sau đây:

- Chế độ phân loại nhân sự căn cứ vào đặc điểm khác nhau của công chức,nhân viên, người làm trong doanh nghiệp nhà nước

- Chế độ tiền lương khoa học, hợp lý

- Chế độ bảo hiểm xã hội

- Giao quyền cho cấp dưới nhiều hơn trong quản lý nhân sự

- Thực hiện hệ thống quản lý vĩ mô ở trung ương, từ quản lý trực tiếp cụ thểcác doanh nghiệp sang quản lý gián tiếp vĩ mô (chính vì vậy có điều kiện để giảmbiên chế)

Các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách CBCC của Trung quốc bao gồm:

- Thi tuyển công chức để giữ vững, làm chặt đầu vào

- Thực hiện đánh giá công chức hàng năm, nếu 2 năm liền công chức khôngđạt yêu cầu sẽ bị buộc thôi công chức Hàng năm có khoảng 5.000 công chức bịthôi chức trong vài năm gần đây thông qua biện pháp này

- Luân chuyển công chức: Sau 5 năm phải thực hiện luân chuyển công chức

ở các vị trí quản lý về người, vật tư, tài sản, cấp văn bằng, biển số, giấy phép tức

là các lĩnh vực trọng điểm thường hay nảy sinh tiêu cực Mặt được của vấn đềnày là nâng cao khả năng của cán bộ, giữ khí thế cải cách bảo đảm sự liêm khiếtcủa công chức

- Xây dựng và đưa vào hoạt động thị trường nhân tài

Trang 37

Đây là vấn đề đáng chú ý mà Trung Quốc đã đưa vào thực hiện Nhân tàiđược quan niệm là những người có trình độ từ trung cấp trở lên Tại thị trườngnhân tài mà chủ yếu là hệ thống máy vi tính được cập nhật số liệu về nhữngngười đã đăng kí việc làm tiếp xúc với đại diện của các doanh nghiệp, tổ chứccần lấy người) Bên cung và cầu gặp nhau đi đến kết quả cuối cùng là giải quyếtviệc làm trong xã hội Toàn Trung Quốc có khoảng 7 thị trường nhân tài khu vực

do Bộ nhân sự, chính quyền các tỉnh cùng xây dựng và khoảng 2.000 thị trườngnhân tài cơ sở Những người muốn trở thành công chức đều phải qua thi tuyển,

do đó không qua hệ thống thị trường nhân tài

- Chế độ lương công chức: Chế độ lương công chức hình thành từ năm

1949, được cải cách một bước từ năm 1993 và hiện nay vẫn đang áp dụng Hệthống lương công chức (không áp dụng cho các ngành sự nghiệp giáo dục, y tế)bao gồm 15 cấp khác nhau, mỗi cấp được chia ra nhiều bậc khác nhau

Trong lĩnh vực cải cách công vụ và công chức, Trung Quốc áp dụng rộngrãi hình thức thi tuyển với nguyên tắc là công khai, bình đẳng, cạnh tranh và tự

do được nhân dân và bản thân công chức đồng tình Theo đánh giá của các cơquan nghiên cứu Trung Quốc, đây là biện pháp áp dụng yếu tố thị trường để cảicách cơ cấu đội ngũ cán bộ công chức

Một trong những biện pháp được Trung Quốc áp dụng để tinh giảm biênchế có hiệu quả là phân loại công chức Hàng năm, cán bộ công chức được đánhgiá và phân ra ba loại: xuất sắc, hoàn thành công việc và không hoàn thành côngviệc Công chức 2 năm liền bị xếp vào loại thứ ba đương nhiên bị thôi việc.Đặc biệt, phương thức, nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng để khaithác nguồn nhân lực cho bộ máy hành chính được cải cách, đổi mới cho phù hợpvới thời kỳ hiện đại hoá đất nước Nội dung, chương trình đào tạo được phânthành ba loại: đào tạo để nhận nhiệm vụ, áp dụng cho những đối tượng chuẩn bị

đi làm ở cơ quan nhà nước; đào tạo cho những người đang công tác trong cơquan nhà nước, chuẩn bị được đề bạt vào vị trí quản lý; bồi dưỡng các chức danhchuyên môn Những người mới tuyển dụng vào cơ quan, trước khi nhận công tácphải qua một lớp học bắt buộc và phải đạt kết quả tốt trong kỳ thi cuối khóa học.Mỗi chức danh trước khi bổ nhiệm vào một cương vị mới phải qua một lớp bồidưỡng ít nhất là 3 tháng (tối đa là 1 năm) tại các Học viện theo hướng dẫn của Ban

tổ chức Trung ương và phải có chứng chỉ về kết quả học tập Cán bộ đương nhiệm,mỗi năm phải dành thời gian ít nhất là 120 tiết để bồi dưỡng cập nhật kiến thức

Trang 38

(Nguyễn Thị Thu Hương, 2014).

* Tại Singapore

Vấn đề cải cách hành chính ở Singapore được đặt ra khá sớm Từ đầu

những năm 1970, Chính phủ đã khuyến khích công chức nên có sáng kiến cảicách hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Đặc biệt năm 1991, Chính phủ

đề ra chương trình cải cách công vụ mang tên “Nền công vụ thế kỷ 21” Mục tiêucủa chương trình là xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực, công chức nêucao tinh thần liêm chính, tận tụy và có chất lượng dịch vụ cao

Trong lĩnh vực cải cách chế độ công vụ, Singapore ưu tiên đầu tư cho việcđào tạo công chức; đổi mới tổ chức gắn với tạo cơ chế phù hợp; đồng thời nângcao chất lượng phục vụ với tiêu chí làm hài lòng khách hàng Để thực hiện mụctiêu đề ra, chính phủ Singapore đã áp dụng nhiều biện pháp trong đó có các biệnpháp như: Sử dụng bộ quy chuẩn ISO- 9000 (International StandardOrganization) trong bộ máy hành chính, coi đây vừa là công cụ cải tiến lề lối làmviệc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức Singapore đề rachương trình mang tên “Zero – In – Process” nhằm xoá bỏ cách làm việc quanliêu, nhiều tầng nấc đồng thời đề cao trách nhiệm của bộ máy hành chính Mọigóp ý, đề xuất của nhân dân về hoạt động của cơ quan hành chính đều đượcnghiên cứu, xem xét Các cơ quan hành chính phải thường xuyên rà soát loại bỏnhững quy định không còn phù hợp

Chính phủ Singapore đặc biệt chú trọng đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng độingũ công chức, coi đây là giải pháp cơ bản để xây dựng nền công vụ có hiệu quả.Theo quy định, mỗi công chức bắt buộc phải được bồi dưỡng 100 giờ/năm; phải

có kế hoạch tự học tập cho mình trong đó có việc sử dụng 100 giờ quy định, với60% thời lượng phục vụ cho công việc hiện tại và 40% cho công việc tương lai.Hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức được áp dụng linh hoạt cho phù hợp vớitừng đối tượng, như đào tạo cơ bản, đào tạo nâng cao, đào tạo mở rộng và đào

tạo bổ sung (Nguyễn Thị Thu Hương, 2014)

* Tại Philippin

Ban công vụ Philippin đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chương trìnhquản lý nhân sự thích hợp để giúp cho các công chức nhận thức và phát huy hếttiềm năng của mình với tư cách cá nhân và tổ chức

Thông qua cơ quan phát triển nguồn nhân lực, Ban công vụ xây dựng các

Trang 39

chính sách, tiêu chuẩn, chương trình, các nguồn lực của đội ngũ công chức Mỗi cơquan của chính phủ phải chuẩn bị một kế hoạch phát triển chức nghiệp và nhân sự

để gửi đến ban công vụ, sau đó ban này tổng hợp lại thành kế hoạch quốc gia làmcăn cứ cho các hoạt động phát triển nhân lực trong bộ máy Chính phủ Kế hoạchnày bao gồm các điều khoản về khuyến khích công tác: Đánh giá thực thi công tácđào tạo tại chức; các học bổng trong và ngoài nước

Các chương trình đào tạo do Ban Công vụ tổ chức bao gồm:

- Chương trình giới thiệu: Chương trình này dành cho những người mới vào

bộ máy Chính phủ

- Chương trình định hướng: Chương trình nhằm cung cấp thông tin cho cáccông chức mới vào cơ quan về các chương trình, hoạt động của Chính phủ vànghĩa vụ, trách nhiệm cũng như quyền lợi của họ

- Chương trình tái định hướng giới thiệu các nghĩa vụ và trách nhiệm mới,chính sách và chương trình hiện nay cho các công chức đã có thâm niên nhấtđịnh trong công vụ

- Chương trình chuyên môn khoa học, kỹ thuật: Đề cập tới các khóa học vềcác lĩnh vực chuyên môn, khoa học và kỹ thuật nhằm nâng cao kiến thức cho cáccông chức cấp độ thứ nhất (là các công chức mới được tuyển dụng vào các cơquan công vụ) trong chức nghiệp của mình

- Chương trình phát triển nhân viên: Bao gồm các khóa học nhằm duy trìtrình độ năng lực cao về các kỹ năng cho các công chức cấp độ thứ nhất

- Chương trình phát triển quản lý trung cấp: Bao gồm các khóa học dành chocác trưởng phòng, ban và tương đương về các kỹ năng hành chính và quản lý nhằmchuẩn bị điều kiện để họ đón nhận những trách nhiệm cao hơn

- Chương trình phát triển thẩm mỹ: Chương trình nhằm mục đích đề cao cácgiá trị của công vụ, làm cho công vụ mang tính lịch thiệp và hiệu quả

- Chương trình phát triển điều hành dành cho các quan chức cấp cao

Các chương trình học bổng bao gồm các hình thức sau:

- Đào tạo thạc sĩ trong nước

- Học bổng cho công nhân lành nghề

- Chương trình đi nghiên cứu ngắn hạn cho các trưởng phòng, ban, thông quaquỹ hợp tác phát triển của Canada

Trang 40

Về đào tạo dài hạn Trường Đại học tổng hợp Philippin có riêng một Viện hànhchính Hàng năm Viện mở các khóa đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ về hành chính cho cácđối tượng học viên muốn nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này (Nguyễn Thị ThuHương, 2014).

*Tại Inđônêxia

Inđônêxia rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực côngtác cho đội ngũ công chức: công tác đào tạo công chức cho nền công vụ ởInđônêxia bao gồm 2 nội dung chính: Đào tạo tiền công vụ và đào tạo qua côngviệc (tại chức)

- Đào tạo tiền công vụ: là quá trình đào tạo dành cho tất cả những người sẽ làcông chức, quá trình này giúp họ hiểu rõ về loại hình công việc mà họ sẽ làm, cũngnhư cách thức làm việc Đây là một loại hình đào tạo bắt buộc và học viên phải quathời kỳ kiểm tra cuối khóa Nếu học viên nào không đạt yêu cầu sẽ phải học lại mộtkhóa khác Không đạt lần thứ hai thì buộc phải bãi nhiệm

- Đào tạo qua công việc: Quá trình này nhằm nâng cao kiến thức và năng lựccủa công chức thực thi công việc của mình hiệu quả hơn Mặt khác quá trình nàycũng là điều kiện để đề bạt công chức lên các chức danh cao hơn (Nguyễn Thị ThuHương, 2014)

2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương của Việt Nam

* Kinh nghiệm huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Những năm trước 2010, đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện ThọXuân còn nhiều bất cập cả về số lượng, chất lượng Tại hầu hết các xã, thị trấnmột bộ phận không nhỏ công chức chưa đạt chuẩn trình độ văn hóa; năng lựcquản lý của một số cán bộ chủ chốt cơ sở hạn chế, chậm đổi mới tư duy Bêncạnh đó, một số xã bố trí công chức chưa đúng với tiêu chuẩn chức danh, trình độchuyên môn, đào tạo Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với quy hoạch,phương pháp đào tạo CBCC chậm đổi mới

Trước thực trạng trên, Huyện ủy Thọ Xuân ban hành Nghị quyết số 03 vềxây dựng và nâng cao đội ngũ cán bộ giai đoạn 2012 - 2020” với nhiều giải pháp

cụ thể, thiết thực nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu thực hiệnnhiệm vụ trong tình hình mới Trong đó, huyện ủy chú trọng đến cụ thể hóa tiêuchuẩn CBCC xã, thị trấn; quy định phân công, phân cấp, đánh giá, bổ nhiệm cánbộ; triển khai một số biện pháp ưu tiên nhằm thu hút, tuyển dụng trí thức trẻ tốt

Ngày đăng: 23/03/2019, 21:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Dương Trung Ý (2013): “ Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã, phường, thị trấn”, Trang thông tin điện tử NXB Chính trị quốc gia- sự thật đăng ngày 17/07/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã, phường, thịtrấn
Tác giả: Dương Trung Ý
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia- sự thật đăng ngày17/07/2013
Năm: 2013
14. Lưu Hải Đăng (2012), Học viện Hành chính: "Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020", Tạp chí Tổ chức nhà nước số 4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ công chức, viênchức đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Lưu Hải Đăng
Năm: 2012
15. Nguyễn Huy Hoàng (2011), Trường Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng: "Vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn trong thời kỳ mới”, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 10/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai tròcủa đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn trong thời kỳ mới
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 2011
19. Thạch Thọ Mộc (2014): “Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay” , Tạp chí tổ chức nhà nước ngày 21/04/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng và đánh giá đội ngũcông chức ở nước ta hiện nay
Tác giả: Thạch Thọ Mộc
Năm: 2014
1. Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng công chức cấp xã huyện Lục Nam khoảng thời gian (2015-2017) Khác
2. Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV về ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã Khác
3. Bộ Nội vụ (2012), Thông tư 06/2012/TT- BNV ngày 30/10/2012 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn Khác
5. Chính phủ (1998) Nghị định số 09/1998/NĐ-CP về chế độ, chính sách cho công chức xã, phường, thị trấn Khác
6. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 về chế độ, chính sách đối với công chức ở xã, phường, thị trấn Khác
7. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Khác
8. Chính phủ (2010), Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức Khác
9. Chính phủ (2011), Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 về công chức xã, phường, thị trấn Khác
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
13. Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.252, 253, 520 Khác
17. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lục Nam (2015- 2017) Khác
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật Cán bộ, công chức Khác
20. Từ điển tiếng Việt (2000), Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, tr.144 Khác
21. UBND huyện Lục Nam (2017), Báo cáo tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w