1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận Tài chính tiền tệ

30 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 69,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là bài thảo luận học phần Nhập môn tài chính tiền tệ, được giảng viên đánh giá rất cao

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chương I TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

1 Trước khi gia nhập WTO

2 Sau khi gia nhập WTO

3 Các thách thức và giải pháp phát triển thị trường Việt Nam sau khi gia nhập WTO

4 Các công ty & sản phẩm bảo hiểm trên thị trường Việt Nam

Chương II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

1 Khái niệm & đặc trưng của công ty bảo hiểm

1.1 Khái niệm 1.2 Đặc trưng

2 Yêu cầu đối với công ty bảo hiểm

3 Các loại hình kinh doanh bảo hiểm

3.1 Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 3.2 Kinh doanh bảo hiểm rủi ro

Chương III PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CÔNG TY BẢO HIỂM

1 Cách hình thành doanh thu công ty bảo hiểm

1.1 Căn cứ vào loại hình bảo hiểm, doanh thu kinh doanh bảo hiểm 1.2 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh, doanh thu kinh

doanh

2 Sử dụng doanh thu

2.1 Các khoản chi của quỹ bảo hiểm

2.2 Đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm

3 Phân phối lợi nhuận

Chương IV PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

1 Giới thiệu chung

Trang 2

L I M Đ U ỜI MỞ ĐẦU Ở ĐẦU ẦU

Bảo hiểm là sự đảm bảo chi trả một số tiền nhất định của doanh

nghiệp bảo hiểm cho người mua bảo hiểm nhằm bù đắp thiệt hại khi không may gặp rủi ro trong cuộc sống với sự thỏa thuận trước về số phí và quyền lợi bảo hiểm Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng, Và được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm

Nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài thảo luận liên quan đến việc tìm

hiểu về cách thức hoạt động của một công ty bảo hiểm Trong quá trình

nghiên cứu đề tài này, chúng em sử dụng nghiên cứu thông qua các tài liệu thứ cấp Tuy nhiên do còn hạn chế về trình độ kiến thức, kinh nghiệm cũng như là tài liệu nghiên cứu, nên bài thảo luận của chúng em vẫn còn nhiều thiếu sót Nhóm chúng em rất mong nhận được những đóng góp quý báu của

cô để có thêm nhiều kinh nghiệm, cải thiện cho những bài thảo luận sau Nhóm 02 xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

CH ƯƠNG I NG I

T NG QUAN TH TR ỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG Ị TRƯỜNG ƯỜI MỞ ĐẦU NG

B O HI M VI T NAM ẢO HIỂM Ở VIỆT NAM ỂM Ở VIỆT NAM Ở ĐẦU ỆT NAM

1 Trước khi gia nhập WTO

Trước khi có nghị định 100/CP ngày 17/12/1964 công ty bảo hiểm đầu tiên của VN được thành lập là Bảo Việt Từ đó đến năm 1994, ở Việt Nam chỉ có Bảo Việt là công ty bảo hiểm đầu tiên và duy nhất được chính phủ thành lập Ở giai đoạn này, lịch sử phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam gắn liền và song hành cùng với sự phát triển của Bảo Việt Công ty bảo hiểmBảo Việt được xem là thị trường độc quyền trong khoảng thời gian trước khi

có nghị định 100/CP, bên cạnh đó Bảo Việt đã đạt được những tiến bộ đáng

kể, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn cam go ác liệt của lịch sử

Ngày 18-6-1993, thực hiện chính sách mở cửa và cải cách kinh tế của đảng và nhà nước, chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm Nghị định 100/CP của chính phủ ra đời nhằm khẳng định hướng phát triển của thị trường Bảo hiểm Việt Nam sẽ bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham gia, cụ thể:

 Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước

 Doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần

 Doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ

 Doanh nghiệp liên doanh bảo hiểm

 Chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nước ngoài

 Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

2 Sau khi gia nhập WTO

Là một ngành mới nhưng Bảo hiểm Việt Nam đã có tốc độ phát triển khá nhanh, đặc biệt kể từ sau khi chúng ta trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2007 Nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng cao, hàng hóa của Việt Nam sẽ có một thị trường rộng lớn hơn đó là các thành viên WTO,

Trang 4

đồng thời hàng hóa nước họ sẽ được xâm nhập vào thị trường Việt Nam tạo

tiền đề cho các ngành nghề phát triển như: giao thông vận tải đường bộ,

hàng không, xuất nhập khẩu làm tiền đề cho Bảo hiểm phát triển.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước phát triển nhanh chóng Đây cũng là cơ sở để ngành Bảo hiểm phát triển, đồng thời

cũng đòi hỏi ngành Bảo hiểm phải có sản phẩm Bảo hiểm đáp ứng nhu cầu của tăng trưởng đầu tư nước ngoài và trong nước, nhất là những cơ sở đầu tư ngành nghề mới, công nghệ cao như đóng tàu, xâydựng đường tàu điện ngầm, xây dựng ngành điện tử công nghệ thông tin, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện nguyên tử, vệ tinh, sản xuất linh kiện máy bay…

Lộ trình cổ phần hóa chuẩn bị hoàn thành, chế độ sở hữu tư nhân

buộc người điều hành Doanh nghiệp muốn bảo toàn vốn và tài sản trước mọi rủi ro cần phải có Bảo hiểm làm tăng nhu cầu Bảo hiểm để ngành Bảo hiểm phát triển Khi các chủ Doanh nghiệp coi trọng Bảo hiểm là lá chắn trước mọi rủi ro, tai nạn bất ngờ thì thị trường Bảo hiểm sẽ có nhiều cơ hội phát triển lành mạnh

Sự trợ cấp của Nhà nước ở một số lĩnh vực sẽ giảm dần cùng với sự

xã hội hóa hoạt động thể dục thể thao, y tế, văn hóa giáo dục đã kích thích nhu cầu tham gia Bảo hiểm Sự trợ cấp của nhà nước càng giảm thì sự lo lắng thiên tai, tai nạn xảy ra bất ngờ dẫn đến người ta phải nghĩ tới Bảo hiểm

Pháp luật ngày càng hoàn thiện và mang tính tương thích với nhau

nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và của Doanh nghiệp ngày một tốt hơn làm phát sinh theo nhu cầu Bảo hiểm như: Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết kế…; Bảo hiểm tài sản; Bảo hiểm rủi ro tài chính; Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm của các tổ chức sản xuất, kinh doanh; Bảo hiểm tráchnhiệm dân sự của các chủ doanh nghiệp

Tầng lớp dân cư có thu nhập cao ngày càng đông đảo bao gồm giới

chủ Doanh nghiệo tư nhân, các chuyên gia giỏi trong Doanh nghiệp Việt Nam và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các chủ hộ kinhdoanh, các chủ trang trại đều có nhu cầu Bảo hiểm Nhân thọ cho mình

và người thân

Trang 5

Nhận thức về nhu cầu, tác dụng của Bảo hiểm ngày một nâng cao thông qua công tác tuyên truyền của ngành Bảo hiểm, thông qua tập

quán mua Bảo hiểm của giới chủ đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận thức của những khách hàng tiềm năng có nhu cầu dẫn tới quyết định tham gia Bảo hiểm ngày một đông đảo hơn

3 Các thách thức và giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam sau gia nhập WTO

Hai là, chưa tạo ra những kênh hữu hiệu để tuyên truyền rộng rãi

mục đích, ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm khiến phần lớn khách hàng tham gia bảo hiểm đều là do Nhà nước bắt buộc (chẳng hạn như khi vay vốn ngân hàng, xuất nhập khẩu…) Với một thị trường hơn 85 triệu dân như Việt Nam, tiềm năng là không nhỏ nhưng để khai thác được tiềm năng lớn lao này, việc tuyên truyền rộng rãi đến các tổ chứcquần chúng nhân dân là một điều cần đặc biệt quan tâm đối với ngành bảo hiểm

Ba là, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm và các công ty bảo hiểm tại Việt Nam,

vô hình chung đã tạo nên những ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm

Trang 6

Bốn là, các công ty bảo hiểm tại Việt Nam còn thiếu định hướng dài hạn cho hoạt động kinh doanh, chưa đầu tư đúng mực vào công tác

quy hoạch đào tạo – tuyển dụng – sử dụng cán bộ, công tác phát triển nghiệp vụ cũng như công tác dự báo thống kê và định phí Đã có không ít sai phạm trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm bị phát hiện, điển hình là các sai phạm trong quản trị các công ty bảo hiểm Việt Nam, vi phạm các quy định về cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm, thời hạn nộp phí, tái bảo hiểm, chi trả bồi thường và quyền lợi bảo hiểm, hoạt động đầu tư

3.2 Giải pháp

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ khách hàng Dịch vụ

chăm sóc khách hàng chu đáo sẽ tạo được niềm tin của khách hàng, giúp các công ty bảo hiểm tại Việt Nam giữ được chân khách hàng làm gia tăng số lượng các hợp đồng tái tục khi hết hạn hợp đồng, đặc biệt là với những khách hàng truyền thống, những khách hàng lớn củacác công ty bảo hiểm tại Việt Nam Việc giữ chân một khách hàng cũ

có lợi hơn rất nhiều so với việc đi khai thác một khách hàng mới bởi không những tiết kiệm được chi phí khai thác ban đầu, mà khi họ tin tưởng và hài lòng về chất lượng dịch vụ, họ sẽ là “kênh tuyên truyền” hữu hiệu giúp các công ty bảo hiểm tại Việt Nam có thêm những mới

Thứ hai, coi trọng công tác đào tạo cán bộ Bảo hiểm là ngành kinh

doanh dịch vụ đặc biệt, đòi hỏi những nhân viên làm trong lĩnh vực này phải có một trình độ và sự hiểu biết nhất định, có trình độ chuyên môn vững vàng Thị trường bảo hiểm mới chỉ sôi động và thực sự phát triển trong mấy năm trở lại đây nên lực lượng lao động trong ngành bảo hiểm vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo bậc trung và bậc cao , nên chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác thị trường rộng lớn Vì vậy các công ty bảo hiểm tại Việt Nam cần phối hợp với các đơn vị có liên quan (Hiệp hội bảo hiểm, Cục quản lý và giám sát bảo hiểm…) mở các lớp đào tạo cho phù hợp với trình độ đa dạng của cán bộ trong ngành như: chương trình đào tạo cơ bản,

chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt để có đội ngũ cán bộ giỏi,

chuyên sâu về nghiệp vụ

Trang 7

Thứ ba, đa dạng hoá kênh phân phối và sản phẩm bảo hiểm Hiện nay

các công ty bảo hiểm tại VN chủ yếu phân phối sản phẩm qua ba kênhchủ yếu: qua cán bộ của chính các công ty bảo hiểm đó, qua hệ thống ngân hàng và các công ty cho thuê tài chính và qua đại lý

Thứ tư, đa dạng hóa sản phẩm Mặc dù ngày càng có nhiều người

Việt Nam ý thức về tầm quan trọng của bảo hiểm, song không phải ai cũng có thể tham gia một hợp đồng bảo hiểm với mức bồi thường đủ lớn để bù đắp những tổn thất về tài chính cho bản thân và gia đình nếukhông may gặp rủi ro, tai nạn trong cuộc sống, nhất là với những người có mức thu nhập trung bình hoặc thấp

Thứ năm, các công ty bảo hiểm Việt Nam cần tăng cường hợp tác với nhau và xa hơn nữa cần hợp tác với các công ty bảo hiểm lớn từ các nước phát triển Các công ty bảo hiểm cần tiến tới hợp tác song

phương và đa phương để phát huy tổng hợp sức mạnh của nhau Các công ty bảo hiểm cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý bảo hiểm, đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp về thông tin bồi thường, nguyên nhân tổn thất và phòng chống trục lợi BH

4 Các công ty & sản phẩm bảo hiểm trên thị trường Việt Nam

Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ:

Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ vừa giới thiệu hai sản phẩm bảo

hiểm bổ trợ mới là Bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật & điều trị ngoại khoa và Bảo hiểm trợ cấp nằm viện Điểm khác biệt của hai sản phẩm bổ trợ này so với những sản phẩm cùng loại trên thị trường

là việc mang lại quyền lợi cho cả bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm- Korea Life với sản phẩm bảo hiểm: An khang linh hoạt trọn đời

Đại an khôi nguyên - lên kế hoạch cho con bạn từ hôm nay Với

sản phẩm này, bạn có thể bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai giáo dục của con bạn ngay khi đứa con yêu quý của bạn mới chào đời.Với việc nộp phí bảo hiểm trong 8 năm, con bạn sẽ được bảo

vệ tới 22 năm, sự hỗ trợ có đảm bảo về tài chính sẽ bằng 130% Sốtiền Bảo hiểm ban đầu cộng với tất cả bảo tức tích lũy đi kèm

Đại an định kỳ gia tăng - thắp sáng ước mơ của bạn Đại an định

kỳ gia tăng của Great Eastern không những bảo vệ mà còn mang

Trang 8

lại cho bạn một khoản tiết kiệm, nhờ vậy, bạn có thể tăng thêm của cải và có thêm tiền mặt trong tay để thực hiện các mục tiêu lâu dài trong cuộc đời của mình.

Đại an minh tâm - lập kế hoạch cho việc mưu cầu hạnh phúc của

bạn Đại an minh tâm là giải pháp tuyệt vời hỗ trợ bạn và những người thân yêu của bạn về mặt tài chính, và điều quan trọng nhất

là giúp cho ước mơ và kế hoạch tài chính của bạn trở thành hiện

thực.- Prudential Việt Nam với sản phẩm “3 trong 1” Mới đây

nhất, bảo hiểm Prudential Việt Nam vừa giới thiệu sản phẩm bảo hiểm nhân thọ “3 trong 1” dành cho những khách hàng đã có gia đình; sản phẩm này cho phép một hợp đồng của một thành viên trong gia đình có giá trị bảo hiểm cho cả gia đình 3 người

 Sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ

BIC bảo hiểm cho các hộ chung cư từ ngày 05/04/2010, BIC

chính thức triển khai sản phẩm Bảo hiểm cho hộ gia đình sinh sống trong các khu chung cư

CHILDREN CARE - Sản phẩm mới của PJICO PJICO quyết định

thiết kế ra PJICO Children Care - một sản phẩm BH hoàn toàn mới cho thiếu nhi với mức trách nhiệm cao, phạm vi bảo hiểm rộng và đặc biệt là người tham gia bảo hiểm được hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao Điều này đã hạn chế các yếu tố : mức trách nhiệm bảo hiểm thấp, quyền lợi bảo hiểm hạn chế,

Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) Ngay sau khi Cục

Cảnh sát giao thông đường bộ thông báo sẽ kiểm tra gắt gao việc mua bảo hiểm bắt buộc, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) đã nhanh chóng đưa ra thị trường sản phẩm "Phúc vạn dặm bảo hiểm vật chất cho xe ôtô"

Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) Đã cho ra mắt Bảo

hiểm nhà tư nhân, bảo hiểm cấu trúc ngôi nhà,tài sản bên trong ngôi nhà nếu bị cháy, nổ, sét đánh, động đất, trộm cướp, hành động cố ý phá hoại hay hành động ác ý đều được bồi thường

CH ƯƠNG I NG II

Trang 9

KHÁI QUÁT CHUNG V Ề DOANH NGHI P B O HI M ỆT NAM ẢO HIỂM Ở VIỆT NAM ỂM Ở VIỆT NAM

1 Khái niệm và đặc trưng của công ty bảo hiểm

1.1 Khái niệm:

Là tổ chức huy động vốn bằng cách bán bảo hiểm cho công chúng và sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường tài chính

1.2 Đặc trưng của doanh nghiệp bảo hiểm:

Thứ nhất, doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh tài

chính, chủ yếu thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm Tính đặc thù của kinh doanh bảo hiểm được thể hiện:

 Đây là dịch vụ tài chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan

 Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo ngược, tức là sảnphẩm được bán ra trước, doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí

Thứ hai, doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức, thành lập và hoạt

động theo các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật

Thứ ba, doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ

Tài Chính Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nhất định Đây là đặc điềm giúp phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế

2 Yêu cầu đối với công ty bảo hiểm

2.1 Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn.

Hiện nay, các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồnvốn Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận

2.2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng

bảo hiểm.

Trang 10

Doanh nghiệp phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốtquá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm Khi có nguy cơ mất khảnăng thanh toán, doanh nghiệp phải chủ động thực hiện ngay cácbiện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời báo cáo BộTài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơmất khả năng thanh toán và phương án khôi phục Nếu không khôiphục được khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tìnhtrạng kiểm soát đặc biệt

2.3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

 Doanh nghiệp bảo hiểm làm quen với hội nhập hợp tác quốc

tế và tạo ra sự cạnh tranh để doanh nghiệp bảo hiểm tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đem lại lợi ích tốt hơn cho người tham gia bảo hiểm

 Trong quá trình phát triển thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải hợp tác để đưa đến thống nhất và đòi hỏi cạnh tranh lànhmạnh

2.4 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo các quy định

của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan.

 Để các DN bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tếthị trường cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan đến hoạt động bảo hiểm

3 Các loại hình kinh doanh bảo hiểm

3.1 Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

a Khái niệm:

Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là loại hình kinh doanh bảo hiểm có

liên quan đến sinh mạng, sức khỏe và tuổi thọ của con người.

b Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ:

Là dịch vụ tài chính đặc biệt, đó là sự cam kết về mặt tài chính của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Sự cam kết này được ghi rõ trong các hợp

đồng bảo hiểm do công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm

kí kết Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ luôn mang tính dài hạn Sản phẩm này nhằm tới các khách hàng – những người ưa thích

sự an toàn: an toàn trong cuộc sống và an toàn về đồng vốn Trong cuộc sống, những người này thường lo lắng nếu có những

Trang 11

rủi ro xảy ra sẽ không có nguồn tài chính để đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình họ Bên cạnh đó, những người nàycòn mong muốn tích lũy những khoản tiền nhỏ ở hiện tại để thu một khoản tiền lớn trong tương lai nhằm thực hiện hoài bão của mình (mua nhà, cho con du học, ổn định tài chính lúc tuổi già) Nhu cầu của khách hàng – người tham gia bảo hiểm rất khác nhau nên công ty bảo hiểm đã đưa ra các sản phẩm bảo hiểm rất

đa dạng

 Các sản phẩm chủ yếu của loại hình bảo hiểm nhân thọ:

Bảo hiểm tử kỳ (Bảo hiểm tử vong): Là loại hình bảo hiểm

đòi hỏi sự đóng góp thường xuyên và cam kết chi trả khi cáichết xảy ra trong thời gian nhất định theo quy định của hợp đồng Có nghĩa là, công ty bảo hiểm sẽ không thanh toán bất cứ khoản tiền nào nếu như cái chết xảy ra không trong thời gian quy định của hợp đồng

Bảo hiểm sinh kỳ (Bảo hiểm trong trường hợp sống): Là

loại hình bảo hiểm cam kết chi trả số tiền đều đặn trong mộtkhoảng thời gian xác định hoặc suốt cuộc đời Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được thanh toán bất cứ khoản tiền nào

Bảo hiểm trọn đời: Là loại hình bảo hiểm đòi hỏi sự đóng

góp thường xuyên và công ty bảo hiểm sẽ cam kết chi trả với số tiền bảo hiểm đã được ấn định trên hợp đồng khi người được bảo hiểm chết bất cứ lúc nào kể từ ngày kí hợp đồng

Trên thực tế, các công ty bảo hiểm thường đưa ra các sản phẩm hỗn hợptrong cùng một hợp đồng bảo hiểm hoặc một sản phẩm bảo hiểm đơn lẻ trong một hợp đồng bảo hiểm và kèm theo sản phẩm phụ (ốm đau, tai nạn) Đối với sản phẩm phụ, người tham gia bảo hiểm có thể chọn một hoặc nhiềusản phẩm cùng một lúc

3.2 Kinh doanh bảo hiểm rủi ro (Bảo hiểm phi nhân thọ)

Trang 12

a Khái niệm:

Kinh doanh bảo hiểm rủi ro là loại hình bảo hiểm mà các công

ty bảo hiểm chuyên cung cấp các hợp đồng bảo hiểm liên quan

đến các rủi ro thông thường như: tai nạn, tổn thất tài sản, cháy nổ

b Sản phẩm của bảo hiểm phi nhân thọ

Sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bảo hiểm cho từng đối tượng bảohiểm riêng biệt, đối với từng loại rủi ro nhất định Sản phẩm bảo hiểm này

có thời hạn ngắn ( tối đa là một năm ).Sản phẩm của loại hình bảo hiểm phi nhân thọ theo đối tượng bảo hiểm, gồm:

Bảo hiểm tài sản: Là loại hình bảo hiểm lấy giá trị tài sản làm

đối tượng bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho chủ tàisản khi có tổn thất do các rủi ro bảo hiểm gây ra Các công ty bảo hiểm thường triển khai các sản phẩm tài sản cụ thể như: bảo hiểm hàng hóa do hỏa hoạn, mất mát, hỏng hóc, vận chuyển, bảo hiểm thân tàu, thuyền, máy bay; bảo hiểm xây dựng, lắp đặt

Bảo hiểm rủi ro về còn người: Là loại hình bảo hiểm lấy tính

mạng, sức khỏe và khả năng lao động của con người làm đối tượng bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm cụ thể như: bảo hiểm con người trong trường hợp ốm đau, tai nạn

 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm của loại hình này là tài sản, tính mạng, sức khỏe của người thứ ba do chủ tài sản hoặc chủ phương tiện có lỗi gây ra Sản phẩm cụ thểnhư: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, chủ tàu thuyền, chủ khách sạn

Trang 13

CH ƯƠNG I NG III PHÂN TÍCH HO T Đ NG CÔNG TY B O ẠT ĐỘNG CÔNG TY BẢO ỘNG CÔNG TY BẢO ẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

HI M ỂM Ở VIỆT NAM

1 Cách hình thành doanh thu của công ty bảo hiểm.

1.1 Căn cứ vào loại hình bảo hiểm, doanh thu kinh doanh Bảo

hiểm.

a Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ.

 Doanh thu chỉ từ phí bảo hiểm và được thu định kỳ, nhiều lần, vào thời gian xác định trong hợp đồng bảo hiểm (Phí bảo hiểm

là khoản tiền bên mua bảo hiểm nộp cho doanh nghiệp bảo hiểm để được bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm)

 Thời gian đóng phí bảo hiểm tùy theo tình hình tài chính của bản thân, người tham gia bảo hiểm tự lựa chọn là tháng, quý hoặc năm

 Số phí bảo hiểm được công ty bảo hiểm quản lý theo nghiệp vụdồn tích và đầu tư kiếm lời

b Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.

 Doanh thu chủ yếu từ phí bảo hiểm, ngoài ra còn được hình thành từ các hoạt động tái bảo hiểm,…

 Phí bảo hiểm được thu một lần lấy ngay sau khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết

1.2 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh, doanh thu kinh

doanh.

a Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm: là số tiền phải

thu phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ

 Số tiền phải thu phát sinh trong kỳ bao gồm :

 Thu phí bảo hiểm gốc

 Thu phí nhận tái bảo hiểm: là những khoản doanh thu trong quá trình công ty Bảo Việt nhận lại một phần trách nhiệm

mà công ty bảo hiểm khác, đã chấp nhận với người được bảo

Trang 14

hiểm trên cơ sở nhận một phần doanh thu qua hợp đồng tái bảo hiểm.

 Thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm

 Thu phí dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàngbồi thường 100%

 Thu phí giám định tổn thất không kể giám định hộ giữa các đơn vị thành viên hạch toán nội bộ trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán độc lập

 Các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ bao gồm :

 Hoàn phí bảo hiểm

 Giảm phí bảo hiểm

 Phí nhượng tái bảo hiểm

 Hoàn phí nhận tái bảo hiểm

 Giảm phí nhận tái bảo hiểm

 Hoàn hoa hồng nhượng tái bảo hiểm

 Giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm

b Doanh thu từ hoạt động tài chính: là những khoản thu do hoạt

động từ đầu tư tài chính mang lại

 Thu hoạt động đầu tư theo quy định tại Mục 3 Chương II Nghị định này

 Thu từ hoạt động mua bán chứng khoán

 Thu lãi trên số tiền ký quỹ

 Thu cho thuê tài sản

 Hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán

 Thu khác theo quy định của pháp luật

c Thu nhập hoạt động khác: là doanh thu không mang tính chất

thường xuyên của công ty

 Thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định

 Các khoản nợ khó đòi đã xóa nay thu hồi được

 Thu tiền phạt vi phạm hợp đồng

 Thu khác theo quy định của pháp luật

2 Sử dụng doanh thu

Trang 15

2.1 Các khoản chi của quỹ bảo hiểm

 Chi trả các trợ cấp bảo hiểm: đây là khoản chi chủ yếu của quỹ bảo hiểm

 Trợ cấp ngắn hạn (còn gọi là trợ cấp đột xuất): chi trả cho những nhu cầu phát sinh như ốm đau, thai sản, lao động xã hội, bệnh nghề nghiệp,…

 Trợ cấp dài hạn: là loại trợ cấp chi trả thường kỳ, có tác dụnggóp phần bảo đảm cuộc sống

 Chi phí quản lý: là khoản chi cho các hoạt động thường xuyên của công ty bảo hiểm: chi phí lương, chi phí nghiệp vụ, chi phí nghiên cứu khoa học, chi phí hành chính,…

 Chi phí đầu tư: khoản chi này để đảm bảo các hoạt động đầu

tư phần nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm được diễn ra bình thường

và đạt hiệu quả cao

 Chi phí dự phòng: đây là khoản dự trữ có thể phát sinh trong năm ngoài dự tính

2.2 Đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm:

 Khái niệm:

Đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm là quá trình sử dụng bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ bảo hiểm vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, nhằm đảm bảo giá trị gốc và tăng thêm giá trị so với giá trị gốc, góp phần đáp ứng nhu cầu chi trả các trợ cấp bảo hiểm hiện tại, tương lai và các chi phí khác.

 Danh mục đầu tư từ quỹ bảo hiểm:

Cũng như các nguồn vốn khác, quỹ bảo hiểm có thể đầu tư phần nhàn rỗi vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân nếu có thể có lợi nhuận

 Đối với các nguồn vốn ngắn hạn:

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w