Bài thảo luận tài chính tiền tệ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang vận động phát triển không ngừng đòi hỏi từng quốc gia phải từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, để giảm khoảng cách của sự nghèo nàn với các nước tư bản phát triển Đặc biệt trong những năm gần đây khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực kinh tế có thể nói là năng động nhất trên thế giới Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực này và cũng chịu ảnh hưởng của quy luật phát phát triển.
Trong mỗi một quốc gia thì vốn là không thể thiếu được, nó thúc đẩy nền kinh tế của quốc gia đó phát triển Đối với các nước phát triển thì có lượng vốn vô cùng lớn và rất muốn đầu tư ra nước ngoài bằng cách có thể là đầu tư trực tiếp và gián tiếp Còn đối với các nước đang phát triển và các nước kém phát triển là điêù kiện vô cùng thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong
đó có Việt Nam Đầu tư là động lực quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Trong đó vốn đầu tư trực tiếp có tầm quan trọng đặc biệt, bởi muốn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước cần có giải pháp để thu hút vốn
Đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay vấn đề này càng trở nên quan trong hơn đối với một nước đang phát triển như Việt Nam mới bước ra từ khủng
hoảng Chính vì vậy trong bài thảo luận này chúng tôi đề cập đến vấn đề: “Lợi
ích và bất lợi của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Liên hệ với thực tế đầu tư nước ngoài ở Việt Nam?”
Trang 2NỘI DUNG
I SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động đầu tư nước ngoài nóichung và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng đang diễn ra hết sứcmạnh mẽ nhưng đối với việt nam, đầu tư nước ngoài vẫn còn là một vấn đề hếtsức mới mẻ do vậy để có một cái nhìn tổng thể, khai thác được những mặttích cực và hạn chế được những mặt tiêu cực của đầu tư nước ngoài nhằm thựchiện thành công quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH), đòi hỏiphải nghiên cứu vấn đề này một cách thấu đáo
1 Đầu tư và đặc điểm của đầu tư
Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời giantương đối dài nhằm thu được lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế- xã hội
Vốn đầu tư bao gồm:
- Tiền tệ các loại: nội tệ, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý
- Hiệnvật hữu hình: tư liệu sản xuất, tài nguyên, hàng hoá, nhà xưởng
- Hàng hoá vô hình: Sức lao động, công nghệ, thông tin, bằng phát minh,quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, dịch vụ, uy tín hàng hoá
- Các phương tiện đặc biệt khác: cổ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, cácchứng từ có giá khác
Đặc điểm của đầu tư:
- Tính sinh lợi: Đầu tư là hoạt động tài chính ( đó là việc sử dụng tiềnvốn nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giá trị lớn hơn khoản tiền đã bỏ
ra ban đầu )
- Thời gian đầu tư thường tương đối dài Những hoạt động kinh tế ngắnhạn trong vòng một năm thường không gọi là đầu tư
Trang 3- Đầu tư mang tính rủi ro cao: Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốntrong hiện tại nhằm thu được lợi ích trong tương lai Mức độ rủi ro càng caokhi nhà đầu tư bỏ vốn ra nước ngoài.
2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment- FDI).
a Khái niệm.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để tạo lập
cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư Trong đó nhà đầu tư nướcngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữquyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thuđược lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định củaLuật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại
b Phân loại đầu tư.
- Theo phạm vi quốc gia:
+ Đầu tư trong nước
+ Đầu tư ngoài nước
- Theo thời gian sử dụng:
+ Đầu tư ngắn hạn
+ Đầu tư trung hạn
+ Đầu tư dài hạn
- Theo lĩnh vực kinh tế:
+ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Đầu tư vào sản xuất công nghiệp
+ Đầu tư vào sản xuất nông nghiệp
+ Đầu tư khai khoáng, khai thác tài nguyên
+ Đầu tư vào lĩnh vực thương mại - du lịch - dịch vụ
+ Đầu tư vào lĩnh vực tài chính
Trang 4- Theo mức độ tham gia của chủ thể quản lý đầu tư vào đối tượng mà mình bỏ vốn:
+ Đầu tư trực tiếp
+ Đầu tư gián tiếp
Trên thực tế, người ta thường phân biệt hai loại đầu tư chính: Đầu tư trựctiếp và đầu tư gián tiếp Cách phân loại này liên quan đến việc tiếp nhận, quản
lý và sử dụng vốn đầu tư
* Đầu tư gián tiếp: là hình thức mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn
không phải là một Người bỏ vốn không đòi hỏi thu hồi lại vốn ( viện trợ khônghoàn lại ) hoặc không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, họđược hưởng lợi tức thông qua phần vốn đầu tư
- Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là
người sử dụng vốn Nhà đầu tư đưa vốn ra nước ngoài để thiết lập cơ sở sảnxuất kinh doanh, làm chủ sở hữu, tự quản lý, điều hành hoặc thuê người quản
lý, hoặc hợp tác liên doanh với đối tác nước sở tại để thành lập cơ sở sản xuấtkinh doanh nhằm mục đích thu được lợi nhuận
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nguồn vốn tàichính đưa vào một nước trong hoạt động đầu tư nước ngoài
3 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà còn
có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực Marketing,trình độ quản lý Hình thức đầu tư này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đưavào đầu tư thì hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành và sản phẩm đượctiêu thụ trên thị trường nước chủ nhà hoặc xuất khẩu Do vậy, đầu tư kỹ thuật
để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố làm tăng sứccạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Đây là đặc điểm để phân biệt với cáchình thức đầu tư khác, đặc biệt là với hình thức ODA (hình thức này chỉ cungcấp vốn đầu tư cho nước sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và công nghệ)
Trang 5- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu vàovốn pháp định tuỳ theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để
họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn đầu
tư Chẳng hạn, ở Việt Nam theo điều 8 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam quy định: ”Số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng
30% vốn pháp định của dự án” (Trừ những trường hợp do Chính phủ quy
định)
- Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài phụ thuộc vào vốn góp Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài càng cao thìquyền quảnlý, ra quyết định càng lớn Đặc điểm này giúp ta phân định đượccác hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp100% vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành
- Quyền lợi của các nhà ĐTNN gắn chặt với dự án đầu tư: Kết quả hoạtđộng sản xuất kinh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu
tư Sau khi trừ đi thuế lợi tức và các khoản đóng góp cho nước chủ nhà, nhàĐTNN nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định
- Chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là các công ty xuyênquốc gia và đa quốc gia ( chiếm 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thếgiới ) Thông thường các chủ đầu tư này trực tiếp kiểm soát hoạt động củadoanh nghiệp ( vì họ có mức vốn góp cao) và đưa ra những quyết định có lợinhất cho họ
- Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ thể ĐTNN trongkhuôn khổ luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại Nước tiếp nhận đầu tư chỉ
có thể định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đíchmong muốn thông qua các công cụ như: thuế, giá thuê đất, các quy định đểkhuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một lĩnh vực, mộtngành nào đó
- Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính Phủ song có phần ít lệ thuộcvào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia hơn so với ODA
Trang 6- Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nướcchủ nhà, bởi nhà ĐTNN chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuấtkinh doanh của họ Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF ( OfficialDevelopment Foreign) thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài do hiệu quả sửdụng vốn thấp.
II Nước tiếp nhận đầu tư
1 Lợi ích
a, Đóng góp vốn lớn cho nền kinh tế.
Đối với một nước nghèo như Việt Nam thì đây quả là một điều đángquý Nguồn vốn FDI chủ yếu là ngoại tệ mạnh và máy móc thiết bị tương đốihiện đại nên đã góp phần tạo ra cơ sở vật chất mới, bổ sung và hoàn thiện hệthống cơ sở hạ tầng, tăng thêm năng lực sản xuất mới của toàn bộ nền kinh tếquốc dân, nhất là công nghiệp
b, Về mặt xã hội
Đầu tư nước ngoài đã và đang góp phần quan trọng trong việc tạo việclàm cho hàng triệu người là lao động trực tiếp và gián tiếp Thông qua việc thuhút lao động xã hội, FDI đã góp phần đào tạo và nâng cao tay nghề cho ngườilao động Việt Nam, chuyển đổi cơ cấu lao động xã hội theo hướng giảm laođộng nông nghiệp, tăng lao động công nghiệp và dịch vụ cả về số lượng, tỷtrọng và chất lượng, góp phần giảm các tệ nạn xã hội cũng như giảm các tộiphạm về kinh tế, làm tăng sự ổn định chính trị của cả nước cũng như từng địaphương
c, Tăng kim ngạch xuất khẩu
Đóng góp của FDI cho các mặt GDP, tăng kim ngạch xuất khẩu, vàNgân sách Nhà nước Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm đóng
góp của FDI cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005 là khoảng3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước,năm 2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005 Gần đây có giảm dosuy thoái kinh tế nhưng vẫn ở mức cao
Trang 7d, Tạo môi trường cạnh tranh cho doanh nghiệp
Sự góp mặt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo môitrường cạnh tranh giúp các doanh nghiệp trong nước vươn lên học tập kinhnghiệm quản lý, trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, thay đổi cách nhìn về thị trường
và quen dần với tập quán làm ăn quốc tế
e, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng có lợi, tăng thu ngân sách Đầu tư nước ngoài đã và đang tạo ranhững ngành và sản phẩm mới có kỹ thuật, công nghệ cao, chất lượng cạnhtranh, nhất là ngành công nghiệp, viễn thông FDI thúc đẩy sự phát triển củacông nghiệp và các hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế Việt Nam Hai khu vựcnày có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nông nghiệp thúc đảy quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng tích cực Năm 2008, khu vực có vốnđầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 44.4% giá trị sản xuất công nghiệp, trong đóđầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng cao
f, Hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất
Đầu tư nước ngoài góp phần chủ yếu đẩy nhanh quá trình hình thành cáckhu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế trọng điểm, ngành công nghiệpmũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam FDI đã góp phần hình thành 3 vùng kinh
tế trọng điểm của 3 miền Bắc - Trung - Nam, mỗi vùng làm một khu vực tăngtrưởng nhanh, có tác dụng đầu tàu đối với kinh tế Việt Nam
g, Khai thác hiệu quả tiềm năng tự nhiên sẵn có
Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc biến những tiềmnăng về đất đai, rừng biển và lao động Việt Nam trở thành hiện thực Các dự
án thăm dò và khai thác dầu khí được triển khai trên vùng biển và thềm lục địaViệt Nam trong những năm qua đã biến tiềm năng dầu khí thành sản phẩm xuấtkhẩu dầu thô, biến dầu thô tư số không trở thành sản phẩm xuất khẩu có giá trịlớn nhất của Việt Nam hiện nay Các dự án sản xuất các mặt hàng công nghiệpnhư điện tử, dệt, da, may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng, vô tuyến viễn thông
Trang 8đã biến tiềm năng lao động và tay nghề của người Việt Nam thành sản phẩmhàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
h, Không bị lệ thuộc vào nước đi đầu tư
Tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào cảnh nợ nần, không chịu sựdàng buộc về chính trị, xã hội Điều này nói được sự vượt trội của FDI so vớiODA(nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức)
2 Bất lợi
a, FDI phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới
Bên cạnh lúc ta đang cần vốn thì sau một cơn khủng hoảng thì FDI có xuhướng giảm, đồng thời qui mô bình quân một dự án cũng giảm hơn so với thờigian trước Lấy ví dụ trong năm 2008 FDI vào Việt Nam là 64 tỷ USD nhưngđến năm 2009 chỉ còn 21.48 tỷ USD
b, Tỷ lệ góp còn thấp
Tỷ lệ góp vốn vào liên doanh của Việt Nam còn quá thấp, lại thườngbằng vốn đất đai, nhà xưởng hay lao động điều này dẫn đến sự thiệt thòi chobên Việt Nam trong việc ra quyết định cũng như hưởng quyền lợi
c, Chưa thu hút được nhiều đối tác mạnh
Phần lớn lượng vốn FDI đến từ châu Á đặc biệt là Đài Loan, Hàn Quốc,Malaysia, Nhật, Singapore và một số nước khác như: Hoa Kỳ, Liên Bang Nga,Pháp, Canada, Pháp Năm 2009 vừa qua Hoa Kỳ đứng thứ đầu trong bảng xếphạng các nước đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Các nước như Anh, Pháp,Canada, Đức… vẫn giữ những vị trí rất khiêm tốn Trong số 10 nước đứng đầutrong đầu tư trực tiếp vào Việt Nam thì có 5 nước thuộc Châu Á còn lại là cácChâu lục còn lại (tính đến ngày 15/12/2009)
d, Hiệu quả đầu tư chưa cao và không đồng đều
Một số dự án đã đi vào hoạt động 3 - 4 năm nhưng vẫn bị thua lỗ.Nguyên nhân lỗ vốn có nhiều, song yếu tố đáng cảnh báo là chi phí vật chất vàkhấu hao tài sản cố định quá lớn do định giá máy móc, thiết bị nước ngoài đưa
Trang 9vào liên doanh quá cao Ngây lãng phí tài sản của doanh nghiệp và nó cũnglàm ảnh hưởng tớ sự phát triển của đất nước.
e, Cơ cấu đầu tư theo ngành chưa thật hợp lý
Trong ngành công nghiệp, công nghiệp nặng chiếm tỷ trọng lớn đặc biệt
là công nghiệp chế biến và chế tạo Không tạo được sự phát triển đồng đềugiữa các ngành các lĩnh vực làm cho có thể nền kinh tế phát triển không cânđối và vững trắc đòng thời tạo phân biệt các vùng miền càng trở nên rõ nét
f, Tạo ra sự cạnh tranh gay gắt
Bên cạnh mặt tích cực sự cạnh tranh đó cũng xuất hiện nhiều yếu tố tiêucực ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trong nước Cácdoanh nghiệp Việt Nam quá yếu kém về mọi mặt nếu so với các công ty liêndoanh, hay 100% vốn nước ngoài về vốn, công nghệ và đặc biệt là cách quản
lý, thiếu hẳn sự năng động và nhạy bén để thích nghi được với cơ chế thịtrường Rõ nhất là sản xuất bia, bột giặt, dệt, da, lắp ráp điện tử, chế biến nôngsản, xi măng
g, Các dự án và vấn đề quy hoạch
Mô hình khu công nghiệp, khu chế xuất tuy có nhiều ưu điểm, nhưng môhình này ở Việt Nam cũng xuất hiện những yếu tố hạn chế Trước hết đó là xuhướng phát triển tràn lan không theo quy hoạch, chạy theo số lượng mà chưatính đến hiệu quả Ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tổng diện tích là 9000
ha, nhưng mới lấp đầy 23% diện tích còn 77% còn lại vẫn còn chờ các chủ đầu
tư Nước ta còn nghèo, nhưng Nhà nước đã dành hàng trăm triệu USD để xâydựng kết cấu hạ tầng của các khu công nghiệp để mời gọi các nhà đầu tư trong
và ngoài nước, nhưng diện tích cho thuê được quá ít so với dự kiến Không tậndụng được nguồn lực sãn có
III Nước đi đầu tư
1 Lợi ích
a, Giúp sử dụng, quản lý tốt hơn các nguồn lực trong nước
Trang 10Khi các nguồn lực trong nước còn hạn chế thì việc sử dụng tiết kiệm và
có hiệu quả các nguồn lực là một tất yếu đối với chính phủ và các doanhnghiệp trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế Vì vậy khi các doanh nghiệp VịêtNam đầu tư ra nước ngoài thì với mục tiêu là khai thác một cách có hiệu quảcác nguồn lực của nước ngoài thì nhờ đó mà các nguồn lực trong nước đượcquản lý một cách có hiệu quả hơn Tận dụng được lợi thế về chi phí sản xuấtthấp, nhân công rẻ chi phí khai thác thấp, vật liệu tịa chỗ…
b, Góp phần tăng thu ngân sách
Khi thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì các doanh nghiệp Vịêt Nam
sẽ có nhiều cơ hội để sử dụng vốn 1 cách có hiệu quả hơn, có nhiều cơ hội pháttriển hơn, sẽ có điều kiện để khai thác tốt nhất các nguồn lực của nước ngoài ,
do vậy sẽ làm tăng doanh thu, đồng thời với việc giảm chi phí, do đó mà lợinhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên , và đóng góp vào ngân sách nhà nước tănglên
c, Giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ
Khi mở rộng việc đầu tư ra nước ngoài thì thị trường tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp sẽ được mở rộng hơn nhiều, đồng thời cũng mở ra những cơ hộikinh doanh mới, và giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển không chỉ ở hiệntại mà cả trong tương lai
d, Tránh được hàng rào bảo hộ thương mại
Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay thì các hàng rào bảo hộ thương mạidần được dỡ bỏ Do đó các quốc gia thường xây dựng nên những rào cảnthương mại ngày càng phức tạp hơn, như rào cản kỹ thuật, rào cản về môitrường Do đó việc xuất khẩu hàng hoá vào các quốc gia ngày càng khó khănhơn Và để có thể vượt qua được hàng rào bảo hộ đó là thực hiện đầu tư trựctiếp ra nước ngoài Việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ góp phần đáng kểtrong việc giảm những chi phí vận chuyển, và nhiều những chi phí cho khác
e, Thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất, các trang thiết bị của doanh nghiệp bị hao mòn cả
vô hình lẫn hữu hình, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh
Trang 11nghiệp Vịêt Nam đã và đang giúp các máy móc thiết bị đó hạn chế sự hao mòn.Khi trang thiết bị của doanh nghiệp Vịêt Nam ở trong nước đã trở nên lỗi thời,
và đã giảm được sức cạnh trạnh so với các doanh nghiệp trong nước thì việcchuyển giao các công nghệ đó ra nước ngoài sẽ giúp cho các doanh nghiệp đónâng cao được sức cạnh tranh so với các doanh nghiệp nước sở tại Như vậyđầu tư ra nước ngoài giúp cho doanh nghiệp thay đổi công nghệ, đồng thời kéodài được chu kỳ sống của công nghệ
Ngoài ra việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn giúp cho các doanh nghiệpkéo dài được đời sống của sản phẩm Khi 1 sản phẩm đã trở nên bão hoà trongnước, và chịu sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm mới có tính thay thế, thìgiải pháp đầu tư ra nước ngoài trở nên tối ưu, và sẽ kéo dài được chu kỳ sốngcủa sản phẩm
f, Giúp mở rộng giao lưu KT-XH, học hỏi đựợc những kinh nghiệm của các nước phát triển
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho các doanh nghiệp Vịêt Nam tiếpcận với cơ chế về quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý thiết bị khoa họcđồng thời có công nghệ sản xuất hiện đại, do đó khi đầu tư vào những nướcnày thì Vịêt Nam sẽ có cơ hội để học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận với khoa họctiên tiến trên thế giới, từ đó có thể áp dụng vào sản xuất và làm nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh
Ngoài ra hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ có tác dụngthúc đẩy kinh tế phát triển mà còn có tác động tích cực về mặt xã hội Đó làlàm cho dân trí phát triển, có điều kiện tiếp thu và vận dụng những tinh hoa vănhoá của nhân loại, nền văn minh thế giới, giúp bạn bè thế giới hiểu thêm về conngười Vịêt Nam với nhiều những phẩm chất tốt đẹp như: cần cù, chịu khó ,mặt khác còn giúp Vịêt Nam mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế xã hội vớibạn bè thế giới, cùng với bạn bè thế giới xây dựng một xã hội văn minh, hiệnđại , hoà bình
2 Bất lợi