Các khái niệm cơ bản liên quan đến sử dụng thuốc: Định nghĩa sử dụng thuốc hợp lý; quá trình chăm sóc bằng thuốc của WHO; dược lâm sàng, dược lý lâm sàng, phân loại bệnh theo ICD - 10 ;
Trang 1MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC
THỰC TRANG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
VÀ GIẢI PHÁP CAN THIỆP
Thời gian: 3 tiết học (1 tiết lý thuyết, 2 tiết thực hành)
Thích · · Bỏ theo dõi bài viết · Chia sẻ · 31 Tháng 10 lúc 18:13 gần Hanoi, Ha Noi
Đinh Mạnh Hùng, Quả Dưa Chuột và 39 người khác thích điều này
Đinh Mạnh Hùng MỤC TIÊU
Sau khi tập huấn học viên trình bày được:
1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến sử dụng thuốc: Định nghĩa sử dụng thuốc hợp lý; quá trình chăm sóc bằng thuốc của WHO; dược lâm sàng, dược lý lâm sàng, phân loại bệnh theo ICD - 10 ; phân loại thuốc theo ATC; thuốc kê đơn, thuốc không cần kê đơn
2 Thiết lập mối quan hệ bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng trong sử dụng thuốc hợp lý cho người bệnh
3 Tình hình chung về thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện và trong cộng đồng
4 Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và những giải pháp can thiệp việc sử dụng thuốc chưa hợp lý (đặc biệt là sử dụng kháng sinh) trong bệnh viện
31 Tháng 10 lúc 18:13 · Thích · 4
Đinh Mạnh Hùng 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1 Sử dụng thuốc hợp lý
Sử dụng thuốc hợp lý đòi hỏi ng¬ười bệnh phải nhận đ¬ược thuốc thích hợp với đòi hỏi lâm sàng và ở liều l¬ượng đáp ứng đư¬ợc yêu cầu cá nhân ngư¬ời bệnh, trong một khoảng thời gian thích hợp và với chi phí ít gây tốn kém nhất cho ng¬ười bệnh và cho cộng đồng (WHO 1998)
1.2 Một số chữ viết tắt
OTC (Over The Counter): Thuốc không cần kê đơn
Ký hiệu hoặc : Thuốc kê đơn
DDD (Defined Daily Dose): Liều dùng một ngày
31 Tháng 10 lúc 18:14 · Thích · 1
Đinh Mạnh Hùng là liều tổng cộng trung bình thuốc dùng cho 01 ngày của 01 nhóm thuốc cho 01 chỉ
định chính ở người
Ý nghĩa của DDD:
- DDD có tác dụng theo dõi, giám sát, đánh giá thô tình hình tiêu thụ và sử dụng thuốc, không phải là bức tranh thực về dùng thuốc
- DDD giúp so sánh, sử dụng thuốc không bị phụ thuộc vào giá cả và cách pha chế thuốc
- Giá trị của DDD quan trọng trong đánh giá các vụ kiện về kê đơn
Đơn vị DDD:
- Với chế phẩm đơn, DDD tính theo g, mg, g, mmol, U (đơn vị), TU (nghìn đơn vị), MU (triệu đơn vị)
- Với chế phẩm hỗn hợp, DDD tính theo UD (unit dose): 1 UD là 1 viên, 1 đạn, 1g bột uống, 1g bột tiêm, 5ml chế phẩm uống, 1ml chế phẩm tiêm, 1ml dung dịch hậu môn, 1 bốc thụt, 1 miếng cấy dưới da, 1 liều kem âm đạo, 1 liều đơn bột
- Một số thuốc không dùng DDD để theo dõi như: dịch truyền, vaccine, thuốc chống ung thư, thuốc chống
dị ứng, thuốc tê, mê, cản quang, mỡ ngoài da
Trang 231 Tháng 10 lúc 18:14 · Thích · 1
Đinh Mạnh Hùng 1.3 Mã ATC
Từ năm 1981 Tổ chức y tế thế giới đã xây dựng hệ thống phân loại thuốc theo hệ thống Giải phẫu - Điều trị - Hoá học, gọi tắt là hệ thống phân loại theo mã ATC (Anatomical - Therapeutic - Chemical Code) cho những thuốc đã được Tổ chức Y tế thế giới công nhận và khuyến khích các nước trên thế giới cùng sử dụng
Trong hệ thống phân loại theo mã ATC, thuốc được phân loại theo các nhóm khác nhau dựa trên các đặc trưng: Tổ chức cơ thể hoặc hệ thống cơ quan trong đó thuốc có tác dụng, đặc tính điều trị của thuốc và nhóm công thức hoá học của thuốc
Cấu trúc của hệ thống phân loại ATC thuốc chia thành nhiều nhóm tuỳ theo:
- Các bộ phận cơ thể mà thuốc tác động
- Tác dụng đồng trị của thuốc
- Các đặc trưng hoá học của thuốc
Mã ATC là một mã số đặt cho từng loại thuốc, được cấu tạo bởi 5 nhóm ký hiệu:
- Nhóm ký hiệu đầu tiên chỉ nhóm giải phẫu, ký hiệu bằng 1 chữ cái chỉ cơ quan trong cơ thể mà thuốc sẽ tác dụng tới, vì vậy gọi là mã giải phẫu Có 14 nhóm ký hiệu giải phẫu được được ký hiệu bằng 14 chữ cái tiếng Anh
31 Tháng 10 lúc 18:15 · Thích · 1
Đinh Mạnh Hùng Mã phân loại thuốc theo nhóm giải phẫu (chữ cái đầu tiên, bậc 1) của hệ ATC:
A (Alimentary tract and metabolism): Đường tiêu hoá và chuyển hoá
B (Blood and blood-forming organs): Máu và cơ quan tạo máu
C (Cardiovascular system): Hệ tim mạch
D (Dermatologicals): Da liễu
G (Genito urinary system and sex hormones): Hệ sinh dục, tiết niệu và hocmon sinh dục
H (Systemic hormonal preparations, excl sex hormones): Các chế phẩm hocmon tác dụng toàn thân ngoại trừ hocmon sinh dục
J (General anti - infectives for systemic use): Kháng khuẩn tác dụng toàn thân
L (Anti-neoplastic and immunomodulating agents): Thuốc chống ung thư và tác nhân điều hoà miễn dịch
M (Musculo – skeletal system): Hệ cơ xương
N (Nervous system): Hệ thần kinh
P (Anti - parasitic products, insecticides and repellents): Thuốc chống ký sinh trùng, côn trùng và ghẻ
R (Respiratory system): Hệ hô hấp
S (Sensory organs): Các giác quan
V (Various): Các thuốc khác
31 Tháng 10 lúc 18:16 · Thích · 1
Đinh Mạnh Hùng - Nhóm ký hiệu thứ hai chỉ nhóm đồng trị chủ yếu, ký hiệu bằng 2 số Là một nhóm
hai chữ số bắt đầu từ số 01 nhằm để chỉ chi tiết hơn về giải phẫu và định hướng một phần về điều trị Ví dụ: trong nhóm các thuốc tác động trên hệ thần kinh (N) thì N01 là các thuốc tê mê, N02 là các thuốc giảm đau, hạ nhiệt; N03 là các thuốc chữa động kinh
- Nhóm ký hiệu thứ ba chỉ nhóm đồng trị cụ thể hơn, ký hiệu bằng 1 chữ cái, bắt đầu bằng chữ A, phân nhóm tác dụng điều trị/dược lý của thuốc Ví dụ: trong nhóm N01 thì N01A là thuốc gây mê toàn thân, N01B là thuốc gây tê tại chỗ, N02A là các thuốc nhóm opioid, N02B là thuốc thuộc nhóm giảm đau hạ nhiệt, không thuộc nhóm thuốc phiện
- Nhóm ký hiệu thứ tư chỉ nhóm hoá học và điều trị ký hiệu bằng 1 chữ cái Là một chữ cái bắt đầu từ A, phân nhóm tác dụng điều trị/dược lý/hoá học của thuốc Ví dụ: Trong N01A là thuốc gây mê toàn thân, có N01AA là các thuốc gây mê toàn thân thuộc nhóm ether, N01AB là các thuốc gây mê toàn thân thuộc nhóm Halogen
Trang 3- Nhóm ký hiệu thứ năm chỉ nhóm hoá học của thuốc ký hiệu bằng 2 số Là nhóm gồm hai chữ số bắt đầu
từ 01, nhằm chỉ tên thuốc cụ thể
Ví dụ:
Mã số ATC của paracetamol: N 02 B E 01
Trong đó:
N là thuốc tác động lên hệ thần kinh;
02 là thuốc thuộc nhóm giảm đau hạ nhiệt;
B là thuốc thuộc nhóm giảm đau hạ nhiệt, không thuộc nhóm thuốc phiện;
E là thuốc thuộc nhóm có công thức hoá học nhóm Anilid;
01 là thuốc có tên paracetamol
Mã số của một thuốc mang tính định hướng về tính điều trị của thuốc Mã ATC giúp cho các cho cán bộ y
tế hiểu một cách khái quát thuốc tác động vào hệ thống cơ quan nào trong cơ thể, tác dụng điều trị và nhóm công thức hoá học của thuốc để định hướng việc sử dụng thuốc trong điều trị đảm bảo hiệu lực của thuốc và tránh nhầm lẫn
31 Tháng 10 lúc 18:16 · Thích · 1
Đinh Mạnh Hùng 1.4 ICD - 10
Phân loại bệnh tật lần thứ 10 (ICD - 10) của Tổ chức Y tế thế giới ban hành năm 1994 gồm 21 chương Phân loại theo chương bệnh, nhóm bệnh, bệnh và chi tiết với bộ mã 4 ký tự
1.5 Sinh học lâm sàng
Đây không phải là thuật ngữ mới và việc giảng dạy đã được hệ thống hoá Ngược lại, dược lâm sàng ít được biết tới Dược lâm sàng được dịch từ “clinical pharmacy” từ tiếng Anglo Saxon
1.6 Dược lâm sàng
Dược lâm sàng liên quan tới kiến thức về sử dụng thuốc ở người:
- Định nghĩa về các bệnh điều trị với sự mô tả khái quát những dấu hiệu chính của lâm sàng - sinh học
- Số phận của thuốc trong cơ thể (các yếu tố của dược động học và sinh khả dụng áp dụng cho sự hợp lý hoá phương thức cho thuốc thông dụng và liều lượng thuốc)
- Sự thay đổi liều lượng trong những tình trạng bệnh lý chính (trường hợp người có tuổi, mang thai, suy thận, suy gan ), theo cách điều trị và những tác dụng độc hại, chống chỉ định chính, những tác dụng phụ chủ yếu
- Các phối hợp có thể, các phối hợp cần tránh dùng (tương tác thuốc với thuốc)
- Những quy tắc về vệ sinh ăn uống kèm theo (tương tác thuốc với thức ăn đồ uống)
31 Tháng 10 lúc 18:17 · Thích · 2
Đinh Mạnh Hùng 1.7 Dược lý lâm sàng
Điều trị mang tính cá thể
- Tỷ lệ rủi ro - hữu ích của từng bệnh nhân cụ thể (riêng biệt)
- Hiểu biết về đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân
- Hiệu lực trung bình từ thử nghiệm lâm sàng được đối chiếu với từng cá thể
- Hiệu lực cá thể tăng lên hoặc giảm xuống
- Phản ứng có hại (ADR) được quan sát trong thử nghiệm lâm sàng đối chiếu với từng cá thể
- Những đặc điểm chuyên biệt của bệnh nhân có thể thay đổi khả năng phản ứng có hại do thuốc
- Những nhóm bệnh nhân tương đối nhỏ được nghiên cứu trong thử nghiệm lâm sàng
- Khả năng quan sát được hiện tượng phản ứng có hại do thuốc tương đối hiếm, gặp là rất thấp
Hai thành phần của dược lý lâm sàng:
- Dược động học (Pharmacokinetics): Mối quan hệ giữa liều lượng với nồng độ thuốc trong huyết tương, liên quan với việc hấp thu, phân bố, chuyển hoá, thải trừ thuốc
- Dược lực học (Pharmacodynamics): Mối quan hệ giữa liều lượng với các hậu quả lâm sàng có thể quan sát được
Vậy muốn lựa chọn thuốc hợp lý cho người bệnh cần phải có kiến thức về dược lâm sàng và dược lý lâm sàng; cần sự cộng tác làm việc của cả bác sĩ và dược sĩ
31 Tháng 10 lúc 18:17 · Thích · 2
Trang 4Hoàng Khắc Phan Cho vào bản word ghim vào tường 1 ngày đi anh ơi
31 Tháng 10 lúc 18:18 · Thích · 2
Đinh Mạnh Hùng anh không phụ trách đào tạo trực tuyến chỉ là đưa ra cho mọi người tham khảo thôi
31 Tháng 10 lúc 18:23 · Thích · 3
Thục Anh Nguyễn Phạm Hê ông này cắt thông tin thành từng đoạn để bắt mọi người phải tham khảo
trực tuyến đây ? KHông cho load bản tin về mới là cao tay ? Hay lắm
31 Tháng 10 lúc 18:40 · Thích · 2
Xôi Ruốc thank a ạ
31 Tháng 10 lúc 20:10 · Thích · 1
Tí Lười ad đaq file word lên đj ad
31 Tháng 10 lúc 20:15 thông qua di động · Thích
Đinh Mạnh Hùng
31 Tháng 10 lúc 20:17 thông qua di động · Thích
Ha Thoai Thời gian và địa điểm ở đâu ad ơi.
31 Tháng 10 lúc 21:50 thông qua di động · Thích
Đinh Mạnh Hùng Mình cố tình viết sai 1 chỗ, Nhưng không nhớ là từ nào ai chỉ giúp mình với !
Trang 531 Tháng 10 lúc 21:55 thông qua di động · Thích
Nguyễn Tươi Là thực trạng chứ k phai thực trang dung k a
31 Tháng 10 lúc 22:33 · Thích
Hà Nguyễn chỗ dược lực học ạ: hậu -> hiệu
31 Tháng 10 lúc 22:43 · Thích
Hieu Pham Anh Hùng copy vào file word đi!
1 Tháng 11 lúc 0:34 thông qua di động · Thích
Đinh Mạnh Hùng Vị trí của Dược sĩ Lâm sàng, với đích là chất lượng cuộc sống cuả bệnh nhân
1 Tháng 11 lúc 7:30 · Thích · 3
Khingườilớn CôĐơn Good.!
Hôm qua lúc 1:11 thông qua di động · Thích