Nhằm phản ánh thực tiễn việc sử dụng thuốc kháng sinh trong cộng đồngcùng với mong muốn góp phần nâng cao kiến thức và thực hành của người dân, tôi quyết định thực hiện nghiên cứu: “Kiến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN HỮU TUẤN- C01105KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH CỦA NGƯỜI DÂN XÃ QUANG LÃNG, PHÚ
XUYÊN, HÀ NỘI NĂM 2019
Trang 2Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sựquan tâm, giúp đỡ, góp ý quý báu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài trường.Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo bộ môn Y tế công cộngcùng các Thầy/Cô các bộ môn và khoa phòng của Trường Đại học ThăngLong, đã trực tiếp giảng dạy, chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họctập, nghiên cứu.
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơnđến GS.TS Trần Quốc Kham, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡtôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu, những ý kiến quý báuđịnh hướng và hoàn thiện trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm Y tế xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên,thành phố Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trìnhphỏng vấn, thu thập ý kiến của người dân trên địa bàn xã
Xin cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã độngviên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trần Hữu Tuấn
Thang Long University Library
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: Trần Hữu Tuấn
Luận văn thạc sỹ với tên đề tài: Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Quang Lãng, Phú Xuyên, Hà Nội năm 2019” này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Quốc Kham Các số liệu
và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trungthực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Trần Hữu Tuấn
Trang 4Cơ sở y tếĐối tượng nghiên cứuĐặc điểm nhân khẩu họcĐiều kiện kinh tế
Khám chữa bệnhKháng sinhKháng kháng sinhLow and Middle Income Countries - Quốc gia có thunhập thấp và trung bình
Nghiên cứu
Sử dụng kháng sinhTrình độ học vấnTruyền thông – Giáo dục sức khỏeTrạm y tế
World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giớihọc cổ truyền
Thang Long University Library
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược về thuốc kháng sinh 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Phân loại thuốc kháng sinh 3
1.1.3 Sử dụng thuốc an toàn hợp lý 4
1.1.4 Tác dụng không mong muốn 6
1.2 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh 7
1.2.1 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh ở Việt Nam 9
1.3 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn 11
1.3.1 Tình hình kháng kháng sinh trên thế giới 11
1.3.2 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam 14
1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức và hành vi sử dụng kháng sinh của người dân 16
1.4.1 Trên thế giới 16
1.4.2 Tại Việt Nam 18
1.5 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh 18
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 20
1.7 Khung lý thuyết 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 23
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 23
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23
Trang 62.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24
2.2.3 Kỹ thuật thu thập thông tin 25
2.2.4 Sơ đồ nghiên cứu 26
2.3 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu và cách đánh giá 27
2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 27
2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá 31
2.4 Sai số và biện pháp khắc phục 35
2.4.1 Sai số 35
2.4.2 Biện pháp khắc phục 35
2.5 Phân tích và xử lý số liệu 35
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 36
2.7 Hạn chế của nghiên cứu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Kiến thức và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người dân 37
3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37
3.1.2 Kiến thức về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân 38
3.1.3 Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người dân 44
3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân 49
3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh 49 3.2.2 Một số yếu tố liên quan với thực hành sử dụng thuốc kháng sinh 54 Chương 4: BÀN LUẬN 60
4.1 Kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân 60
4.1.1 Kiến thức sử dụng kháng sinh của người dân 60
4.1.2 Thực hành sử dụng kháng sinh của người dân 66
Thang Long University Library
Trang 74.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh
của người dân 73
4.2.1 Mối liên quan với kiến thức sử dụng kháng sinh 73
4.4.2 Mối liên quan với thực hành sử dụng kháng sinh 76
KẾT LUẬN 79
KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng 37
Bảng 3.2 Kênh thông tin người dân tiếp cận trong sử dụng kháng sinh 38
Bảng 3.3 Kiến thức của người dân về lí do sử dụng kháng sinh 39
Bảng 3.4 Đối tượng ảnh hưởng đến quyết định sử dụng kháng sinh của người dân 39
Bảng 3.5 Vấn đề người dân quan tâm khi sử dụng kháng sinh 40
Bảng 3.6 Kiến thức của người dân về địa điểm mua thuốc kháng sinh 40
Bảng 3.7 Lưu ý khi mua thuốc kháng sinh của người dân 41
Bảng 3.8 Kiến thức của người dân về thời gian sử dụng kháng sinh 41
Bảng 3.9 Kiến thức của người dân về tác dụng không mong muốn của kháng sinh 42
Bảng 3.10 Đối tượng cần thận trọng khi sử dụng kháng sinh 43
Bảng 3.11 Địa điểm người dân mua kháng sinh 44
Bảng 3.12 Yêu cầu người bán thuốc hướng dẫn thông tin về thuốc 44
Bảng 3.13 Thực hành sử dụng kháng sinh theo đơn của bác sĩ 45
Bảng 3.14 Lý do sử dụng kháng sinh trong 6 tháng vừa qua của người dân 46 Bảng 3.15 Thời điểm uống thuốc kháng sinh trong ngày 46
Bảng 3.16 Xử trí về thời điểm ngừng sử dụng kháng sinh 47
Bảng 3.17 Xử trí sau 2 – 3 ngày sử dụng kháng sinh không đỡ bệnh 47
Bảng 3.18 Xử trí khi gặp tác dụng không mong muốn 48
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với giới tính 49
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với tuổi 49
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với trình đ ộ học vấn 50 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với nghề nghiệp50
Thang Long University Library
Trang 9Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với điều kiện
kinh tế 51Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với nguồn thông
tin từ cán bộ y tế địa phương 51Bảng 3.25 Đánh giá một số yếu tố liên quan đến kiến thức về sử dụng kháng
sinh theo mô hình hồi quy đa biến 52Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với giới tính 54Bảng 3.27 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với trình độ học vấn 54Bảng 3.28 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với nghề nghiệp 55Bảng 3.29 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với điều kiện
kinh tế 55Bảng 3.30 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với tuổi 56Bảng 3.31 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với nguồn thông
tin từ cán bộ y tế địa phương 56Bảng 3.32 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với kiến thức sử
dụng kháng sinh 57Bảng 3.33 Đánh giá một số yếu tố liên quan đến thực hành về sử dụng kháng
sinh theo mô hình hồi quy đa biến 58
Trang 10Biểu đồ 3.1 Kiến thức của người dân về thời gian sử dụng kháng sinh với
những bệnh nhiễm khuẩn thông thường 42Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ kiến thức chung về sử dụng kháng sinh của người dân 43Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người dân sử dụng kháng sinh theo đơn 44Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ thực hành chung về sử dụng kháng sinh của người dân 48
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Loại siêu vi khuẩn mới có khả năng chống lại loại thuốc KS
mạnh nhất 12Hình 1.2 Bản đồ hành chính xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, Hà Nội 21
Thang Long University Library
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 1.900 người bệnh tử vong vì tình trạngkháng kháng sinh, tương đương 700.000 người thiệt mạng mỗi năm do tìnhtrạng sử dụng quá nhiều kháng sinh gây kháng thuốc Tuy nhiên, dự báo con
số này có thể lên đến 10 triệu người mỗi năm vào năm 2050, cao hơn cả sốngười tử vong do ung thư hàng năm [50]
Kể từ năm 1928, cuộc sống của con người đã thay đổi toàn diện khithuốc kháng sinh được phát minh Kháng sinh là một trong những loại thuốccoi là vũ khí để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Dẫu vậy, việc sử dụng trànlan, chưa hợp lý kháng sinh trong y tế, chăn nuôi, nông nghiệp đang khiếntình hình trở nên xấu đi khi các vi khuẩn, virus bệnh bắt đầu kháng thuốc.Thuật ngữ “đề kháng kháng sinh” đã trở nên quen thuộc và tình hình trở nênnghiêm trọng đến mức kháng kháng sinh trở thành chủ đề chính trong cuộchọp hội đồng thường niên của Liên Hiệp Quốc vào năm 2016 và cũng là vấn
đề chủ chốt của cuộc họp các bộ trưởng y tế G20 vào tháng 5 năm 2017
Đã có nhiều nghiên cứu tiến hành trên Thế giới và Việt Nam cho thấy đãxuất hiện vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh ngay cả những loại kháng thế hệmới và có xu hướng ngày càng tăng dần theo thời gian [21] Tại Việt Nam, sốlượng vi khuẩn kháng thuốc và mức độ kháng ngày càng gia tăng Tỷ lệkháng với kháng sinh carbapenem, nhóm kháng mạnh nhất hiện nay lên đến50% [16]
Sự kháng thuốc không chỉ gây tác hại đến sức khỏe con người mà cònảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới Đó là
do phải tăng thời gian điều trị dẫn đến tăng chi phí cho y tế vì phải tăng liềudùng, sử dụng thuốc kháng sinh thế hệ mới và bệnh nhân phải chấp nhận cácphản ứng có hại của kháng sinh nhiều hơn Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh
Trang 12ngày càng gia tăng đã giới hạn các lựa chọn trong điều trị các bệnh nhiễmtrùng và các bệnh truyền nhiễm [24].
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do việc dùng sai và lạm dụngrộng rãi thuốc kháng sinh trong điều trị, chăn nuôi và thất bại của các công tydược trong việc nghiên cứu và phát triển các nguồn dược phẩm mới chotương lai
Đây là vấn đề y tế công cộng cấp thiết không chỉ của Việt Nam mà củatoàn thế giới, trong đó quan trọng nhất là người dân cần có nhận thức đúng vàthực hành sử dụng thuốc kháng hợp lí để bảo vệ sức khỏe, bảo vệ nguồnkháng sinh cho thế hệ sau cũng như làm giảm thiểu tình trạng kháng thuốckháng sinh hiện nay
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành sử dụngthuốc kháng sinh trong cộng đồng tại một số phường trong nội thành Hà Nội
và một số tỉnh lân cận như Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình
[11], [14], [23], [24] Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào tại các huyện ngoạithành của Hà Nội Cho nên tôi chọn có chủ đích xã Quang Lãng, huyện PhúXuyên thành phố Hà Nội là địa điểm nghiên cứu, vì ở đây đảm bảo đượcnguồn lực cho nghiên cứu đồng thời nhận được sự đồng ý và giúp đỡ của độingũ cán bộ y tế xã
Nhằm phản ánh thực tiễn việc sử dụng thuốc kháng sinh trong cộng đồngcùng với mong muốn góp phần nâng cao kiến thức và thực hành của người
dân, tôi quyết định thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Quang Lãng, Phú Xuyên, Hà Nội năm 2019” với hai mục tiêu sau
1 Đánh giá kiến thức và thực hành về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, năm 2019.
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của đối tượng nghiên cứu.
Thang Long University Library
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về thuốc kháng sinh
1.1.1 Khái niệm
Thuốc KS là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa họcbán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp trong cơ thể, có khả năng đặchiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi sinh vật [5]
1.1.2 Phân loại thuốc kháng sinh
Có nhiều cách phân loại KS, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách sửdụng thuốc
1.1.2.1 Dựa vào nguồn gốc
• KS có nguồn gốc từ sinh vật, xạ khuẩn
• Nhóm KS có nguồn gốc hóa dược hay do con người tổng hợp nên
1.1.2.2 Dựa vào cơ chế tác dụng
• Thuốc ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: họ β-lactam, vancomycinlactam, vancomycin
• Thuốc ức chế hoặc thay đổi tổng hợp protein của vi khuẩn:
cloramphenicol, tetracylin, macrolid, lincosamid, aminoglycosid
• Thuốc ức chế tổng hợp acid nhân: quinolon, rifampicin
• Thuốc ức chế chuyển hóa: Co-lactam, vancomycintrimoxazol
• Thuốc làm thay đổi tính thấm màng tế bào vi khuẩn: amphotericin
Trang 141.1.2.4 Dựa vào phổ tác dụng của kháng sinh
• Nhóm có phổ tác dụng hẹp: chỉ tác dụng chủ yếu lên một loại hay một nhóm vi khuẩn nào đó
• Nhóm KS có phổ tác dụng rộng: tác dụng với cả vi khuẩn Gr + , Gr -lactam, vancomycin , ricketsiea, virus cỡ lớn, đơn bào
• Nhóm KS dùng ngoài hay các thuốc không hoặc ít được hấp thu ở đường tiêu hóa
- Các β-lactam, vancomycinlactam khác: carbapenem, monobactam, chất ức chế β-lactam, vancomycinlactamase
• Nhóm aminoglycosid (aminosid): streptomycin, gentamicin, tobramycin…
• Nhóm macrolid: erythromycin, clarithromycin, apiramycin…
• Nhóm lincosamid: lincomycin, thiamphenicol.
• Nhóm tetracylin: tetracylin, doxycylin …
- Glucopeptid: vancomycin
- Polypeptid: polymycin, bacitracin…
• Nhóm quinolon: acid nalidixic, ciprofioxaxin, ofloxaxin…
• Nhóm co-lactam, vancomycintrimoxazol: co-lactam, vancomycintrimoxazol [4]
1.1.3 Sử dụng thuốc an toàn hợp lý
Trang 15“Sử dụng hợp lý thuốc là việc đảm bảo cho người bệnh nhận được cácthuốc thích hợp với yêu cầu của lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể,trong thời gian vừa đủ và với giá thành thấp nhất cho mỗi người cũng nhưtrong cộng đồng của họ”
1.1.2.7 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý (sử dụng kháng sinh đúng).
- Đi khám bệnh và dùng KS theo đơn, hướng dẫn của bác sĩ
- Nên mua KS ở những cơ sở hợp pháp như: hiệu thuốc hoặc nhà thuốc được cơ quản quản lý nhà nước cấp giấy phép hoạt động
- Khi mua KS phải yêu cầu người bán ghi rõ họ tên và hàm lượng thuốctrên từng bao gói riêng biệt
+ Không pha KS với nước hoa quả, nước chè…
+ Khi dùng KS cho trẻ em phải nhớ chú ý liều theo tuổi hoặc cân nặng
- Khi cho trẻ em dùng KS phải chú ý sự chỉ dẫn của bác sĩ và tuân thủtheo đúng sự chỉ dẫn đó
- Trong khi SDKS, nếu thấy hiện tượng khó chịu, buồn nôn, mẩn ngứa,
… phải dừng thuốc ngay và đến khám lại tại các CSYT
- Nếu dùng KS 2-3 ngày mà không có hiện tượng đỡ bệnh phải báo lạicho cán bộ y tế xem xét lại, không tự ý thay thuốc khác
- Không dùng KS theo kinh nghiệm truyền miệng hay sự mách bảo của người khác
- Tuân thủ đúng theo đơn của bác sĩ
Trang 16- Chỉ dùng KS để chữa các bệnh nhiễm khuẩn, không dùng KS để phòng bệnh khi bệnh chưa xảy ra.
- Dùng KS phải: đúng liều, đúng lúc, đủ thời gian
+ Đúng liều: liều của 1 lần uống, liều của 1 ngày uống, liều cho trẻ.+ Đúng lúc: trước bữa ăn, trong bữa ăn, sau bữa ăn, bất cứ lúc nào tùytừng loại thuốc, theo hướng dẫn sử dụng
+ Đủ thời gian: một đợt điều trị ít nhất là 5 ngày [8], [9], [10]
1.1.4 Tác dụng không mong muốn
* Các tác dụng không mong muốn khác:
- Rối loạn tiêu hóa (erythromycin).
- Độc với thận, thính giác (các aminoglycosid, cephalosporin).
- Độc với hệ tạo máu (cloramphenicol).
Ảnh hưởng tới sự phát triển của răng, xương (tetracyclin)… [5],[4].
Thang Long University Library
Trang 171.2 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh
1.2.1 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trên thế giới
Tổng lượng KS được sử dụng cho con người trên toàn thế giới đã giatăng từ 21,1 tỷ liều xác định trong ngày vào năm 2000, lên 34,8 tỷ liều vàonăm 2015 Tốc độ gia tăng là 65% trong vòng 15 năm Tỷ lệ tiêu thụ KS cũngtăng 39%, từ 11,3 lên 15,7 DDD trên 1.000 người dân/ngày (Defined DailyDoses-DDD - liều duy trì trung bình giả định mỗi ngày đối với một loạithuốc) Đóng góp phần lớn vào xu hướng này là sự gia tăng sử dụng KS ở cácquốc gia có thu nhập thấp và trung bình (LMIC) Tổng lượng KS ở các quốcgia LMIC tăng 114% Trong khi đó, tỷ lệ tiêu thụ trên 1.000 người dân/ngàytăng 77% [45]
Sự ra đời của thuốc KS vào những năm đầu của thế kỷ XX đã đánh dấu mộtbước ngoặt lớn trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Nhưng thực tế việc sửdụng thuốc KS hiện nay đã và đang là mối quan tâm lớn của toàn cầu bởi việc sửdụng thuốc của người dân một cách bừa bãi Nghiên cứu mô tả cắt ngang củaKatherine được thực hiện tại 3 nhà thuốc của thành phố Valdivia, phía NamChile (2008) cho thấy: 75% người dân tự SDKS trong cộng đồng, và phụ nữ làđối tượng chủ yếu SDKS không theo đơn của bác sỹ Lý do chính cho việc sửdụng thuốc không cần đến đơn là bệnh nhẹ như: đau đầu (19%), cảm lạnh thôngthường (8,8%),… và tái sử dụng đơn thuốc là 46% [33]
Việc SDKS không theo đơn của bác sỹ mà tự ý mua thuốc tại các hiệuthuốc để điều trị là tình trạng xảy ra phổ biến ở nông thôn Theo Skliros vàcộng sự (2010), nghiên cứu về tự sử dụng thuốc KS tại cộng đồng nông thôn
ở Hi Lạp cho thấy: 44,6% người dân sử dụng thuốc không theo đơn ít nhấtmột lần trong 12 tháng qua và 72,6% sử dụng thuốc không cần đơn là từ các hiệuthuốc trong cộng đồng Các KS được tự sử dụng thường xuyên nhất là
amoxicillin 18,3%, cefuroxime 7,9%, ciprofloxacin 2,3% Việc SDKS không
Trang 18có đơn với lý do thường gặp nhất là sốt 41,2%, cảm lạnh thông thường 32,0%
và đau họng là 20,6% [38]
Một nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy KS được bán không theo đơn chiếm17,5% các trường hợp mua thuốc và 23% tổng chi phí mua thuốc Các biệt dượccủa penicillin, co-trimoxazol và tetracyclin chiếm 64,8% Hầu hết các chỉ địnhcủa KS là cho các rối loạn đường hô hấp trên, đường tiêu hóa và một số trườnghợp khác Thời gian sử dụng thuốc thông thường là dưới 5 ngày Có khi KS đượcmua nhiều lần khác nhau nhưng cũng không có ý kiến của thầy thuốc [31]
Theo nghiên cứu của Nakajima và cộng sự (2010) tại Mông Cổ tìm hiểuviệc tự SDKS của người dân trong cộng đồng cho thấy: trong 619 khách hàngmua thuốc có 48% khách hàng mua ít nhất một loại KS, và chỉ có 42% có đơncủa bác sỹ Trong số 67% khách hàng mua thuốc được cung cấp thông tin vềliều lượng và thời gian sử dụng thuốc thì chỉ có 9% được cung cấp các thôngtin liên quan đến ảnh hưởng bất lợi do thuốc gây ra Nghiên cứu cũng đượctiến hành trên đối tượng là bác sỹ và cho thấy một thực tế là có một số thuốc
KS đã trở nên kém hiệu quả lâm sàng giữa năm 2001 và 2006 Và sau đónghiên cứu cũng đã đưa ra khuyến cáo là cần có một cơ quan pháp lý để thúcđẩy việc thực thi của pháp luật về các qui định của thuốc tại Mông Cổ, để tạonhận thức về sự nguy hiểm của KS đối với người dân và các chiến dịch nângcao kiến thức cho người dân là điều cần thiết [35]
KS là thuốc đặc trị vi khuẩn nhưng không diệt được virus, mà virus lại lànguyên nhân chính gây nên bệnh cúm và một số bệnh khác Colett, Pappas,Hayden đã nghiên cứu kiến thức của cha mẹ trẻ về nhiễm khuẩn hô hấpthường gặp và liệu pháp KS cho thấy 46% số người được hỏi tin tưởng rằng
KS có thể tiêu diệt được virus và 60% số người được hỏi chưa từng nghe nóiđến KS [30]
Thang Long University Library
Trang 191.2.2 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh ở Việt Nam
Việt Nam đứng thứ 3 trong ba quốc gia có tỷ lệ sử dụng KS tăng mạnhnhất (Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam) Trong đó, số liệu của Việt Nam mớiđược thống kê trong 10 năm, từ 2005-2015 cho thấy tỷ lệ sử dụng KS trên1.000 người dân/ngày của Việt Nam năm 2015 là hơn 30 DDD, xếp thứ 11 và
là một trong những quốc gia thuộc nhóm LMIC có tỷ lệ sử dụng KS vượt trội
so với các nước có thu nhập cao [45]
Mặc dù trong những năm qua ngành Y tế đã có nhiều nỗ lực trong chiếnlược sản xuất, cung ứng và phân phối thuốc KS Hầu hết các cơ sở sản xuấttrong nước về cơ bản chủ yếu nhập bán thành phẩm và đóng gói một số loại
thuốc bao gồm cả một số KS thông thường như Beta-lactam, vancomycin lactam, tetracyclin,
chloramphenicol và gentamicin từ bán thành phẩm nhập khẩu [16], hàng năm
vẫn còn gần 100 tấn KS các loại được nhập vào Việt Nam với khoảng
350-400 triệu USD, còn trong nước sản xuất khoảng 200 triệu USD trong đó tỷ lệ
KS chiếm 30-40% [22]
Thị trường cung ứng thuốc đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường Tuynhiên việc SDKS chưa hợp lý vẫn là một thách thức của ngành y tế Việt Namhiện nay Theo Nguyễn Quang Trung và cộng sự (2006): thói quen tự mua thuốccủa người dân tại các hiệu thuốc tây trước khi đến khám và điều trị tại các CSYTcòn khá phổ biến, người dân tự đi mua thuốc điều trị các bệnh thông thường màkhông cần đi khám Điều đó khiến cho bệnh nhiễm trùng tiến triển nặng hơn, tốnkém hơn mà lẽ ra có thể điều trị hiệu quả nếu được chỉ định đúng ngay từ banđầu Như vậy bán thuốc không cần đơn ở các hiệu thuốc là rất phổ biến Hơn nữa
sự tuyên truyền giáo dục người dân về SDKS còn hạn chế nên họ đã tự mua KS
và sử dụng mà không cần đến đơn thuốc [25]
Kết quả khảo sát về việc bán thuốc KS ở các hiệu thuốc vùng nông thôn
và thành thị các tỉnh phía Bắc cho thấy nhận thức về KS và KKS của người
Trang 20bán thuốc và người dân còn thấp, đặc biệt ở vùng nông thôn Phần lớn KSđược bán mà không có đơn: 88% thành thị và 91% ở nông thôn Mua KS đểđiều trị ho 31,6% (thành thị) và sốt 21,7% (nông thôn) Ba loại KS được bán
nhiều nhất là ampicillin/amoxicillin (29,1%), cephalexin (12,2%) và
azythromycin (7,3%) Người dân thường yêu cầu được bán KS mà không có
đơn: 49,7% (thành thị) và 28,2% (nông thôn) [6]
Một số nghiên cứu đã được tiến hành nhằm tìm hiểu lí do SDKS không hợp
lý trong cộng đồng như thế nào và các loại thuốc KS thường dùng nhiều nhất.Nghiên cứu cắt ngang của Đặng Thị Hường và Trịnh Hữu Vách (2005) trên
800 đối tượng có vai trò quyết định việc dùng thuốc trong gia đình tại 2 xã củatỉnh Thái Bình cho thấy: 31,85% cho rằng KS để điều trị nhiễm trùng, 34% dùng
KS điều trị cảm cúm, 58,3% để điều trị ho kèm theo có sốt, 74,8% dùng KS khi
bị mụn nhọt Tỷ lệ SDKS không có đơn chiếm gần một nửa đối tượng nghiêncứu (49%), thời gian SDKS từ 1-3 ngày chiếm 42,6% nơi mua thuốc chủ yếu củangười dân là quầy thuốc tư (46,2%) và trạm y tế (47,6%) Nghiên cứu cho thấy
tỷ lệ người dân sử dụng thuốc KS không hợp lý còn rất cao và cũng nói lên đượckiến thức về KS của người dân nơi đây còn nhiều hạn chế [13]
Năm 2013, nghiên cứu về thực trạng SDKS của các bà mẹ có con dưới 5tuổi tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thị Quỳnh Trang cho thấy
tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức về sử dụng thuốc KS an toàn, hợp lý còn khá hạnchế (58,6%) và biết tác hại khi sử dụng thuốc không hợp lý chỉ chiếm 21,4%.SDKS chiếm chủ yếu là các bệnh liên quan đến đường hô hấp (91,1%) và chỉ có20,9% bà mẹ SDKS cho trẻ theo đơn của bác sỹ: 13,3% tuân thủ đúng theo đơn,trong đó lý do SDKS không theo đơn của bác sỹ là do bệnh nhẹ chiếm chủ yếu(84%), 75% ngừng dùng thuốc sau 2- 3 ngày bệnh thuyên giảm [24]
Trong kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ2013-2020, Bộ Y tế đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh”, tài
Thang Long University Library
Trang 21liệu này cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản, cập nhật đồng thời phùhợp với thực tế của Việt Nam về việc sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn đểứng dụng trong công tác phòng bệnh, khám, chữa bệnh, bảo vệ chăm sóc vànâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần hạn chế tình trạng kháng kháng sinhđang có nguy cơ gia tăng hiện nay [6]
1.3 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn
1.3.1 Tình hình kháng kháng sinh trên thế giới
KKS là tình trạng các vi sinh vật như vi khuẩn, virus, nấm và kí sinh trùngthay đổi cách thức hoạt động, làm cho các thuốc trị bệnh do chúng gây ra trở nên
vô hiệu [26] Vi khuẩn kháng cự với mọi loại kháng sinh đang xuất hiện và lanrộng trên toàn cầu, đe dọa khả năng điều trị các bệnh truyền nhiễm phổ biến, dẫnđến kéo dài bệnh tật, khuyết tật, và tử vong Nếu không có thuốc KS hiệu quả đểphòng ngừa và điều trị các bệnh nhiễm trùng, thủ thuật y khoa như ghép tạng,hóa trị liệu ung thư, bệnh tiểu đường và phẫu thuật lớn trở nên rủi ro rất cao Sựkháng thuốc làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe với thời gian lưu trú dài hơntrong các bệnh viện và chăm sóc đặc biệt hơn yêu cầu Đứng trước dự báo tươnglai phải đối mặt với khả năng không có thuốc để điều trị hiệu quả bệnh nhiễmtrùng, từ năm 2011, WHO đã kêu gọi các quốc gia khẩn cấp có kế hoạch để đốiphó tình trạng kháng thuốc Tháng 5-2015, WHO đã thông qua Kế hoạch hànhđộng toàn cầu về chống kháng thuốc Mục tiêu đầu tiên của Kế hoạch hành động
là “nâng cao nhận thức và hiểu biết về kháng thuốc thông qua truyền thông, giáodục và đào tạo hiệu quả” Để đạt được mục tiêu này, WHO công bố chiến dịchvới khẩu hiệu “KS: Sử dụng có trách nhiệm” trong Tuần lễ thế giới nâng caonhận thức về KS nhằm thức tỉnh cộng đồng về vấn đề vi sinh vật kháng thuốcđang đe dọa toàn cầu
Mới đây các nhà khoa học Mỹ cho biết một trường hợp đầu tiên tại nước
này mắc phải siêu vi khuẩn có thể khiến mọi loại thuốc KS mất tác dụng.
Trang 22Theo Washington Post, một loại E.coli có khả năng kháng loại KS colistin,
được tìm thấy trong nước tiểu của một phụ nữ 49 tuổi, bang Pennsylvania
Colistin là loại KS gần như mạnh nhất, thường được các bác sĩ sử dụng trong
trường hợp các loại KS khác thất bại [36]
Hình 1.1 Loại siêu vi khuẩn mới có khả năng chống lại loại thuốc KS
mạnh nhất [36]
Sự phát triển của kháng thuốc (AMR) là một hiện tượng tự nhiên Tuynhiên, những hành động của con người gia tăng sự xuất hiện và lan tỏa củaAMR Sử dụng không phù hợp thuốc KS đã dẫn đến sự phát triển của các vikhuẩn gây bệnh, dẫn đến khoảng 700.000 người chết mỗi năm Đến năm
2050, nếu xu hướng hiện nay tiếp tục, con số này dự kiến sẽ tăng lên đến 10triệu Việc giảm hiệu quả của thuốc KS sẽ dẫn đến tình trạng kháng thuốc vàtạo thành một mối đe dọa nguy hiểm đến sức khỏe con người [40]
Một báo cáo mới về tình hình kháng của Streptococus pneumonia từ Ấn
Độ cho biết các chủng kháng thuốc của Streptococus pneumonia kháng
Penicillin đã được biết đến trên toàn thế giới và đến nay nó đã kháng với
nhiều loại thuốc: kháng với cotrimoxazole và tetracyclin là 24% tiếp theo là kháng với erythromycin và ciprofloxacin là 14% [34].
Thang Long University Library
Trang 23Vi khuẩn lao kháng thuốc đang nhanh chóng nổi lên trên toàn thế giới
WHO báo cáo sự gia tăng đáng báo động không chỉ của bệnh Lao đa kháng
thuốc mà còn siêu kháng thuốc của bệnh Lao trên toàn cầu Hiện đã có khoảng
0,5 triệu trường hợp lao siêu kháng thuốc Tỷ lệ tử vong trong trường hợp lao đakháng thuốc cao (50 -60%) và thường gắn liền với một khoảng ngắn của bệnh (4-16 tuần) Một trong số các yếu tố đã được xác định cho sự phát triển của các
trường hợp đa kháng thuốc là sử dụng thuốc chống Lao phổ biến và rộng rãi mà
không cần đơn thuốc của bác sĩ Vì vậy sự hiểu biết tốt hơn về tỷ lệ kháng thuốc
chống bệnh Lao là một trong những yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát bệnh
Lao trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển [41].
Việc tỷ lệ KKS ngày càng gia tăng đã giới hạn các lựa chọn trong điều trịcác bệnh nhiễm trùng và các bệnh truyền nhiễm, và làm tăng kinh phí của cácquốc gia nhằm tăng lợi ích xã hội từ phòng bệnh Chính vì vậy KS cần đượcquản lý nghiêm ngặt Hiệu quả của một loại thuốc kháng khuẩn mang lại lợiích chung toàn cầu Nghiên cứu cho rằng cần sử dụng nhiều hơn nguồn kinh
tế như là một sự đầu tư cho việc đề ra các chính sách để quản lý tình hìnhKKS, trong đó bao gồm cả sự hiểu biết về các hành vi sức khỏe chính gây raKKS và bổ sung thêm các phương pháp khác để tìm ra sự tiến hóa đa dạngcủa KKS trên thế giới [32]
Sử dụng thuốc kháng sinh của người dân còn chưa hợp lý, tự ý mua và
sử dụng thuốc không theo đơn của bác sỹ Tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinhkhông theo đơn dao động từ 48% ở Saudi Arabia đến 78% tại Yemen,Uzbekistan Những nguyên nhân phổ biến nhất mà sử dụng kháng sinh khôngtheo đơn là bệnh ho (40%), và cúm (34%), 49% số người được hỏi ngưngthuốc kháng sinh khi họ cảm thấy tốt hơn [27] và các loại kháng sinh được tự
sử dụng thường xuyên nhất là amoxicillin (18,3%), cefuroxime (7,9%),
ciprofloxacin (2,3%) [26].
Trang 241.3.2 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam
Tại Việt Nam, phần lớn kháng sinh được bán mà không có đơn 88%(thành thị) và 91% (nông thôn) Mua kháng sinh để điều trị ho 31,6% (thànhthị) và sốt 21,7% (nông thôn) Ba loại kháng sinh được bán nhiều nhất là
ampicilin/amoxicillin (29,1%), cephalexin (12,2%) và azythromycin (7,3%) và
thời gian sử dụng thuốc kháng sinh từ 1-3 ngày chiếm 42,6% nơi mua thuốcchủ yếu của người dân là quầy thuốc tư (46,2%) và trạm y tế (47,6%)
[13] Đây cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạngkháng thuốc kháng sinh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng, gia tăngchi phí, thời gian điều trị, là mối đe dọa nghiêm trọng và là thách thức chođiều trị trong tương lai
Tình trạng KKS ở Việt Nam đang ở mức báo động, xuất hiện nhiều loại
siêu vi khuẩn kháng tất cả loại thuốc, phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram
âm đường ruột.
Tại sự kiện công bố báo cáo Thực trạng KS thế giới 2015 diễn ra ở HàNội chiều 29/10, Nguyễn Vũ Trung, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đớiTrung ương cảnh báo về tình trạng KKS của Việt Nam đang ở mức báo động
Số lượng vi khuẩn kháng thuốc, mức độ kháng ngày càng gia tăng Tỷ lệkháng với KS carbapenem, nhóm KS mạnh nhất hiện nay lên đến 50%, đặc
biệt là các vi khuẩn gram âm Bà Đỗ Thúy Nga, đại diện đơn vị nghiên cứu lâm sàng Oxrford Mỹ cũng thông báo tỷ lệ vi khuẩn E.coli kháng với KS
carbapenem cao nhất tại Ấn Độ 11%, Việt Nam đứng thứ hai với 9%, sau đó
đến Bulgaria trong số 26 nước báo cáo Tỷ lệ khuẩn kháng với KS
cephalosporin thế hệ ba lên đến hơn 60% [49].
Tại Việt Nam, một nghiên cứu ở TP Hồ Chí Minh cho thấy trong 10 năm, tỉ
lệ các chủng Pneumococcus kháng penicilin phân lập từ máu và dịch não tủy
tăng từ 8% (1993 – 1995) lên 56% (giai đoạn 1999 – 2002) Năm 2000 –
Thang Long University Library
Trang 252001, Việt Nam có tỉ lệ kháng penicilin (71,40%) cao nhất trong 11 nước khu vực Châu Á [18], [22] Trong khoảng năm 2000 – 2002, tỷ lệ Haemophillus
influenzae kháng ampicilin đã được ghi nhận là khoảng 57% [37].
Một nghiên cứu khác của Trần Quốc Kham (2003) về tình hình kháng lại
KS của một số loại vi khuẩn thường gặp tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
cho thấy: 78,4% vi khuẩn S pneumonia đã kháng với co – trimoxazol và 36% kháng với gentamycin Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy thực tế các vi
khuẩn thường gặp đã kháng với KS rất mạnh [15]
Theo chương trình nghiên cứu quốc gia về KKS (ANSORP), Việt Nam
có mức độ kháng cao với penicillin (71,4%) và erythromycin (92,1%) [39].
Hơn nữa, 75% phế cầu khuẩn kháng với ít nhất 3 loại KS trở lên Tỉ lệ kháng
của Shigella với thuốc KS cao cũng được ghi nhận, cụ thể là: trimethoprim-lactam, vancomycin
sulfamethoxazole (81%), tetracycline (74%), ampicillin (53%), ciprofloxacin
(10%), và ceftriaxone (5%) [44] Một nghiên cứu khác tại khu vực phía Nam Việt Nam (2006-2008) chỉ ra rằng 15,3% vi khuẩn kháng ceftriaxone [47] Ở Việt Nam, tỉ lệ các chủng Salmonella typhi đã KKS vẫn chiếm tỉ lệ tương đối cao với khoảng 50% năm 2004 Mức độ kháng axit nalidixic tăng rõ rệt trong
vòng 12 năm, từ 4% lên 97% năm 2005 [42]
Kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt vì việc sử dụng chúng không chỉảnh hưởng đến người bệnh mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng Với nhữngnước đang phát triển như Việt Nam, đây là một nhóm thuốc quan trọng vìbệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỷ lệ mắcbệnh và tỷ lệ tử vong Sự lan tràn các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh là vấn
đề cấp bách nhất hiện nay Sự xuất hiện các chủng vi khuẩn kháng ảnh hưởngđến hiệu quả điều trị và sức khỏe người bệnh Việc hạn chế sự phát sinh của
vi khuẩn kháng kháng sinh là nhiệm vụ không chỉ của ngành Y tế mà của cảcộng đồng nhằm bảo vệ nhóm thuốc này
Trang 261.4 Một số nghiên cứu về kiến thức và hành vi sử dụng kháng sinh của người dân
1.4.1 Trên thế giới
Một nghiên cứu của Awad AI và Aboud EA về kiến thức, thực hànhSDKS của người dân tại Kuwait năm 2015 cho thấy: 72,8% số người đượchỏi đã được kê KS trong vòng 12 tháng trước thời gian nghiên cứu, và 36%trong số họ đã không hoàn thành quá trình điều trị Hơn một phần tư (27,5%)
là tự SDKS để điều trị chủ yếu là lạnh thông thường, đau họng và ho Gần47% người tham gia còn thiếu kiến thức về SDKS hợp lý, an toàn và khả năngkháng thuốc KS [26]
Năm 2007, nghiên cứu của Cliodna A M McNulty và cộng sự về kiếnthức SDKS đã đưa ra con số 97% người dân cho rằng không nên sử dụng KSkhi không cần thiết Tuy nhiên 38% số người được hỏi nghĩ rằng KS để điềutrị ho và cảm lạnh, 54% nghĩ rằng thuốc KS có thể tiêu diệt được virus và43% người tham gia không biết đến KS có thể tiêu diệt được các vi khuẩnthường sống trên da và ở đường ruột [29]
Năm 2014, một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của ngườidân về việc SDKS trong 3 nước châu Á cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc KSkhông có đơn dao động từ 48% ở Saudi Arabia đến 78% tại Yemen,Uzbekistan Những lý do phổ biến nhất mà SDKS không theo đơn là ho(40%), cúm (34%) và 49% số người được hỏi ngưng thuốc KS khi họ cảmthấy tốt hơn Sự hiểu biết về việc SDKS thích hợp của người dân còn nhiềuhạn chế [27]
Nghiên cứu của Chan (2006), về kiến thức, thái độ, thực hành SDKS củacác bà mẹ cho trẻ khi mắc nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính ở trẻ em tạiMalaysia cho thấy trong số các bà mẹ có gần 68% họ tin rằng KS là hữu ích
Thang Long University Library
Trang 27Nghiên cứu của Yousef và cộng sự (2008) tại Jordan cũng cho thấy việcSDKS không an toàn, hợp lý còn phổ biến (42,5%) Lý do phổ biến nhất choviệc tự sử dụng thuốc là bệnh nhẹ (46,4%), thời gian chờ đợi bác sỹ dài(37,7%) và tránh chi phí cho khám bác sỹ là 31,4% Người dân có xu hướnglựa chọn thuốc dựa vào lời khuyên của nhân viên bán thuốc 14,2%, bạnbè/hàng xóm 17,6%, lời khuyên từ bác sỹ 21,9% Ngoài ra người dân lựachọn thuốc theo kinh nghiệm trước với bệnh và những triệu chứng tương tự27% - 33,5% [48].
Năm 2006 một cuộc khảo sát bằng điện thoại sử dụng nghiên cứu cắtngang về việc sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên(URTIs) được tiến hành trên 1002 dân từ 18 tuổi trở lên ở ở Hồng Kông Kếtquả cho thấy trong số những người được hỏi thì có 77% có đầy đủ kiến thức
về SDKS; 72% có ý thức và 85% SDKS đúng Có 26% số người được hỏi chorằng KS cần thiết cho triệu chứng của URTIs, chỉ 8-9% người được hỏi muathuốc kháng sinh mà không cần kê đơn của bác sỹ [46]
Cũng với phương pháp điều tra cắt ngang đã nghiên cứu năm 2015 về
Trang 28kiến thức, niềm tin và hành vi liên quan đến SDKS và việc tự điều trị ởLithuania Kết quả cho thấy trong số 1005 khảo sát thì có đến 61,1% có kiếnthức kém về thuốc KS; gần một nửa người được hỏi xác định sai tác dụng củathuốc KS như là chống virus (26%), nhiễm trùng hỗn hợp (vi khuẩn và virus)
là 21,7% [43]
1.4.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Phạm Đình Luyến và Nguyễn Ngọc Tất về “Khảo sát sựlựa chọn dịch vụ y tế và thói quen sử dụng KS của các hộ gia đình thị xã TâyNinh, tỉnh Tây Ninh” (năm 2010) cho thấy gần 40% người dân tự mua thuốcđiều trị khi có bất kỳ triệu chứng bệnh nào không thông qua thăm khám bởibác sỹ, gần 15% người dân không biết gì về KS và 2/3 người dân được hỏikhông biết SDKS đúng cách [18]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1338 bệnh nhi từ 2 tháng đến 5 tuổi bịnhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của Hoàng Thị Huế và cộng sự khảo sát tìnhhình SDKS trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em tại bệnh viện
đa khoa trung ương Thái Nguyên năm 2012 cho kết quả: 71,0% bệnh nhân đã
sử dụng KS trước khi đến viện, trong đó 28,0% gia đình tự mua KS [12].Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường “Đánh giá hiệu quả can thiệp đếnkiến thức sử dụng kháng sinh của người dân trong điều trị tại Hải Dương”được thực hiện từ năm 2017 đến năm 2018 trên 1.500 người dân tại xã HiệpLực, huyện Ninh Giang, phường Phạm Ngũ Lão, thành phố Hải Dương vàphường Thái Học, thành phố Chí Linh cho kết quả, kháng sinh dùng khi bị sốtchiếm gần 74,9%, dùng để chữa cảm cúm chiếm 75,0%, ngừng sử dụng khángsinh khi thấy đỡ bệnh chiếm 78,8%, tự sử dụng kháng sinh khi bị đau họng và
ho chiếm 84,2%, mua theo tư vấn của nhà thuốc chiếm 89,5% [14]
1.5 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh
Thang Long University Library
Trang 29Có bốn nhóm yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kiến thức và thực hànhSDKS của người dân Do các yếu tố này khác nhau đối với từng cộng đồng,sức khỏe của các cá nhân trong cộng đồng đó cũng khác nhau, nên các cácyếu tố này được xếp thành từng nhóm
Nhóm 1: Các yếu tố vật lý, địa lý, môi trường (ô nhiễm, dịch bệnh), quy
mô dân cư (đông đúc), và sự phát triển công nghiệp…
Nhóm 2: Các yếu tố điều kiện kinh tế, trình độ học vấn, văn hóa xã hội,nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính, niềm tin, truyền thống, điều kiện kinh tế, tínngưỡng (niềm tin vào vào điều trị y tế), chuẩn mực xã hội và tình trạng kinh
tế xã hội…
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hà và cộng sự nghiên cứu mô
tả cắt ngang với 267 hộ gia đình tại địa bàn phường Phú Diễn, Bắc Từ Liêm,
Hà Nội, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2018 cho thấy 67,8% người dân có kiếnthức tốt và 42,6% người dân có thực hành tốt về sử dụng thuốc kháng sinh.Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh: Giớitính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hộ gia đình có con nhỏ [11]
Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành SDKS của các hộ giađình tại xã Việt Đoàn - Tiên Du - Bắc Ninh của Trịnh Ngọc Quang (2006)cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức SDKS với trình độ học vấn, kinh tế,nghề nghiệp và nhóm tuổi [21]
Theo Cao Thị Mai Phương khi nghiên cứu thực trạng SDKS cho bệnhnhi trước khi điều trị tại khoa Nhi của Trung tâm y tế huyện Gia Lâm – HàNội trên 356 bà mẹ và người chăm sóc của trẻ đã chỉ ra rằng trình độ học vấn
có liên quan đến kiến thức và thực hành SDKS của các bà mẹ, nghề nghiệp cóliên quan đến kiến thức SDKS (p < 0,05) [20]
Nhóm 3: Các tổ chức trong cộng đồng như các cơ sở y tế sẵn có, đội ngũcán bộ y tế (y tế tư nhân, y tế công)…
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Văn Tiến thực hiện trên
Trang 30392 đối tượng nhằm mô tả kiến thức, thực hành và xác định một số yếu tố liênquan đến kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng thuốc kháng sinh tại một số xã, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2017 Kết quả cho thấy có
3 yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng kháng sinh: nghề nghiệp, nguồn thông tin được tiếp cận từ cán bộ y tế và kiến thức sử dụng kháng sinh [23]
Nhóm 4: Hành vi cá nhân (các hành vi tăng cường sức khỏe như tập thểdục, tiêm chủng, tái chế rác thải, …)…
Nghiên cứu Thực trạng và các yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc khángsinh không kê đơn của người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm
2018 của Vũ Hồng Nhung và cộng sự, nghiên cứu mô tả cắt ngang có phântích trên 410 người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định Sử dụngphương pháp chọn mẫu thuận tiện và bộ công cụ cấu trúc được xây dựng dựatrên các nghiên cứu cùng chủ đề để phỏng vấn Kết quả phân tích mô hình đabiến logistics cho thấy mối liên quan giữa thực hành và các yếu tố trình độhọc vấn, số lượng con, bảo hiểm y tế, việc dễ dàng tiếp cận thuốc kháng sinh
và nguồn thông tin từ cán bộ Y tế [19]
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Xã Quang Lãng là xã nông thôn mới nằm ở phía Đông Nam huyện PhúXuyên, thành phố Hà Nội, là xã cuối cùng của huyện Phú Xuyên Phía Đônggiáp với tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp xã Tri Thủy, phía Nam giáp với xã MinhTân, phía Bắc giáp đê sông Hồng và tỉnh Hưng Yên có kè Quang Lãng là kètrọng điểm quốc gia Diện tích đất tự nhiên là 607,95 ha Xã có 8 Thôn vớidân số là 6422 người và 1574 hộ
Thang Long University Library
Trang 31và gia súc, gia cầm, và làng nghề truyền thống như nghề mộc, nề, cơ khí dịch vụ, giết mổ gia súc.
-Năm 2018, trạm y tế xã Quang Lãng đã khám và điều trị ngoại trú 3.528lượt người Cơ cấu nhóm bệnh không lây nhiễm có xu hướng gia tăng (tănghuyết áp, đái tháo đường, gout, suy tim, tai biến mạch máu não, thiếu máu cơtim…) chiếm 32%, nhóm bệnh về hô hấp (viêm họng amidan, viêm phổi,viêm phế quản…) chiếm 29%, nhóm bệnh về đường tiêu hóa (viêm loét dạdày tá tràng, viêm đại tràng, xuất huyết tiêu hóa…) chiếm 22%, nhóm bệnh về
cơ xương khớp (viêm đau khớp dạng thấp, thoái hóa khớp…) chiếm 6%, bệnhsốt virus chiếm 4,7%, nhóm các bệnh lý khác (như viêm xoang, viêm
Trang 32kết mạc mắt viêm da, các bệnh lý về răng miệng, bệnh zona thần kinh, viêm
đường tiết niệu, sỏi tiết niệu…) chiếm khoảng 6,3%
ĐĐNKH: tuổi, nghề nghiệp, - Tình trạng sức khỏe
TĐHV, điều kiện kinh tế của người dân: loại bệnh
Kiến thức của người dân về mắc phải, tuổi, giới
- Hiểu biết tác hại khi SDKS không - Hướng dẫn của bác sỹ
Thực hành của người dân về bán hàng
- Tiếp cận thông tin
- Tính sẵn có: hiệu thuốc nhiều, dễ mua
Thang Long University Library
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Người dân từ 18 – 75 tuổi là đại diện gia đình đang sinh sống trên địa bàn được lựa chọn vào nghiên cứu, không phân biệt giới, nghề nghiệp, tôn giáo
* Tiêu chuẩn chọn mẫu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Đưa vào nghiên cứu các trường hợp sau:
▪ Tại mỗi hộ gia đình chọn một người là đại diện gia đình có vai trònắm được thông tin sử dụng thuốc KS chữa bệnh cho bản thân, những người
trong gia đình.
▪ ĐTNC tự nguyện và hợp tác tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
▪ Những đối tượng có rối loạn về tâm thần, không có khả năng trả lời
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Tổng thời gian nghiên cứu: 6/2019 – 11/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp dịch tễ học mô tả cắtngang có phân tích, phỏng vấn trực tiếp nhằm tìm hiểu kiến thức, thực hành
và phân tích một số yếu tố liên quan về sử dụng thuốc KS của người dân theo
bộ câu hỏi
Trang 342.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
• n: cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
• α: Mức ý nghĩa thống kê (α = 0,05)
• Z(1-α/2): hệ số tin cậy thu được ứng với giá trị α = 0,05 là 1,96
• d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ p thu được từ mẫu và tỷ lệ thực từ quần thể (chọn d = 0,05)
• p: là tỷ lệ ước tính người dân có kiến thức đúng về SDKS (chọn p =0,656 theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiến (2017) [23])
Thay vào công thức trên: n = 347 Số mẫu thực tế nghiên cứu chúng tôi lấy tròn n = 400
❖ Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn
Mỗi thôn điều tra 50 đối tượng
- Bước 3: Với mỗi thôn điều tra, tiến hành chọn ngẫu nhiên đối tượngđầu tiên, các đối tượng tiếp theo được chọn theo phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ số lượng mẫu nghiên cứu thì dừng lại
❖ Phương pháp thu thập thông tin:
- Công cụ thu thập thông tin: Đây là một bộ câu hỏi phỏng vấn được
thiết kế trên phần mềm SPSS 20.0 để thu thập thông tin bao gồm 2 phần:
Trang 35Thang Long University Library
Trang 36+ Phần I: Thông tin chung của đối tượng: 7 câu hỏi về tên, địa chỉ,
tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế
+ Phần II: Thông tin về kiến thức, thực hành sử dụng thuốc KS:
• Phần A: Kiến thức về sử dụng thuốc KS: gồm 12 câu hỏi về kiến
thức sử dụng thuốc KS
• Phần B: Thực hành về sử dụng KS: gồm 12 câu hỏi về thực hành
sử dụng thuốc KS
- Thử nghiệm phiếu điều tra: Phiếu điều tra sau khi được thiết kế được
tiến hành thử nghiệm trong 2 ngày với 20 người dân tại thành phố Hà Nội
2.2.3 Kỹ thuật thu thập thông tin
Điều tra viên là cán bộ Trạm y tế xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên,thành phố Hà Nội Nhóm điều tra viên sẽ được tập huấn về công cụ thu thậpthông tin cho các điều tra viên với các nội dung sau:
- Làm quen với các câu hỏi trên phần mềm SPSS 20.0
- Phương pháp điều tra và cách thu thập thông tin cho từng câu hỏi
- Phương pháp chọn mẫu, chọn đối tượng vào nghiên cứu
- Ghi lại các câu trả lời và phản hồi của đối tượng nghiên cứu
2.2.4 Sơ đồ nghiên cứu
Chọn cóchủ đích
Chọn cóchủ đích
Chọn cóchủ đích
Chọn tất cả
8 thôn
Trang 37Tổng số 400 hộ gia đình để điều tra
KAP SDKS và yếu tố liên quan
Thang Long University Library
Trang 382.3 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu và cách đánh giá
2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Gồm có các nhóm biến số và chỉ số được trình bày ở Bảng sau:
tin Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Tuổi Năm sinh tính theo Liên tục Tỷ lệ % người dân thuộc
Phiếu ĐTNC
+ 18 - 34 tuổi
phỏng vấn + 35 - 59 tuổi
+ 60 - 75 tuổi Giới ĐTNC là nam giới Nhị Tỷ lệ % người dân:
Phiếu
+ Nam
phỏng vấn + Nữ
Học vấn Trình độ học vấn Thứ bậc Tỷ lệ % người dân
cao nhất của
có trình độ:
Phiếu ĐTNC
+ Không biết đọc/viết
phỏng vấn + Dưới THPT
+ từ PTTH trở lên
Nghề Là nghề nghiệp Định Tỷ lệ % người dân làm
nghiệp hiện tại của người danh nghề:
dân dành nhiều
+ Nông dân thời gian nhất cho
+ Công chức/viên chức Phiếu công việc
+ Buôn bán + Cán bộ hưu trí
Trang 39+ Nghề khác
Điều kiện Thu nhập trung Định Tỷ lệ % điều kiện kinh tế
kinh tế bình của hộ gia lượng của người dân:
Phiếu đình theo năm
+ Nghèo
phỏng vấn + Trung bình
+ Khá trở lên
Trang 40Định nghĩa/ Loại Công cụ thu
tin Kiến thức sử dụng KS của người dân
Nghe thông Mô tả người dân đã Nhị Tỷ lệ % người dân nghe về
+ Không
Nguồn Tìm hiểu những Định Tỷ lệ % những nguồn
Phiếu
cung cấp nguồn cung cấp danh thông tin về cho người dân
về KS người dân về KS
Tên một số Tìm hiểu kiến thức Định Tỷ lệ % người dân có kiến
Phiếu
thuốc KS của người dân về danh thức đúng về tên một số
Căn cứ Là đối tượng được Định Tỷ lệ % đối tượng được
trong tin tưởng và ảnh danh người dân tin tưởng và ảnh
SDKS Tìm hiểu kiến thức Định Tỷ lệ % người dân có kiến
đúng cách của người dân về danh thức đúng/sai về SDKS
Phiếu
SDKS đúng cách đúng cách (mua và sử dụng (mua và sử dụng theo đúng đơn, đúng liều, phỏng vấn theo đúng đơn, đúng đúng thời gian)
liều, đúng thời gian)
Địa điểm Hiểu biết của người Định Tỷ lệ % người dân có kiến
Phiếu
mua thuốc dân về mua thuốc ở danh thức đúng/sai về địa điểm
biển hiệu rõ ràng Vấn đề Những vấn đề cần Định Tỷ lệ % người dân biết