1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã quang lãng, phú xuyên, hà nội năm 2019

103 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh trong cộng đồng tại một số phường trong nội thành Hà Nội và một số tỉnh lân cận như Hải Dương, Hưng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN HỮU TUẤN- C01105 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH CỦA NGƯỜI DÂN XÃ QUANG LÃNG, PHÚ

XUYÊN, HÀ NỘI NĂM 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, góp ý quý báu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài trường Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo bộ môn Y tế công cộng cùng các Thầy/Cô các bộ môn và khoa phòng của Trường Đại học Thăng Long, đã trực tiếp giảng dạy, chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến GS.TS Trần Quốc Kham, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu, những ý kiến quý báu định hướng và hoàn thiện trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm Y tế xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình phỏng vấn, thu thập ý kiến của người dân trên địa bàn xã

Xin cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Trần Hữu Tuấn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên học viên: Trần Hữu Tuấn

Luận văn thạc sỹ với tên đề tài: Kiến thức, thực hành và một số yếu tố

liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Quang Lãng, Phú Xuyên, Hà Nội năm 2019” này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được

thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Quốc Kham Các số liệu

và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Trần Hữu Tuấn

Trang 4

Cơ sở y tế Đối tượng nghiên cứu Đặc điểm nhân khẩu học

Điều kiện kinh tế

Khám chữa bệnh Kháng sinh Kháng kháng sinh Low and Middle Income Countries - Quốc gia có thu nhập thấp và trung bình

Nghiên cứu

Sử dụng kháng sinh Trình độ học vấn Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Trạm y tế

World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới

Y học cổ truyền

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sơ lược về thuốc kháng sinh 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Phân loại thuốc kháng sinh 3

1.1.3 Sử dụng thuốc an toàn hợp lý 4

1.1.4 Tác dụng không mong muốn 6

1.2 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh 7

1.2.1 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh ở Việt Nam 9

1.3 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn 11

1.3.1 Tình hình kháng kháng sinh trên thế giới 11

1.3.2 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam 14

1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức và hành vi sử dụng kháng sinh của người dân 16

1.4.1 Trên thế giới 16

1.4.2 Tại Việt Nam 18

1.5 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh 18

1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 20

1.7 Khung lý thuyết 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 23

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 23

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23

Trang 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 23

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24

2.2.3 Kỹ thuật thu thập thông tin 25

2.2.4 Sơ đồ nghiên cứu 26

2.3 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu và cách đánh giá 27

2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 27

2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá 31

2.4 Sai số và biện pháp khắc phục 35

2.4.1 Sai số 35

2.4.2 Biện pháp khắc phục 35

2.5 Phân tích và xử lý số liệu 35

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 36

2.7 Hạn chế của nghiên cứu 36

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Kiến thức và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người dân 37

3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37

3.1.2 Kiến thức về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân 38

3.1.3 Thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người dân 44

3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân 49

3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng thuốc kháng sinh 49 3.2.2 Một số yếu tố liên quan với thực hành sử dụng thuốc kháng sinh 54 Chương 4: BÀN LUẬN 60

4.1 Kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân 60

4.1.1 Kiến thức sử dụng kháng sinh của người dân 60

4.1.2 Thực hành sử dụng kháng sinh của người dân 66

Trang 7

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh

của người dân 73

4.2.1 Mối liên quan với kiến thức sử dụng kháng sinh 73

4.4.2 Mối liên quan với thực hành sử dụng kháng sinh 76

KẾT LUẬN 79

KHUYẾN NGHỊ 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng 37

Bảng 3.2 Kênh thông tin người dân tiếp cận trong sử dụng kháng sinh 38

Bảng 3.3 Kiến thức của người dân về lí do sử dụng kháng sinh 39

Bảng 3.4 Đối tượng ảnh hưởng đến quyết định sử dụng kháng sinh của người dân 39

Bảng 3.5 Vấn đề người dân quan tâm khi sử dụng kháng sinh 40

Bảng 3.6 Kiến thức của người dân về địa điểm mua thuốc kháng sinh 40

Bảng 3.7 Lưu ý khi mua thuốc kháng sinh của người dân 41

Bảng 3.8 Kiến thức của người dân về thời gian sử dụng kháng sinh 41

Bảng 3.9 Kiến thức của người dân về tác dụng không mong muốn của kháng sinh 42

Bảng 3.10 Đối tượng cần thận trọng khi sử dụng kháng sinh 43

Bảng 3.11 Địa điểm người dân mua kháng sinh 44

Bảng 3.12 Yêu cầu người bán thuốc hướng dẫn thông tin về thuốc 44

Bảng 3.13 Thực hành sử dụng kháng sinh theo đơn của bác sĩ 45

Bảng 3.14 Lý do sử dụng kháng sinh trong 6 tháng vừa qua của người dân 46 Bảng 3.15 Thời điểm uống thuốc kháng sinh trong ngày 46

Bảng 3.16 Xử trí về thời điểm ngừng sử dụng kháng sinh 47

Bảng 3.17 Xử trí sau 2 – 3 ngày sử dụng kháng sinh không đỡ bệnh 47

Bảng 3.18 Xử trí khi gặp tác dụng không mong muốn 48

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với giới tính 49

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với tuổi 49

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với trình độ học vấn 50 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với nghề nghiệp50

Trang 9

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với điều kiện

kinh tế 51 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức sử dụng kháng sinh với nguồn thông

tin từ cán bộ y tế địa phương 51 Bảng 3.25 Đánh giá một số yếu tố liên quan đến kiến thức về sử dụng kháng

sinh theo mô hình hồi quy đa biến 52 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với giới tính 54 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với trình độ học vấn 54 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với nghề nghiệp 55 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với điều kiện

kinh tế 55 Bảng 3.30 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với tuổi 56 Bảng 3.31 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với nguồn thông

tin từ cán bộ y tế địa phương 56 Bảng 3.32 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng kháng sinh với kiến thức sử

dụng kháng sinh 57 Bảng 3.33 Đánh giá một số yếu tố liên quan đến thực hành về sử dụng kháng

sinh theo mô hình hồi quy đa biến 58

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Kiến thức của người dân về thời gian sử dụng kháng sinh với

những bệnh nhiễm khuẩn thông thường 42 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ kiến thức chung về sử dụng kháng sinh của người dân 43 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người dân sử dụng kháng sinh theo đơn 44 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ thực hành chung về sử dụng kháng sinh của người dân 48

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Loại siêu vi khuẩn mới có khả năng chống lại loại thuốc KS

mạnh nhất 12 Hình 1.2 Bản đồ hành chính xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, Hà Nội 21

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 1.900 người bệnh tử vong vì tình trạng kháng kháng sinh, tương đương 700.000 người thiệt mạng mỗi năm do tình trạng sử dụng quá nhiều kháng sinh gây kháng thuốc Tuy nhiên, dự báo con

số này có thể lên đến 10 triệu người mỗi năm vào năm 2050, cao hơn cả số người tử vong do ung thư hàng năm [50]

Kể từ năm 1928, cuộc sống của con người đã thay đổi toàn diện khi thuốc kháng sinh được phát minh Kháng sinh là một trong những loại thuốc coi là vũ khí để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Dẫu vậy, việc sử dụng tràn lan, chưa hợp lý kháng sinh trong y tế, chăn nuôi, nông nghiệp đang khiến tình hình trở nên xấu đi khi các vi khuẩn, virus bệnh bắt đầu kháng thuốc Thuật ngữ “đề kháng kháng sinh” đã trở nên quen thuộc và tình hình trở nên nghiêm trọng đến mức kháng kháng sinh trở thành chủ đề chính trong cuộc họp hội đồng thường niên của Liên Hiệp Quốc vào năm 2016 và cũng là vấn

đề chủ chốt của cuộc họp các bộ trưởng y tế G20 vào tháng 5 năm 2017

Đã có nhiều nghiên cứu tiến hành trên Thế giới và Việt Nam cho thấy

đã xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh ngay cả những loại kháng thế hệ mới và có xu hướng ngày càng tăng dần theo thời gian [21] Tại Việt Nam, số lượng vi khuẩn kháng thuốc và mức độ kháng ngày càng gia tăng

Tỷ lệ kháng với kháng sinh carbapenem, nhóm kháng mạnh nhất hiện nay lên đến 50% [16]

Sự kháng thuốc không chỉ gây tác hại đến sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới Đó là

do phải tăng thời gian điều trị dẫn đến tăng chi phí cho y tế vì phải tăng liều dùng, sử dụng thuốc kháng sinh thế hệ mới và bệnh nhân phải chấp nhận các phản ứng có hại của kháng sinh nhiều hơn Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh

Trang 12

ngày càng gia tăng đã giới hạn các lựa chọn trong điều trị các bệnh nhiễm trùng và các bệnh truyền nhiễm [24]

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do việc dùng sai và lạm dụng rộng rãi thuốc kháng sinh trong điều trị, chăn nuôi và thất bại của các công ty dược trong việc nghiên cứu và phát triển các nguồn dược phẩm mới cho tương lai

Đây là vấn đề y tế công cộng cấp thiết không chỉ của Việt Nam mà của toàn thế giới, trong đó quan trọng nhất là người dân cần có nhận thức đúng và thực hành sử dụng thuốc kháng hợp lí để bảo vệ sức khỏe, bảo vệ nguồn kháng sinh cho thế hệ sau cũng như làm giảm thiểu tình trạng kháng thuốc kháng sinh hiện nay

Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh trong cộng đồng tại một số phường trong nội thành

Hà Nội và một số tỉnh lân cận như Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình [11], [14], [23], [24] Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào tại các huyện ngoại thành của Hà Nội Cho nên tôi chọn có chủ đích xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên thành phố Hà Nội là địa điểm nghiên cứu, vì ở đây đảm bảo được nguồn lực cho nghiên cứu đồng thời nhận được sự đồng ý và giúp

đỡ của đội ngũ cán bộ y tế xã

Nhằm phản ánh thực tiễn việc sử dụng thuốc kháng sinh trong cộng đồng cùng với mong muốn góp phần nâng cao kiến thức và thực hành của người

dân, tôi quyết định thực hiện nghiên cứu: “Kiến thức, thực hành và một số

yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Quang Lãng, Phú Xuyên, Hà Nội năm 2019” với hai mục tiêu sau

1 Đánh giá kiến thức và thực hành về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về thuốc kháng sinh

1.1.1 Khái niệm

Thuốc KS là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp trong cơ thể, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi sinh vật [5]

1.1.2 Phân loại thuốc kháng sinh

Có nhiều cách phân loại KS, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách sử dụng thuốc

1.1.2.1 Dựa vào nguồn gốc

• KS có nguồn gốc từ sinh vật, xạ khuẩn

• Nhóm KS có nguồn gốc hóa dược hay do con người tổng hợp nên

1.1.2.2 Dựa vào cơ chế tác dụng

• Thuốc ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: họ β-lactam, vancomycin

• Thuốc ức chế hoặc thay đổi tổng hợp protein của vi khuẩn:

cloramphenicol, tetracylin, macrolid, lincosamid, aminoglycosid

• Thuốc ức chế tổng hợp acid nhân: quinolon, rifampicin

• Thuốc ức chế chuyển hóa: Co-trimoxazol

• Thuốc làm thay đổi tính thấm màng tế bào vi khuẩn: amphotericin 1.1.2.3 Dựa vào mức độ tác dụng

• Thuốc KS diệt khuẩn (bactericidial antibiotics): penicillin, cephalosporin, aminosid

• Thuốc KS kìm khuẩn (bacteriostatics antibiotics): tetracylin, cloramphenicol, macrolid

Trang 14

1.1.2.4 Dựa vào phổ tác dụng của kháng sinh

• Nhóm có phổ tác dụng hẹp: chỉ tác dụng chủ yếu lên một loại hay một nhóm vi khuẩn nào đó

• Nhóm KS có phổ tác dụng rộng: tác dụng với cả vi khuẩn Gr + , Gr - , ricketsiea, virus cỡ lớn, đơn bào

• Nhóm KS dùng ngoài hay các thuốc không hoặc ít được hấp thu ở đường tiêu hóa

- Các β-lactam khác: carbapenem, monobactam, chất ức chế β-lactamase

• Nhóm aminoglycosid (aminosid): streptomycin, gentamicin, tobramycin…

• Nhóm macrolid: erythromycin, clarithromycin, apiramycin…

• Nhóm lincosamid: lincomycin, thiamphenicol

• Nhóm tetracylin: tetracylin, doxycylin …

• Nhóm peptid

- Glucopeptid: vancomycin

- Polypeptid: polymycin, bacitracin…

• Nhóm quinolon: acid nalidixic, ciprofioxaxin, ofloxaxin…

Trang 15

“Sử dụng hợp lý thuốc là việc đảm bảo cho người bệnh nhận được các thuốc thích hợp với yêu cầu của lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể, trong thời gian vừa đủ và với giá thành thấp nhất cho mỗi người cũng như trong cộng đồng của họ”

1.1.2.7 Nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý (sử dụng kháng sinh đúng)

- Đi khám bệnh và dùng KS theo đơn, hướng dẫn của bác sĩ

- Nên mua KS ở những cơ sở hợp pháp như: hiệu thuốc hoặc nhà thuốc được cơ quản quản lý nhà nước cấp giấy phép hoạt động

- Khi mua KS phải yêu cầu người bán ghi rõ họ tên và hàm lượng thuốc trên từng bao gói riêng biệt

+ Không pha KS với nước hoa quả, nước chè…

+ Khi dùng KS cho trẻ em phải nhớ chú ý liều theo tuổi hoặc cân nặng

- Khi cho trẻ em dùng KS phải chú ý sự chỉ dẫn của bác sĩ và tuân thủ theo đúng sự chỉ dẫn đó

- Trong khi SDKS, nếu thấy hiện tượng khó chịu, buồn nôn, mẩn ngứa,… phải dừng thuốc ngay và đến khám lại tại các CSYT

- Nếu dùng KS 2-3 ngày mà không có hiện tượng đỡ bệnh phải báo lại cho cán bộ y tế xem xét lại, không tự ý thay thuốc khác

- Không dùng KS theo kinh nghiệm truyền miệng hay sự mách bảo của người khác

- Tuân thủ đúng theo đơn của bác sĩ

Trang 16

- Chỉ dùng KS để chữa các bệnh nhiễm khuẩn, không dùng KS để phòng bệnh khi bệnh chưa xảy ra

- Dùng KS phải: đúng liều, đúng lúc, đủ thời gian

+ Đúng liều: liều của 1 lần uống, liều của 1 ngày uống, liều cho trẻ + Đúng lúc: trước bữa ăn, trong bữa ăn, sau bữa ăn, bất cứ lúc nào tùy từng loại thuốc, theo hướng dẫn sử dụng

+ Đủ thời gian: một đợt điều trị ít nhất là 5 ngày [8], [9], [10]

1.1.4 Tác dụng không mong muốn

* Các tác dụng không mong muốn khác:

- Rối loạn tiêu hóa (erythromycin)

- Độc với thận, thính giác (các aminoglycosid, cephalosporin)

- Độc với hệ tạo máu (cloramphenicol)

Ảnh hưởng tới sự phát triển của răng, xương (tetracyclin)… [5],[4]

Trang 17

1.2 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh

1.2.1 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trên thế giới

Tổng lượng KS được sử dụng cho con người trên toàn thế giới đã gia tăng từ 21,1 tỷ liều xác định trong ngày vào năm 2000, lên 34,8 tỷ liều vào năm 2015 Tốc độ gia tăng là 65% trong vòng 15 năm Tỷ lệ tiêu thụ KS cũng tăng 39%, từ 11,3 lên 15,7 DDD trên 1.000 người dân/ngày (Defined Daily Doses-DDD - liều duy trì trung bình giả định mỗi ngày đối với một loại thuốc) Đóng góp phần lớn vào xu hướng này là sự gia tăng sử dụng KS ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (LMIC) Tổng lượng KS ở các quốc gia LMIC tăng 114% Trong khi đó, tỷ lệ tiêu thụ trên 1.000 người dân/ngày tăng 77% [45]

Sự ra đời của thuốc KS vào những năm đầu của thế kỷ XX đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Nhưng thực tế việc sử dụng thuốc KS hiện nay đã và đang là mối quan tâm lớn của toàn cầu bởi việc sử dụng thuốc của người dân một cách bừa bãi Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Katherine được thực hiện tại 3 nhà thuốc của thành phố Valdivia, phía Nam Chile (2008) cho thấy: 75% người dân tự SDKS trong cộng đồng, và phụ nữ là đối tượng chủ yếu SDKS không theo đơn của bác sỹ Lý do chính cho việc sử dụng thuốc không cần đến đơn là bệnh nhẹ như: đau đầu (19%), cảm lạnh thông thường (8,8%),… và tái sử dụng đơn thuốc là 46% [33]

Việc SDKS không theo đơn của bác sỹ mà tự ý mua thuốc tại các hiệu thuốc để điều trị là tình trạng xảy ra phổ biến ở nông thôn Theo Skliros và cộng sự (2010), nghiên cứu về tự sử dụng thuốc KS tại cộng đồng nông thôn

ở Hi Lạp cho thấy: 44,6% người dân sử dụng thuốc không theo đơn ít nhất một lần trong 12 tháng qua và 72,6% sử dụng thuốc không cần đơn là từ các hiệu thuốc trong cộng đồng Các KS được tự sử dụng thường xuyên nhất là

amoxicillin 18,3%, cefuroxime 7,9%, ciprofloxacin 2,3% Việc SDKS không

Trang 18

có đơn với lý do thường gặp nhất là sốt 41,2%, cảm lạnh thông thường 32,0%

và đau họng là 20,6% [38]

Một nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy KS được bán không theo đơn chiếm 17,5% các trường hợp mua thuốc và 23% tổng chi phí mua thuốc Các biệt dược của penicillin, co-trimoxazol và tetracyclin chiếm 64,8% Hầu hết các chỉ định của KS là cho các rối loạn đường hô hấp trên, đường tiêu hóa và một số trường hợp khác Thời gian sử dụng thuốc thông thường là dưới 5 ngày Có khi KS được mua nhiều lần khác nhau nhưng cũng không có ý kiến của thầy thuốc [31] Theo nghiên cứu của Nakajima và cộng sự (2010) tại Mông Cổ tìm hiểu việc tự SDKS của người dân trong cộng đồng cho thấy: trong 619 khách hàng mua thuốc có 48% khách hàng mua ít nhất một loại KS, và chỉ có 42% có đơn của bác sỹ Trong số 67% khách hàng mua thuốc được cung cấp thông tin về liều lượng và thời gian sử dụng thuốc thì chỉ có 9% được cung cấp các thông tin liên quan đến ảnh hưởng bất lợi do thuốc gây ra Nghiên cứu cũng được tiến hành trên đối tượng là bác sỹ và cho thấy một thực tế là có một số thuốc

KS đã trở nên kém hiệu quả lâm sàng giữa năm 2001 và 2006 Và sau đó nghiên cứu cũng đã đưa ra khuyến cáo là cần có một cơ quan pháp lý để thúc đẩy việc thực thi của pháp luật về các qui định của thuốc tại Mông Cổ, để tạo nhận thức về sự nguy hiểm của KS đối với người dân và các chiến dịch nâng cao kiến thức cho người dân là điều cần thiết [35]

KS là thuốc đặc trị vi khuẩn nhưng không diệt được virus, mà virus lại

là nguyên nhân chính gây nên bệnh cúm và một số bệnh khác Colett, Pappas, Hayden đã nghiên cứu kiến thức của cha mẹ trẻ về nhiễm khuẩn hô hấp thường gặp và liệu pháp KS cho thấy 46% số người được hỏi tin tưởng rằng KS có thể tiêu diệt được virus và 60% số người được hỏi chưa từng nghe nói đến KS [30]

Trang 19

1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh ở Việt Nam

Việt Nam đứng thứ 3 trong ba quốc gia có tỷ lệ sử dụng KS tăng mạnh nhất (Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam) Trong đó, số liệu của Việt Nam mới được thống kê trong 10 năm, từ 2005-2015 cho thấy tỷ lệ sử dụng KS trên 1.000 người dân/ngày của Việt Nam năm 2015 là hơn 30 DDD, xếp thứ 11 và

là một trong những quốc gia thuộc nhóm LMIC có tỷ lệ sử dụng KS vượt trội

so với các nước có thu nhập cao [45]

Mặc dù trong những năm qua ngành Y tế đã có nhiều nỗ lực trong chiến lược sản xuất, cung ứng và phân phối thuốc KS Hầu hết các cơ sở sản xuất trong nước về cơ bản chủ yếu nhập bán thành phẩm và đóng gói một số loại

thuốc bao gồm cả một số KS thông thường như Beta- lactam, tetracyclin, chloramphenicol và gentamicin từ bán thành phẩm nhập khẩu [16], hàng năm

vẫn còn gần 100 tấn KS các loại được nhập vào Việt Nam với khoảng

350-400 triệu USD, còn trong nước sản xuất khoảng 200 triệu USD trong đó tỷ lệ

KS chiếm 30-40% [22]

Thị trường cung ứng thuốc đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường Tuy nhiên việc SDKS chưa hợp lý vẫn là một thách thức của ngành y tế Việt Nam hiện nay Theo Nguyễn Quang Trung và cộng sự (2006): thói quen tự mua thuốc của người dân tại các hiệu thuốc tây trước khi đến khám và điều trị tại các CSYT còn khá phổ biến, người dân tự đi mua thuốc điều trị các bệnh thông thường mà không cần đi khám Điều đó khiến cho bệnh nhiễm trùng tiến triển nặng hơn, tốn kém hơn mà lẽ ra có thể điều trị hiệu quả nếu được chỉ định đúng ngay từ ban đầu Như vậy bán thuốc không cần đơn ở các hiệu thuốc là rất phổ biến Hơn nữa sự tuyên truyền giáo dục người dân về SDKS còn hạn chế nên họ

đã tự mua KS và sử dụng mà không cần đến đơn thuốc [25]

Kết quả khảo sát về việc bán thuốc KS ở các hiệu thuốc vùng nông thôn

và thành thị các tỉnh phía Bắc cho thấy nhận thức về KS và KKS của người

Trang 20

bán thuốc và người dân còn thấp, đặc biệt ở vùng nông thôn Phần lớn KS được bán mà không có đơn: 88% thành thị và 91% ở nông thôn Mua KS để điều trị ho 31,6% (thành thị) và sốt 21,7% (nông thôn) Ba loại KS được bán

nhiều nhất là ampicillin/amoxicillin (29,1%), cephalexin (12,2%) và azythromycin (7,3%) Người dân thường yêu cầu được bán KS mà không có

đơn: 49,7% (thành thị) và 28,2% (nông thôn) [6]

Một số nghiên cứu đã được tiến hành nhằm tìm hiểu lí do SDKS không hợp

lý trong cộng đồng như thế nào và các loại thuốc KS thường dùng nhiều nhất Nghiên cứu cắt ngang của Đặng Thị Hường và Trịnh Hữu Vách (2005) trên

800 đối tượng có vai trò quyết định việc dùng thuốc trong gia đình tại 2 xã của tỉnh Thái Bình cho thấy: 31,85% cho rằng KS để điều trị nhiễm trùng, 34% dùng

KS điều trị cảm cúm, 58,3% để điều trị ho kèm theo có sốt, 74,8% dùng KS khi

bị mụn nhọt Tỷ lệ SDKS không có đơn chiếm gần một nửa đối tượng nghiên cứu (49%), thời gian SDKS từ 1-3 ngày chiếm 42,6% nơi mua thuốc chủ yếu của người dân là quầy thuốc tư (46,2%) và trạm y tế (47,6%) Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dân sử dụng thuốc KS không hợp lý còn rất cao và cũng nói lên được kiến thức về KS của người dân nơi đây còn nhiều hạn chế [13]

Năm 2013, nghiên cứu về thực trạng SDKS của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thị Quỳnh Trang cho thấy

tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức về sử dụng thuốc KS an toàn, hợp lý còn khá hạn chế (58,6%) và biết tác hại khi sử dụng thuốc không hợp lý chỉ chiếm 21,4% SDKS chiếm chủ yếu là các bệnh liên quan đến đường hô hấp (91,1%) và chỉ có 20,9% bà mẹ SDKS cho trẻ theo đơn của bác sỹ: 13,3% tuân thủ đúng theo đơn, trong đó lý do SDKS không theo đơn của bác sỹ là do bệnh nhẹ chiếm chủ yếu (84%), 75% ngừng dùng thuốc sau 2- 3 ngày bệnh thuyên giảm [24]

Trong kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ 2013-2020, Bộ Y tế đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh”, tài

Trang 21

liệu này cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản, cập nhật đồng thời phù hợp với thực tế của Việt Nam về việc sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn để ứng dụng trong công tác phòng bệnh, khám, chữa bệnh, bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần hạn chế tình trạng kháng kháng sinh đang có nguy

cơ gia tăng hiện nay [6]

1.3 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn

1.3.1 Tình hình kháng kháng sinh trên thế giới

KKS là tình trạng các vi sinh vật như vi khuẩn, virus, nấm và kí sinh trùng thay đổi cách thức hoạt động, làm cho các thuốc trị bệnh do chúng gây ra trở nên

vô hiệu [26] Vi khuẩn kháng cự với mọi loại kháng sinh đang xuất hiện và lan rộng trên toàn cầu, đe dọa khả năng điều trị các bệnh truyền nhiễm phổ biến, dẫn đến kéo dài bệnh tật, khuyết tật, và tử vong Nếu không có thuốc KS hiệu quả để phòng ngừa và điều trị các bệnh nhiễm trùng, thủ thuật y khoa như ghép tạng, hóa trị liệu ung thư, bệnh tiểu đường và phẫu thuật lớn trở nên rủi ro rất cao Sự kháng thuốc làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe với thời gian lưu trú dài hơn trong các bệnh viện và chăm sóc đặc biệt hơn yêu cầu Đứng trước dự báo tương lai phải đối mặt với khả năng không có thuốc để điều trị hiệu quả bệnh nhiễm trùng, từ năm 2011, WHO đã kêu gọi các quốc gia khẩn cấp có kế hoạch để đối phó tình trạng kháng thuốc Tháng 5-2015, WHO đã thông qua Kế hoạch hành động toàn cầu về chống kháng thuốc Mục tiêu đầu tiên của Kế hoạch hành động

là “nâng cao nhận thức và hiểu biết về kháng thuốc thông qua truyền thông, giáo dục và đào tạo hiệu quả” Để đạt được mục tiêu này, WHO công bố chiến dịch với khẩu hiệu “KS: Sử dụng có trách nhiệm” trong Tuần lễ thế giới nâng cao nhận thức về KS nhằm thức tỉnh cộng đồng về vấn đề vi sinh vật kháng thuốc đang đe dọa toàn cầu

Mới đây các nhà khoa học Mỹ cho biết một trường hợp đầu tiên tại nước

này mắc phải siêu vi khuẩn có thể khiến mọi loại thuốc KS mất tác dụng

Trang 22

Theo Washington Post, một loại E.coli có khả năng kháng loại KS colistin, được tìm thấy trong nước tiểu của một phụ nữ 49 tuổi, bang Pennsylvania Colistin là

loại KS gần như mạnh nhất, thường được các bác sĩ sử dụng trong trường hợp các loại KS khác thất bại [36]

Hình 1.1 Loại siêu vi khuẩn mới có khả năng chống lại loại thuốc KS

mạnh nhất [36]

Sự phát triển của kháng thuốc (AMR) là một hiện tượng tự nhiên Tuy nhiên, những hành động của con người gia tăng sự xuất hiện và lan tỏa của AMR Sử dụng không phù hợp thuốc KS đã dẫn đến sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh, dẫn đến khoảng 700.000 người chết mỗi năm Đến năm

2050, nếu xu hướng hiện nay tiếp tục, con số này dự kiến sẽ tăng lên đến 10 triệu Việc giảm hiệu quả của thuốc KS sẽ dẫn đến tình trạng kháng thuốc và tạo thành một mối đe dọa nguy hiểm đến sức khỏe con người [40]

Một báo cáo mới về tình hình kháng của Streptococus pneumonia từ Ấn

Độ cho biết các chủng kháng thuốc của Streptococus pneumonia kháng Penicillin đã được biết đến trên toàn thế giới và đến nay nó đã kháng với nhiều loại thuốc: kháng với cotrimoxazole và tetracyclin là 24% tiếp theo là kháng với erythromycin và ciprofloxacin là 14% [34]

Trang 23

Vi khuẩn lao kháng thuốc đang nhanh chóng nổi lên trên toàn thế giới

WHO báo cáo sự gia tăng đáng báo động không chỉ của bệnh Lao đa kháng thuốc mà còn siêu kháng thuốc của bệnh Lao trên toàn cầu Hiện đã có khoảng

0,5 triệu trường hợp lao siêu kháng thuốc Tỷ lệ tử vong trong trường hợp lao đa kháng thuốc cao (50 -60%) và thường gắn liền với một khoảng ngắn của bệnh (4 -16 tuần) Một trong số các yếu tố đã được xác định cho sự phát triển của các

trường hợp đa kháng thuốc là sử dụng thuốc chống Lao phổ biến và rộng rãi mà

không cần đơn thuốc của bác sĩ Vì vậy sự hiểu biết tốt hơn về tỷ lệ kháng thuốc

chống bệnh Lao là một trong những yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát bệnh Lao trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển [41]

Việc tỷ lệ KKS ngày càng gia tăng đã giới hạn các lựa chọn trong điều trị các bệnh nhiễm trùng và các bệnh truyền nhiễm, và làm tăng kinh phí của các quốc gia nhằm tăng lợi ích xã hội từ phòng bệnh Chính vì vậy KS cần được quản lý nghiêm ngặt Hiệu quả của một loại thuốc kháng khuẩn mang lại lợi ích chung toàn cầu Nghiên cứu cho rằng cần sử dụng nhiều hơn nguồn kinh tế như là một sự đầu tư cho việc đề ra các chính sách để quản lý tình hình KKS, trong đó bao gồm cả sự hiểu biết về các hành vi sức khỏe chính gây ra KKS và bổ sung thêm các phương pháp khác để tìm ra sự tiến hóa đa dạng của KKS trên thế giới [32]

Sử dụng thuốc kháng sinh của người dân còn chưa hợp lý, tự ý mua và

sử dụng thuốc không theo đơn của bác sỹ Tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh không theo đơn dao động từ 48% ở Saudi Arabia đến 78% tại Yemen, Uzbekistan Những nguyên nhân phổ biến nhất mà sử dụng kháng sinh không theo đơn là bệnh ho (40%), và cúm (34%), 49% số người được hỏi ngưng thuốc kháng sinh khi họ cảm thấy tốt hơn [27] và các loại kháng sinh được tự

sử dụng thường xuyên nhất là amoxicillin (18,3%), cefuroxime (7,9%), ciprofloxacin (2,3%) [26]

Trang 24

1.3.2 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam

Tại Việt Nam, phần lớn kháng sinh được bán mà không có đơn 88% (thành thị) và 91% (nông thôn) Mua kháng sinh để điều trị ho 31,6% (thành thị) và sốt 21,7% (nông thôn) Ba loại kháng sinh được bán nhiều nhất là

ampicilin/amoxicillin (29,1%), cephalexin (12,2%) và azythromycin (7,3%)

và thời gian sử dụng thuốc kháng sinh từ 1-3 ngày chiếm 42,6% nơi mua thuốc chủ yếu của người dân là quầy thuốc tư (46,2%) và trạm y tế (47,6%) [13] Đây cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng kháng thuốc kháng sinh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng, gia tăng chi phí, thời gian điều trị, là mối đe dọa nghiêm trọng và là thách thức cho điều trị trong tương lai

Tình trạng KKS ở Việt Nam đang ở mức báo động, xuất hiện nhiều loại

siêu vi khuẩn kháng tất cả loại thuốc, phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram

âm đường ruột

Tại sự kiện công bố báo cáo Thực trạng KS thế giới 2015 diễn ra ở Hà Nội chiều 29/10, Nguyễn Vũ Trung, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cảnh báo về tình trạng KKS của Việt Nam đang ở mức báo động

Số lượng vi khuẩn kháng thuốc, mức độ kháng ngày càng gia tăng Tỷ lệ kháng với KS carbapenem, nhóm KS mạnh nhất hiện nay lên đến 50%, đặc

biệt là các vi khuẩn gram âm Bà Đỗ Thúy Nga, đại diện đơn vị nghiên cứu lâm sàng Oxrford Mỹ cũng thông báo tỷ lệ vi khuẩn E.coli kháng với KS carbapenem cao nhất tại Ấn Độ 11%, Việt Nam đứng thứ hai với 9%, sau đó

đến Bulgaria trong số 26 nước báo cáo Tỷ lệ khuẩn kháng với KS

cephalosporin thế hệ ba lên đến hơn 60% [49]

Tại Việt Nam, một nghiên cứu ở TP Hồ Chí Minh cho thấy trong 10

năm, tỉ lệ các chủng Pneumococcus kháng penicilin phân lập từ máu và dịch

não tủy tăng từ 8% (1993 – 1995) lên 56% (giai đoạn 1999 – 2002) Năm 2000 –

Trang 25

2001, Việt Nam có tỉ lệ kháng penicilin (71,40%) cao nhất trong 11 nước khu vực Châu Á [18], [22] Trong khoảng năm 2000 – 2002, tỷ lệ Haemophillus influenzae kháng ampicilin đã được ghi nhận là khoảng 57% [37]

Một nghiên cứu khác của Trần Quốc Kham (2003) về tình hình kháng lại

KS của một số loại vi khuẩn thường gặp tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình

cho thấy: 78,4% vi khuẩn S pneumonia đã kháng với co – trimoxazol và 36% kháng với gentamycin Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy thực tế các vi

khuẩn thường gặp đã kháng với KS rất mạnh [15]

Theo chương trình nghiên cứu quốc gia về KKS (ANSORP), Việt Nam

có mức độ kháng cao với penicillin (71,4%) và erythromycin (92,1%) [39]

Hơn nữa, 75% phế cầu khuẩn kháng với ít nhất 3 loại KS trở lên Tỉ lệ kháng

của Shigella với thuốc KS cao cũng được ghi nhận, cụ thể là: sulfamethoxazole (81%), tetracycline (74%), ampicillin (53%), ciprofloxacin (10%), và ceftriaxone (5%) [44] Một nghiên cứu khác tại khu vực phía Nam Việt Nam (2006-2008) chỉ ra rằng 15,3% vi khuẩn kháng ceftriaxone [47] Ở Việt Nam, tỉ lệ các chủng Salmonella typhi đã KKS vẫn chiếm tỉ lệ tương đối cao với khoảng 50% năm 2004 Mức độ kháng axit nalidixic tăng rõ rệt trong

trimethoprim-vòng 12 năm, từ 4% lên 97% năm 2005 [42]

Kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt vì việc sử dụng chúng không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng Với những nước đang phát triển như Việt Nam, đây là một nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỷ lệ mắc bệnh và

tỷ lệ tử vong Sự lan tràn các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh là vấn đề cấp bách nhất hiện nay Sự xuất hiện các chủng vi khuẩn kháng ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và sức khỏe người bệnh Việc hạn chế sự phát sinh của vi khuẩn kháng kháng sinh là nhiệm vụ không chỉ của ngành Y tế mà của cả cộng đồng nhằm bảo vệ nhóm thuốc này

Trang 26

1.4 Một số nghiên cứu về kiến thức và hành vi sử dụng kháng sinh của người dân

1.4.1 Trên thế giới

Một nghiên cứu của Awad AI và Aboud EA về kiến thức, thực hành SDKS của người dân tại Kuwait năm 2015 cho thấy: 72,8% số người được hỏi đã được kê KS trong vòng 12 tháng trước thời gian nghiên cứu, và 36% trong số họ đã không hoàn thành quá trình điều trị Hơn một phần tư (27,5%)

là tự SDKS để điều trị chủ yếu là lạnh thông thường, đau họng và ho Gần 47% người tham gia còn thiếu kiến thức về SDKS hợp lý, an toàn và khả năng kháng thuốc KS [26]

Năm 2007, nghiên cứu của Cliodna A M McNulty và cộng sự về kiến thức SDKS đã đưa ra con số 97% người dân cho rằng không nên sử dụng KS khi không cần thiết Tuy nhiên 38% số người được hỏi nghĩ rằng KS để điều trị ho và cảm lạnh, 54% nghĩ rằng thuốc KS có thể tiêu diệt được virus và 43% người tham gia không biết đến KS có thể tiêu diệt được các vi khuẩn thường sống trên da và ở đường ruột [29]

Năm 2014, một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về việc SDKS trong 3 nước châu Á cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc KS không có đơn dao động từ 48% ở Saudi Arabia đến 78% tại Yemen, Uzbekistan Những lý do phổ biến nhất mà SDKS không theo đơn

là ho (40%), cúm (34%) và 49% số người được hỏi ngưng thuốc KS khi

họ cảm thấy tốt hơn Sự hiểu biết về việc SDKS thích hợp của người dân còn nhiều hạn chế [27]

Nghiên cứu của Chan (2006), về kiến thức, thái độ, thực hành SDKS của các bà mẹ cho trẻ khi mắc nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính ở trẻ em tại Malaysia cho thấy trong số các bà mẹ có gần 68% họ tin rằng KS là hữu ích

Trang 27

cho điều trị cảm lạnh thông thường, ho (chiếm 69%) và sốt (chiếm 76%) Trong đó 29% các bậc cha mẹ cho rằng dùng KS là cần thiết, 17% cho rằng

KS không cần kê đơn, 28% cha mẹ yêu cầu bác sĩ cho thuốc KS và 93% nhận được những gì họ yêu cầu cho con của họ khi bị nhiễm trùng đường

hô hấp cấp Khi SDKS thì 85% dừng lại khi triệu chứng giảm, 15% cho trẻ dùng KS còn sót lại của lần điều trị trước, 24% đã chia sẻ thuốc KS và 5,5% đã mua thuốc KS cho con của họ mà không cần tham khảo ý kiến của bác sỹ Nghiên cứu đã cho thấy kiến thức và thực hành của các bà mẹ còn rất hạn chế khi SDKS cho trẻ [28]

Nghiên cứu của Yousef và cộng sự (2008) tại Jordan cũng cho thấy việc SDKS không an toàn, hợp lý còn phổ biến (42,5%) Lý do phổ biến nhất cho việc tự sử dụng thuốc là bệnh nhẹ (46,4%), thời gian chờ đợi bác sỹ dài (37,7%) và tránh chi phí cho khám bác sỹ là 31,4% Người dân có xu hướng lựa chọn thuốc dựa vào lời khuyên của nhân viên bán thuốc 14,2%, bạn bè/hàng xóm 17,6%, lời khuyên từ bác sỹ 21,9% Ngoài ra người dân lựa chọn thuốc theo kinh nghiệm trước với bệnh và những triệu chứng tương tự 27% - 33,5% [48]

Năm 2006 một cuộc khảo sát bằng điện thoại sử dụng nghiên cứu cắt ngang về việc sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên (URTIs) được tiến hành trên 1002 dân từ 18 tuổi trở lên ở ở Hồng Kông Kết quả cho thấy trong số những người được hỏi thì có 77% có đầy đủ kiến thức

về SDKS; 72% có ý thức và 85% SDKS đúng Có 26% số người được hỏi cho rằng KS cần thiết cho triệu chứng của URTIs, chỉ 8-9% người được hỏi mua thuốc kháng sinh mà không cần kê đơn của bác sỹ [46]

Cũng với phương pháp điều tra cắt ngang đã nghiên cứu năm 2015 về

Trang 28

kiến thức, niềm tin và hành vi liên quan đến SDKS và việc tự điều trị ở Lithuania Kết quả cho thấy trong số 1005 khảo sát thì có đến 61,1% có kiến thức kém về thuốc KS; gần một nửa người được hỏi xác định sai tác dụng của thuốc KS như là chống virus (26%), nhiễm trùng hỗn hợp (vi khuẩn và virus) là 21,7% [43]

1.4.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu của Phạm Đình Luyến và Nguyễn Ngọc Tất về “Khảo sát sự lựa chọn dịch vụ y tế và thói quen sử dụng KS của các hộ gia đình thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh” (năm 2010) cho thấy gần 40% người dân tự mua thuốc điều trị khi có bất kỳ triệu chứng bệnh nào không thông qua thăm khám bởi bác sỹ, gần 15% người dân không biết gì về KS và 2/3 người dân được hỏi không biết SDKS đúng cách [18]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1338 bệnh nhi từ 2 tháng đến 5 tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của Hoàng Thị Huế và cộng sự khảo sát tình hình SDKS trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên năm 2012 cho kết quả: 71,0% bệnh nhân đã sử dụng

KS trước khi đến viện, trong đó 28,0% gia đình tự mua KS [12]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường “Đánh giá hiệu quả can thiệp đến kiến thức sử dụng kháng sinh của người dân trong điều trị tại Hải Dương” được thực hiện từ năm 2017 đến năm 2018 trên 1.500 người dân tại xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang, phường Phạm Ngũ Lão, thành phố Hải Dương và phường Thái Học, thành phố Chí Linh cho kết quả, kháng sinh dùng khi bị sốt chiếm gần 74,9%, dùng để chữa cảm cúm chiếm 75,0%, ngừng sử dụng kháng sinh khi thấy đỡ bệnh chiếm 78,8%, tự sử dụng kháng sinh khi bị đau họng và ho chiếm 84,2%, mua theo tư vấn của nhà thuốc chiếm 89,5% [14]

1.5 Một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh

Trang 29

Có bốn nhóm yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành SDKS của người dân Do các yếu tố này khác nhau đối với từng cộng đồng, sức khỏe của các cá nhân trong cộng đồng đó cũng khác nhau, nên các các yếu tố này được xếp thành từng nhóm

Nhóm 1: Các yếu tố vật lý, địa lý, môi trường (ô nhiễm, dịch bệnh), quy

mô dân cư (đông đúc), và sự phát triển công nghiệp…

Nhóm 2: Các yếu tố điều kiện kinh tế, trình độ học vấn, văn hóa xã hội, nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính, niềm tin, truyền thống, điều kiện kinh

tế, tín ngưỡng (niềm tin vào vào điều trị y tế), chuẩn mực xã hội và tình trạng kinh tế xã hội…

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hà và cộng sự nghiên cứu mô

tả cắt ngang với 267 hộ gia đình tại địa bàn phường Phú Diễn, Bắc Từ Liêm,

Hà Nội, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2018 cho thấy 67,8% người dân có kiến thức tốt và 42,6% người dân có thực hành tốt về sử dụng thuốc kháng sinh Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh: Giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hộ gia đình có con nhỏ [11]

Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành SDKS của các hộ gia đình tại xã Việt Đoàn - Tiên Du - Bắc Ninh của Trịnh Ngọc Quang (2006) cho thấy có mối liên quan giữa kiến thức SDKS với trình độ học vấn, kinh tế, nghề nghiệp và nhóm tuổi [21]

Theo Cao Thị Mai Phương khi nghiên cứu thực trạng SDKS cho bệnh nhi trước khi điều trị tại khoa Nhi của Trung tâm y tế huyện Gia Lâm – Hà Nội trên 356 bà mẹ và người chăm sóc của trẻ đã chỉ ra rằng trình độ học vấn

có liên quan đến kiến thức và thực hành SDKS của các bà mẹ, nghề nghiệp có liên quan đến kiến thức SDKS (p < 0,05) [20]

Nhóm 3: Các tổ chức trong cộng đồng như các cơ sở y tế sẵn có, đội ngũ cán bộ y tế (y tế tư nhân, y tế công)…

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Văn Tiến thực hiện trên

Trang 30

392 đối tượng nhằm mô tả kiến thức, thực hành và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng thuốc kháng sinh tại một số xã, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2017 Kết quả cho thấy có

3 yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng kháng sinh: nghề nghiệp, nguồn thông tin được tiếp cận từ cán bộ y tế và kiến thức sử dụng kháng sinh [23] Nhóm 4: Hành vi cá nhân (các hành vi tăng cường sức khỏe như tập thể dục, tiêm chủng, tái chế rác thải, …)…

Nghiên cứu Thực trạng và các yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh không kê đơn của người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm

2018 của Vũ Hồng Nhung và cộng sự, nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 410 người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện và bộ công cụ cấu trúc được xây dựng dựa trên các nghiên cứu cùng chủ đề để phỏng vấn Kết quả phân tích mô hình đa biến logistics cho thấy mối liên quan giữa thực hành và các yếu tố trình độ học vấn, số lượng con, bảo hiểm y tế, việc dễ dàng tiếp cận thuốc kháng sinh

và nguồn thông tin từ cán bộ Y tế [19]

1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Xã Quang Lãng là xã nông thôn mới nằm ở phía Đông Nam huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, là xã cuối cùng của huyện Phú Xuyên Phía Đông giáp với tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp xã Tri Thủy, phía Nam giáp với xã Minh Tân, phía Bắc giáp đê sông Hồng và tỉnh Hưng Yên có kè Quang Lãng là kè trọng điểm quốc gia Diện tích đất tự nhiên là 607,95 ha Xã có 8 Thôn với dân số là 6422 người và 1574 hộ

Trang 31

Hình 1.2 Bản đồ hành chính xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Về cơ cấu kinh tế: sản xuất nông nghiệp chiếm 37,5%, thương mại dịch vụ: 42%, công nghiệp - thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 20,5%, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 41 triệu đồng/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 21,36% Xã có nhiều trang trại chăn nuôi bò sữa, bò thịt

và gia súc, gia cầm, và làng nghề truyền thống như nghề mộc, nề, cơ khí - dịch vụ, giết mổ gia súc

Năm 2018, trạm y tế xã Quang Lãng đã khám và điều trị ngoại trú 3.528 lượt người Cơ cấu nhóm bệnh không lây nhiễm có xu hướng gia tăng (tăng huyết áp, đái tháo đường, gout, suy tim, tai biến mạch máu não, thiếu máu cơ tim…) chiếm 32%, nhóm bệnh về hô hấp (viêm họng amidan, viêm phổi, viêm phế quản…) chiếm 29%, nhóm bệnh về đường tiêu hóa (viêm loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng, xuất huyết tiêu hóa…) chiếm 22%, nhóm bệnh

về cơ xương khớp (viêm đau khớp dạng thấp, thoái hóa khớp…) chiếm 6%, bệnh sốt virus chiếm 4,7%, nhóm các bệnh lý khác (như viêm xoang, viêm

Trang 32

kết mạc mắt viêm da, các bệnh lý về răng miệng, bệnh zona thần kinh, viêm đường tiết niệu, sỏi tiết niệu…) chiếm khoảng 6,3%

TĐHV, điều kiện kinh tế

Kiến thức của người dân về

- Gia đình, bạn bè, hàng xóm

- Kinh nghiệm bản thân

- Tiếp cận thông tin

- Tính sẵn có: hiệu thuốc nhiều, dễ mua

Sử dụng thuốc KS chưa

an toàn, hợp lý

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Người dân từ 18 – 75 tuổi là đại diện gia đình đang sinh sống trên địa bàn được lựa chọn vào nghiên cứu, không phân biệt giới, nghề nghiệp, tôn giáo

* Tiêu chuẩn chọn mẫu:

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Đưa vào nghiên cứu các trường hợp sau:

▪ Tại mỗi hộ gia đình chọn một người là đại diện gia đình có vai trò nắm được thông tin sử dụng thuốc KS chữa bệnh cho bản thân, những người trong gia đình

▪ ĐTNC tự nguyện và hợp tác tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ:

▪ Những đối tượng có rối loạn về tâm thần, không có khả năng trả lời

▪ Những đối tượng từ chối phỏng vấn

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Tổng thời gian nghiên cứu: 6/2019 – 11/2019

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích, phỏng vấn trực tiếp nhằm tìm hiểu kiến thức, thực hành

và phân tích một số yếu tố liên quan về sử dụng thuốc KS của người dân theo

bộ câu hỏi

Trang 34

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

❖ Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính toán dựa vào công thức ước tính cho tỷ lệ:

2 2

) 2

α

p) (1 p Z

• Z(1-α/2): hệ số tin cậy thu được ứng với giá trị α = 0,05 là 1,96

• d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ p thu được từ mẫu và tỷ lệ thực từ quần thể (chọn d = 0,05)

• p: là tỷ lệ ước tính người dân có kiến thức đúng về SDKS (chọn p = 0,656 theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiến (2017) [23])

Thay vào công thức trên: n = 347 Số mẫu thực tế nghiên cứu chúng tôi lấy tròn n = 400

Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn

❖ Các bước tiến hành chọn mẫu cụ thể như sau:

- Bước 1: Chọn có chủ đích xã Quang Lãng→ Điều tra 400 đối tượng là

400 hộ gia đình

- Bước 2: Lập danh sách 8 thôn của xã, do 8 thôn có số hộ gia đình

tương đương nhau nên chọn → Mỗi thôn điều tra 50 đối tượng

- Bước 3: Với mỗi thôn điều tra, tiến hành chọn ngẫu nhiên đối tượng

đầu tiên, các đối tượng tiếp theo được chọn theo phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ số lượng mẫu nghiên cứu thì dừng lại

❖ Phương pháp thu thập thông tin:

- Công cụ thu thập thông tin: Đây là một bộ câu hỏi phỏng vấn được

thiết kế trên phần mềm SPSS 20.0 để thu thập thông tin bao gồm 2 phần:

Trang 35

+ Phần I: Thông tin chung của đối tượng: 7 câu hỏi về tên, địa chỉ,

tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế

+ Phần II: Thông tin về kiến thức, thực hành sử dụng thuốc KS:

• Phần A: Kiến thức về sử dụng thuốc KS: gồm 12 câu hỏi về kiến

thức sử dụng thuốc KS

• Phần B: Thực hành về sử dụng KS: gồm 12 câu hỏi về thực hành

sử dụng thuốc KS

- Thử nghiệm phiếu điều tra: Phiếu điều tra sau khi được thiết kế được

tiến hành thử nghiệm trong 2 ngày với 20 người dân tại thành phố Hà Nội

2.2.3 Kỹ thuật thu thập thông tin

Điều tra viên là cán bộ Trạm y tế xã Quang Lãng, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội Nhóm điều tra viên sẽ được tập huấn về công cụ thu thập thông tin cho các điều tra viên với các nội dung sau:

- Làm quen với các câu hỏi trên phần mềm SPSS 20.0

- Phương pháp điều tra và cách thu thập thông tin cho từng câu hỏi

- Phương pháp chọn mẫu, chọn đối tượng vào nghiên cứu

- Ghi lại các câu trả lời và phản hồi của đối tượng nghiên cứu

Trang 36

2.2.4 Sơ đồ nghiên cứu

Chọn có chủ đích

chủ đích

Trang 37

2.3 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu và cách đánh giá

2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Gồm có các nhóm biến số và chỉ số được trình bày ở Bảng sau:

Giải thích

Loại

Công cụ thu thập thông tin Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi Năm sinh tính theo

Phiếu phỏng vấn

Giới ĐTNC là nam giới

hay nữ giới

Nhị phân

Tỷ lệ % người dân:

+ Nam + Nữ

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % người dân làm nghề:

+ Nông dân + Công chức/viên chức + Công nhân

+ Buôn bán + Cán bộ hưu trí + Nghề khác

Phiếu phỏng vấn

Điều kiện

kinh tế Thu nhập trung bình của hộ gia

đình theo năm

Định lượng Tỷ lệ % điều kiện kinh tế của người dân:

+ Nghèo + Trung bình + Khá trở lên

Phiếu phỏng vấn

Trang 38

Tên biến Định nghĩa/

Giải thích

Loại

Công cụ thu thập thông tin Kiến thức sử dụng KS của người dân

Tỷ lệ % người dân nghe về thuốc KS:

+ Có + Không

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % những nguồn thông tin về cho người dân Phiếu

Tỷ lệ % người dân có kiến thức đúng về tên một số thuốc KS

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % những bệnh/triệu chứng người dân cần SDKS để điều trị

Phiếu phỏng vấn Căn cứ

Tỷ lệ % đối tượng được người dân tin tưởng và ảnh hưởng đến quyết định SDKS

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % người dân có kiến thức đúng/sai về SDKS đúng cách (mua và sử dụng theo đúng đơn, đúng liều, đúng thời gian)

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % người dân có kiến thức đúng/sai về địa điểm mua thuốc

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % người dân biết những vấn đề cần quan tâm khi mua thuốc KS Phiếu

phỏng vấn

Trang 39

Tên biến Định nghĩa/

Giải thích

Loại

Công cụ thu thập thông tin

khuẩn thông thường

của người dân

Định lượng Tỷ lệ % người dân có kiến thức đúng/sai về thời gian

Tỷ lệ % người dân có kiến thức đầy đủ về những tác dụng không mong muốn gây ra bởi việc SDKS

Phiếu phỏng vấn

em, người già, phụ

nữa có thai và cho

con bú, người có

bệnh về gan thận

Định danh

Tỷ lệ % người dân có kiến thức đúng/sai về những đối tượng cần lưu ý khi SDKS Phiếu

Tỷ lệ % người dân phải sử dụng KS trong 3 tháng gần đây

Phiếu phỏng vấn Địa điểm

mua KS

Nơi mà người dân

tin tưởng mua

thuốc KS và lý do

chọn địa điểm đó

Định danh

Tỷ lệ % người dân có thực hành đúng/sai về việc mua

KS ở đâu

Phiếu phỏng vấn

Việc yêu cầu

được cán bộ

dược hướng

dẫn sử dụng

thuốc

Là việc người dân

có yêu cầu được

cán bộ dược hướng

dẫn sử dụng thuốc

hay không

Nhị phân

Tỷ lệ % người dân được cán bộ dược hướng dẫn sử dụng thuốc Phiếu

Tỷ lệ % các nguyên nhân khiến người dân đã phải sử dụng KS

Phiếu phỏng vấn

Trang 40

Tên biến Định nghĩa/

Giải thích

Loại

Công cụ thu thập thông tin

Tỷ lệ % người dân SDKS theo đơn Phiếu

phỏng vấn Thời điểm

uống thuốc

KS

Là khoảng thời

gian trong ngày

người dân uống

thuốc KS

Định danh

Tỷ lệ % người dân có thực hành đúng/sai về thời điểm uống KS

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % người dân có thực hành đúng/sai về loại nước được sử dụng khi uống KS

Phiếu phỏng vấn Thời điểm

Tỷ lệ % người dân có thực hành đúng/sai về thời điểm ngừng thuốc KS

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % người dân có thực hành đúng/sai về cách xử trí sau 2 – 3 ngày sử dụng thuốc KS không theo đơn

Phiếu phỏng vấn

Tỷ lệ % các cách người dân xử trí khi gặp tác dụng phụ

Phiếu phỏng vấn

Một số yếu tố liên quan đến Kiến thức, thực hành SDKS của người dân

nghề nghiệp với kiến thức

về SDKS của người dân Phiếu

phỏng vấn

Ngày đăng: 25/04/2021, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Lan Anh, Tạ Thu Lan (2009), "Phân tích chi phí sử dụng thuốc KS bảo hiểm y tế tại Bệnh viện E năm 2009", Tạp chí nghiên cứu dược và thông tin thuốc, tập 2 (số 1/2011), tr. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chi phí sử dụng thuốc KS bảo hiểm y tế tại Bệnh viện E năm 2009
Tác giả: Trần Thị Lan Anh, Tạ Thu Lan
Năm: 2009
3. Bộ môn Dược lực – Trường đại học Dược Hà Nội (2004), Dược lý, NXB Y học, tập 2, tr. 111-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý, NXB Y học
Tác giả: Bộ môn Dược lực – Trường đại học Dược Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học"
Năm: 2004
4. Bộ môn Dược lực – Trường đại học Dược Hà Nội (2007), Dược lý, NXB Y học, tập 2, tr. 130 – 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý, NXB Y học
Tác giả: Bộ môn Dược lực – Trường đại học Dược Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học"
Năm: 2007
5. Bộ môn Dược lực – Trường đại học Dược Hà Nội (2011), Dược lâm sàng đại cương, NXB Y học, 174-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lâm sàng đại cương, NXB Y học
Tác giả: Bộ môn Dược lực – Trường đại học Dược Hà Nội
Nhà XB: NXB Y học"
Năm: 2011
6. Bộ Y Tế. (2013). Quyết định Số: 2174/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y Tế “Phê duyệt kế hoạch hành động Quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ 2013 đến 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt kế hoạch hành động Quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ 2013 đến 2020
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2013
9. Bộ Y tế và Ban tư vấn sử dụng kháng sinh (1999), Hướng dẫn thực hành sử dụng thuốc KS một số bệnh thường gặp, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành sử dụng thuốc KS một số bệnh thường gặp, NXB Y học
Tác giả: Bộ Y tế và Ban tư vấn sử dụng kháng sinh
Nhà XB: NXB Y học"
Năm: 1999
10. Đào Văn Chính và Phan Bá Hùng (1997), "Sử dụng an toàn và hợp lý thuốc KS", Tạp chí Dược học, 7(155), tr. 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng an toàn và hợp lý thuốc KS
Tác giả: Đào Văn Chính và Phan Bá Hùng
Năm: 1997
11. Nguyễn Thị Hải Hà và cộng sự (2019), "Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân phường phú diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội", Tạp chí khoa học công nghệ, T.194, S. 01 (2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân phường phú diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Hà và cộng sự
Năm: 2019
12. Hoàng Thị Huế và cộng sự (2013), “Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em tại bệnh viên đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2012”, Tạp chí Y học Thực hành, số 876- 2013, tr. 154- 156. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em tại bệnh viên đa khoa Trung ương Thái Nguyên năm 2012
Tác giả: Hoàng Thị Huế và cộng sự
Năm: 2013
13. Đặng Thị Hường và Trịnh Hữu Vách (2005), "Nghiên cứu kiến thức, thực hành sử dụng KS của người dân 2 xã tỉnh Thái Bình", Tạp chí y học Việt Nam, 307(2), tr. 60-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, thực hành sử dụng KS của người dân 2 xã tỉnh Thái Bình
Tác giả: Đặng Thị Hường và Trịnh Hữu Vách
Năm: 2005
14. Nguyễn Thị Hường (2018), “Đánh giá hiệu quả can thiệp đến kiến thức sử dụng kháng sinh của người dân trong điều trị tại Hải Dương”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả can thiệp đến kiến thức sử dụng kháng sinh của người dân trong điều trị tại Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2018
15. Trần Quốc Kham, Phạm Thị Hồng (2003), "Tình hình kháng thuốc của các chủng vi khuẩn thường gặp gây viêm đường hô háp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình", Tạp chí Y-Dược học quân sự, 28(5), tr. 61-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kháng thuốc của các chủng vi khuẩn thường gặp gây viêm đường hô háp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình
Tác giả: Trần Quốc Kham, Phạm Thị Hồng
Năm: 2003
18. Phạm Đình Luyến và Nguyễn Ngọc Tất (2010), "Khảo sát sự lựa chọn dịch vụ y tế và thói quen sử dụng KS của các hộ gia đình thị xã Tây Ninh tỉnh Tây Ninh", Tạp chí y học Thành phố Hồ chí Minh, tập 14(số 2), tr. 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sự lựa chọn dịch vụ y tế và thói quen sử dụng KS của các hộ gia đình thị xã Tây Ninh tỉnh Tây Ninh
Tác giả: Phạm Đình Luyến và Nguyễn Ngọc Tất
Năm: 2010
19. Vũ Hồng Nhung và cộng sự (2018), "Thực trạng và và các yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh không kê đơn của người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2018", Đại học Y tế công cộng, Tập 03, số 01-2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và và các yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc kháng sinh không kê đơn của người chăm sóc tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2018
Tác giả: Vũ Hồng Nhung và cộng sự
Năm: 2018
20. Cao Thị Mai Phương (2003), Thực trạng sử dụng thuốc KS cho bệnh Nhi trước khi điều trị tại khoa Nhi Trung tâm y tế huyện Gia Lâm-Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng thuốc KS cho bệnh Nhi trước khi điều trị tại khoa Nhi Trung tâm y tế huyện Gia Lâm-Hà Nội
Tác giả: Cao Thị Mai Phương
Năm: 2003
21. Trịnh Ngọc Quang (2006), Kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng thuốc KS tại các hộ gia đình xã Việt Đoàn - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng thuốc KS tại các hộ gia đình xã Việt Đoàn - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Trịnh Ngọc Quang
Năm: 2006
22. Nguyễn Văn Sinh (2005), "Tình hình sử dụng thuốc KS - vai trò người bán thuốc", Tạp chí thông tin y dược, 11, tr. 8 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng thuốc KS - vai trò người bán thuốc
Tác giả: Nguyễn Văn Sinh
Năm: 2005
23. Nguyễn Văn Tiến (2017), “Kiến thức, thực hành và yếu tố liên quan về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại một số xã, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2017”, Tạp chí Y học dự phòng, Tập 27, Số 13- 2017, tr. 60 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành và yếu tố liên quan về sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại một số xã, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình năm 2017
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Năm: 2017
24. Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2013), "Thực trạng sử dụng thuốc KS của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã Đông Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2013", tr. 59 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng thuốc KS của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã Đông Kết, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên năm 2013
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Năm: 2013
25. Nguyễn Quang Trung, cùng đồng sự (2006), "Tình hình sử dụng thuốc KS cho bệnh viêm đường hô hấp cấp ở các nhà thuốc tây Quận 6, 8 TPHCM", Tạp chí y học thực hành, 549(7), tr. 58 -60.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng thuốc KS cho bệnh viêm đường hô hấp cấp ở các nhà thuốc tây Quận 6, 8 TPHCM
Tác giả: Nguyễn Quang Trung, cùng đồng sự
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w