Đáp án bài dự thi công đoàn việt nam
Trang 1BÀI DỰ THI
“ TÌM HIỂU CƠNG ĐỒN VIỆT NAM
80 NĂM, MỘT CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ ”
I Tổng liên đồn lao động Việt Nam
Câu 1: Đồng chí hãy cho biết, tổ chức Cơng đồn Việt Nam được thành lập vào ngày, tháng, năm nào ? Do ai sáng lập ?
Trả lời:
Ngày 28/07/1929, Ban Chấp hành TW lâm thời Đơng Dương cộng sản
Đảng đã quyết định triệu tập Đại hội thành lập Tổng Cơng hội đỏ Bắc Kì tại số nhà 15,
phố Hàng Nĩn, Hà Nội.Tham dự Đại hội cĩ Đại biểu các Tổng cơng hội đỏ Hà Nội, Hải Phịng, Nam Định, Đơng Triều, Mạo Khê Đại hội đã bầu BCH TW lâm thời gồm
07 đồng chí do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên BCH TW lâm thời Đơng Dương cộng sản Đảng đứng đầu Đại hội thơng qua chương trình, điều lệ Tổng Cơng hội đỏ Bắc kì đồng thời quyết định ra Báo lao động và tạp chí Cơng hội đỏ là cơ quan tuyên truyền và nghiên cứu lí luận của tổ chức Cơng đồn Việt Nam
Đại hội Cơng đồn Việt Nam lần thứ V nhất trí lấy ngày 28/07/1929, ngày thành lập Tổng Cơng hội đỏ Bắc Kì làm ngày thành lập Cơng đồn Việt Nam
Tổ chức Cơng đồn sơ khai của phong trào cơng nhân Việt Nam là tổ chức Cơng Hội đỏ Ba Son do Đồng chí Tơn Đức Thắng sáng lập năm 1920 Mặc dù chỉ tồn tại trong vịng 6 năm nhưng Cơng Hội đỏ Ba Son đã trở thành linh hồn của phong trào bãi cơng chống Thực dân Pháp
Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức Cơng đồn Việt Nam gắn liền với
tên tuổi và cuộc đời hoạt động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ vĩ đại của
GCCN và dân tộc Việt Nam Người đặt cơ sở lí luận và tổ chức cho việc thành lập Cơng đồn cách mạnh Việt Nam
Câu 2: Đồng chí hãy cho biết từ khi thành lập đến nay, Cơng đồn Việt Nam
đã trải qua mấy kỳ Đại hội? Mục tiêu, ý nghĩa của các kỳ Đại hội?
Trả lời:
Từ ngày thành lập Cơng đồn Việt Nam cho đến nay đã trải qua 10 kỳ Đại hội:
+ Đại hội lần thứ nhất:
Đại hội cơng đồn Việt Nam lần thứ nhất khai mạc vào sáng ngày 01 đến ngày
15 tháng 01 năm 1950 tại xã Cao Vân - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên Đại hội đã bầu BCH Tổng Liên đồn gồm 21 uỷ viên chính thức, 4 uỷ viên dự khuyết, do đồng chí Hồng Quốc Việt Ủy viên Thường vụ TW Đảng làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên làm Tổng Thư ký Đại hội Cơng đồn lần thứ nhất tiến hành kiểm điểm và tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của giai cấp cơng nhân và tổ chức Cơng đồn Việt Nam từ khi hình thành, nhất là từ sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi đến thời điểm Đại hội
Đại hội đề ra mục tiêu : “Động viên cơng nhân, viên chức cả nước, nhất là
ngành quân giới sản xuất nhiều vũ khí, khí tài phục vụ cho kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi”
Trang 2Nghị quyết lần thứ nhất là sự vận dụng đúng đắn, cụ thể, sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Dơng Dương vào phong trào đấu tranh của giai cấp cơng nhân và hoạt động Cơng đồn, là điều kiện rất thuận lợi cho giai cấp cơng nhân
và tổ chức Cơng đồn Việt Nam hồn thành những nhiệm vụ quan trọng trong bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
+ Đại hội lần thứ hai:
Đại hội cơng đồn Việt Nam lần thứ hai họp từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 02 năm 1961 tại Thủ đơ Hà Nội Đại hội đã Quyết định lấy thư của BCH TW Đảng và Huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho phương hướng, nhiệm vụ cơng tác của Cơng đồn Việt Nam
Đại hội đề ra mục tiêu: “Động viên cán bộ, cơng nhân, viên chức thi đua lao
động, sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với tinh thần: Mỗi người làm việc bằng 2 vì miền Nam ruột thịt, gĩp phần đấu tranh thống nhất nước nhà”.
Đại hội Cơng đồn Việt Nam lần thứ hai khẳng định: “Sự nghiệp CNH xã hội
chủ nghĩa cĩ ý nghĩa quyết định rất lớn đối với sự phát triển thắng lợi của Cách mạng nước ta, đồng thời đảm bảo nâng cao vai trị lãnh đạo của giai cấp cơng nhân, của Đảng tiên phong và phát huy tác dụng tích cực của Cơng đồn trong mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội”.
Đại hội Cơng đồn Việt Nam lần thứ hai đã quyết định đổi tên Tổng Liên đồn Lao động Việt Nam thành Tổng Cơng đồn Việt Nam Đồng thời nhất trí thơng qua điều lệ Cơng đồn Việt Nam gồm 10 chương và 45 điều trong đĩ qui định cụ thể nhiệm
vụ, quyền lợi đồn viên, nguyên tắc tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của các cấp Cơng đồn
+ Đại hội lần thứ ba:
Đại hội cơng đồn lần thứ ba họp từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 02 năm 1974 tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội
Đại hội đề ra mục tiêu: “Động viên sức người, sức của chi viện cho chiến
trường, tất cả để giải phĩng miền nam thống nhất nước nhà”.
Đại hội đề ra nhiệm vụ cụ thể của Cơng đồn trong hai năm 1974 – 1975 là:
“Nhanh chĩng hồn thành việc hàn gắn những vết thương chiến tranh, ra sức khơi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hố, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất và kĩ thuật của CNXH, củng cố quan hệ sản xuất XHCN, củng cố chế độ XHCN về mọi mặt,
ổn định tình hình kinh tế và đời sống cho nhân dân, ra sức làm trịn nghĩa vụ đối với miền Nam anh hùng”.
Đại hội biểu dương những thành tích to lớn của giai cấp cơng nhân và phong trào Cơng đồn trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, khẳng định sự đĩng gĩp to lớn của giai cấp cơng nhân trong 13 năm qua ( từ Đại hội lần thứ hai ) Phát huy thắng lợi của Đại hội cơng đồn Việt Nam lần thứ ba, tổ chức Cơng đồn đã vận động đội ngũ cơng nhân viên chức miền Bắc khắc phục khĩ khăn,
nỗ lực phấn đấu, năng động, sáng tạo thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng và kế hoạch Nhà nước những năm tiếp theo
+ Đại hội lần thứ tư:
Đại hội Cơng đồn Việt Nam lần thứ tư họp từ ngày 08 đến ngày 11 tháng 05 năm 1978 tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội
Đây là Đại hội đầu tiên của phong trào Cơng đồn Việt Nam sau khi đất nước hồn tồn giải phĩng, nước nhà thống nhất và tổ chức Cơng đồn hai miền Nam - Bắc
Trang 3được thống nhất Đại hội vinh dự được đón các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước
có đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Bí thư BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam; đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam; đồng chí Trường Chinh - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch uỷ ban Thường vụ Quốc hội; đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ và các đồng chí Ủy viên bộ chính trị đến dự Đại hội Đại hội đón 36 đoàn Đại biểu quốc tế đại diện cho tổ chức Công đoàn thế giới, mang đến cho giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam tinh thần đoàn kết của phong trào công nhân, Công đoàn thế giới
Đại hội đề ra mục tiêu: “Động viên giai cấp công nhân và người lao động thi
đua sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH trong cả nước”.
Đại hội đã cụ thể hóa những nhiệm vụ cách mạng của giai cấp công nhân và phong trào công đoàn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IV của Đảng mà nhiệm vụ trọng tâm là tập hợp, vận động công nhân lao động hăng hái thi đua sản xuất, thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ II
+ Đại hội lần thứ năm:
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ năm họp từ 12 đến 15 tháng 11 năm 1983 tại Hội trường Ba Đình – Hà Nội
Đại hội đã xác định mục tiêu tổng quát là: “Động viên công nhân lao động thi
đua thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng: nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”.
+ Đại hội lần thứ sáu:
Đại hội công đoàn Việt Nam lần thứ sáu họp từ 18 đến 20 tháng 10 năm 1988 tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội
Đại hội VI Công đoàn Việt Nam là sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của giai cấp công nhân và người lao động Đây là Đại hội đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời đặt ra cơ sở lý luận cho đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn
Đại hội với tinh thần đổi mới: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật” trong bầu không khí công khai dân chủ Đại hội đã đánh giá thực trạng
tình hình phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn đề ra giải pháp khắc phục yếu kém để đưa phong trào công nhân và hoạt động công đoàn phát triển, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ VI của Đảng, một mốc quan trọng trên con đường đổi mới đất nước
Đại hội đã đề ra mục tiêu có sức cổ vũ mạnh mẽ đối với công nhân lao động là:
“Việc làm và đời sống, dân chủ, công bằng xã hội”.
Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới trong đó hai nhiệm vụ
chính là: “Động viên công nhân lao động đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hăng hái lao
động sản xuất Thực hành tiết kiệm chăm lo đời sống bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động”.
Để phù hợp với yêu cầu tập hợp người lao động thuộc các thành phần kinh tế, phù hợp với yêu cầu mở rộng đối tượng và phạm vi hoạt động của Công đoàn trong tình hình mới Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ sáu Quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam Đổi tên các Liên hiệp Công đoàn tỉnh, Thành phố, đặc khu, huyện, thị xã thành Liên đoàn Lao động tỉnh, Thành phố, đặc khu, huyện, thị xã Bỏ chức danh Tổng thư ký, Chủ tịch Tổng Liên
Trang 4đoàn Lao động Việt Nam là người đứng đầu BCH và Ban thư ký Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, thay chức danh thư ký Liên đoàn các cấp bằng chức danh Chủ tịch Công đoàn
+ Đại hội lần thứ bảy:
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ bảy họp từ ngày 09 đến ngày 12 tháng 11 năm 1993 tại Thủ đô Hà Nội
Đại hội bảy Công đoàn Việt Nam xác định mục tiêu của hoạt động Công đoàn 5
năm (1993 - 1998) là: “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân, lao động”.
Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ chính của tổ chức Công đoàn những năm
1993 – 1998:
- Động viên công nhân, lao động phát huy tính năng động, sáng tạo trong lao động, sản xuất, góp phần phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN
- Vận động công nhân, lao động tích cực góp phần tham gia xây dựng Đảng, tham gia xây dựng chính quyền vững mạnh, bảo vệ Tổ quốc
- Tham gia giám sát thực hiện chính sách, tăng cường các hoạt động xã hội để bảo vệ lợi ích, chăm lo đời sống công nhân lao động
+ Đại hội lần thứ tám:
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ tám họp từ ngày 03 đến ngày 06 tháng 11 năm 1998 tại Cung Văn hoá Lao động hữu nghị Việt - Xô, Thủ đô Hà Nội Đại hội đã bầu 145 uỷ viên BCH Tổng liên đoàn, đoàn chủ tịch gồm 17 uỷ viên Đồng chí Cù Thị Hậu, Uỷ viên TW Đảng được bầu làm Chủ tịch Các đồng chí Nguyễn An Lương, Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng được bầu làm Phó Chủ tịch
Đại hội đề ra mục tiêu: “Vì sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, vì việc làm, đời
sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn vững mạnh”.
Xây dựng giai cấp công nhân thời kỳ CNH - HĐH đất nước, phát triển về số lượng và chất lượng, làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh vững chắc với nông dân và đội ngũ trí thức, ra sức phát triển đoàn viên trong các thành phần kinh tế, tiếp tục xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, nâng cao trình độ cán bộ công đoàn, tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, xây dựng Pháp luật, chính sách
có liên quan đến CNVC lao động, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC lao động, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong mặt trận Tổ quốc dân tộc Việt Nam, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị xã hội, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua sôi nổi, động viên CNVC lao động phát huy nội lực phát triển
kinh tế xã hội vì mục tiêu: “Dân giàu nước mạnh - xã hội công bằng dân chủ văn
minh, theo con đường xã hội chủ nghĩa”.
+ Đại hội lần thứ chín:
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ chín họp từ ngày 10 đến ngày 13 tháng 10
năm 2003 tại Thủ đô Hà Nội Đây là Đại hội: “Đoàn kết, trí tuệ, dân chủ, đổi mới”
thể hiện ý chí và nguyện vọng to lớn của giai cấp công nhân, của đội ngũ CNV chức và
tổ chức Công đoàn Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ và thiên niên kỉ mới Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên TW Đảng được bầu làm Chủ tịch; các đồng chí Đặng
Trang 5Ngọc Tùng, Đặng Ngọc Chiến, Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng, Nguyễn Hoà Bình được bầu làm Phó Chủ tịch
Mục tiêu và phương hướng tổng quát của tổ chức Công đoàn trong nhiệm kỳ
2003 – 2008 được xác định như sau:
“Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới; củng cố phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước sôi noåi, rộng khắp, thiết thực và có hiệu quả trong CNVC lao động; tham gia quản lý, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVC lao động; đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức Công đoàn trong các thành phần kinh tế; nâng cao năng lực và trình
độ cán bộ công đoàn; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh;
mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”.
Nhiệm vụ chủ yếu của Công đoàn nhiệm kỳ 2003 - 2008:
- Tuyên truyền giáo dục, góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạngtrong thời lỳ mới Tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước
- Chủ động tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và kiểm tra, và giám sát có hiệu quả việc thực hiện, chế độ chính sách có liên quan trực tiếp đến CNVCLĐ và qui chế dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh công tác chăm lo đời sống, làm tốt chức năng đại diện
và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ
- Tổ chức sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo trong CNVCLĐ, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước
- Phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh; đổi mới nội dung phương thức hoạt động của tổ chức Công đoàn cho phù hợp với từng loại hình cơ
sở, từng cấp Công đoàn, nâng cao năng lực và trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ Công đoàn
- Mở rộng hoạt động đối ngoại của Công đoàn Việt Nam
+ Đại hội lần thứ mười:
Đại hội mười Công đoàn Việt Nam diễn ra tại Hà Nội từ ngày 03 đến ngày 05 tháng 11 năm 2008
Mục tiêu, phương hướng hoạt động Công đoàn nhiệm kỳ X (2008 - 2013) đề ra là: Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn các cấp hướng về
cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, đoàn viên và CB-CNVCLĐ làm đối tượng vận động; chuyển mạnh hoạt động Công đoàn vào cơ sở, tổ chức thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên CNVCLĐ
Xây dựng quan hệ hài hòa, ổn định, tiến bộ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước Khẩu hiệu hành động là: “Đổi mới, sáng tạo, vì quyền và lợi
ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ, vì sự phát triển vững bền của đất nước”.
Trang 6Câu 3: Đồng chí hãy cho biết Đại hội nào được đánh giá là Đại hội đổi mới? Theo đồng chí quan điểm “Đổi mới” đó được phát triển như thế nào ở Đại hội X Công đoàn Việt Nam ?
Trả lời:
Đại hội được đánh giá “Đổi mới” là Đại hội VI Công đoàn Việt Nam: “Đại hội
VI Công đoàn Việt Nam là sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị quan trọng của giai cấp công nhân và người lao động Đây là Đại hội đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời cũng đặt ra cơ sở lý luận cho đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn”.
Đại hội với tinh thần đổi mới “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật” trong bầu không khí công khai, dân chủ Đại hội đã đánh giá thực trạng tình hình phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn, đề ra giải pháp khắc phục yếu kém để đưa phong trào công nhân và hoạt động Công đoàn phát triển, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, một mốc quan trọng trên con đường đổi mới của đất nước
Câu 4: Đồng chí hãy nêu quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước?
Trả lời:
Quan điểm của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Hội nghị lần thứ VI BCH TW khoá X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH đất nước” Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế” Đổi mới tổ chức, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn vào hoạt động của giai cấp công nhân, chú trọng vào giải đáp những vấn đề do thực tiễn đặt ra:
Về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH -HĐH đất nước
- Về vấn đề trí thức hoá giai cấp công nhân
- Về công nhân tham gia sở hữu doanh nghiệp
- Về mối quan hệ giữa công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Đặc biệt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
- Về sự phân hoá trong nội bộ giai cấp công nhân
- Về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội quân tiên phong là Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới
- Về tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị xã hội trong các doanh nghiệp
- Về vai trò chủ yếu của giai cấp công nhân, quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động
- Về mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa giai cấp công nhân VIệt Nam và giai cấp công nhân các nước trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế
-Về những âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” và tuyên truyền phản động
của thế lực thù địch đối với giai cấp công nhân
Trang 7Câu 5: Đồng chí hãy cho biết chiến lược xây dựng giai cấp cơng nhân của tổ chức Cơng đồn trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ thực tiễn tại Cơng đồn cơ sở nơi đồng chí sinh hoạt cơng tác?
Trả
lời:
Chiến lược xây dựng giai cấp cơng nhân của tổ chức cơng đồn trong giai đoạn hiện nay:
Từ việc dự báo xu hướng phát triển giai cấp cơng nhân Việt Nam; mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ xây dựng giai cấp cơng nhân Việt Nam đến 2020; các chương trình thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp cơng nhân; nhiệm vụ của các bộ ngành, các tổ chức chính trị xã hội, các đồn thể với việc thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp cơng nhân đến 2020 của các cấp lãnh đạo Đảng, Cơng đồn
Tính đến nay cơng nhân Việt Nam chiếm khoảng 9,5 triệu người (chiếm 11% dân số) và 21% lực lượng xã hội làm việc trong các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế Đội ngũ cơng nhân lao động ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành nghề, trình độ học vấn, trình độ chuyên mơn kĩ thuật, nghề nghiệp cũng khác nhau Đã hình thành ngày càng đơng đảo cơng nhân lao động trí thức cĩ trình độ từ Cao đẳng, Đại học trở lên Họ là lực lượng trực tiếp sản xuất cơng nghiệp hoặc làm cơng tác quản
lý sản xuất kinh doanh, quản lý KH - KT gắn liền với sản xuất
Để hoạch định chiến lược xây dựng GCCN trên cơ sở căn cứ vào qui luật phát triển của GCCN trong tình hình mới Theo dự báo trên nêu ra, từ nay đến năm 2020, giai cấp cơng nhân sẽ cĩ nhiều chuyển biến, thể hiện qua các mặt cụ thể như sau: Giai cấp cơng sẽ phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, gắn liền với trẻ hố, tri thức hố cơng nhân; giai cấp cơng nhân ngày càng cĩ vai trị quan trọng trong việc phát triển lực lượng sản xuất và đĩng gĩp chủ yếu vào tổng thu nhập quốc dân; giai cấp cơng nhân ngày càng phát triển đa dạng, phức tạp và biến động mạnh về cơ cấu; cơng nhân giữa các ngành nghề, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế sẽ dịch chuyển, biến động và diễn ra thường xuyên, cĩ sự phân hố giàu nghèo, phân tầng trong giai cấp cơng nhân… Giai cấp cơng nhân là một lực lượng chính trị to lớn, bởi vậy cần xem xét lại vị thế của giai cấp cơng nhân trong tổng quan chung của xã hội Cần phải làm rõ, định nghĩa lại địa vị kinh tế của giai cấp cơng nhân Việt Nam, cĩ nhận diện đúng được vị thế của GCCN thì mới đưa ra được những giải pháp hợp lý
Chiến lược xây dựng GCCN phải gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, gắn với xây dựng Đảng Xây dựng và thực hiện chiến lược về giai cấp cơng nhân, trách nhiệm trước hết là Đảng, Nhà nước và của tổ chức Cơng đồn
Mục tiêu trước hết là phải xây dựng giai cấp cơng nhân cĩ văn hố, làm chủ được khoa học cơng nghệ để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của mình trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước Bản lĩnh chính trị, tinh thần yêu nước của người cơng nhân cũng cần phải được đề cao Vì vậy vai trị của tổ chức Cơng đồn trong vấn đề giáo dục người cơng nhân là rất lớn và rất quan trọng
Xây dựng chiến lược giai cấp cơng nhân phải căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước và quốc tế để khơng quá lạc quan, hoặc bi quan trước tình hình kinh tế quốc
tế khĩ khăn như hiện nay Cần phải tính đến yếu tố thời đại và yếu tố quốc tế vì việc xây dựng và thực hiện chiến lược diễn ra trong giai đoạn đất nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
“Chiến lược xây dựng giai cấp cơng nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước” phải hướng mục tiêu vào việc phát triển GCCN nhanh chĩng
Trang 8về số lượng, nâng cao chất lượng, ngày càng được trí thức hố, cĩ trình độ học vấn, chuyên mơn, kĩ thuật nghề nghiệp cao, cĩ khả năng tiếp cận và làm chủ KH - KT tiên tiến, hiện đại, cĩ tác phong cơng nghiệp và kỷ luật lao động, thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
GCCN là cơ sở chính trị - xã hội quan trọng của hệ thống chính trị nước ta Xây dựng GCCN lớn mạnh, xứng đáng là giai cấp lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và các cấp Cơng đồn
Cần đổi mới tồn bộ cơ chế hoạt động của GCCN, xây dựng những thiết chế mới trong thời kỳ mới, đồng thời phải cĩ chế tài đủ mạnh để thực hiện những thiết chế đĩ; củng cố, phát triển và nâng cao vai trị của tồn bộ hệ thống chính trị để tham gia vào chiến lược, tạo được cơ chế phối hợp mới, đồng thời phải đưa ra những điều kiện
cụ thể để thực hiện chiến lược
Câu 6: Đồng chí hãy viết 1 bài khoảng 1500 từ cống hiến ý tưởng hay, cĩ ý nghĩa thực tiễn cho hoạt động Cơng đồn hoặc những kỉ niệm sâu sắc trong hoạt động Cơng đồn của đồng chí
Bài viết: Về vai trị của Cơng đồn trong hội nhập kinh tế quốc tế
Vai trị của cơng đồn Việt Nam ngày càng được mở rộng trong hội nhập kinh tế quốc
tế Nền kinh tế thị trường phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, địi hỏi tồn Đảng, tồn dân, tồn bộ hệ thống chính trị phát huy vai trị của mình trong việc thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội đất nước Đối với tổ chức Cơng đồn Việt Nam, vai trị ấy được thể hiện:
Thứ nhất, Cơng đồn coi trọng bản vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của cơng nhân, viên chức, lao động Các cấp cơng đồn, nhất là cơng đồn cơ sở, đi sâu vào đời sống cơng nhân, người lao động, nắm vững tâm tư, nguyện vọng của họ; kịp thời phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động; kịp thời tham gia với giới chủ, người sử dụng lao động đưa ra những giải pháp tích cực giải quyết những mâu thuẫn này; quan tâm đến vấn đề tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, an tồn, vệ sinh lao động, bảo vệ mơi trường sinh thái Trong điều kiện hiện nay, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của cơng nhân, lao động là nhiệm vụ trọng tâm của Cơng đồn trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế
Thứ hai, Cơng đồn đẩy mạnh cơng tác giáo dục, nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, kiến thức pháp luật cho người lao động Nền kinh tế mở ở Việt Nam ngày nay cĩ nhiều
ưu điểm, nhưng cũng là “mảnh đất” làm nảy sinh những tiêu cực xã hội Vì thế, Cơng đồn cần phát huy vai trị của mình trong việc giáo dục cơng nhân, viên chức, lao động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác -Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hĩa dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại Đĩ là những yếu tố quan trọng làm cho vai trị của Cơng đồn ngày càng mở rộng và phát triển
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Cơng đồn cần tuyên truyền để cơng nhân, viên chức, lao động nâng cao ý thức chính trị, tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, cảnh
Trang 9giác trước những âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; tích cực học tập nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, kiến thức pháp luật để tự bảo vệ mình, tồn tại
và phát triển trong kinh tế thị trường; hiểu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức Công đoàn Việt Nam; thấy được lợi ích của bản thân, của doanh nghiệp khi thành lập
tổ chức Công đoàn cơ sở
Thứ ba, Công đoàn thực sự là người đại diện của công nhân, viên chức, lao động, điều hòa quan hệ lao động, thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã hội Công đoàn chủ động phối hợp với người sử dụng lao động thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; tích cực giải quyết mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên để phòng ngừa, giảm thiểu các tranh chấp lao động; xây dựng mối quan hệ phối hợp với các cơ quan nhà nước, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh các hợp tác xã Việt Nam nhằm thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ của mỗi bên, chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động
Thứ tư, thay mặt công nhân, viên chức, lao động tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập Công đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam đồng bộ, phù hợp với luật pháp quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thi hành chính sách, pháp luật, nhất là các chính sách, pháp luật liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của công nhân, viên chức, lao động; thực hiện tốt cơ chế đối thoại giữa người lao động với người sử dụng lao động, chủ động tham gia giải quyết có hiệu quả các tranh chấp lao động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động
Thứ năm, Công đoàn tích cực tham gia thúc đẩy việc hoàn thiện “cơ chế ba bên” trong hội nhập kinh tế quốc tế Cơ chế ba bên là một trong những hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa Nhà nước - Giới chủ - Người lao động (đại diện là công đoàn) nhằm thay đổi cách thức quan hệ lao động, làm hài hòa quan hệ chủ - thợ tương thích với cơ chế quản lý nhà nước
II Liên đoàn lao động tỉnh Quảng Trị
Câu hỏi 1: Đồng chí hãy cho biết Công đoàn Quảng Trị đã trải qua mấy kỳ Đại hội? Nêu rõ ngày, tháng, năm và địa điểm tổ chức các kỳ Đại hội?
Nghị quyết Đại hội X Công đoàn Quảng Trị đã xác định mục tiêu, phơng hướng
và khẩu hiệu hành động của hoạt động Công đoàn trong nhiệm kỳ 2008-2013 như thế nào? Từ nay đến hết nhiệm kỳ 2008-2013, hoạt động Công đoàn tỉnh phấn đấu đạt được chỉ tiêu quan trọng nào?
Để thực hiện tốt chỉ tiêu thứ nhất của Nghị quyết đã đề ra, theo đồng chí, CĐCS nơi đồng chí đang sinh hoạt cần thực hiện tốt những giải pháp nào? (Phần đề xuất giải
pháp viết không quá 1.500 từ)
Trả lời:
-Từ khi thành lập đến nay, Công đoàn Quảng Trị đã trải qua 10 kỳ Đại hội:
+ Đại hội lần thứ I họp vào tháng 8 năm 1946 tại Thị xã Quảng Trị Tham dự Đại hội có 122 đại biểu Đại hội đã bầu BCH gồm 25 đồng chí; Đồng chí Trần Tiềm
được Đại hội bầu làm Thư ký
Trang 10+ Đại hội lần thứ II họp vào ngày 15 tháng 1 năm 1950 tại Phong An, huyện Triệu Phong Tham dự Đại hội có 300đại biểu Đại hội đã bầu BCH gồm 25 đồng chí; Đồng chí Trần Đăng Hằng được bầu làm Thư ký Sau đó, đồng chí Nguyễn Tiếp được
cử làm quyền Thư ký thay đồng chí Trần Đăng Hằng chuyển công tác.
Sau khi thống nhất đất nước, ngày 29.6.1976 hợp nhất Công đoàn tỉnh Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế thành Liên hiệp Công đoàn Bình Trị Thiên Ban Chấp hành lâm thời gồm 27 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn
Thụ làm Thư ký
+ Đại hội lần thứ III (Là Đại hội lần thứ nhất sau hợp nhất tỉnh Bình Trị Thiên), họp từ ngày 22 đến 27 tháng 11 năm 1977 tại Thành phố Huế Tham dự Đại hội có 412 đại biểu Đại hội đã bầu BCH gồm 39 đồng chí, Ban Thường vụ 11 đồng chí Đồng chí Nguyễn Văn Thụ được bầu làm Thư ký Sau đó đồng chí Trần Duy Kham được cử làm quyền Thư ký thay đồng chí Nguyễn Văn Thụ chuyển công tác.
+ Đại hội lần thứ IV (Là Đại hội II Công đoàn Bình Trị Thiên) họp từ ngày 14 đến 16 tháng 8 năm 1981 tại Thành phố Huế Tham dự Đại hội có 350 đại biểu Đại
hội đã bầu BCH gồm 41 đồng chí, Ban Thường vụ 11 đồng chí Đồng chí Lê Viết Tâm được bầu làm Th ký
+ Đại hội lần thứ V (Là Đại hội III Công đoàn Bình Trị Thiên) họp từ ngày 26 đến 29 tháng 8 năm 1983 tại Thành phố Huế Tham dự Đại hội có 300 đại biểu Đại
hội đã bầu BCH gồm 42 đồng chí, Ban Thường vụ 13 đồng chí Đồng chí Lê Viết Tâm
được Đại hội bầu tái cử chức danh Thư ký.
+ Đại hội lần thứ VI (Là Đại hội IV Công đoàn Bình Trị Thiên), họp từ ngày 28 đến 30 tháng 7 năm 1988 tại Thành phố Huế Tham dự Đại hội có 280 đại biểu Đại
hội đã bầu BCH gồm 41 đồng chí, Ban Thường vụ 12 đồng chí Đồng chí Lê Viết Tâm
được bầu tái cử chức danh Thư ký.
Từ ngày 1 tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập Ngày 15 tháng 7 năm
1989 LĐLĐ tỉnh Quảng Trị được thành lập; Đồng chí Nguyễn Văn Viêm đợc cử làm Phó Chủ tịch Đến tháng 5 năm 1990, đồng chí Nguyễn Văn Viêm đợc cử làm quyền Chủ tịch Tháng 5 năm 1991, đồng chí Lơng Trung Thông đợc bầu làm Chủ tịch thay đồng chí Nguyễn Văn Viêm nghỉ hu.
+ Đại hội lần thứ VII họp từ ngày 25 đến 26 tháng 6 năm 1993 tại Thị xã Đông
Hà Tham dự Đại hội gồm có 173 đại biểu Đại hội đã bầu BCH gồm 23 đồng chí, Ban Thường vụ 7 đồng chí Đồng chí Lương Trung Thông được bầu làm Chủ tịch.
+ Đại hội lần thứ VIII họp từ ngày 18 đến 21 tháng 6 năm 1998 tại Thị xã Đông Hà; Tham dự Đại hội có 199 đại biểu Đại hội đã bầu BCH gồm 27 đồng chí, Ban Thường vụ 9 đồng chí Đồng chí Lương Trung Thông được tái cử chức danh Chủ tịch
+ Đại hội lần thứ IX họp từ ngày 25 đến 27 tháng 6 năm 2003 tại Thị xã Đông Hà; Tham dự Đại hội có 209 đại biểu Đại hội đã bầu BCH gồm 33 đồng chí; Ban Thường vụ 11 đồng chí Đồng chí Phan Quyết được bầu làm Chủ tịch.
+ Đại hội lần thứ X đã họp từ ngày 25 đến 27 tháng 6 năm 2008 tại Thị xã Đông
Hà Tham dự Đại hội có 250 đại biểu Đại hội đã bầu BCH gồm 37 đồng chí; Ban Thường vụ 12 đồng chí Đồng chí Phan Quyết được bầu tái cử chức danh Chủ tịch.
- Mục tiêu phương hướng hoạt động Công đoàn tỉnh Quảng Trị trong 5 năm tới
là:
“Đổi mới mạnh mẽ tổ chức, nội dung và phơng thức hoạt động Công đoàn, làm nòng cốt trong việc tập hợp, giáo dục công nhân, viên chức, lao động và xây dựng giai