1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

304. BÀI DỰ THI 75 NĂM NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

28 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 149,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi trên đường từ chiến khu Việt Bắc trở lại Thủ đô, Bác Hồ đã đến thăm đền Hùng. Đêm 189 1954, Bác Hồ nghỉ lại tại đền Giếng, một di tích trong quần thể di tích lịch sử văn hoá Đền Hùng. Tại đây, ngày hôm sau (199 1954), trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 (Đại đoàn quân Tiên phong) trên đường về tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ đã nói câu trên. Trong bài báo tường thuật cuộc gặp của Bác với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong đăng trên báo Nhân dân, nhà báo Thép Mới đã lần đầu tiên trích lời của Người “Ngày xưa các vua hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Các kết quả nghiên cứu khảo cổ học, dân tộc học đã chứng minh từ buổi bình minh của xã hội loài người, trên lãnh thổ nước ta đã xuất hiện những cư dân nguyên thuỷ. Sau hàng chục vạn năm gian khổ lao động và sáng tạo, từ những công cụ thời đã cũ thô sưo tiến đến sự phát minh ra kỹ thuật luyện kim và nghề trồng lúa nước, dùng cày có sức kéo là trâu, bò; đời sống vật chất và tinh thần của người nguyên thuỷ Việt Nam ngày càng được nâng cao, từng bước làm thay đổi bộ mặt xã hội, hình thành một lãnh thổ chung, một nền văn hoá, văn minh chung và một tổ chức chính trị, xã hội chung, đó là quốc gia và Nhà nước Văn Lang Âu Lạc.

Trang 1

TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT XE MÁY

TIỂU ĐOÀN 2

  

BÀI DỰ THI

75 NĂM

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Họ và tên:………

Cấp bậc:………

Giới tính:………

Tuổi:………

Nghề nghiệp:………

Đơn vị:……….

SƠN TÂY 2020

Trang 2

BÀI DỰ THI

“60 năm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Câu hỏi 1:

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói với cán bộ chiến sĩ một đơn vị quân đội

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhua giữ lấy nước”

Bác Hồ đã nói câu đó ở đâu, vào thời gian nào, với cán bộ, chiến sĩ đơn vị nào?

Thời kỳ Nhà nước Văn Lang (Hùng Vương) và Nhà nước Âu Lạc (An Dương Vương) thuộc giai đoạn nào trong lịch sử nước ta?

Trong bài báo tường thuật cuộc gặp của Bác với cán bộ, chiến sĩ Đạiđoàn quân Tiên phong đăng trên báo Nhân dân, nhà báo Thép Mới đã lần đầutiên trích lời của Người “Ngày xưa các vua hùng đã có công dựng nước, ngàynay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Các kết quả nghiên cứu khảo cổ học, dân tộc học đã chứng minh từ buổibình minh của xã hội loài người, trên lãnh thổ nước ta đã xuất hiện những cưdân nguyên thuỷ

Sau hàng chục vạn năm gian khổ lao động và sáng tạo, từ những công cụthời đã cũ thô sưo tiến đến sự phát minh ra kỹ thuật luyện kim và nghề trồnglúa nước, dùng cày có sức kéo là trâu, bò; đời sống vật chất và tinh thần củangười nguyên thuỷ Việt Nam ngày càng được nâng cao, từng bước làm thayđổi bộ mặt xã hội, hình thành một lãnh thổ chung, một nền văn hoá, văn minhchung và một tổ chức chính trị, xã hội chung, đó là quốc gia và Nhà nước VănLang - Âu Lạc

Trang 3

Đây là thời kỳ mở đầu lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Câu hỏi 2:

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã nhiều lần đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành chủ quyền, bảo vệ độc lập cho đất nước.

Hãy kể tên những cuộc khởi nghĩa và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tiêu biểu trong lịch sử từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40) đến Chiến thắng mùa Xuân năm Kỷ Dậu – 1789 (Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh).

Trả lời:

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã nhiều lần đứnglên đánh đuổi giặc ngoại xâm giành chủ quyền, bảo vệ độc lập cho đất nước.Dưới đây là một số cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống ngoại xâm tiêu biểutrong lịch sử, từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40) đến Chiến thángmùa Xuân năm Kỷ Dậu – 1789 (Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh)

- Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40- 43)

Trưng trắc, Trưng Nhị là hai con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh,thuộc dòng dõi Hùng Vương Tháng 3 năm 40 sau Công nguyên, Trưng Trắccùng Trưng Nhị phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát trên sông Hồng, thuộchuyện Phúc Thọ, Hà Tây ngày nay Dưới sự lãnh đạo của hai Bà, nhiều cuộckhởi nghĩa địa phương được thống nhất thành một phong trào rộng lớn, từmiền xuôi đến miền núi, bao gồm người Việt và các dân tộc khác trong nước

Âu Lạc cũ Trong hàng ngũ tướng lĩnh của nghĩa quân có rất nhiều phụ nữ.Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành được thắng lợi , nền độc lập dân tộcđược phục hồi, Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương) đóng đô ở

Mê Linh, giữ được quyền tự chủ trong 3 năm

- Khởi nghĩa Bà Triệu năm ( năm 428)

Là đỉnh cao của phong trào chống xâm lược của nhân dân ta thế kỷ II, III.Khởi nghĩa nổ ra trong lúc bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh đã củng cốđược ách thống trị trên đất nước ta và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hoá dân tộcta

Trang 4

Bà Triệu tên là Triệu Thị Trinh, em ruột của Triệu Quốc Đạt, một thủ lĩnh

có thế lực ở Quân An, quận Cửu Chân (huyện Triệu Sơn- Thanh Hoá) Năm

19 tuổi, bà cùng anh tập hợp nghĩa sĩ lên đỉnh núi Nưa, mài gươm, luyện võ,phất cờ khởi nghĩa Nhân dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân đã nổi dậy hưởngứng cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, đánh thắng quân Ngô nhiều trận Nhà Ngô

lo sợ phải đưa thêm 8000 quân sang nước ta đàn áp phong trào khởi nghĩa BàTriệu Thị Trinh đã hy sinh trên núi Tùng (Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hoá)

- Khởi nghĩa Lý Bí (năm 542)

Giữa thế kỷ VI, phong trào khởi nghĩa chống ngoại xâm của nhân dân nổ

ra khắp nơi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Lý Bí dẫn tới thành lập nước VạnXuân Lý Bí quê ở Long Hưng tỉnh Thái Bình Mùa Xuân năm 542 cuộc khởinghĩa do Lý Bí lãnh đạo nổ ra và không đầy 3 tháng đã quét sạch bè lũ đô hộnhà Lương Mùa Xuân năm 544 Lý Bí tuyên bố thành lập nước, đặt quốc hiệu

là Vạn Xuân Ông lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Nam đế (vua nước Nam) Ítnăm sau, cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền đất nước của Lý Nam Đế thấtbại, ông bị bệnh mất tháng 4- 548

- Khởi nghĩa Triệu Quang Phục (548- 571).

Triệu Quang Phục là con một tù trưởng, quê ở Hưng Yên hiện nay, được

Lý Bí (Lý Nam Đế) trao quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân nhàLương Ông lập căn cứ kháng chiến tại vùng Dạ Trạch, tổ chức đánh du kích,tiêu hao sinh lực địch Năm 550, nghĩa quân đã giết được tướng giặc là DươngSan, chiếm thành Long Biên

Ngày 13/ 4/ 548, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng hiệu là Triệu ViệtVương

Năm 571, Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử phản bộ, thua chạy và tuầntiết ở cửa biển Đại Nha

- Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687)

Lý Tự Tiên đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn vào năm 687 chốngách đo hộ của nhà Đường Lý Tự Tiên hy sinh, nhưng các cộng sự của ôngnhư Đinh Kiến, Tư Thân vẫn tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nghĩa quânvây phủ thành Tống Bình (Hà Nội) Viện binh của nhà Đường đàn áp dã man,nghĩa quân tan vỡ

- Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722).

Trang 5

Mai Thúc Loan quê ở Mai Phụ, miền ven biển Thạch Hà, Hà Tĩnh (cósách chép ở Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh sau theo mẹ đến sống ởNam Đàn, tỉnh Nghệ An) Năm 722 ông kêu gọi những người dân phu nổi dậychống lại ách thống trị của nhà Đường Nhân dân khắp các châu Hoan, Ái(Diễn Thanh – Nghệ Tĩnh) tụ tập dưới cờ khởi nghĩa, buộc tên trùm đo hộiQuang Sở Khanh tháo chạy về nước Đất nước được giải phóng, Mai ThúcLoan xưng đế và đóng đô ở thành Vạn An Sử gọi ông là Mai Hắc Đế.

- Khởi nghĩa Phùng Hưng (766- 791)

Phùng Hưng là hào trưởng đất Đường Lâm (xã Cao Lâm, Ba Vì, Hà Tây)

đã phát động cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ triều nhà Đường

Ba anh em Phùng Hưng, Phùng Hải, Phùng Dĩnh lãnh đạo nghĩa quân nổi dậylàm chủ Đường Lâm và đánh chiếm một vùng đất rộng lớn, xây dựng thànhcăn cứ đánh giặc Cuộc khởi nghĩa kéo dài 20 năm, có thời gian đã chiếmđược thành Tống Bình (Hà Nội) Ông được tôn là Bố Cái Đại Vương

- Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ – Khúc Hạo ( 905 – 917).

Khúc Thừa Dụ là một hào trưởng quê ở Cúc Bồ, Ninh Thanh, HảiDương, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, chiếm thành Tống Bình (Hà Nội), đuổigiặc về nước, tự xưng là Tiết độ sứ, Nhà đường buộc phải công nhận ông làngười đứng đầu nước Việt

Năm 907, Khúc Thừa Dụ truyền ngôi cho con là Khúc Hạo, Nhà HậuLương cũng phải công nhận Khúc Hạo là An Nam đô hộ tiết độ sứ

Năm 917, Khúc Hạo truyền ngôi cho con là Khúc Thừa Mỹ, Khúc Thừa

Mỹ bị nhà Nam Hán đánh bại vào năm 923

- Khởi nghĩa Dương Đình Nghệ ( 931- 938).

Dương Đình Nghệ (có sách chép Dương Diên Nghệ) người Ái Châu(Thanh Hoá), tướng của họ Khúc, khởi binh đánh duổi quan Nam Hán giảiphóng Thành Đại La, giành chính quyền tự chủ cho đất nước được 6 năm.Ông bị nội phân sát hại năm 938

- Cuộc kháng chiến của Ngô Quyền chống quân Nam Hán (938)

Ngô Quyền sinh năm 897 ở đất Đường Lâm, Ba Vì, Hà Tây, cùng quêvới Phùng Hưng, là Tuỷ tướng đồng thời là con rể của Dương Đình Nghệ KhiDương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại, ông dấy binh giết tên bán nước

Trang 6

này và tổ chức kháng chiến chống đạo quân xâm lược Nam Hán do HoàngThao chỉ huy.

Tháng 11/ 938, Ngô Quyền bố trí trận địa cọc trên sông Bạch Đằng, giếtHoàng Thao, đánh tan quân xâm lược (sử gọi đây là chiến thắng Bạch Đằnglần thứ nhất)

Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vua (Ngô Vương), đóng đô ở

Cổ Loa (Hà Nội) mở đầu giai đoạn tự chủ lâu dài của nước ta Ông mất năm 944

- Cuộc kháng chiến chống quân Tống của Lê Hoàn (981).

Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, lấy hiệu là TiênHoàng đế (Đinh Tiên Hoàng) đóng đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cổ Việt.Năm 979, ông và con ông bị kẻ gian sát hại

Nhân cơ hội này, nhà Tống cho quân sang xâm lược nước ta Trước hoạngoại xâm, thập đạo tướng quân Lê Hoàn được trao ngôi vua, lấy hiệu là LêĐại Hành, sử gọi là Triều Tiền Lê Đầu năm 981 quân Tống theo hai đườngthuỷ, bộ tiến quân vào nước ta Lê Hoàn trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cuộckháng chiến Cuộc kháng chiến đã giành được thắng lợi rực rỡ, đánh bại nguy

cơ xâm lược của nước ngoài, giữ vững nền độc lập của dân tộc

- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống thời nhà Lý ( 1077).

Năm 1075 nhà Tống âm mưu khởi binh xâm lược nước ta một lần nữa.Với cương vị Phụ quốc Thái uý nắm tất cả binh quyền trong triều nhà Lý, LýThường Kiệt trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cuộc kháng chiến Cuộc kháng chiếnkết thúc thắng lợi Độc lập chủ quyền và lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững.Trong khoảng 200 năm sau nhà Tống không dám mang quân xâm lược nước

ta Năm 1164 nhà Tống phải công nhận nước ta là một vương quốc độc lập

- Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Nguyên – Mông (năm 1257).

Vào thời Trần, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh triều Trầnnổi bật là Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) tiến hành cuộc kháng chiến lầnthứ nhất chống đội quân xâm lược Nguyên – Mông Âm mưu xâm lược ĐạiViệt của đế quốc Nguyên - Mông bị đánh bại, gọng kìm từ nước ta tiến cônglên phía Nam Trung Quốc bị bẻ gãy Cuộc kháng chiến thắng lợi đã để lạinhiều bài học quý giá về tổ chức, lãnh đạo kháng chiến

Trang 7

- Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên – Mông ( 1285)

Vua Trần Nhân Tông giao trọng trách tổ chức và lãnh đạo cuộc khángchiến cho Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn Cuối tháng 1/ 1285 các mũitiến công của Nguyên – Mông vượt qua biên giới vào nước ta Tháng 5/ 1285 cuộckháng chiến bước vào giai đoạn phân công Sau hai tháng chiến đấu quyết liệt củaquân và dân ta, cuối tháng 6/ 1285, khoảng nửa triệu quân xâm lược đã bị quétsạch Thắng lợi vang dội ở Hàm Tử, Chương Dương Tây kết đã được ghi vào lịch

sử như những chiến công chói lọi mãi mãi làm nức lòng nhân dân ta

- Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên – Mông (1287).

Hai lần xâm lược Đại Việt đều bị đánh bại Hốt Tất Liệt bãi bỏ kế hoạchtấn công Nhật Bản, dồn lực lượng xâm lược nước ta Tháng 12/ 1287 quânNguyên – Mông từ ba hướng tiến vào nước ta Chiến thắng Vân Đồn do TrầnKhánh Dư chỉ huy đã tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền tải lương của địch, làmthất bại ngay từ đầu âm mưu và kế hoạch xâm lược của chúng Cuộc phảncông chiến lược và chiến thắng lịch sử Bạch Đằng đã đập tan cuộc xâm lượclần thứ ba của kẻ thù

Như vậy, trong vòng 30 năm (1258-1288) dân tộc ta đã ba lần đương đầu

và đánh thắng đạo quân xâm lược của đế quốc Nguyên – Mông khét tiếnghùng mạnh

- Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược dưới triều Hồ (1400- 1407).Nhà Minh đã lợi dụng sự suy yếu của Vương triều Trần tiến hành hoạtđộng do thám khiêu khích Ngày 19/11/ 1406 quân Minh vượt biên tiến vàonước ta Hồ Quý Ly tổ chức kháng chiến nhưng cuộc kháng chiến do nhà Hồlãnh đạo thất bại nhanh chóng (sau 6 tháng)

- Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Năm 1416 tại núi rừng Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoá) Lê Lợi cùng 18người bạn chiến đấu làm lễ tuyên thệ nguyện một lòng sống chết vì sự nghiệpđuổi giặc cứu nước Lễ tuyên thệ đó đặt cơ sở đầu tiên cho cuộc khởi nghĩaLam Sơn

Trang 8

Ngày 7/2/ 1418 Lê Lợi và toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở LamSơn Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương truyền hịch đi khắp nơi kêu hỏinhân dân nổi lên đuổi giặc cứu nước.

Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn tiếnvào giải phóng Nghệ An, xây dựng căn cứ địa, mở rộng khu vực giải phóng.Chỉ trong hơn một năm, nghĩa quân Lam Sơn đã liên tiếp giành được nhữngthắng lợi to lớn và phát triển vượt bậc về mọi mặt Khu vực giảiphóng được

mở rộng từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân Lực lượng của nghĩa quân hùngmạnh có hành vạn quân cả bộ binh, thuỷ binh, kỵ binh, tượng binh

Khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dântộc, quy mô trên cả nước Chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang tiêu diệt hoàntoàn 10 vạn quân tiếp viện của nhà Minh, có ý nghĩa quyết định thắng lợi củacuộc chiến tranh giải phóng dân tộc sau 10 năm chiến đấu bền bỉ, ngoancường

- Phong trào Tây Sơn và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Xiên, chống quân xâm lược Mãn Thanh thắng lợi (1771- 1784).

Phong trào Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, NguyễnHuệ lãnh đạo Với chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, quân dân ta dưới sựlãnh đạo tài tình của Nguyễn Huệ đập tan âm mưu can thiệp của phong kiếnXiêm Phong trào Tây Sơn giành thắng lợi ở các tỉnh phía Nam và sau đó pháttriển ra Đảng ngoài diệt Trịnh thống nhất Tổ quốc Lờy cớ đáp ứng cầu việncủa Lê Chiêu Thống, quân Thanh kéo đại binh xâm lược nước ta

Mùa Xuân Kỷ Dậu – 1789, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình củaQuang Trung đã vùng lên quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh, giảiphóng Thăng Long, giải phóng Tổ quốc Đây là chiến công vĩ đại và hiển háchvào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc

Câu hỏi 3:

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Tuyên ngôn độc lập khia sinh nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà ở đâu? Vào thời gian nào? Ý nghĩa trọng đại của bảnTuyên ngôn độc lập?

Trả lời:

Sáng ngày 26/ 8/ 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương

Trang 9

Đảng Trong cuộc họp này, Người nhất trí với Thường vụ Trung ương Đảng

về những chủ trương đối nội và đối ngoại trong tình hình mới, về việc sớmcông bố danh sách thành viên chính phủ lâm thời Người đề nghị mở rộng hơnnữa thành phần chính phủ lâm thời, chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chứcmít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước ViệtNam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộnghoà

Ngày 30/ 8/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến traođổi, góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập do Người soạn thảo

Ngày 31/ 8/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào dựthảo Tuyên ngôn độc lập

Ngày 2/9/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lậptrong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, tại vười hoa BaĐình khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Tuyên ngôn độc lập có ý nghĩa lịch sử trọng đại

Tuyên ngôn độc lập đã khẳng định một chân lý lịch sử: “Tất cả các dântộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyềnsung sướng và quyền tự do”

- Tuyên ngôn độc lập là bản khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà, là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là bản “Thiên cổ hùngvăn” kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, là bảnanh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam- kỷ nguyên độc lập

tự do và góp phần làm phong phú về quyền tự quyết của các dân tộc trên thếgiới – Quyền độc lập tự do

- Tuyên ngôn độc lập là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh ranước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhândân ta trước toàn thế giới

- Tuyên ngôn độc lập khẳng định ý chí và tinh thần dũng cảm, kiêncường, bất khuất của toàn thể dân tộc Việt Nam nhằm bảo vệ quyền độc lập,

tự do, dân chủ của mình Đó là ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”!

Câu hỏi 4:

Trang 10

Từ năm 1945 đến nay, nhân dân ta đã tham gia bầu cử bao nhiêu khoáQuốc hội?

Trong 60 năm qua, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ngàynay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã mấy lần được sửa đổi, bổsung? Bản Hiến pháp được thông qua năm nào có câu: “Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân”?

Trả lời:

Từ năm 1945 đến nay, nước ta đã qua 11 khoá bầu cử Quốc hội

1 Quốc hội khoá I

Ngày 6/1/ 1946, Tổng tuyển cử đầu tiên trong cả nước bầu ra Nghị việnnhân dân (Quốc hội khoá I)

Quốc hội khoá I đã ban hành Hiến pháp đầu tiên, “Hiến pháp nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà năm 1946, (thông qua Kỳ Đại hội thứ nhất ngày 9/11/1946) và “Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà năm 1959” ngày 31/12/ 1959

2 Quốc hội khoá 2 (8/5/ 1960 – 26/4/ 1964)

3 Quốc hội khoá 3 (26/4/ 1964 – 11/4/ 1971)

4 Quốc hội khoá 4 (11/ 4/ 1971- 6/4/ 1975)

5 Quốc hội khoá 5 (6/4/ 1975 – 26/4/ 1976)

6 Quốc hội khoá 6 (25/4/ 1976 – 26/4/ 1981), Quyết định đổi tên nước tathành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

7 Quốc hội khoá 7 (26/4/ 1981- 19/4/ 1987)

8 Quốc hội khoá 8 (19/4/ 1987- 19/4/ 1992), thông qua bản Hiến pháp nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại kỳ họp ngày 15/4/ 1992

9 Quốc hội khoá 9 (19/ 7/ 1992 – 20/7/ 1997)

10 Quốc hội khoá 10 (20/7/ 1997 – 19/5/ 2002), kỳ họp thứ 10 đã thôngqua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

11 Quốc hội khoá 11 (19/5/ 2002 – tới nay)

Trang 11

Từ năm 1946 đến nay, nước ta có 4 bản Hiến pháp

Nội dung các bản Hiến pháp đã khẳng định ngay từ đầu tính chất cơ bảncủa Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Điều này

đã được thể hiện cụ thể:

* Hiến pháp 1946: Về mặt chính thể đã khẳng định: “Nước Việt Nam làmột nước Dân chủ Cộng hoà Tất cả quyền bính trong cả nước là của toàn thểnhân dân”

Nghĩa vụ và quyền lợi công dân được ghi nhận rõ ràng: “Tất cả công dânViệt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá”(Điều 6) “Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham giachính quyền và công cuộc kiến quốc…” (Điều 8) “Nam nữ bình quyền về mọiphương diện” (Điều 9) “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận: tự

do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lạitrong nước và ngoài nước” (Điều 10)

- Thực hiện chế độ bầu cử, phổ thông đầu phiếu tự do, trực tiếp và bỏphiếu kín (Điều 17 Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu mình đã bầu ra, cóquyền phủ quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia(Điều 21)

- Nghị viện nhân dân là do công dân Việt Nam bầu ra, là cơ sở có quyềncao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nghị viện có quyền lập hiến

Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước đều thựchành nguyên tắc tập trung dân chủ”

- Điều 5, ghi: Đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp

có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra không xứng đáng với

sự tín nhiệm của nhân dân”

Trang 12

- Điều 6, ghi: “Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên

hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”.Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độdân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật gây thiệt hại cho Nhànước hay cho nhân dân

* Hiến pháp 1980: Đây là bản Hiến pháp thể chế hoá Nghị quyết Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tên là Hiếnpháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lời nói đầu bản Hiến phápnày đã chỉ rõ: “Là luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp này đã quy định chế

độ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân, cơ cấu

tổ chức và nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Nhà nước Nó thể hiện mốiquan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý trong xã hộiViệt Nam”

Thể chế và tổ chức bộ máy Nhà nước ở cấp Trung ương đã thể hiện tưtưởng làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV đề ra

- Điều 3, ghi: “Ở nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người làmchủ tập thể là nhân dân lao động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nôngdân tập thể, tầng lớp tri thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác

mà nòng cốt là Liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo”

- Điều 4, ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạoNhà nước, lãnh đạo xã hội: là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạngViệt Nam”

- Hiến pháp 1980 quy định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhândân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyếtđịnh những chính sách cơ bản của Nhà nước về đối nội, đối ngoại, những mụctiêu phát triển kinh tế, văn hoá, những nguyên tắc tổ chức và hoạt động chủ yếucủa bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động củaNhà nước

Bản Hiến pháp này có quy định tổ chức Hội đồng Nhà nước và Hội đồng

Bộ trưởng, Chính phủ của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* Hiến pháp 1992: Thể hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản ViệtNam và thể hiện rõ tính chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân và vì dân Cụ thể:

Trang 13

- Điều 2, ghi: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhândân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầnglớp tri thức”.

- Điều 12, ghi: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừngtăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật”

Về chế độ kinh tế, Hiến pháp 1992 đã xác định: “Nhà nước phát triển nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần… với các hình thức tổ chức sản xuất, kinhdoanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhântrong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” Đáng chú ý là, Điều

21 đã quy định: “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổchức sản xuất kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế vềquy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc tế dân sinh Kinh

tế gia đình được khuyến khích phát triển”

Điều 23 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốchữu hoá” Trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,Nhà nước trưng mua, trưng dụng theo luật định

Các quyền tự do, dân chủ và nghĩa vụ công dân đã được xác định rõ vàđầy đủ hơn, thể hiện tính chất cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân trong Chương V

Tại kỳ họp thứ 10, khoá X, Bản Hiến pháp 1992 đã sửa đổi, bổ sung một

số điều

Điều 2 bản Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhà nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…”

Câu hỏi 5:

Quốc kỳ và quốc ca của nước ta ra đời trong hoàn cảnh nào? Do ai sáng tác? Ý nghĩa lịch sử của nó?

Trả lời:

1 Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quốc kỳ của nước ta nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh

Nhiều tài liệu, có trong danh mục sách tham khảo) khẳng định cờ đỏ saovàng (quốc kỳ hiện nay) xuất hiện lần đầu tiên trong Khởi nghĩa Nam kỳ cuốinăm 1940 Từ ngày 21 đến 27 tháng 7 năm 1940, Xứ uỷ Nam Kỳ Đảng Cộng

Trang 14

sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) họp tại ấp Tân Thiện,

xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho nhận định tình hình đã chínmuồi cho việc đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền của quần chúng cáchmạng và ra thông báo “Phải tập trung ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang đểgiành chính quyền” Hội nghị cũng cử đồngchí Phan Đăng Lưu ra Bắc báo cáoTrung ương và đề nghị phối hợp hành động

Để tiến tới khởi nghĩa, một vấn đề được đặt ra là cần có một lá cờ đểkhẳng định tổ chức, thống nhất hiệu lệnh chỉ huy và động viên quần chúng.Theo các tài liệu trên Ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giao việc này cho đồngchí Nguyễn Hữu Tiến (tức Trương Xuân Chính, Giáo Hoài) sinh ngày 5/3/

1901, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, quê tại tỉnh Hà Nam thực hiện Saunhiều lần phác thảo, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến đã sáng tác mẫu cờ Tổ quốcnền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh Trong một ngôi nhà của khu vườnrậm rạp, gần bãi tha ma gọi là xóm chuồng ngựa

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ Tập hợp dưới

lá cờ đỏ sao vàng, nhân dân các tỉnh Nam Bộ đã vùng dậy đập tan chính quyềncủa Pháp- Nhật và bọn tay sai ở nhiều nơi Tuy khí thế cách mạng của đảngviên và quần chúng rất cao nhưng do điều kiện chưa chín muồi, địch nắmđược chủ trương của ta nên cuộc khởi nghĩa thất bại và bị dìm trong bể máu.Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và hàng nghìn quần chúng cách mạng bịbắt, bị giết dã man Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến bị bắt và đã anh dũng hy sinhtrước họng súng quân thù ngày 28 tháng 8 năm 1941

Lá cờ đỏ sao vàng từ đấy đã xuất hiện nhiều lần trong các cuộc khởinghĩa, biểu tình của quần chúng Là cờ đã tung bay trên cả nước trong nhữngngày Tháng Tám 1945 lịch sử; trên quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2/9/

1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh một kỷ nguyênmới cho đất nước ta

Hình ảnh là cờ đỏ sao vàng, Quốc kỳ của nước ta cũng đã xuất hiện nhiềulần trong thơ của Hồ Chí Minh Trong tập thơ “Nhật ký trong tù” viết vào năm

1941, hình ảnh Quốc kỳ đã xuất hiện trong thơ của Người:

KHÔNG NGỦ ĐƯỢC

Một canh…hai canh…lại ba canhTrằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thànhCanh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Ngày đăng: 11/01/2022, 15:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w