1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh tiểu học qua phân môn tập đọc lớp 4, 5

174 336 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ là một việc làm quan trọng và cần thiết đối với học sinh bậc Tiểu học nói chung và đặc biệt cầnthiết hơn đối với học sinh lớp 4, 5 - những lớp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Khuất Thị Lan

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩKhuất Thị Lan, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học vàcác thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - những người đã nhiệttình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu tại trường

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các cô giáo chủnhiệm và các em học sinh trường Tiểu học Lê Hồng Phong - Hạ Long -Quảng Ninh, trường Tiểu học Hạ Long - Hạ Long - Quảng Ninh , trường Tiểuhọc Văn Lang - Hạ Long - Quảng Ninh, trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm - HạLong - Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình hai bên nội ngoại, bạn bè,người thân và đồng nghiệp - những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốtquá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày 5 tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Phí Thị Thu Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kì công trình khoa học nào khác Nếu có sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Phí Thị Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 3

5 Giả thiết khoa học 4

6 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Những nghiên cứu về đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản thơ 5

1.1.2 Thơ và đặc điểm văn bản thơ 8

1.1.3 Đặc điểm tâm lí, trí tuệ, năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 4, 5 13 1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của văn bản thơ trong phân môn Tập đọc ở Tiểu học 18

1.2.2 Giới thiệu chương trình tập đọc lớp 4, 5 19

1.2.3 Việc dạy đọc hiểu văn bản thơ trong chương trình Tập đọc lớp 4, 5

22 1.2.4 Hiệu quả của việc rèn kĩ năng đọc hiểu 30

1.2.5 Khảo sát thực tiễn dạy học đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 tại một số trường Tiểu học 33

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2 KĨ THUẬT ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ VÀ ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 43

2.1 Vận dụng một số kĩ thuật rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Tập đọc 43

Trang 6

2.1.1 Kĩ thuật biết (nhớ lại) sự kiện, hiện tượng, thuật ngữ 44

2.1.2 Kĩ thuật hiểu (lĩnh hội) ý nghĩa của thông tin 47

2.1.3 Kĩ thuật phân tích nội dung 49

2.1.4 Kĩ thuật tổng hợp thông tin để tạo ra ý tưởng mới 51

2.1.5 Kĩ thuật đánh giá nhận định giá trị của văn bản 52

2.1.6 Kĩ thuật vận dụng điều vừa đọc vào những tình huống cụ thể 55

2.2 Đề xuất quy trình đọc hiểu văn bản thơ trong chương trình Tập đọc lớp 4, 5 56

2.2.1 Bước 1: Hướng dẫn học sinh đọc văn bản (đọc thầm, đọc lướt) 56

2.2.2 Bước 2: Hướng dẫn học sinh xác định được nội dung chính của bài 58

2.2.3 Bước 3: Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi tìm hiểu bài 60

2.2.4 Bước 4: Hướng dẫn học sinh lập sơ đồ tổng hợp khái quát hóa nội dung bài đọc và diễn đạt bằng lời hoặc viết cảm nghĩ của bản thân về bài đọc 66

2.2.5 Bước 5: Hướng dẫn học sinh làm bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu và vận dụng 69

2.3 Vận dụng một số kĩ thuật dạy học mới vào việc rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ trong chương trình Tập đọc lớp 4, 5 66

2.3.1 Các kĩ thuật dạy học mới ở Tiểu học 74

2.3.2 Vận dụng một số kĩ thuật dạy học mới trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ lớp 4, 5 76

Tiểu kết chương 2 87

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88

3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm 88

3.2 Nội dung thực nghiệm 88

3.3 Đối tượng thực nghiệm 88

3.4 Tiến trình thực nghiệm 89

3.4.1 Chuẩn bị thực nghiệm 89

Trang 7

3.4.2 Tiến hành dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 89

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 89

3.5 Giáo án thực nghiệm 89

3.6 Kết quả thực nghiệm 111

3.6.1 Kết quả trước thực nghiệm 111

3.6.2 Kết quả sau thực nghiệm 111

3.7 Nhận xét kết quả thực nghiệm 112

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Năng lực Đọc hiểu của học sinh Tiểu học 17

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về năng lực đọc hiểu văn bản thơ của học sinh 34

Bảng 1.3 Kết quả điều tra đối với học sinh 37

Bảng 1.4 Kết quả khảo sát các hoạt động được giáo viên quan tâm (tập trung nhiều) trong tiến trình dạy đọc hiểu 38

Bảng 1.5 Kết quả khảo sát câu hỏi 2 38

Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 111

Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 111

Trang 10

1

Trang 11

1.2 Đọc hiểu đối với học sinh Tiểu học trước hết là đọc hiểu văn bản.

Tuy nhiên, văn bản lại là một khái niệm rộng, gồm nhiều thể loại khác nhau.Mỗi thể loại lại có những đặc trưng riêng về nội dung, hình thức cũng nhưcách tiếp cận Trong các thể loại văn bản, chúng tôi tập trung chú ý đến thểloại thơ Bởi, thơ là thể loại văn bản có sự thể hiện nội dung và tình cảm theocách rất riêng Bên cạnh đó, thơ là thể loại đòi hỏi sự sáng tạo cao Đọc hiểutác phẩm thơ là một trong những kĩ năng quan trọng giúp học sinh phát triểnnăng lực giao tiếp

1.3 Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh Tiểu học được thực

hiện chủ yếu qua phân môn Tập đọc Tuy vậy, vì những lí do khách quan vàchủ quan, dạy đọc hiểu ở trường Tiểu học còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa pháthuy được hết năng lực của học sinh Thực tế, học sinh chưa hứng thú với giờTập đọc, chưa thể tìm ra nội dung bài một cách dễ dàng, học sinh còn lúngtúng khi đọc hiểu văn bản trong và ngoài chương trình, đặc biệt là các tácphẩm thơ Nên dù sử dụng phương pháp nào, thì vai trò tổ chức, hướng dẫncủa giáo viên trong việc rèn kĩ năng đọc hiểu là rất quan trọng Giáo viên có

Trang 12

vai trò dẫn dắt các em tiếp cận nội dung văn bản qua hệ thống câu hỏi, sự liênkết giữa các đoạn trong bài Từ đó, các em có thể đọc hiểu một bài thơ dễdàng hơn.

1.4 Có thể nói rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ là một việc làm quan

trọng và cần thiết đối với học sinh bậc Tiểu học nói chung và đặc biệt cầnthiết hơn đối với học sinh lớp 4, 5 - những lớp học cuối cấp Tiểu học nóiriêng Bởi lẽ, đọc hiểu là tiền đề giúp các em có thể phân tích, chứng minh,lập luận, giải thích, để có thể hiểu một bài thơ ở chính cấp học này và cáccấp học cao hơn Với mong muốn rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ, từ đó gópphần nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu văn bản thơ trong phân môn Tậpđọc đồng thời bồi đắp cho các em tình yêu, lòng say mê, sự hứng thú đối với

phân môn này, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Rèn kĩ năng đọc

hiểu văn bản thơ cho học sinh Tiểu học qua phân môn Tập đọc lớp 4, 5".

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đọc hiểu và việc dạy đọc hiểu văn bản thơ cho học sinh lớp 4, 5

- Một số kĩ thuật rèn kĩ năng đọc hiểu thơ và cách vận dụng

- Các bước thực hành đọc hiểu văn bản thơ

4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn: Tìm hiểu các tài liệu liênquan đến đề tài, phân tích ngữ liệu, từ đó đưa ra cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp này nhằm tìm hiểu thựctrạng hiện nay của việc dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 làm cơ sở cho vấn

đề nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này được sử dụngnhằm liệt kê một cách có hệ thống các văn bản thơ trong chương trình Tậpđọc lớp 4, 5 Đây là những ngữ liệu thiết thực đối với việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng đểphân tích tài liệu và tổng hợp các luận điểm cho đề tài

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Phương pháp này được dùng khi

đã có kết quả điều tra, quan sát, nghiên cứu, nhằm khẳng định lại chắc chắncác kết luận đã được rút ra

Trang 14

4.2 Thủ pháp nghiên cứu

- Thủ pháp so sánh, đối chiếu

5 Giả thuyết khoa học

Nếu rèn một cách hợp lí kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ trong dạy tập đọccho học sinh lớp 4, 5 thì sẽ phát huy được sự tích cực, chủ động phát hiện,tiếp thu, ghi nhớ kiến thức của học sinh, qua đó góp phần nâng cao chất lượngdạy - học phân môn này

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn kĩ năng đọc hiểuvăn bản thơ cho học sinh lớp 4, 5 thông qua phân môn Tập đọc

Chương 2: Kĩ thuật đọc hiểu văn bản thơ và đề xuất quy trình đọc hiểuvăn bản thơ cho học sinh lớp 4, 5 qua phân môn Tập đọc

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5

THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Những nghiên cứu về đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản thơ

Có thể nói hoạt động đọc là hoạt động cơ bản nhất trong phân môn Tậpđọc, gồm các kĩ năng: đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm Trong

đó, đọc hiểu có vai trò quan trọng nhất Có nhiều quan niệm về đọc hiểu đượcđưa ra

Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học

chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc” Hay: “Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” [13, tr.18]

Theo tác giả Trần Đình Sử:“Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá

trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”

[17]

Theo tác giả Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng

định: “Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã

được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình" [9, tr.26]

Tuy nhiên, chúng tôi thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu về đọc hiểuđều thống nhất cho rằng: Đọc hiểu là đọc kết hợp với việc hình thành năng lựcgiải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng - sai về logic, đọc hiểu là sự kếthợp giữa năng lực, tư duy và biểu đạt Nó là kĩ năng được hinh thành ở mônTiếng Việt, phát triển thành kĩ năng học tập và được vận dụng, củng cố trongcác môn học khác

Trang 16

Theo ý kiến của chúng tôi: Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người

để lĩnh hội tri thức và bồi dưỡng tâm hồn

Các thể loại văn học đưa vào SGK Tiểu học phong phú và đa dạng:Truyện, kịch, tùy bút, thơ, kí, Trong đó, thơ chiếm một vị trí rất quan trọng.Đọc văn là cơ sở để học văn và đọc hiểu thơ là vấn đề cơ bản trong việc dạy -học văn, nhưng lại vô cùng phức tạp Các nghiên cứu về đọc hiểu và dạy đọchiểu không chỉ để xác định chính xác thời gian xuất hiện của thuật ngữ đọchiểu Bởi thuật ngữ kép đọc hiểu (reading comprehension) có thể xuất hiện từrất sớm, nhưng lí thuyết đọc hiểu lại xuất hiện muộn hơn

Trên thế giới, lí thuyết đọc hiểu rất được quan tâm tới nên từ nhiều thập

kỉ trước đã có các nghiên cứu và rất nhiều công trình khoa học, bài báo viết vềvấn đề đọc hiểu và dạy học đọc hiểu Khoảng từ năm 1970 trở lại đây, nhiềubài báo, công trình viết về vấn đề đọc và liên quan đến đọc hiểu trong phạmtrù đọc văn bản, tiêu biểu như: K.Goodman (1970), A.Pugh (1978), P.Arson(1984), L.Baker A.Brown (1984), U.Frith (1985), M.Adams (1990), A.Blake

K với "Các kĩ năng đọc ở trường trung học phổ thông", R.Vemezki với "Yêu

cầu kĩ năng của việc đọc", Sorenbenalt với "Phản ứng tâm lí của quá trình đọc"

Ở nước ta, khoảng từ đầu thập kỉ chín mươi của thế kỉ XX, việc dạyđọc hiểu mới được đặt ra như một vấn đề độc lập cần được nghiên cứu Khithuật ngữ “đọc hiểu” và “đọc hiểu văn bản” được sử dụng thay thế cho têngọi “giảng văn” thì vấn đề đọc hiểu văn bản càng được quan tâm nghiêncứu, chủ thể hoạt động là học sinh và hoạt động chủ đạo là đọc hiểu văn bản.Những người quan tâm đến vấn đề này phải kể đến các tác giả Trần Đình

Sử, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thanh Hùng, Đỗ Ngọc Thống, Lê PhươngNga, Nguyễn Thái Hoà, Phạm Thị Thu Hương, cùng đội ngũ các nhà nghiêncứu trẻ, đội ngũ giáo viên đang trực tiếp dạy học Xung quanh vấn đề dạy

Trang 17

học Tập đọc ở Tiểu học có rất nhiều tác giả đề cập đến Tiêu biều phải kể đến các tác giả sau đây:

Tác giả Lê Phương Nga khẳng định: "Đọc hiểu là một hoạt động có tính

chất quá trình rất rõ vì nó gồm nhiều hành động được trải ra theo tuyến tính thời gian: hành động nhận diện ngôn ngữ, hành động làm rõ nghĩa của các chuỗi tín hiệu ngôn ngữ và hành động hồi đáp lại ý kiến của người viết nêu trong văn bản" [16, tr.24]

Trong cuốn “Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường

phổ thông” [14] tác giả Phạm Thị Thu Hương đã đưa ra một số chiến thuật

khá mới mẻ như: đánh dấu và ghi chú bên lề, câu hỏi kết nối tổng hợp, mốiquan hệ hỏi đáp, đọc suy luận, cuốn phim trí óc, hỗ trợ tích cực cho quátrình đọc hiểu văn bản

Tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã đề cập đến việc tổ chức dạy đọc hiểu và

xây dựng hệ thống bài tập đọc hiểu ở lớp 4 và lớp 5 trong luận án “Rèn luyện

kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và lớp 5” [10] Tác giả còn tiếp tục trình

bày khá thuyết phục về cơ sở thực tiễn cũng như khoa học cơ sở của việc dạy

học đọc hiểu ở Tiểu học trong chuyên luận Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học [9] Tác giả Nguyễn Trí khẳng định trong cuốn “Một số vấn đề về dạy học

Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học” [24] đọc là kĩ năng học sinh

sử dụng nhiều nhất, trong đó đọc thầm được sử dụng nhiều hơn cả mà nhắctới đọc thầm tức là nói đến đọc hiểu bởi đọc hiểu là đích của hoạt động đọc.Tác giả cũng nhận xét nếu quan niệm đọc tức là hiểu thì kinh nghiệm rèn kĩnăng thông hiểu bài đọc còn rất yếu

Những vấn đề quan trọng của việc đọc hiểu văn bản văn học trong nhàtrường phổ thông đã được tác giả Nguyễn Thanh Hùng trình bày tương đối

đầy đủ và hệ thống: “Đọc hiểu là một phạm trù khoa học trong nghiên cứu và

giảng dạy văn học Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc,

Trang 18

hành động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ ” [12, tr.34]

Ở Việt Nam, một nhóm chuyên gia đã Việt hóa EGRA quốc tế và xâydựng bộ công cụ đánh giá kĩ năng đọc trên một quy mô khá lớn từ năm 2013,với các mục tiêu: Học để biết đọc và đọc để phục vụ việc học Theo đó, họcsinh lớp 4, 5 cấp Tiểu học bắt đầu bước vào thời kì đọc để phục vụ việc học.Với việc đi sâu tìm hiểu những biện pháp tối ưu để dạy học đọc hiểu ởmột môn học, một lớp học cụ thể, công trình này đã giúp giáo viên và họcsinh Tiểu học dạy tốt và học tốt môn Tiếng Việt

Số lượng các công trình nghiên cứu về đọc hiểu và dạy học đọc hiểutrên thế giới và trong nước rất đồ sộ, nhiều ý kiến đưa ra rất sâu sắc song

có thể thấy, các công trình hầu hết mang tính vĩ mô, khai thông lí thuyết,hướng sự quan tâm tới việc khẳng định đọc hiểu là hoạt động quan trọngcủa con người, giúp con người tiếp thu tri thức, để phát triển về cả tâm hồn

và thể chất

1.1.2 Thơ và đặc điểm văn bản thơ

1.1.2.1 Khái niệm văn bản thơ

Cho tới nay, đã có không ít định nghĩa, quan niệm khác nhau về thơ Bởi

lẽ do nội hàm khái niệm thơ vô cùng phong phú Mỗi thời đại, tùy theo xuhướng, tùy từng nhà thơ mà hiểu thơ khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau

Các nhà thơ phương Tây thời kỳ hiện đại có xu hướng xem thơ là

nghệ thuật ngôn từ Làm thơ tức là làm cho ngôn ngữ trở thành tác phẩm nghệ thuật.

Theo các nhà cấu trúc luận Pháp, thơ là một hệ thống ký hiệu Ý nghĩa

của tác phẩm thơ tùy thuộc vào các quan hệ bên trong văn bản Phê bình mới

Mỹ xem thơ là một hình thức ngôn ngữ có tính chất tự quy chiếu và tự đầy đủcho nó

Trang 19

Nếu A.Musser cho rằng thơ là cảm xúc với luận điểm nổi tiếng: "Hãy

đập vào trái tim, thiên tài là ở đó" thì P.Valéry cho thơ là ngày hội tưng bừng

của trí tuệ

Còn theo quan niệm của nhóm tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên),

Nguyễn Văn Khang, Vũ Quang Hào:"Thơ là hình thức nghệ thuật dùng ngôn

ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu, vần điệu để thể hiện ý tưởng và cảm xúc nào

đó của tác giả một cách hàm súc" [27, tr.27]

Ở một góc độ khác, Phan Ngọc cho rằng: "Thơ là một cách tổ chức ngôn

ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này" [18, tr.18]

Theo ý kiến của chúng tôi: Thơ là loại hình nghệ thuật ngôn từ, sáng tạo.Trong thơ có tính nhạc và sử dụng triệt để các thủ pháp nghệ thuật, nhằm mụcđích mang tới cho người đọc những thông điệp trữ tình mới mẻ trong một giátrị thẩm mĩ độc đáo

1.1.2.2 Đặc trưng văn bản thơ

Thơ là thể loại văn bản có nhiều đặc trưng riêng Nhận diện được nhữngđặc điểm cơ bản của thể loại văn bản này sẽ góp phần tạo cơ sở khoa học choviệc đọc hiểu văn bản theo thể loại đạt hiệu quả cao hơn Sau đây là một sốđiểm đặc trưng của thể loại này:

Thứ nhất, văn bản thơ có tính hàm súc (tính đa nghĩa)

Tính đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật chính là khả năng gợi nhiều tầng nghĩa trong văn bản nghệ thuật Nó đem lại sự tri giác về lớp nghĩa ngoài lời ở người đọc, người nghe (ý tại ngôn ngoại).

Đặc điểm chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương tính hàm súc

là Tuy nhiên, do đặc trưng của thể loại nên tính hàm súc biểu hiện một cáchtập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ Có thể nói tính hàm súctrong thơ là khả năng mà ngôn ngữ có thể miêu tả mọi hiện tượng của cuộcsống một cách cô đọng, ít lời nhưng diễn đạt được nhiều ý

Trang 20

Hàm súc còn có nghĩa là chính xác, giàu hình tượng, giàu cảm xúc, cótính truyền cảm và thể hiện cá tính của người nghệ sĩ Nếu như ngôn ngữ vănxuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, mọi lớp từ, mọi trạng thái,thậm chí cả những lời lẽ thuộc lớp từ thô tục cũng được chấp nhận để tái hiện

bộ mặt thực của cuộc sống, tâm lí con người trong sự đa chiều, sâu rộng vốn

có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính "tuyển chọn" Do số tiếngtrong câu thơ có sự hạn định tùy thế loại, nên người nghệ sĩ phải phát huy sự

tư duy ngôn ngữ để chọn từ ngữ "đắt" cho tác phẩm

Để có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sống qua những cái hữuhạn của các đơn vị ngôn ngữ, lại vừa đạt được tính hàm súc cao nhất trongthơ, thơ ca phải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt mà Phan Ngọc gọi là

"quái đản" Nói như Ôgiêrốp: "Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trong

một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất" Bởi vậy, Maiacôpxki gọi lao động nghệ

thuật ngôn từ của nhà thơ là "trả chữ với giá cắt cổ":

" Nhà thơ trả chữ Với giá cắt cổ Như khai thác Chất hiếm “rađiom”

Lấy một gam Phải mất hàng năm lao lực Lấy một chữ

Phải mất hàng tấn quặng ngôn từ."

Thứ hai, văn bản thơ có tính hình tượng - biểu cảm

Tính hình tượng là thuộc tính của lời nói nghệ thuật (lời nói thơ) truyền đạt không chỉ thông tin logic mà cả thông tin được tri giác một cách cảm tính nhờ hệ thống những hình tượng ngôn từ có mối tương quan với cấu trúc của văn bản nghệ thuật và ngôn ngữ văn hóa.

Trang 21

Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình.

Nó là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức Nhà thơ Pháp Alfret

de Mussé từng nói: "Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than

lúc bàn tay đang viết", "nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung động".

M Gorki cũng cho rằng: “Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm.

Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên Không có cuộc sống, không có thơ”.

Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta” Còn nhà thơ Tố Hữu lại cho rằng: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã

thật đầy” Đặt trong tương quan so sánh với văn xuôi, tác giả Hữu Đạt lại cho

rằng: "Khác với văn xuôi, thơ ca chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị

ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên

và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh con người"

Có thể nói, thơ là tiếng nói của tâm tư, là những rung động của tráitim trước cuộc đời Nhưng tình cảm trong thơ không tự nhiên mà có Nhiềukhi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên thơ thườnglời ít, ý nhiều Vì thế, thơ tạo điều kiện cho người đọc được “đồng sángtạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để pháthiện, tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những đặc sắc trong tưduy nghệ thuật của mỗi nhà thơ

Thơ không chỉ là cảm xúc mà là cả lí trí Đó là chiều sâu của nhận thức.Bài thơ sẽ thiếu chất trí tuệ, nếu thơ chỉ thiên về cảm xúc mà thiếu đi sự suytưởng triết lí mang tính khái quát về cuộc sống Vì thế mà thơ cũng có thế

giới ngôn ngữ riêng Ngôn ngữ thơ có 3 đặc trưng cơ bản là tính chính xác,

Trang 22

tính hình tượng và tính biểu cảm Thơ còn có màu sắc, đường nét của hội hoạ,

thanh âm của âm nhạc và hình khối của chạm khắc (điêu khắc) Nhà thơ làngười có phong cách nghệ thuật độc đáo Mỗi nhà thơ sẽ có cách tiếp cận, ápdụng riêng vốn ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ nghệ thuật đểđưa vào bài thơ, giúp phát huy sự phong phú của tiếng Việt, góp phần làm chotiếng Việt ngày càng giàu có, trong sáng

Thứ ba, văn bản thơ có tính thẩm mĩ

Tính thẩm mĩ của văn bản nghệ thuật chính là khả năng biểu hiện cái đẹp và khơi gợi những cảm xúc về cái đẹp nơi người đọc, người nghe.

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ củangôn từ Trong văn bản nghệ thuật, ngôn ngữ với tư cách là chất liệu xâydựng hình tượng, có sự tổng hoà của các yếu tố như: ngữ âm, từ vựng và ngữnghĩa…được phối hợp để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ nhất định

Những tác phẩm thơ chân chính thường bắt nguồn từ thực tại và mang ýnghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại, qua đó đó là cầu nối

để người với người có sự đồng cảm với nhau Thơ thường không trực tiếp kể

về sự kiện, nhưng luôn có ít nhất một sự kiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩmãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ mà văn bản thơ là sự thể hiện của niềm rungđộng ấy Mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt Các dòng thơ, câuthơ, khổ thơ, đoạn thơ được sắp xếp để làm nên một hình thức có tính tạohình Bên cạnh đó, sự hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thốngnhất vừa biến hóa tạo nên tính nhạc điệu Hình thức ấy làm nên vẻ nhịpnhàng, trầm bổng, luyến láy của văn bản thơ

Đọc hiểu một tác phẩm không chỉ là gợi ra và hiểu được sự diễn đạt củangôn ngữ mà phải phân tích khám phá chiều sâu của các yếu tố ngôn ngữđược sử dụng mới thấy được hình thức nghệ thuật độc đáo mang tính thẩm mĩcủa tác phẩm và nỗi niềm của tác giả gửi gắm trong đó

Trang 23

Từ những đặc trưng của thơ, thi sĩ Sóng Hồng có viết: “Thơ là một hình

thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là có tình cảm, lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường".

1.1.2.3 Vai trò của văn bản thơ với cuộc sống

Rasul Gamzatov (nhà thơ Nga, nhà "thông thái phương Đông trong văn

học") từng nói: "Nếu như các nhà thơ không tham gia vào việc tạo dựng thế

giới này thì thế giới không trở nên tươi đẹp như thế này Thiếu thơ ca không

gì có thể trở thành chính nó" Nói như nhà thơ Sóng Hồng "Thơ biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp" Hay theo Hoàng Đức Lương: "Thơ là sắc đẹp ở ngoài sắc, vị ngọt ở ngoài vị, không thể trông bằng mắt thường, nếm bằng miệng thường, chỉ có thi nhân thì trông mới thấy đẹp, nếm mới thấy ngon".

Thơ là vậy đó, các nhà thơ "tạo dựng nên thế giới" qua những khám phá mớicủa họ Cuộc sống thường ngày vẫn diễn ra với những gì vốn có của nó Tuynhiên, chỉ đến với thơ ca, con người mới khám phá được những cái đẹp thuầntúy mà trước đó không phải ai cũng phát hiện ra

Thơ trân trọng cái đẹp của cuộc đời mà con người đấu tranh, bảo vệ mới

có được Thơ giúp tâm hồn người dân lao động trở nên phong phú Cuộc sốnghàng ngày của họ không tẻ nhạt mà có những ý niệm về tình yêu đôi lứa Thếgiới trong thơ ca hiện đại tươi đẹp hơn biết bao, nó hướng con người ta tới cáichân - thiện - mĩ Khi đọc những vần thơ, tâm hồn ta như rộng mở trước thếgiới vừa thực, vừa mộng Cái thế giới ấy mới thực sự là điều để ta vươn tới

1.1.3 Đặc điểm tâm lí, trí tuệ, năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 4, 5

1.1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4, 5

Khi trẻ đủ 6 tuổi, sẽ chuyển từ cấp học Mầm non sang Tiểu học Đó làmột bước ngoặt có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời các em Từ 6 - 11 tuổi là

Trang 24

lứa tuổi của học sinh Tiểu học Các em trở thành học sinh, đến trường vớinhiều điều mới lạ, với những mối quan hệ mới và phức tạp hơn Học sinhTiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý,

xã hội Các em hồn nhiên, ham hiểu biết, có lòng vị tha, dễ thích nghi và tiếpnhận cái mới Tuy vậy, ở lứa tuổi này, trẻ còn thiếu sự tập trung, chú ý cao độ.Trẻ chưa có chủ định và khả năng ghi nhớ chưa được phát triển mạnh, tínhhiếu động và dễ xúc động còn bộc lộ rõ Trẻ nhanh nhớ và nhanh quên

Đa số học sinh Tiểu học đều chuẩn bị sẵn sàng tâm lí khi đi học Chúngmuốn đến trường để xem ở trường có gì khác với ở nhà Tuy vậy, sự hứng thúcủa trẻ chỉ là hứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập nên hứngthú đó dễ mất đi Bởi vậy, cần làm sao cho trẻ hứng thú với chính quá trìnhhọc tập, hứng thú với sự hấp dẫn, mới lạ của nội dung tri thức

Khi trẻ bắt đầu vào học bậc Tiểu học, hoạt động chủ đạo diễn ra sẽ thayđổi, các em sẽ chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang học tập là chủđạo Chính vì vậy, các em sẽ có những biến đổi tâm lí của lứa tuổi Đó là sựthay đổi cơ bản hành vi của trẻ và mở ra những nguồn mới của sức mạnhnhận thức, đạo đức Hành động học lúc này là đối tượng được lĩnh hội Sau đóhoạt động học lại trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức, khái niệm khoahọc Ngay từ khi học lớp 1 và 2 hoạt động học đã bắt đầu nảy sinh, tuy nhiêntới lớp 3 và lớp 4 nó mới được hình thành và dần ổn định ở lớp 5

Ở lớp 4, 5, học sinh dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ýcủa mình Lúc này, chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế Khi đótrẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài hátdài, một bài thơ hay một công thức toán, Giai đoạn này, trẻ có thể hoàn toànkhông thích thú nhưng vẫn buộc phải theo dõi các đối tượng, phải nắm lấynhững điều cần hiểu biết Dần dần trẻ biết rằng mặc dù đó không phải lànhững đối tượng có sự hấp dẫn bên ngoài nhưng vẫn phải duy trì chú ý một

Trang 25

cách bền vững, vì đó là những đối tượng cần thiết Trong sự chú ý của trẻ sẽxuất hiện thêm giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã bắt đầu định lượng đượckhoảng thời gian cho phép để thực hiện một việc nào đó và cố gắng hoàn tấtcông việc trong khoảng thời gian quy định.

1.1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4, 5

Tri giác của học sinh lớp 4, 5 còn mang tính tổng thể, ít đi sâu vào cụthể Tuy nhiên, trẻ đã bắt đầu có khả năng nhận dạng, phân tích dấu hiệu, chitiết nhỏ của một đối tượng nào đó Với những sự vật, hiện tượng, trẻ đượccầm nắm, chạm vào thì tri giác sẽ tốt hơn Bởi tri giác của học sinh Tiểu họcvẫn gắn nhiều với hành động và hoạt động thực tiễn Bên cạnh đó, trẻ vẫnchưa thể tri giác một cách chính xác về không gian thời gian cũng như độ lớncủa những vật quá lớn hoặc quá nhỏ

Khác với tư duy mang tính cụ thể, hình thức, dựa vào đặc điểm bênngoài của trẻ mới đến trường, học sinh lớp 4, 5 đã có tư duy mang những nétkhái quát nhờ hoạt động học tập Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợpcủa trẻ còn sơ đẳng Trẻ còn gặp khó khăn trong việc thiết lập các mối quan

hệ nhân - quả Vì vậy, việc học tiếng Việt và học toán sẽ giúp các em biếtphân tích tổng hợp

Vì tưởng tượng của các em còn tản mạn, rời rạc, ít có tổ chức, hình ảnh

tưởng tượng thì đơn giản, dễ thay đổi Ngoài ra “nói dối” là một hiện tượng

gắn liền với sự tưởng tượng của trẻ Do đó, tưởng tượng tái tạo từng bướchoàn thiện

Chú ý có chủ định còn yếu và thiếu bền vững, chú ý không chủ địnhvẫn phát triển Sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt độnghọc tập Trí nhớ từ ngữ logic không phát triển bằng trí nhớ trực quan hìnhtượng Học sinh lớp 4, 5 còn nhiều em chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ýnghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc Khi giảng dạy, giáo

Trang 26

viên hướng học sinh ghi nhớ gắn với mục đích, như vậy sẽ giúp các em nhớnhanh hơn, chính xác hơn và lâu hơn.

1.1.3.3 Năng lực đọc hiểu văn bản thơ của học sinh lớp 4, 5

Đọc hiểu văn bản thơ là một trong những năng lực đặc thù cần hướng tớitrong mục tiêu dạy học phân môn Tập đọc, đáp ứng yêu cầu dạy học theođịnh hướng phát triển năng lực của học sinh Từ những năm đầu của bậc Tiểuhọc, học sinh đã biết và làm quen với việc đọc hiểu Tuy nhiên, khi lên lớp 4,

5, các em mới dần bộc lộ rõ năng lực đọc hiểu văn bản của mình, bởi năng lựckhông chỉ là biết và hiểu mà còn là khả năng thực hiện, là phải biết làm Nănglực đọc hiểu bao gồm 4 thành tố là: Xác định các thông tin từ văn bản; Phântích, kết nối các thông tin; Phản hồi và đánh giá văn bản; Vận dụng thông tin

từ văn bản vào thực tiễn

Nói tới năng lực đọc hiểu văn bản thơ của học sinh lớp 4, 5, đa phần họcsinh nắm rõ tên bài thơ, tên tác giả, thời gian và hoàn cảnh sáng tác, đó là cơ

sở ban đầu để tiếp cận tác phẩm Các em bước đầu biết đọc và quan sát đểnắm chắc bài thơ Qua việc đọc, phần đông các em đã xác định được chủ đề,chủ thể trữ tình (chủ thể trữ tình thường xuất hiện ở hai dạng: cái tôi trữ tình

và chủ thể trữ tình ẩn), đối tượng trữ tình, hình tượng trữ tình và giọng điệuchủ đạo của bài thơ Tuy nhiên, tới khi cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơqua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu, các biện pháp tu từ,… thì mới chỉ ít

em đáp ứng được việc đó Đối với những học sinh giỏi văn và những học sinh

có năng khiếu cảm thụ văn thơ, các em sẽ biết lí giải, đánh giá toàn bộ bài thơ

cả về hai phương diện nội dung và nghệ thuật Đặc biệt là có thể chỉ ra đượcnhững đóng góp của tác giả (thể hiện qua tác phẩm) cho thơ và cho cuộc sốngcon người

Trang 27

Bảng 1.1 Năng lực Đọc hiểu của học sinh Tiểu học

Trang 28

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ và vai trò của văn bản thơ trong phân môn Tập đọc ở Tiểu học

1.2.1.1 Vị trí của văn bản thơ trong phân môn Tập đọc

Thơ bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ: sự hiểu biết về cuộc sống, về con người,tình yêu thương đồng loại, sự cảm thông, sẻ chia, Tâm hồn của các em sẽ trởnên nghèo nàn nếu không có những bài thơ trong trường học Vì vậy các vănbản thơ trong phân môn Tập đọc có vị trí quan trọng trong việc giáo dục vàdạy học tiếng mẹ đẻ Hành động đọc là một hành động đặc biệt của hoạt độnggiao tiếp Đọc hiểu văn bản thơ là vận dụng sự hiểu biết về đời sống và tạođiều kiện để học sinh rèn luyện, vận dụng, tổng hợp các kĩ năng tiếng Việtnhư: nghe, nói, đọc trong hoạt động giao tiếp

1.2.1.2 Nhiệm vụ của văn bản thơ trong phân môn Tập đọc

Thơ đưa vào chương trình Tập đọc tiểu học hiện nay đã xác định đượcnội dung và mục đích giáo dục Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị, lời thơ giàunhạc điệu, hình ảnh, giúp các em dễ nhớ, mau thuộc Thơ viết cho các em,viết về các em trong chương trình sách giáo khoa, ngoài nhiệm vụ đáp ứngnhu cầu trước mắt là giáo dục đi đôi với giải trí nó còn mang tính thời đại lâudài Thiếu nhi là mầm non của đất nước, các em được cả xã hội nâng niu,chăm sóc, dạy dỗ ra sao, thì thơ dành cho thiếu nhi phản ánh điều đó rõ nétqua bút pháp riêng, nghệ thuật riêng Từ những quan sát về hoạt động cúa họcsinh trong môi trường sống, ta thấy học sinh tiến hành đọc hiểu để đáp ứng 3loại nhu cầu chính: học tập, mở rộng hiểu biết, giải trí Và các văn bản thơtrong phân môn Tập đọc có nhiệm vụ đáp ứng phần nào 3 loại nhu cầu đó củahọc sinh, ngoài ra còn góp phần phát triển ngôn ngữ, tư duy, phát triển kĩnăng đọc, nghe, nói, đồng thời làm giàu vốn sống, vốn văn học cho các em

Có thể nói, các văn bản thơ trong chương trình tiểu học hiện nay đã đạt đượctới những giá trị của văn học

Trang 29

1.2.1.3 Đặc điểm văn bản thơ trong chương trình Tập đọc lớp 4, 5

Về chủ đề: Các văn bản thơ được đưa vào chương trình Tập đọc lớp 4, 5

có nội dung và mục đích giáo dục rất rõ ràng, phù hợp với tâm lí lứa tuổi các

em Chủ đề của văn bản thơ xoay quanh các vấn đề về đời sống tinh thần củacon người như: lòng nhân ái, lòng tự trọng, tính trung thực, biết ước mơ, giàunghị lực, lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, yêu đời, tài năng của bản thân,sức khỏe, thẩm mĩ, các sở thích cá nhân: du lịch, thám hiểm, vui chơi,

Về cách thức diễn đạt: Các tác giả sử dụng ngôn ngữ để bộc lộ tâm tư,tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh Các câu thơ miêu tả cảmxúc, thái độ của người viết hoặc nhân vật trữ tình

Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ thơ giản dị, dễ hiểu, trong sáng, lời thơ giàunhạc điệu, vần điệu, giúp các em mau nhớ, dễ thuộc nội dung các bài thơ

1.2.2 Giới thiệu chương trình tập đọc lớp 4, 5

1.2.2.1 Nội dung sách giáo khoa chương trình Tập đọc lớp 4, 5

* Kiến thức:

- Lớp 4: Gồm 62 bài tập đọc, thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật,báo chí, khoa học: 45 bài văn xuôi, 1 vở kịch, 17 bài thơ (có 2 bài thơ ngắnđược học trong cùng một tiết)

- Lớp 5: Gồm 60 bài tập đọc, thuộc các loại dình nghệ thuật, báo chí,khoa học Trong đó có 40 bài văn xuôi, 2 vở kịch (trích), 18 bài thơ Nội dungcác bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 5 được mở rộng và phong phú hơn sovới các bài tập đọc ở lớp dưới Các bài đọc mở rộng vốn hiểu biết về thiênnhiên, cuộc sống của con người, bồi dưỡng tình cảm và nhân cách của họcsinh, Từ đó hình thành thái độ ứng xử, giao tiếp có văn hóa và phù hợp vớichuẩn mực đạo đức của dân tộc

* Kỹ năng:

- Ngoài việc tiếp tục củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đãđược hình thành, phát triển từ các lớp dưới, phân môn Tập đọc lớp 4, 5 rènluyện cho học sinh một kĩ năng mới là đọc diễn cảm

Trang 30

- Phân môn Tập đọc giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc - hiểu văn bản:+ Nhận biết đề tài cấu trúc của bài.

+ Biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt để tóm ý,

* Thái độ:

- Mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách chohọc sinh

- Nội dung các bài Tập đọc trong SGK không chỉ phản ảnh một số vấn đề

cơ bản về nhân phẩm, đạo đức, sở thích, của con người thông qua ngôn ngữvăn học, qua những hình tượng giàu tính thẩm mĩ và nhân văn mà còn có tácdụng mở rộng tầm hiểu biết, tầm nhìn về con người, tự nhiên, xã hội và đờisống Ngoài ra nó còn bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng, nhân cách cho học sinh

1.2.2.2 Thống kê các bài thơ trong chương trình lớp 4, 5

Trang 31

4 Dòng Ng 30 1

P h ạ

7

cổng t

g y 8

1 1

nh trì

N g y n

1 2 8

là Đ

1 4

ngô

1 5 1

0 Ca Cada17 1

1

5 Na TốH 31

Trang 32

7 Sang Vũ 33

1

8 Nếu Đỗ 34

1.2.3 Việc dạy đọc hiểu văn bản thơ trong chương trình Tập đọc lớp 4, 5

1.2.3.1 Dạy đọc hiểu văn bản thơ gắn với thể loại

Thơ là thể loại văn học có vần điệu, súc tích, ngắn gọn, có các quy luậtnhất định Thơ thường dùng như một hình thức biểu đạt cảm xúc trữ tình,hoặc tình cảm xúc động trước những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống

Thơ gồm có các thể loại: lục bát; song thất lục bát; thất ngôn tứ tuyệt;ngũ ngôn; thơ 8 chữ; thơ tự do;…Mỗi thể loại có một đặc trưng và hình thứcbiểu hiện riêng Trong chương trình Tập đọc lớp 4, 5, thơ tập trung vào cácthể loại: thơ tự do (11 bài), lục bát (9 bài), thơ 5 chữ (7 bài), 4 chữ (3 bài), 7chữ (2 bài), 6 chữ (2 bài), thơ 8 chữ (1 bài)

Thơ lục bát được coi là thể thơ thuần túy dân tộc vì có xuất phát từ dângian Thơ lục bát trước tiên gắn liền với ca dao Ca dao được sinh ra trongmôi trường, khung cảnh diễn xướng, ca hát, có lẽ bởi vậy thể thơ lục bátthường mang âm điệu uyển chuyển, mượt mà Một phần của âm điệu đó có lẽbắt nguồn từ cách sử dụng thanh điệu Ở thể thơ này, tiếng cuối câu lục hiệpvần với tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát lại hiệp với tiếng cuối câulục, những tiếng hiệp vần đó thường mang thanh bằng

V

í d ụ :

"Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm".

(Tố Hữu - Bầm ơi, TV5 tập 1)

Trang 33

Trong bài "Bầm ơi", bằng việc tìm sự đối xứng, tương phản và việc sửdụng thanh điệu kết hợp với các bộ phận khác của âm tiết tạo nên đã khắc họamột người mẹ vất vả, lam lũ, thầm lặng, quên nỗi đau của bản thân để hướng

về mặt trận, hướng về Tổ quốc

Cũng với thanh bằng trong thơ lục bát nhưng bài thơ "Mẹ ốm" lại mangmột âm hưởng khác

"Sáng nay trời đổ mưa rào

Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương

Cả đời đi gió đi sương

Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi".

(Trần Đăng Khoa - Mẹ ốm, TV4, tập 1)

Việc sử dụng phép ẩn dụ để nói lên sự vất vả gian nan của mẹ vì cáccon, dù mưa hay nắng mẹ vẫn làm việc vất vả Bài thơ "Mẹ ốm" nói lên tìnhcảm của tác giả dành cho mẹ của mình, qua đó nói lên tình yêu dành cho quêhương đất nước

Thể thơ tự do xuất hiện nhiều nhất trong chương trình Tập đọc lớp 4,

5 Thể thơ này đòi hỏi sự tự do về luật thơ để thể hiện sự phong phú trongtâm hồn mỗi cá thể Tuy nhiên, do đặc tính âm học của hệ thống thanhđiệu tiếng Việt: sự đối lập bằng - trắc, cao - thấp, nên theo nguyên tắc,trong thơ tự do vẫn có luật bằng trắc nhưng sự thể hiện và tính chất của

nó khác với các thể thơ các luật truyền thống Trong thời đại mới, cá tính,phong cách được đặt lên hàng đầu

Mỗi nhà thơ đều cố gắng phát hiện những hình thức mới nhằm chuyểntải nội dung mới Do đó, nhiều đặc điểm, tính chất của hệ thống thanh điệutiếng Việt được khám phá với những kết hợp mới mẻ giữa các ân vực, âmđiệu Tuy nhiên, mỗi tác giả luôn ý thức về việc hài hòa thanh điệu, về luậtbằng trắc

Trang 34

í d ụ :

"Trên sông Đà

Một đêm trăng chơi vơi

Tôi đã nghe tiếng ba-la-lai-ca

Một cô gái Nga mái tóc màu hạt dẻ

Ngón tay đan trên những sợi dây đồng"

(Quang Huy - Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà, TV 5 tập 1)

Sự phối hợp bằng trắc, thanh cao, thanh thấp trong từng dòng và giữacác dòng trong bài thơ thật sinh động Trong đó thanh bằng và các thanh có

âm vực thấp (thanh huyền, hỏi, nặng) chiếm ưu thế Bài thơ là tiếng đàn ngânnga, lan tỏa trong đêm trăng như lay động cả mặt nước sông Đà, là sự hòaquyện giữa con người với thiên nhiên, sự gắn bó giữa ánh trăng với dòngsông Hay ở một bài thơ khác, đối lập với hình ảnh dữ dội của chiến tranh làthái độ "ung dung" của người chiến sĩ lái xe, bài thơ không có hiệp vần nhưng

do phối thanh hiệu quả: thanh trầm, bằng trắc xen kẽ nhịp nhàng như nhữngbước hành quân ra mặt trận nên bài thơ vẫn đảm bảo tính nhịp nhàng, cân đối,

có âm hưởng

"Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng".

(Phạm Tiến Duật - Bài thơ về tiểu đội xe không kính, TV4 tập 2)

Đọc hiểu văn bản thơ nói chung và thơ trong chương trình Tiểu học nóiriêng, trước tiên phải chú ý đến hình thức tổ chức thơ, cách hiệp vần, phốithanh Thể thơ, vần điệu góp phần quan trọng trong việc cung cấp thông tintạo nên tính cảm xúc và nhạc điệu cho thơ

Trang 36

Tất cả các chữ 2 - 4 - 6 - 7 trong câu đều theo kết cấu hài âm bằng trắc

của Đường thi, mang lại sự hài âm theo quy ước “nhị, tứ, lục, thất phân minh”

góp phần tạo nên tính vần điệu, tính nhạc và cảm xúc cho thơ Có thể nói, xácđịnh đúng thể loại của văn bản thơ, nhìn ra được những đặc điểm của bài thơ

đó, việc đọc hiểu văn bản thơ sẽ trở nên dễ dàng hơn

1.2.3.2 Dạy đọc hiểu văn bản thơ gắn với chủ điểm

Dựa vào mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, kiến thức Tiếng Việttrong sách giáo khoa tích hợp các mảng kiến thức theo nguyên tắc đồng quy,Các mảng kiến thức về văn học, con người, thiên nhiên và xã hội được dạythông qua các chủ điểm học tập Khi tổ chức hệ thống bài đọc, bài học theochủ điểm, chương trình sách giáo khoa có mục đích dẫn dắt học sinh tới cáclĩnh vực của đời sống, nhằm tăng cường vốn từ, vốn diễn đạt của các em vềgia đình, nhà trường và xã hội Bên cạnh đó góp phần mở rộng cánh cửa chocác em bước ra thế giới xung quanh, soi vào thế giới tâm hồn của chính mình.Nếu như các văn bản thơ trong chương trình lớp 4 thực hiện các chủđiểm xoay quanh những vấn đề về đời sống tinh thần của con người nhưphẩm chất, sở thích, năng lực (nhân ái, trung thực, tự trọng, nghị lực, du lịch,thám hiểm, vui chơi, sức khỏe, thẩm mĩ, ), thì các văn bản thơ trong sách

Trang 37

giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 lại tích hợp kiến thức theo các mảng kiến thức vềvăn học, con người và xã hội (trích đoạn những tác phẩm văn học lớn như Ê-mi-li, con Hạt gạo làng ta, Đất nước, Bầm ơi, ), những bài hát viết về vẻđẹp thiên nhiên và giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường (Sắc màu emyêu, Bài ca về trái đất, ) theo hướng đồng quy với mười chủ điểm Để đọchiểu các bài thơ đó đòi hỏi học sinh phải nắm rõ chủ điểm chứa bài thơ, họcsinh có sự nhìn nhận về các vấn đề xã hôi, có kiến thức tích hợp giữa cácmảng kiến thức bao quát và cụ thể.

1.2.3.3 Dạy đọc hiểu văn bản thơ gắn với tác giả

Nội dung của văn bản thơ, mối quan hệ ý nghĩa của văn bản là do tác giả

tổ chức, xây dựng Vì vậy, đọc hiểu văn bản thơ gắn với tác giả là thấy được

tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm, thấy được giá trị đặc sắc của cácyếu tố nghệ thuật, biết và hiểu ý nghĩa của tử ngữ được dùng trong cấu trúcbài thơ, thể loại của văn bản thơ, hình tượng nghệ thuật Cụ thể là:

Đọc hiểu thơ phải nắm được hoàn cảnh sáng tác, biết vận dụng ngữ cảnh(hoàn cảnh sáng tác) để hiểu bài thơ Ngữ cảnh, lịch sử, xã hội, ý đồ và tâmthế của nhà thơ khi sáng tác là một căn cứ để giải thích ý thơ

V

í d ụ :

- Tháng 8-1942, Bác Hồ từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sangTrung Quốc, Người tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho Cách mạng Việt Nam,Tuy nhiên, khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địaphương ở đây bắt giữ Sau đó, Người bị giải đi gần khắp 30 nhà giam của 13huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đọa đày hơn một năm trời

"Quảng Tây giải khắp 13 huyện,

Mười tám nhà lao đã ở qua."

Thời gian này Bác đã viết " Nhật kí trong tù" bằng thơ chữ Hán, phầnlớn là thơ tứ tuyệt, gồm 133 bài Tập thơ nói lên một tâm hồn cao đẹp, ý chí

Trang 38

cách mạng kiên cường, thể hiện nghệ thuật thi ca đặc sắc Qua đó thấy mộtngòi bút vừa hồn nhiên, giản dị, lại vừa hàm súc, sâu sắc Dường như thơ Bácchứa đựng chất thép và chất tình, màu sắc cổ điển và tính hiện đại, bình dị kết

hợp với nhau một cách hài hòa Bài thơ "Ngắm trăng" của Hồ Chí Minh

(TV4, tập 2) rút trong tập " Nhật kí trong tù", ra đời khi Bác Hồ bị giam trongnhà lao Tưởng Giới Thạch Bài thơ là phong thái ung dung, coi thường hiểmnguy, gian khổ của Người Người luôn hướng đến thiên nhiên, bộc lộ tấmlòng ưu ái rộng mở với thiên nhiên, dù cho đang trong hoàn cảnh nào Muốnđọc hiểu bài thơ này, người đọc cần phải biết được hoàn cảnh sáng tác thì mới

có thể lí giải ý thơ một cách sâu sắc

- Buổi tối ngày 2-11-1965, ngay trước cửa Lầu Năm Góc - tòa nhà của

Bộ Quốc phòng Mỹ (Washington), đã xảy ra một sự kiện gây xúc động hàngtriệu trái tim người Mỹ và toàn thế giới Đó là hình ảnh anh Norman Morrison(31 tuổi) ôm chặt con gái Ê-mi-li (18 tháng tuổi) vào ngực Anh hôn con lầncuối cùng và tẩm xăng vào người mình, châm lửa tự thiêu để phản đối cuộcchiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam Hành động đó của anh đã khơi dậylàn sóng phản đối chiến tranh mạnh mẽ tại Mỹ cũng như trên toàn thế giới.Xúc động trước hành động dũng cảm của anh, nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ

"Ê-mi-li, con " (TV5, tập 1 - tr50)

Đọc hiểu văn bản thơ phải chú ý đến lời thơ của tác giả Lời thơ thườngdùng các các biện pháp tu từ để biểu hiện trực tiếp sự rung động trong tâmhồn của nhân vật trữ tình Lời thơ còn mang ý nghĩa khái quát về con người,

xã hội, mang tính thẩm mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc Tuy vậy, do ngôn từthường mang tính hàm súc nên ý nghĩa có khi nằm ở tầng nghĩa sâu nênngười đọc cần phải biết nhận thức, suy đoán, phân tích để thấy được ý ở ngoàilời (ý tại ngôn ngoại)

Trang 39

í d ụ :

Những ai đã từng đọc thơ Nguyễn Đình Thi, hẳn sẽ không thể quên

những câu thơ mở đầu bài Đất nước, bởi đó là một trong những đoạn tiêu biểu

cho sự hòa quyện giữa tình, ý, âm vang của "lời" và "tiếng"

"Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa."

(Nguyễn Đình Thi - Đất nước, TV5, tập 2)

Ở đây cái nhịp điệu man mác, cái nhịp vận động của hồn người đọc cấtlên, được phổ vào nhịp thơ Có thể nói, toàn bộ khổ thơ như một điệu hát củatâm hồn được tạo bởi: sự hòa điệu của nỗi nhớ mùa thu, của hương cốm, củamột buổi sáng mát trong, của gió ban mai, của sáng năm xưa và mùa thu đã

xa rồi Sự hòa điệu này cất lên thành "nhịp điệu bên trong, nhịp điệu của tâmhồn, là cốt lõi của thơ"

Nếu bài thơ "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi là những tiếng dội trầm sâu, thì bài "Tre Việt Nam" của Nguyễn Duy bằng hình tượng thơ gợi cảm, có chiều

sâu triết lí lại gây ấn tượng và cảm xúc về nhạc tính và âm điệu trữ tình thiếttha

Ngoài cách ngắt nhịp đặc biệt, nhà thơ Nguyễn Duy còn sử dụng biếnđổi hài hòa các biện pháp tu từ (nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, điệp từ) để viết lênnhững câu thơ đấy hình ảnh, nhạc điệu, đậm đà màu sắc dân gian và tre đã trởthành hình ảnh biểu tượng cho đức tính tốt đẹp của nhân dân ta, tre tượngtrưng cho sức sống mãnh liệt của dân tộc trên mọi chặng đường lịch sử

"Bão bùng / thân bọc lấy thân

Tay ôm,/ tay níu / tre gần nhau thêm.

Thương nhau / tre không ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên / hỡi người.

Trang 40

Chẳng may thân gãy / cành rơi

Vẫn nguyên cái gốc / truyền đời cho măng.

Nòi tre / đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn / như chông lạ thường.

Lưng trần / phơi nắng / phơi sương

Có manh áo cộc,/ tre nhường cho con

Mai sau,/

Mai sau,/

Mai sau,/

Đất xanh / tre mãi / xanh màu / tre xanh".

(Nguyễn Duy - Tre Việt Nam, TV4, tập 1)

Đọc hiểu thơ quan trọng nhất là cảm nhận được tâm trạng của nhân vậttrữ tình Bởi, nhân vật trữ tình (còn gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) làngười trực tiếp cảm nhận và bày tỏ cảm xúc trước một sự kiện, đối tượng nào

đó được nói đến trong bài thơ Do đó, đọc hiểu thơ cần phải nhạy cảm nắmbắt được mọi sắc thái ý nghĩa được biểu cảm qua nhân vật trữ tình để từ đóhiểu được ý đồ của người viết

V

í d ụ : Trần Đăng Khoa có nhiều đóng góp cho thơ ca nước nhà, góp

phần làm phong phú thêm nguồn cảm hứng thơ dào dạt xuôi chảy suốt hơnnửa thế kỉ thơ Việt Nam Nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa thời thơ

ấu là cậu bé cả nghĩ Em nghĩ về nỗi vất vả mà mẹ đã trải qua:

"Nắng mưa từ những ngày xưa

Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan."

(Trần Đăng Khoa - Mẹ ốm, TV4, tập 1)

Các nhà thơ mới có những đóng góp rất độc đáo trong việc tạo nhạc tínhcho thơ Khi đọc thơ của họ, ta sẽ bắt gặp những âm vang da diết, ta như thấynhững trùng điệp ngân rung hay những kiểu gieo vần, ngắt nhịp, những trầmbình thanh

Ngày đăng: 06/05/2019, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha (2009), Tiếng Việt giản yếu, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt giản yếu
Tác giả: Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Tony Buzan (2009), Bản đồ tư duy trong công việc, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy trong công việc
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2009
4. Tony Buzan (2011), Use Your Head, NXB Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use Your Head
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2011
6. Phạm Minh Hạc (chủ biên)(1988), Giáo trình Tâm lý học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1988
7. Phó Đức Hòa, Đặng Vũ Hoạt (2004), Giáo trình giáo dục Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phó Đức Hòa, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXBĐại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
8. Đỗ Việt Hùng (2014), Ngữ nghĩa học, từ bình diện hệ thống đến hoạt động, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học, từ bình diện hệ thống đến hoạtđộng
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2014
9. Nguyễn Thị Hạnh (2002), Dạy học đọc hiểu ở tiểu học, NXB ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học đọc hiểu ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2002
10. Nguyễn Thị Hạnh (1998), Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và lớp 5, luận án trong thư viện Quốc gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4và lớp 5
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 1998
11. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2008
12. Nguyễn Thanh Hùng chủ biên (2006), Kĩ năng đọc hiểu văn, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đọc hiểu văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng chủ biên
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2006
13. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhàtrường
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
14. Phạm Thị Thu Hương (2012), Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bảntrong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Ly Kha, (Số 6 (71) năm 2015), Sử dụng sơ đồ trong đạy tập đọc ở Tiểu học, Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng sơ đồ trong đạy tậpđọc ở Tiểu học
16. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2017), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ởTiểu học II
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2017
17. GS. TS Phan Trọng Ngọ, Chuyên đề: "Tâm lý học trí tuệ" . 18. Phan Ngọc, Thơ là gì? Tạp chí văn học số 1, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trí tuệ
19. Hoàng Phê chủ biên (2000), Từ điển tiếng Việt - NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê chủ biên
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2000
20. Trần Đình Sử, Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay, Thông tin Khoa học Sư phạm, số 1, tháng 8/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung vàphương pháp dạy văn hiện nay
21. Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt - NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1985
22. Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Khoahọc Xã hội
Năm: 1985
23. Bùi Ánh Tuyết (2016), Luyện siêu kỹ năng, Chuyên đề đọc hiểu văn bản, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện siêu kỹ năng, Chuyên đề đọc hiểu văn bản
Tác giả: Bùi Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w