1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 5 qua các bài tập đọc lớp 5 ở trường tiểu học uy nỗ (2014)

70 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ---LÊ THỊ YẾN TÌM HIỂU KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC LỚP 5 QUA CÁC BÀI TẬP ĐỌC LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC UY

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC -

LÊ THỊ YẾN

TÌM HIỂU KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH

TỪ LOẠI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC LỚP 5 QUA CÁC BÀI TẬP ĐỌC LỚP 5 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC UY NỖ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học:

THS LÊ BÁ MIÊN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoànthành khóa luận này Đặc biệt em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới thầy,

-thạc sĩ: Lê Bá Miên đã tận tình giúp đỡ chỉ bảo em trong việc nghiên cứu, để

em có thể hoàn thành bài khóa luận này

Do thời gian nghiên cứu và năng lực còn hạn chế Khóa luận khôngtránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô

và các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Yến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin khẳng định đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu khả năng xác

định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học Uy Nỗ” là của riêng em, không trùng lặp với bất kì đề tài nào

khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Yến

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu - Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Danh từ 9

1.1.1.1 Danh từ riêng 9

1.1.1.2 Danh từ chung 9

1.1.2 Động từ 11

1.1.2.1 Động từ không độc lập 11

1.1.2.2 Động từ độc lập 12

1.1.3 Tính từ 13

1.1.3.1 Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ 13

1.1.3.2 Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ 13

1.1.4 Hiện tượng chuyển di từ loại 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Sách giáo khoa và nội dung dạy học từ loại ở tiểu học 15

1.2.2 Việc dạy học từ loại cơ bản ở tiểu học 17

Chương 2 MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 19

Trang 5

2.1 Nhận diện phân định từ trong câu 19

2.1.1 Dựa vào cấu tạo từ 19

2.1.2 Dựa vào nghĩa của từ 20

2.1.3 Dựa vào ngữ điệu, cách ngắt nghỉ nhịp trong câu và trọng âm phân ranh giới từ 20

2.2 Nhận biết và phân loại từ loại cơ bản 22

2.2.1 Khả năng nhận biết danh từ 23

2.2.2 Khả năng nhận biết động từ 33

2.2.3 Khả năng nhận biết về tính từ 41

2.3 Nhận biết hiện tượng chuyển loại giữa các từ loại cơ bản 44

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 54

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Quyết định số 295/QĐ - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã

chỉ rõ vai trò và tính chất của Giáo dục Tiểu học: “Tiểu học là cấp học nền

tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho Giáo dục Phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân” Vì vậy, giáo dục Tiểu học cần được chuẩn bị tốt về

mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên trên

Trong chương trình tiểu học, Tiếng Việt là môn chính, chiếm nhiều tiếthọc trong tuần Trong các giờ Tiếng Việt, nhà trường đã cung cấp cho hoc sinhnhững kiến thức về ngôn ngữ như: kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, tu

từ học - phong cách học Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

Trong Tiếng Việt, phân môn “ Luyện từ và câu” có nhiệm vụ cung cấpkiến thức tiếng Việt cho học sinh, trong đó có kiến thức về ngữ pháp học

Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngay từ thời Hi Lạp cổ đại, gắn liền với sự

ra đời và phát triển của ngữ pháp học, từ loại đã được nghiên cứu rất sớm Nó

là vấn đề cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp học truyền thống, ở tiếng Việt cũngnhư ở nhiều ngôn ngữ khác, từ loại được xem là một bộ phận không thể thiếuđược trong cơ cấu ngữ pháp học Từ loại tiếng Việt hết sức phong phú, có thểxếp thành hai nhóm chính: nhóm thực từ và nhóm hư từ Trong thực từ, códanh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, ; trong hư từ có quan hệ từ, tình thái

từ, trợ từ, Trong danh từ, động từ, tính từ lại bao gồm những loại nhỏ hơn

Vì vậy, việc tìm hiểu từ loại tiếng Việt là rất rộng

Xác định từ loại chính xác cho các từ trong văn bản tiếng Việt là vấn đềrất quan trọng Việc xác định này sẽ hỗ trợ cho việc phân tích cú pháp các vănbản góp phần giải quyết tính đa nghĩa của từ và trợ giúp các hệ thống rút tríchthông tin đến ngữ nghĩa Hệ thống bài tập về từ loại có số lượng không nhiều

Trang 7

song vấn đề từ loại tiếng Việt được đưa vào bài giảng dạy ngay từ cấp tiểuhọc, trung học cơ sở, trung học phổ thông và lên đại học Các bài tập trongsách giáo khoa là cơ bản, đa số học sinh đều làm được do đó phân khó phânloại học sinh và phát hiện học sinh khá, giỏi Trong khi đó, để dạy học đạthiệu quả cao cần phân loại học sinh để các bài tập đưa ra tránh tạo sự nhàmchán hay khó quá đối với các em Qua điều tra thực tế xác định từ loại cơ bảncủa học sinh, chúng tôi nhận thấy còn những vấn đề tồn tại làm cho hiệu quảhọc từ loại tiếng Việt chưa cao Là giáo viên tiểu học tương lai, chúng tôi tựnhận thấy tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho học

sinh, chúng tôi mạnh dạn chọn và thực hiện đề tài “Tìm hiểu khả năng xác

định từ loại cơ bản của học sinhlớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học Uy Nỗ” làm đề tài khóa luận của mình.

2 Lịch sử vấn đề

Nói đến các công trình nghiên cứu về ngữ pháp trong đó có vấn đề từ

loại trước hết phải kể đến Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (1948) của tác giả Lê

Văn Lý với hơn 200 trang, dành cho vấn đề từ loại Ở đây, tác giả đưa ra cáctiêu chuẩn xếp loại bằng xem xét khả năng phối hợp của các từ ngữ

Năm 1960, trong cuốn Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại của

tác giả Nguyễn Tài Cẩn, đã khảo sát về một trong những từ loại quan trọngbậc nhất của tiếng Việt hiện đại: từ loại danh từ Tác giả nêu rõ đặc điểm củadanh từ, xem xét đoản ngữ có danh từ làm trung tâm

Tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả hai tiêuchí nội dung và hình thức (Hoàng Tuệ - 1962, Nguyễn Kim Thán 1963,UBKHXH 1983, Đinh Văn Đức 1986 )

Phân định từ loại tiếng Việt dựa vào đặc điểm ngữ pháp của từ mà đặcđiểm dựa vào cú pháp hoặc khả năng kết hợp từ (Phan Khôi, Lê Văn Lý,Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Phú Phong)

Trang 8

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, Luận văn thạc sĩ của giảngviên Lê Thị Lan Anh (Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 - 2006) cũng nghiên cứu về

từ loại qua đề tài Từ loại tiếng Việt và dạy từ loại cho học sinh tiểu học.

Bên cạnh việc đề cập đến các đặc điểm của từ loại tiếng Việt luận văn cònđưa ra những biện pháp nhằm giải quyết một số vấn đề về phương pháp dạyhọc tiếng Việt

Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu khả năng nhận diện và phân biệt các

từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính từ) của học sinh tiểu học (sinh viên

Nguyễn Thị Cẩm Vân, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) trình bày về một

số đặc điểm của ba từ loại cơ bản: danh từ, động từ, tính từ, đồng thời tìmhiểu khả năng nhận diện và phân biệt các từ loại cơ bản của học sinh tiểu học

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về từ loại, liên quan đến từ loạitiếng Việt đã trình bày hết sức chi tiết về đặc điểm của từ loại tiếng Việt.Song những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà chưa được thựcnghiệm ở trường Tiểu học, hai cuốn Luận văn thạc sĩ và Khóa luận tốt nghiệplại nghiên cứu hai khái cạnh là phương pháp từ loại và khả năng nhận diện vàphân biệt từ loại của học sinh tiểu học Bên cạnh việc kế thừa và phát huy kếtquả nghiên cứu của các công trình đó, chúng tôi mạnh dạn tiến hành điều tra

thực nghiệm một khía cạnh khác Đó là “Tìm hiểu khả năng xác định từ

loại cơ bản của học sinh lớp 5 qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường Tiểu học Uy Nỗ”.

3 Mục đích nghiên cứu - Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích sau:

Tìm hiểu thực tế khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh Trên cơ

sở đó nhận định đúng thực trạng đối tượng học sinh thuộc các lớp khác nhau

Trang 9

Phân loại được từng đối tượng học sinh để có biện pháp dạy học phùhợp giúp học sinh xác định đứng từ loại tiếng Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi thực hiện nhiệm vụ:

Tìm hiểu lý thuyết về từ loại cơ bản

Trên cơ sở lý luận đã có, tiến hành khảo sát thực tế ở hai lớp với đốitượng học sinh như nhau

Miêu tả, phân loại và so sánh được kết quả điều tra

Đề xuất biện pháp dạy học hợp lý

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:

1 Thống kê, so sánh, phân tích từ loại

2 Điều tra thống kê tư liệu thực

3 Mô tả, phân loại và so sánh tư liệu

Quá trình nghiêm cứu đề tài được tiến hành tuần tự theo các bước sau:

1 Đọc lý thuyết có liên quan đến đề tài

2 Thống kê tư liệu điều tra được

3 Xử lý tư liệu điều tra bằng các biện pháp: phân tích, phân loại và

so sánh

5 Đối tượng nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của học sinh tiểu học lớp 5qua các bài Tập đọc lớp 5 ở trường tiểu học Uy Nỗ

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Như chúng tôi đã trình bày trước đó, tìm hiểu về từ loại là một đề tài

rộng Vì vậy, chúng tôi chỉ đề cập nghiên cứu một khía cạnh nhỏ là: “Tìm

hiểu việc xác định danh từ, động từ, tính từ”.

Trang 10

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungcủa khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Miêu tả, phân loại khả năng xác định từ loại cơ bản củahọcsinh tiểu học

Trang 12

như:

Tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả hai tiêuchí nội dung và hình thức (Hoàng Tuệ - 1962, Nguyễn Kim Thán 1963,UBKHXH 1983, Đinh Văn Đức 1986 )

Phân định từ loại tiếng Việt dựa vào đặc điểm ngữ pháp của từ hoặckhả năng kết hợp từ có các tác giả như Phan Khôi, Lê Văn Lý, Nguyễn TàiCẩn, Nguyễn Phú Phong

Theo tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung thì “danh từ, động

từ, tính từ, là ba loại từ cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất và thể hiện tương đốiđầy đủ và rõ rệt nhất các tiêu chuẩn phân loại” (Ngữ pháp tiếng Việt- trang77)

Năm 2004, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (NXB Giáo dục), khi

nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đưa ra ba tiêu chuẩn đểphân định từ loại tiếng Việt: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cúpháp Ngoài ra khi bàn về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hailớp thực từ và hư từ Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu từ loại thuộc lớpthực từ: danh từ, động từ, tính từ

Năm 2006, cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, tác giả Diệp

Quang Ban - Hoàng Văn Thung đã dành ra một chương nghiên cứu về từ loạitiếng Việt với trọng tậm là tiêu chuẩn phân định từ loại và hệ thống từ loạitiếng Việt Theo tác giả, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hainhóm:

Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ

Trang 13

Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tính từ).

Chúng tôi dựa vào cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của tác giả Diệp Quang

Ban và Hoàng Văn Thung để làm cơ sở nghiên cứu đề tài này Trước khi đisâu vào các từ loại cơ bản, chúng tôi xin trình bày vài nét khái quát nhất về từloại:

 Khái niệm về từ loại

Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo

ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với từ ngữ khác và thực hiện nhữngchức năng ngữ pháp nhất định trong câu (Đinh Văn Đức - Ngữ pháp tiếngViệt - Từ loại)

Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữ pháp, theobản chất ngữ pháp của từ (Lê Biên - Từ loại tiếng Việt hiện đại)

Từ điển tiếng Việt - 2008 (trang 1327) định nghĩa “Từ loại là phạm trùngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quátnhư: danh từ, động từ, tính từ ”

 Tiêu chí phân định từ loại

Trong tiếng Việt, người ta dựa vào ba tiêu chí sau đây để phân chia các

từ thành từ loại:

 Ý nghĩa khái quát

Ý nghĩa khái quát là ý nghĩa phạm trù có tính chất khái quát hóa cao: nó

là kết quả của quá trình trừu tượng hóa nghĩa của hàng loạt cái cụ thể: danh từchỉ sự vật; động từ chỉ trạng thái; còn tính từ chỉ đặc điểm, tính chất,

Trang 14

- Tính từ có khả năng kết hợp với hơi, rất, lắm, quá, Ví dụ: rất đẹp.

 Khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp

Khả năng giữ chức vụ cú pháp trong câu thường được sử dụng như mộttiêu chuẩn hỗ trợ Các từ thuộc một lớp nào đó có thể đảm đương không phảimột vài ba chức vụ cú pháp ở trong câu Trong số các chức vụ cú pháp đóthường có một hoặc vài chức vụ nổi lên rõ hơn có tính chất tiêu biểu cho lớp từđó

- Danh từ thường làm chủ ngữ Khi làm vị ngữ, danh từ thường phải kết

hợp với từ “là” (Ví dụ: Em là học sinh.).

- Động từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ, động từ mất

khả năng kết hợp với đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, cứ, hãy, đừng, chớ,

- Tính từ thường làm vị ngữ Khi đóng vai trò chủ ngữ tính từ mất khả

năng kết hợp với đã, đang, cũng, vẫn, cứ, rất, lắm, quá,

 Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt

Phủ nhận sự tồn tại của từ loại, tác giả Hồ Hữu Tùng cho rằng: TiếngViệt cơ cấu theo một lối khắc hẳn so với ngôn ngữ phương Tây (không có sựbiến đổi hình thái) do đó không tồn tại từ loại, mà tùy thuộc vào vị trí trongcâu mà có tính chất nhất định, một từ có thể có nhiều thuộc tính khác nhau

Thừa nhận sự tồn tại của phạm trù từ loại Tuy nhiên trong nhóm này

có những sự khác biệt trong việc phân định, phân loại:

 Thuần túy ý nghĩa khái quát (Trần Trọng Kim)

 Chức vụ cú pháp (Phan Khôi): một từ có thể thuộc về nhiều từ loạikhác nhau

 Khả năng kết hợp (Nguyễn Tài Cẩn)

 Khả năng làm trung tâm của cụm từ ngữ

 Khả năng làm thành tố phụ của từ ngữ

Trang 15

 Kết quả phân loại

Hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồmnhững từ loại sau đây:

1.1.1 Danh từ

Danh từ là thực từ có ý nghĩa thực thể (ý nghĩa chỉ “vật” hiểu rộng),được dùng làm tên gọi các “vật”, kết hợp được về phía trước với từ chỉ lượng(những, các, ), về phía sau với từ chỉ định (này, nọ, ) và thường làm chủngữ hoặc bổ ngữ trong câu

Danh từ là một lớp từ lớn và đa dạng về ý nghĩa, về khả năng kết hợp, nên được phân thành nhiều lớp nhỏ theo những tiêu chuẩn khác nhau, cụ thể:

1.1.1.1 Danh từ riêng

Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật cụ thể

 Danh từ chỉ tên người: Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi,

 Danh từ chỉ sự vật: chó đốm, Tây Sơn, Trà Vinh,

1.1.1.2 Danh từ chung

Trong lớp lớn danh từ chung, việc tách ra lớp nhỏ danh từ tổng hợp làcần thiết không chỉ do ý nghĩa mà còn bởi đặc điểm ngữ pháp của bản thânlớp con này Những danh từ chung không mang đặc điểm ý nghĩa và ngữpháp của danh từ tổng hợp làm thành lớp còn lại đối lập với nó và được gọi làdanh từ không tổng hợp

Trang 16

+ Danh từ tổng hợp chỉ chung nhiều sự vật đồng chất xét ở một phương

diện nào đó, như: cây cối, bạn bè, xe cộ,

+ Danh từ không tổng hợp chỉ cả lớp sự vật đồng chất, hoặc thông qua

từng cá thể sự vật như đại diện cho cả lớp, như: bụi cây, bạn tôi, xe máy,

a Danh từ tổng hợp

 Danh từ đếm được

Danh từ đếm được là những danh từ chỉ “loại”, chỉ đơn vị tập hợp

Ví dụ: bọn, lũ, tốp, đám,

 Danh từ không đếm được

Danh từ không đếm được là những danh từ chỉ khái niệm sự vật tổnghợp khái quát và trừu tượng

- Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức xã hội, như: nước, tỉnh, xã,

đoàn, đội, nghề, môn,

- Danh từ chỉ không gian, như: nơi, chốn, xứ, vùng, miền, khoảng,

- Danh từ chỉ đơn vị thời gian, như: dạo, khi, hồi, lúc,

- Danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh, như: màu, mùi,tiếng,

- Danh từ chỉ chức vị, như: nhà văn, nhà giáo, bác sĩ

- Danh từ chỉ lần của sự việc, như: lần, lượt, phen, chuyến

- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng hóa, như: tài năng, trí tuệ,

 Danh từ không đếm được

Danh từ không đếm được là những danh từ chỉ sự vật - chất thể

Ví dụ: muối, đường, cát,

Trang 17

1.1.2 Động từ

Động từ là những thực từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình Động

từ thường kết hợp với các từ: hãy, đừng, chớ,

Ví dụ: Chị hãy bình tĩnh lại.

Chức vụ cú pháp điển hình của động từ là vị ngữ khi làm chủ ngữ,

động từ mất khả năng kết hợp với các từ: hãy, đừng, chớ,

Động từ được phân chia thành hai lớp con: lớp động từ không độc lập và lớpđộng từ độc lập

1.1.2.1 Động từ không độc lập

Động từ không độc lập là những động từ về ý nghĩa, biểu thị quá trìnhchưa đầy đủ, chưa trọn vẹn; hoặc ý nghĩa quá trình không trực tiếp gắn vớihành động hay trạng thái cụ thể Về khả năng kết hợp và đảm nhiệm chứcnăng cú pháp, do đặc điểm ý nghĩa, lớp động từ này khi làm thành phần câuthường đòi hỏi kết hợp với thực từ hay tổ hợp thực từ để khỏi “trống nghĩa” Lớp động từ không độc lập bao gồm một số nhóm sau đây:

a Nhóm động từ tình thái

Động từ tình thái từ thường biểu thị các ý nghĩa tình thái từ (có tínhchất quá trình) khác nhau, như:

- Từ chỉ sự vật cần thiết: cần, nên, phải,

- Từ chỉ ý chí - ý muốn: chực, dám, đang tâm, muốn, mong muốn,

- Từ chỉ khả năng: có thể, không thể, chưa thể,

- Từ chỉ sự “chịu đựng” hoặc “tiếp nhân”:bị, được, mắc, phải,

b Nhóm động từ quan hệ

Động từ trong nhóm này biểu thị các ý nghĩa quan hệ (có tính chất quátrình) giữa các thực thể, quá trình hay đặc trưng, bao gồm:

- Quan hệ tồn tại: còn, có, biến, mất,

- Quan hệ biến hóa: thành, hóa ra, trở thành, hóa thành,

- Quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc,

- Quan hệ so sánh, đối chiếu trong không gian: gần, xa,

Trang 18

1.1.2.2 Động từ độc lập

Động từ độc lập là những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hànhđộng hoặc trạng thái) Ý nghĩa quá trình có thể nhận thức được tương đối rõ,ngay cả trường hợp động từ không có từ khác đi kèm để bổ nghĩa

Có thể phân chia động từ độc lập thành một số nhóm nhỏ:

a Các nhóm động từ độc lập phân loại theo phụ từ đi kèm, gồm:

 Động từ chỉ hành động

Động từ chỉ hành động gồm những động từ kết hợp được với hãy,

đừng, chớ, và với lắm, quá; không kết hợp được với rất, hơi: viết, đánh, đi,

làm,

 Động từ chỉ trạng thái

Động từ chỉ trạng thái, bao gồm:

- Những động từ kết hợp được với hãy, đừng, chớ, với lắm, và với rất,

hơi, khí: yêu, thương, ghét, giận,

- Những động từ không kết hợp được với xong: thấy,hiểu, mọi, biết,

b Các nhóm động từ phân loại theo thực từ đi kèm

Bao gồm:

- Động từ không đòi hỏi thực từ đi kèm: nói, cười, khóc, ngồi, đứng,bò, thường chỉ trạng thía tâm lý Những động từ này được gọi là động từ nộiđộng

- Động từ có thực từ đi kèm biểu thị đối tượng tác động: đánh (giặc),trồng (cây), viết (báo), Những động từ này được gọi là động từ ngoại động

- Động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng nhận và đối tượng

được lợi hay bị thiệt hại do tác động của hành động nêu ở động từ: cho (em) (một món quà), gửi (bạn) (một bưc thư),

- Động từ có hai thực từ đi kèm biểu thị đối tượng sai khiến và nội

dung sai khiến: nhờ (bạn) (xách nước), bảo (con) (học),

Trang 19

- Động từ có thực từ đi kèm chỉ hướng dời chuyển, hoặc chỉ đích dời

chuyển của hành động, hoặc nêu đối tượng bị tác động dời chuyển: lăn vào,

chạy ra, đi xuống, đẩy xe vào nhà,

1.1.3 Tính từ

Tính từ là lớp chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặctrưng của quá trình)

Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ, với thực từ đi kèm (để bổ nghĩa

cho tính từ); không có khả năng kết hợp được với: hãy, đừng, chớ.

1.1.3.1 Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ

Đây là lớp tính từ chỉ đặc trưng đồng thời biểu thị thang độ của đặc

trưng trong ý nghĩa tự thân, thường là mức tuyệt đối.

Tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ là tính từ có thể kết hợp với các

phó từ chỉ thang độ rất, hơi, khí, quá, về phía sau.

- Chỉ đặc trưng mô phỏng : ào ào, lênh khênh, lè tè,

1.1.3.2 Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ

Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ là tính từ chỉ đặc trưngkhông biểu thị ý nghĩa thang độ tự thân Chúng thường kết hợp với phụ từ chỉ

ý nghĩa thang độ: rất, hơi, khí, quá, lắm, cực kì,

Tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ gồm:

- Những tính từ chỉ phẩm chất: tốt, đẹp, xấu, khéo, vụng,

- Những tính từ chỉ đặc trưng về lượng: nhiều, ít, râm, thưa,

- Những tính từ chỉ đặc trưng cường độ: mạnh, yếu, nóng, lạnh,

- Những tính từ chỉ đặc trưng hình thể: vuông, tròn, thẳng,

Trang 20

- Những tính từ chỉ đặc trưng màu sắc: xanh, đỏ, vàng,

- Những tính từ chỉ đặc trưng âm thanh: ồn, im ,vắng,

- Những tính từ chỉ đặc trưng mùi, vị: thơm, thối, đắng,

1.1.4 Hiện tượng chuyển di từ loại

Chuyển di từ loại - chuyển loại - là hiện tượng một từ khi thì dùng với ýnghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý nghĩa vàđặc điểm ngữ pháp của từ loại khác

Chuyển di từ loại là hiện tượng phổ biến trong nhiều ngôn ngữ

Ví dụ:

Tôi định nói với anh Nhâm những suy nghĩ (1) vừa rồi của tôi nhưng lại

Trang 21

Bắt chước anh Ánh, em cũng lim dim mắt suy nghĩ (2)

Suy nghĩ (1) là danh từ, suy nghĩ (2) là động từ

Từ chuyển loại có mấy điểm sau:

a) Từ chuyển loại có hình thức đồng âm Một từ thuộc từ loại này khichuyển thành một từ thuộc từ loại khác vẫn giữ nguyên vỏ ngữ âm

b) Từ chuyển loại có yếu tố nghĩa từ vựng

c) Từ ban đầu có khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp khác với từchuyển loại

Trong tiếng Việt thường gặp một số trường hợp chuyển loại sau:

- Chuyển loại nội bộ thực từ:

+ Chuyển loại động từ  tính từ  danh từ, thường gặp đối với

lớp từ đa tiết ghép gốc Hán Việt: quần chúng, ý thức, hòa bình,

+ Chuyển loại giữa động từ  danh từ: từ chuyển hành động như

cày, cưa, bừa, chuyển loại thành tên gọi đồ vật tương ứng như (cái) cày, (cái

) bừa, từ chỉ hành động như: cuộn, bó, nắm, chuyển thành đơn vị

tương

ứng: (một) bó, (một) cuộn, từ hành động đa tiết như: suy nghĩ, lo ngại, chuyển loại thành tên gọi khái niệm hay sự vật trừu tượng (những) suy nghĩ, (những) lo ngại,

Trang 22

+ Chuyển loại giữa tính từ  danh từ: từ chỉ tính chất đa tiết

thường chuyển thành danh từ chỉ sự vật trừu tượng: khó khăn, gian khổ, thành (mọi) khó khăn, (mọi) gian khổ,

+ Chuyển loại nội bộ danh từ: danh từ chỉ đồ vật như: chén, bát, thuyền, xe, mâm, chuyển thành danh từu chỉ đơn vị như (một) chén (rượu),

(một) bát (cơm),

- Chuyển loại thực từ  hư từ:

+ Chuyển loại danh từ  kết từ: kết từ của trong tiếng Việt hiện nay

có nguồn gốc danh từ; ngoài ra, một số danh từ chỉ vị trí: trên, dưới, trong,

ngoài, chuyển thành kết từ: (ngồi) trên (ghế), (đi) dưới (mưa),

+ Chuyển loại động từ  kết từ: một số kết từ có nguồn gốc động từ:

cho, bằng, vào, để,

+ Chuyển loại danh từ  đại từ: nhiều danh từ chỉ người trong quan

hệ thân thuộc: ông, bà, cháu, chuyển thành đại từ xưng hô.

+ Chuyển loại nội bộ hư từ: một số phụ từ có thể thực hiện chức năngliên kết của từ: còn, rồi, hoặc dùng phối hợp hai phụ từ để kiêm chức năng

liên kết: vừa vừa, đã lại hoặc dùng phối hợp với một kết từ với một phụ từ: vừa mới nên

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Sách giáo khoa và nội dung dạy học từ loại ở tiểu học

Tiếng Việt là môn học rất quan trọng ở trường tiểu học Nó là môn họcchính, là cơ sở để hình thành vốn ngôn ngữ chuẩn, làm nền tảng cho các bậchọc về sau Ở tiểu học, học sinh được học những kiến thức cơ bản về từ, từloại, câu, qua đó giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu về những kiếnthức mới Trong đó, phần từ loại được trải đều trong từ lớp 2 đến lớp 5

Lớp 2: Các em có thể nhận biết các từ chỉ người, vật, hành động

Lớp 3: Các em nhận biết được từ chỉ tính chất, nhận biết cách dùng một

số cặp nối

Trang 23

Lớp 4: Hình thành khái niệm sơ giản về danh từ, động từ, tính từ.

Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 vận dụng cả ba loại từ: danh từ, động từ,tính từ

• Danh từ là những từ chỉ sự vật

Để giúp học sinh hiểu rõ hơn khái niệm sự vật, sách giáo khoa đưa ra 5nội hàm của khái niệm này Sự vật gồm:

- Người: ông, bà, cha, mẹ, công nhân, nông dân,

- Vật (đồ vật, con vật, cây cối, ): sông, núi, mèo, chó,

- Hiện tượng (cái xảy ra trong không gian, thời gian mà người nhậnthấy): mưa, sấm, sét…

- Khái niệm (chỉ các đối tượng có tính chất trừu tượng hoặc thuộc tưduy) cuộc sống, cái đẹp,

- Đơn vị: con, cái, cơn,

Sau khi đưa ra các khái niệm về danh từ, sách giáo khoa dành riêng mộttiết đề cập đến vấn đề phân chia danh từ thành danh từ riêng và danh từchung

Danh từ chung là tên chung của một loại sự vật

Ví dụ: núi, sông, xe,

Danh từ riêng của một sự vật Hay nói cách khác, danh từ riêng là têncủa từng người, từng vật, từng địa phương, Danh từ riêng luôn luôn đượcviết hoa

Ví dụ: Hà Nội, Đà Nẵng,

• Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật

Ví dụ: lau nhà, rửa bát, ăn cơm,

• Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạtđộng, trạng thái

Ví dụ: đẹp, xấu, vui,

Trang 24

Sách giáo khoa giới thiệu một số cách thể hiện mức độ tính từ như sau:

- Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy đã cho

Ví dụ: Xanh  Xanh um, xanh biếc, xanh ngắt,

 Xanh xao, xanh xanh,

- Thêm các từ rất, lắm, quá, vô cùng, cực kì, vào trước hoặc sau tính

Ví dụ: giỏi, rất giỏi, giỏi quá, giỏi lắm,

- Tạo ra phép so sánh

- So sánh ngang bằng, ví dụ: Nước trong leo lẻo như mắt mèo

- So sánh hơn kém, ví dụ: Hoa ghen thua thắm, liễu hơn kém xanh

- So sánh tuyệt đối, ví dụ: Những búp bê xinh xinh, trắng nõn như ngón

Trang 25

1.2.2 Việc dạy học từ loại cơ bản ở tiểu học

Thực tế cho thấy việc học các kiến thức ngữ pháp tiếng Việt là rất quantrọng đối với học sinh, bởi qua học tập về ngữ pháp học sinh có hiểu biết vềquy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ, đặt câu và tạo văn bản để sử dụngtrong giao tiếp Vì vậy, việc học tập ngữ pháp hiện nay được tiến hành mộtcách có kế hoạch mang tính chủ động Thông qua hệ thống các bài tập trongsách giáo kháo, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện, phân loại các đơn vịngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này trong hoạt độnggiao tiếp của mình

Dạy học từ loại cũng được tiến hành tuần tự theo các bước nhận thứccủa học sinh Bắt đầu là việc phân tích ngữ liệu là các từ hoặc là đoạn văn chotrước

Trang 26

để tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm bài tập cụ thể Các bước

này có thể chia thành hai hướng là dạy lý thuyết và dạy thực hành từ loại

Do ngữ pháp là một môn khó (hiện nay là Luyện từ và câu) cho nêngiáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức tiết dạy sao cho đúng yêu cầu củachuyên môn, đúng đặc trưng của phân môn và đạt hiệu quả dạy học cao.Vềphía học sinh ít hứng thú học môn này do đây là một môn khó và khô khan.Những điểm khó của môn học muốn trở thành dễ đối với học sinh thì giáoviên phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầucủa xã hội

Trang 27

Chương 2MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

2.1 Nhận diện phân định từ trong câu

Việc học các từ loại danh từ, động từ, tính từ là vấn đề quan trọng nhấtbởi đó là ba loại từ cơ bản không thể thiếu trong giao tiếp Ở tiểu học, họcsinh được học ba loại từ cơ bản là danh từ, động từ, tính từ và kĩ năng xácđịnh chúng được kiểm tra dưới dạng các từ được cho sẵn Trong khóa luậnnày, chúng tôi đưa ra yêu cầu xác định từ loại qua các bài Tập đọc mà họcsinh được học tức là qua các văn bản Do trong tiếng Việt, đặc điểm từ có vỏngữ âm cố định nên học sinh sẽ rất dễ sai khi xác định từ đặc biệt là trong vănbản Vì thế học sinh muốn xác định được các từ loại cơ bản thì các em cầnphải có kĩ năng để nhận diện, xác định từ trong văn bản

Để nhận diện một cách chính xác ranh giới từ chúng tôi dựa vào các kĩnăng sau:

2.1.1 Dựa vào cấu tạo từ

Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoànchỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập và tái hiện tự do trong lờinói để tạo câu Trong đó, phân loại từ về cấu tạo ngữ pháp chia thành ba loại:

2.1.1.1 Từ đơn

Từ đơn hay còn gọi là từ đơn âm tiết, là các từ được cấu tạo bởi mộttiếng duy nhất Ví dụ: tôi, bạn, nhà, hoa, vườn,

2.1.1.2 Từ ghép

Từ ghép là từ do phương thức ghép tạo ra Đây là cách ghép hai tiếng

có nghĩa thành một từ mới có ý nghĩa khác hẳn tiếng gốc Từ ghép chia thànhhai kiểu là từ ghép đẳng lập (ăn nói, bơi lội, ) và từ ghép chính phụ (hoahồng, đường sắt, )

Trang 28

2.1.1.3 Từ láy

Là do phương thức láy hình vị tạo ra Đây là phương thức lặp lại nhữngyếu tố ngữ âm toàn bộ hay bộ phận của hình vị gốc Ví dụ: đo đỏ, man mát,

từ láy được chia thành hai kiểu là: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận

2.1.2 Dựa vào nghĩa của từ

Nghĩa của từ là những liên hệ được xác định trong nhận thức của chúng

ta giữa những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu) Hay nóikhác đi mỗi một đơn vị ngữ âm gọi tên một sự vật hiện tượng nào đó trongthực thế khách quan, cứ một hoặc hai, ba đơn vị ngữ âm gọi tên được một âmtiết thì được gọi là từ Do học sinh tiểu học nhỏ tuổi nên các em khó xác địnhđược từ Muốn các em xác định được ranh giới của từ, các em phải nắm đượcnghĩa của từ Khi đã hiểu được nghĩa của từ các em sẽ xác định được ranhgiới của từ một cách nhanh chóng và chính xác

Ví dụ: Trái đất này là của chúng mình

Trước tiên ta đi giải nghĩa từ trong câu:

- Trái đất: tên gọi của 1 sự vật, một hành tinh

Trái đất/ này/ là/ của/ chúng mình

2.1.3 Dựa vào ngữ điệu, cách ngắt nghỉ nhịp trong câu và trọng âm phân ranh giới từ

Đối với học sinh tiểu học, khi đọc các bài văn xuôi chỗ ngắt giọng phảitrùng hợp với ranh giới ngữ đoạn Khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phảitương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn Sự phân chia ranh giới từ được hình

Trang 29

thức hóa bằng chỗ ngắt giọng Chỗ ngắt nhịp giọng ấy cũng là một căn cứ đểngười nghe xác định được ý nghĩa của từ Vậy dựa vào ngữ điệu Vì vậy, giáoviên có thể cho học sinh luyện đọc diễn cảm để ngắt, nghỉ đúng nhịp của mộtbài Tập đọc trước khi cho các em xác định từ trong câu.

Ví dụ: Sông La/ ơi Sông La

Trong veo/ như ánh mắtTrong quá trình phân định từ, chúng tôi thấy học sinh gặp rất nhiều khókhăn nên chúng tôi đã đưa ra một số bài tập xác định từ để học sinh rèn luyện

kĩ năng xác định từ

Với mỗi loại bài tập chúng tôi tiến hành điều tra trên học sinh ở các lớpkhác nhau của khối 5 Cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát ở hai lớp:

- Lớp 5A trường Tiểu học Uy Nỗ với tổng số là 45 học sinh

- Lớp 5B trường Tiểu học Uy Nỗ với tổng số là 40 học sinh

Để đi đến nhận xét và có những đề xuất về phương pháp dạy học phùhợp, chúng tôi đã khảo sát lần lượt từng loại bài, cụ thể:

Bài tập nhận diện từ trong văn bản

Trên cơ sở đã đưa ra các kĩ năng nhận định ranh giới từ, chúng tôi đưa

ra một số bài tập để yêu cầu học sinh xác định ranh giới từ

Bài 1 Dựa vào cấu tạo từ để xác định từ trong đoạn văn sau

“Ông Đỗ Đình Thiện là một nhà tư sản lớn ở Hà Nội, chủ của nhiềuđồn điền, nhà máy và tiệm buôn nổi tiếng, trong đó có đồn điền Chi Nê ởhuyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình”

(Phạm Khải - Nhà tài trợ đặc biệt của Cách mạng, Tiếng Việt lớp 5, tập 1)

Bài 2 Dựa vào nghĩa của từ để xác định ranh giới từ trong đoạn thơ sau

“Hai cha con bước đi trên cátÁnh mặt trời rực rỡ biển xanh

Trang 30

Bóng cha dài lênh khênhBóng con tròn chắc nịch”

(Hoàng Trung Thông - Những cánh buồn, Tiếng Việt lớp 5, tập 2)

Bài 3 Dựa vào ngữ điệu, cách ngắt nhịp trong câu và trọng âm để phân loại

ranh giới từ

“Sáng chớm lạnh trong lòng Hà NộiNhững phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.”

(Nguyễn Đình Thi - Đất nước, Tiếng Việt lớp 5, tập 2)

Sau khi tiến hành điều tra và thu được kết quả, chúng tôi thấy các em

đã có kĩ năng để xác định ranh giới từ trong đoạn văn, đoạn thơ Tuy nhiênbên cạnh đó vẫn có các em xác định sai ranh giới từ, chủ yếu các em làm saibài 3 ở cả hai lớp (lớp 5A và lớp 5B) Để giúp các em nắm chắc hơn, giáoviên nên cho học sinh làm thêm nhiều bài tập xác định ranh giới từ dựa vàongữ điệu, cách ngắt nhịp trong câu và trọng âm của từ

Tóm lại, muốn xác định được ranh giới từ trong văn bản, chúng ta dựatrên dựa trên cấu tạo từ phân loại ra các từ đơn, từ ghép, từ láy; nghĩa của từ

là tên của sự vật hiện tượng; ngắt nhịp, ngữ điệu trong câu và trọng âm của từ.Trên thực tế để nhận diện được từ, chúng ta phải tổng hợp cả ba kĩ năng lạivới nhau, không được tiến hành rời rạc thì mới phân định được từ dễ dàng vàchính xác

2.2 Nhận biết và phân loại từ loại cơ bản

Trên cơ sở đã xác định từ trên văn bản, chúng tôi giúp học sinhnhậnbiết và phân biệt danh từ, động từ, tính từ qua các bài Tập đọc, từ đó hìnhthành cho các em các kĩ năng để nhận biết và phân biệt các từ loại cơ bản này

Trang 31

2.2.1 Khả năng nhận biết danh từ

2.2.1.1 Xác định danh từ trong đoạn văn cho trước

Mục đích của dạng bài tập này là đánh giá khả năng nhận biết danh từtrong một đoạn văn cụ thể

Câu hỏi đưa ra như sau:

Xác định danh từ có trong các câu, đoạn văn sau:

Trang 32

(Định Hải - Bài ca về trái đất, Tiếng Việt lớp 5, tập 1)

“Qua/ khe lá/, em/ thấy/ hai/ gã trộm/ Lừa/ khi/ hai/ gã/ mải/ cột/ các/khúc gỗ/, em/ lén/ chạy/ Em/ chạy/ theo/ đường tắt/ về/ quán/ bà Hai/, xin/bà/ cho/ gọi/ điện thoại/”

(Nguyễn Thị Cẩm Châu - Người gác rừng tí hon - Tiếng Việt lớp 5, tập

Trang 34

 Do chưa đọc kĩ đề từng câu trong đoạn văn để tìm ra danh từ.

Trang 35

 Do chưa nắm chắc lý thuyết về danh từ.

 Do chưa phân định đúng ranh giới của danh từ

Nguyên nhân dẫn đến làm bài sai có cả nguyên nhân chủ quan vànguyên nhân khách quan Nguyên nhân chủ quan là học sinh chưa thực sự chú

ý vào bài làm của mình Do đó, các từ học sinh tìm được còn thiếu hoặc sai.Nguyên nhân khách quan là mảng kiến thức học về danh từ ở kì 1 lớp 4 nênhọc sinh không nhớ rõ kiến thức của bài học và giáo viên chưa tổ chức tốt chocác em học giờ lý thuyết về danh từ

 Biện pháp:

- Giáo viên tổ chức cho các em tìm hiểu kĩ đề bài

Bước này không mất nhiều thời gian nhưng rất quan trọng, bởi nó địnhhướng được bài làm của học sinh Đọc kĩ yêu cầu của đề bài, các em sẽ không

bị lạc đề, không bị nhầm và loại bỏ được các yếu tố không thuộc phạm vi của

đề bài để làm bài tập có hiệu quả hơn

Trước khi hướng dẫn học sinh làm bài tập, giáo viên nên hỏi cả lớp

“Yêu cầu của bài là gì?” để các em xác định được yêu cầu của bài trước khilàm

- Cho học sinh phân ranh giới từ ở trong câu

Trước khi xác định từ loại, giáo viên cho học sinh xác định ranh giới từtrong câu sau đó mới yêu cầu học sinh xác định tìm danh từ hoặc giáo viên cóthể dùng các gạch chéo chia câu trong đoạn văn, đoạn thơ đã cho thành các từ

để học sinh chỉ còn nhiệm vụ là nhận biết danh từ

- Ôn tập củng cố lý thuyết cho học sinh về các từ loại

Ở bài tập này, học sinh hay nhầm lẫn giữa danh từ với động từ, danh từvới tính từ Vì vậy, khi cho học sinh xác định danh từ, giáo viên cần phân tích

để học sinh hiểu được thế nào là danh từ Giáo viên nên kết hợp việc xác địnhranh giới giữa danh từ với các từ loại khác để nói về từ loại này; hay có thể

Ngày đăng: 29/12/2019, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp Tiếng Việt (2 tập), Nxb Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Diệp Quang Ban- Hoàng Văn Thung, Ngữ pháp tiếng Việt, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
3. Lê Biên, Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
5. Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại), Nxb ĐHQG Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
6. Cao Xuân Hạo, Ngữ đoản và từ loại, Nxb Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ đoản và từ loại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Lê Phương Nga, Dạy học Ngữ Pháp ở tiểu học, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ Pháp ở tiểu học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Lê Phương Nga (chủ biên), Tiếng Việt nâng cao 5, Nxb Giáo dục 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt nâng cao 5
Nhà XB: Nxb Giáo dục 2006
9. Nguyễn Anh Quế, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Sách giáo khoa Tiếng Việt 5(2 tập), Nxb Giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt 5
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Lê Thị Lan Anh, Từ loại Tiếng Việt và dạy từ loại cho học sinh tiểu học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thị Lan Anh", Từ loại Tiếng Việt và dạy từ loại cho học sinh tiểu học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w