- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy đã nghiên cứu về “ Giáo dục đạo đứccho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
TRƯƠNG THỊ THU TRANG
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG VĂN THỤ - THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo Doãn NgọcAnh, đã hướng dẫn giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình thực hiện và hoànthành đề tài này
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể giáo viên, họcsinh trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ đã giúp đỡ và tạo điệu kiện thuận lợicho tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế nên không tránh khỏinhững thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến củacác thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Trương Thị Thu Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi.Những kết quả thu được hoàn toàn chân thực và chưa có trong đề tài nghiêncứu nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2017
Sinh viên
Trương Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 4
5 Giả thuyết khoa học: 4
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
8 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 7
1.1 Một số vấn đề về đạo đức 7
1.1.1 Khái niệm về đạo đức 7
1.1.2 Tính chất của đạo đức 8
1.1.3 Nguồn gốc, chức năng của đạo đức 11
1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 15
1.2.1 Khái niệm về giáo dục đạo đức và quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 15
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 16
1.2.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 17
1.2.4 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 18
1.2.5 Những nguyên tắc hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 21 1.2.6 Phương pháp giáo dục hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh 26
tiểu học 26
Tổng kết chương 1 34
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU
HỌC HOÀNG VĂN THỤ- THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI 35
2.1.Khái quát quá trình điều tra thực trạng việc giáo dục đạo đức cho HSTH tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai 35
2.1.1 Mục đích khảo sát 35
2.1.2 Nội dung khảo sát 35
2.1.3 Phương pháp khảo sát : 35
2.1.4 Đối tượng khảo sát 36
2.2 Kết quả điều tra thực trạng việc giáo dục đạo đức cho HSTH tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ Thành phố Lào Cai Tỉnh Lào Cai 36
2.2.1 Kết quả điều tra đối với giáo viên 36
2.2.2 Kết quả khảo sát đối với học sinh 48
2.3 Nguyên nhân của thực trạng 52
Tổng kết chương 2: 53
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CẦN THIẾT ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG VĂN THỤ- THÀNH PHỐ LÀO CAI -TỈNH LÀO CAi 3.1 Nâng cao nhận thức cho giáo viên về công tác giáo dục đạo đức cho HSTH 55
3.2 Vận động mọi lực lượng khác tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho HSTH 56
3.3 Giáo dục đạo đức thông qua tổ chức một số hoạt động trong giờ học môn Đạo đức 57
3.4 Giáo dục đạo đức cho HSTH thông qua tổ chức Câu lạc bộ 60
Tổng kết chương 3: 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 65PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế,việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xâydựng hệ giá trị đạo đức mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phảiđược giải quyết Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội đã có những biểuhiện xem nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chạy theo thịhiếu không lành mạnh Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa lốisống lành mạnh trung thực, có lý tưởng…với lối sống ích kỉ, thựcdụng…đang diễn ra hàng ngày Bên cạnh những hệ giá trị mới được hìnhthành trong quá trình hội nhập, những cái tiêu cực cũng đang xâm nhập vàođạo đức, lối sống của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ học sinh
“Không chỉ ở cấp Tiểu học mà ở cả các cấp học khác, môn học Đạođức- Giáo dục Công dân chưa được chú trọng Một trong những hạn chếtrong chương trình dạy hiện nay là còn nặng về “dạy chữ”, xem nhẹ việc
“dạy người” Tuy nhiên, khi xảy ra các hiện tượng tiêu cực, vi phạm đạo đức,tội phạm vị thành niên thì nhiều người cho rằng, do trẻ không được giáo dục
từ nhà trường là chưa chính xác Mà trong đó phải có trách nhiệm của nhàtrường, gia đình và toàn xã hội “Một trẻ hư, một thanh niên suy thoái đạođức không phải chỉ do từ phía nhà trường mà là còn do sự thiếu quan tâm củagia đình, trách nhiệm từ phía địa phương, cơ quan, chi hội, đoàn thể…”-PGS.TS Đỗ Ngọc Thống nhận định
Việc rèn đức cho các em học sinh hiện nay rất quan trọng Nhưng nếukhông có sự phối hợp của gia đình, thì nhà trường có cố gắng đến đâu cũngthành vô ích Đơn giản là những bài học đạo đức các con vừa học trên lớp về
sự lễ phép, tình yêu thương con người, nhưng về nhà chúng lại thấy cha mẹ,anh chị của mình có những hành động vô lễ, như đi về không chào hỏi, ăn
Trang 9cơm không mời… thì cũng có thể một hai hôm đầu, trẻ vẫn giữ được những
gì tốt đẹp đã học ở trường
Giáo dục đạo đức cho học sinh là công việc được đặc biệt coi trọng Bác
Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức” Việc dạy học
và nâng cao chất lượng đạo đức cho học sinh là đòi hỏi phải thường xuyên vàcấp bách của công tác giáo dục hiện nay Giáo dục đạo đức cho trẻ em là tạo
ra lá chắn để bảo vệ các em và giúp các em bảo vệ chính mình khỏi nhữngảnh hưởng tiêu cực của sự biến đổi kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, giáo dụcđạo đức còn giúp trẻ em phát triển lành mạnh về mặt đạo đức, có cách ứng xửđúng đắn trong các mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với mọi ngườixung quanh, với công việc, với xã hội, với Tổ quốc, với môi trường tự nhiên,với cộng đồng quốc tế…
Bậc tiểu học là bậc phổ cập, bất kỳ người công dân nào, dù công tác, laođộng ở lĩnh vực nào trong xã hội đều phải trải qua nhà trường tiểu học Lýluận và thực tiễn đã khẳng định rằng: những dấu ấn trường tiểu học có ấntượng sâu sắc đến cả cuộc đời học sinh Chính vì vậy việc giáo dục đạo đức ởtiểu học đã được tất cả các nước trên thế giới coi trọng và tiến hành dạy ngay
từ lớp 1
Với những lý do trên, tôi quyết định “Tìm hiểu thực trạng việc giáo dụcđạo đức cho học sinh Tiểu học tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thànhphố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai.” và trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp giáodục đạo đức nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạođức cho học sinh tiểu học một cách toàn diện
2 Lịch sử nghiên cứu
Trước thực trạng đáng báo động về tình trạng xuống cấp về đạo đức, lốisống, tội phạm và bạo lực trong một bộ phận học sinh, thì giáo dục đạo đứccho học sinh là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách
Trang 10Có một số tác giả nghiên cứu thành công về vấn đề này tiêu biểu là :
- Tác giả Lưu Thu Thủy đã nghiên cứu về “ Giáo dục hành vi đạo đứccho học sinh tiểu học qua trò chơi” [12]
Theo tác giả, bên cạnh học thì chơi là nhu cầu không thể thiếu của họcsinh Tiểu học Dù không phải là hoạt động chủ đạo song vui chơi vẫn giữ mộtvai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của trẻ, vẫn có ý nghĩa lớn lao đốivới trẻ Qua trò chơi, trẻ không những phát triển về trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ
mà còn hình thành được nhiều phẩm chất đạo đức tốt và hành vi đạo đức đúngchuẩn mực
- Tác giả Lưu Thu Thủy đã nghiên cứu về “ Đổi mới phương pháp dạyhọc Đạo đức ở Tiểu học” [11]
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cho rằng: Phương pháp giáodục đạo đức là sự tương tác giữa thầy và trò nhằm chiếm lĩnh tri thức, rènluyện thái độ, kĩ năng, hành vi đạo đức theo nhiều cách thức khác nhau.Phương pháp giáo dục đạo đức rất phong phú và đa dạng tuy nhiên trong côngtrình nghiên cứu này tác giả đề cao vai trò giáo dục đạo đức của các phươngpháp sau: Phương pháp động não, phương pháp đóng vai, phương pháp tròchơi, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp kể chuyện
- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy đã nghiên cứu về “ Giáo dục đạo đứccho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đề cập đến hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp là nhu cầu quan trọng, cần thiết, không thể thiếuđược của trẻ, nhất là đối với lứa tuổi Tiểu học, nó có tác dụng giáo dục, địnhhướng cho trẻ vào những hoạt động tích cực, hữu ích, giúp trẻ tránh xa nhữnghành động tiêu cực ảnh hưởng xấu tới sự hình thành và phát triển nhân cách
Khi nói đến việc giáo dục đạo đức cho HSTH các tác giả mới chỉ nói đến việc giáo dục đạo đức thông qua các trò chơi, hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 11và một số phương pháp dạy học ở Tiểu học.Tuy nhiên, vẫn chưa có công trìnhnào nghiên cứu cụ thể về một trường nào đó Đặc biệt, chưa có tác giả nào
“Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học tại trường Tiểuhọc Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai.” Chính vì vậy, tôi
đã mạnh dạn lựa chọn và nghiên cứu về đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học vànguyên nhân dẫn đến thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp khắcphục nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểuhọc tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểuhọc
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc giáo dục đạo đức cho họcsinh Tiểu học tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
5 Giả thuyết khoa học:
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học tại trường Tiểu học HoàngVăn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai đã được quan tâm nhưng chấtlượng chưa được như mong muốn Nếu tìm hiểu đúng thực trạng và nguyênnhân dẫn tới thực trạng, từ đó thực hiện được một số giải pháp mang tính khảthi như: Nâng cao nhận thức cho giáo viên về công tác giáo dục đạo đức choHSTH; Vận động mọi lực lượng khác tham gia vào quá trình giáo dục đạođức cho HSTH; Giáo dục đạo đức thông qua tổ chức một số hoạt động tronggiờ học đạo đức; Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua tổ chức câu lạcbộ… thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh
Trang 12Tiểu học tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh LàoCai
6 Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học tại trường Tiểu họcHoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức cho học sinhTiểu học
7.2 Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học tạitrường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
7.3 Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng giáo dụcđạo đức cho học sinh Tiểu học tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thànhphố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
8 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu điều tra bao gồmcác câu hỏi đóng và câu hỏi mở để tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức choHSTH tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng một số câu hỏi để phỏng vấngiáo viên và học sinh về công tác giáo dục đạo đức cho HSTH
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi, trò chuyện với giáo viên, học sinh
để hiểu được thực trạng giáo dục đạo đức cho HSTH
- Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động dạy học hoạt động NGLLcủa giáo viên để hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh
- Phương pháp thống kê toán học: Thống kê toán học để xử lý số liệu thuthập được từ phương pháp điểu tra
Trang 139 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận được chia làm 3 phần: mở đầu, nội dung, kết luận và kiến nghị Nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức cho HSTH
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân thực trạng việc giáo dục đạo đức choHSTH tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai – Tỉnh LàoCai
Chương 3: Giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức choHSTH tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố Lào Cai – Tỉnh LàoCai
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC1.1 Một số vấn đề về đạo đức
1.1.1 Khái niệm về đạo đức
- Đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách, là nền tảng để xây dựng thế giới tâm hồn của mỗi con người
+ Đạo: Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở
+ Đức: Theo Khổng Tử , sống đúng luôn thường là có Đức Theo Đạo (Lão Tử) tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hòa với mọi người là cóĐức
- Đạo đức tốt:
+ Là biết phân biệt tốt xấu
+ Là cái chân- thiện- mỹ trong phẩm chất của con người
+ Là lương tâm
+ Là danh dự
Quan niệm về đạo đức truyền thống ở Việt Nam dĩ nhiên không chỉ phụthuộc một chiều vào tư tưởng Nho học, mà chủ yếu bị chi phối bởi văn hóaxóm làng quy định cái tình, cái lý, cái nghĩa…cộng đồng hơn là cươngthường hay luân thường Nho giáo
- Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc quy định mối quan hệgiữa con người với con người, nó có tác dụng điều chỉnh hành vi của conngười và thông qua đó nó duy trì được trật tự mối quan hệ giữa con người vớicon người, duy trì trật tự xã hội, làm cho xã hội loài người tồn tại và pháttriển
- Đạo đức xét đến cùng là sự phản ánh các quan hệ kinh tế - xã hội
- Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vìhạnh phúc của con người
Trang 15- Chuẩn mực đạo đức là những yêu cầu do con người tự giác đề ra và tựgiác tuân theo trong mối quan hệ với người khác và với xã hội.
- Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thực hiện bởi một động
cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức Nó thường được thể hiện trong cách đối nhân
xử thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn tiếng nói,…
Chuẩn mực đạo đức chi phối và quyết định hành vi đạo đức
1.1.2 Tính chất của đạo đức
- Đạo đức có tính lịch sử:
Đạo đức phản ánh tồn tại xã hội nên nó có tính chất lịch sử Khi điềukiện kinh tế xã hội sinh ra nó thay đổi thì tất yếu các quan hệ xã hội và cácquan hệ đạo đức cũng thay đổi theo vừa với tư cách định hướng cho các quan
hệ xã hội, vừa với tư cách phản ánh quan hệ đạo đức xã hội thì sớm hay muộn
ý thức đạo đức cũng thay đổi
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử Trải qua mỗi giai đoạn lịch sử sẽ xuấthiện một nền đạo đức tương ứng không giống nhau: Đạo đức của xã hộinguyên thủy, đạo đức của xã hội chủ nô, đạo đức của xã hội phong kiến, đạođức của xã hội tư sản, đạo đức của xã hội cộng sản Nền đạo đức ra đời sau sẽ
kế thừa, phát huy những điều tốt đẹp và loại bỏ những hủ tục của nền đạo đứctrước Vì vậy mà quan hệ giữa người và người ngày càng mang tính nhân đạo
Cụ thể là:
Trong xã hội nguyên thủy, tục báo thù của thị tộc dần dần mất đi, xuấthiện những hình thức đơn giản của sự tương trợ, không còn ăn thịt người,xuất hiện liên minh bộ lạc và Nhà nước Xã hội chủ nô coi việc giết nô lệ làviệc riêng của chủ nô nhưng đến xã hội phong kiến việc giết chủ nô lại bị lên
án Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quýtộc thì đạo đức tư sản lại giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách Chuyểnsang chế độ Xã hội cộng sản Chủ nghĩa một nền đạo đức mới thật sự nhân
Trang 16đạo đã xuất hiện Nền đạo đức cộng sản chủ nghĩa kế thừa và phát huy cácchuẩn mực đạo đức của loài người, xóa bỏ áp bức, bóc lột, giải phóng conngười, tiến tới hòa bình, hữu nghị, hợp tác.
Sự tiến bộ của đạo đức là do những giá trị đạo đức trong lịch sử pháttriển của nó tạo thành Có những giá trị lịch sử chỉ có giá trị thúc đẩy ở mộtthời điểm nhất định nào đó nhưng cũng có những giá trị lịch sử có giá trị lâudài đối với sự phát triển của xã hội loài người
Như vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất, của tiến bộ xã hội thìnhững quy tắc, chuẩn mực, phạm trù đạo đức cũng phát triển theo Đạo đứcphản ánh đời sống xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh hành
vi của con người cho phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực xã hội
- Đạo đức có tính giai cấp
Trong xã hội có sự phân chia giai cấp thì đạo đức luôn mang tính giaicấp rõ rệt, ứng với mỗi giai cấp khác nhau là một nền giáo dục đạo đức khácnhau, nền giáo dục đạo đức của giai cấp này khác nền giáo dục đạo đức củagiai cấp kia về mục đích, nội dung, phương pháp
Khi xã hội phân chia giai cấp thì đạo đức phản ánh quyền lợi của giaicấp thống trị và giải quyết mọi mối quan hệ giữa con người với con người,giữa cá nhân với xã hội theo quan điểm của giai cấp thống trị Cụ thể là:
+ Đạo đức trong xã hội nguyên thủy: Trong xã hội nguyên thủy không
có sự phân chia giai cấp, không có hiện tượng người bóc lột người, con ngườikhông có đầu óc làm giàu, các quan hệ xã hội được duy trì bằng sức mạnh củaphong tục, tập quán, dư luận xã hội, sự uy tín và tôn kính đối với tộc trưởnghay phụ nữ
+ Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ: So với xã hội nguyên thủy thìđạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ tiến hơn một bậc Trong xã hội này xuấthiện quan hệ sản xuất mới giữa chủ nô và nô lệ Nhưng cũng chính điều này
Trang 17đã làm xuất hiện hai quan niệm đạo đức đối kháng nhau là đạo đức của chủ
nô và đạo đức của nô lệ Đồng thời, cùng với xự xuất hiện của giai cấp phụ nữmất đi quyền bình đẳng và trở thành nô lệ của người chồng Điều tiến bộtrong chế độ xã hội này là quan niệm đạo đức: 1 vợ - 1 chồng Đây được coi
là một bước tiến bộ vượt bậc trong nền đạo đức của nhân loại
+ Đạo đức trong xã hội phong kiến: Xã hội phong kiến đã xóa bỏ giaicấp nô lệ xuất hiện giai cấp nông dân và nhân dân lao động Trong xã hội nàytồn tại nhiều kiểu đạo đức, có cả đạo đức của giai cấp phong kiến, có cả đạođức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
+ Đạo đức trong xã hội tư bản: Hệ thống đạo đức trong xã hội tư bản lại
là một bước tiến mới trong hệ thống đạo đức xã hội Nó đập tan xiềng xíchcủa chế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng cát cứ phong kiến, mở ra thị trườngtrong nước và thế giới, phát triển sản xuất, thúc đẩy khoa học kĩ thuật tiến lên.+ Đạo đức trong xã hội cộng sản chủ nghĩa: Đạo đức cộng sản là giaiđoạn cao nhất trên con đường tiến lên của đạo đức loài người So với các nềnđạo đức trước đây thì đạo đức cộng sản là một thứ chất mới, nó biểu hiện tinhthần mới của những con người đã tiêu diệt sự bất công và lập nên chủ nghĩacộng sản
Như vậy, khi xã hội phân chia giai cấp thì đạo đức phản ánh quyền lợicủa giai cấp thống trị và giải quyết mối quan hệ giữa con người với conngười, giữa cá nhân với xã hội theo quan điểm của giai cấp thống trị
- Đạo đức có tính dân tộc
Mỗi một đất nước, một dân tộc mang lại những nét văn hóa đặc trưngriêng Những nét văn hóa riêng này ảnh hưởng đến những nguyên tắc, quytắc, chuẩn mực của dân tộc Từ đó, tạo nên tính dân tộc cho đạo đức
Tính dân tộc của đạo đức được thể hiện rõ nhất qua đời sống tâm hồn,tâm tư, tình cảm, mối quan hệ riêng - chung, lí tưởng, hành động của con
Trang 18người Việt Nam Trải qua nhiều nền đạo đức khác nhau nhưng những giá trịđạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc luôn tồn tại trong các câu ca dao, tụcngữ như một bài học để mỗi người tự hoàn thiện nhân cách.
Tính dân tộc của đạo đức còn được thể hiện qua cách mà nó điều chỉnh
xã hội Đạo đức điều chỉnh xã hội thông qua dư luận xã hội Nếu dư luận xãhội chịu ảnh hưởng của các giá trị đạo đức tiến bộ sẽ góp phần điều chỉnhhành vi của mỗi người trở nên đúng đắn Ngược lại, nếu dư luận xã hội chịuảnh hưởng của các giá trị đạo đức lỗi thời, lạc hậu sẽ tạo ra những nhân cáchkhông phù hợp với sự phát triển của xã hội
Như vậy, tính dân tộc của đạo đức đã tạo nên “bản sắc” của mỗi người,mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi quốc gia, dân tộc
1.1.3 Nguồn gốc, chức năng của đạo đức
- Nguồn gốc của đạo đức:
Trước Mác, Ăngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm và duy vật)đều rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức Họkhông thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xãhội nói chung và đạo đức nói riêng Do vậy, đạo đức với tính cách là một lĩnhvực hoạt động đặc thù của con người, của xã hội được nhìn nhận một cáchtách rời cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quy định nó Các nhà triết học, đạođức trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở ngay chính bảntính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bênngoài xã hội Nét chung của các lý thuyết này là không coi đạo đức phản ánh
cơ sở xã hội, hiện thực khách quan
Các nhà triết học – thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ lànhững hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó.Những chuẩn mực đạo đức, do vậy là những chuẩn mực do thần thánh tạo ra
để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạo đức của con người do vậy đều là sự
Trang 19thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên; và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định thiện – ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó.
Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuykhông mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệtđối”, về các lý giải nguồn gốc và bản chất đạo đức suy cho cùng, cũng tương
tự như vậy Những nhà duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức như là nhữngnăng lực “tiên thiên” của lý trí con người Ý chí đạo đức hay là “thiện ý” theocách gọi của Cantơ, là một năng lực có tính nhất thành bất biến, có trước kinhnghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động với những hoạtđộng mang tính xã hội của con người
Những nhà duy vật trước Mác, mà tiêu biểu là L.Phoi-ơ-bắc đã nhìn thấyđạo đức trong quan hệ con người, người với người Nhưng với ông, con ngườichỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch
sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại
Những người theo quan điểm Đác-Uyn xã hội đã tầm thường hóa chủnghĩa duy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người làđồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ, đạo đức vềthực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, từ
xã hội
Mác, Ăngghen đã quan niệm đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống
xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử
Theo Mác, Ăngghen, con người khi sống phải có “quan hệ song trùng”.Một mặt, con người quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên để thỏa mãncuộc sống của mình Tự nhiên không thỏa mãn con người, điều đó buộc conngười phải xông vào tự nhiên để thỏa mãn mình Mặt khác, khi tác động vào
tự nhiên, con người không thể đơn độc, con người phải quan hệ với con người
để tác động vào tự nhiên Sự tác động lẫn nhau giữa người và người là hệ quả
Trang 20của hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần mà cơ bản là hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức.
Đạo đức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài xãhội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện củanhững năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người Với tư cách là
sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạtvật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế “Xét cho cùng, mọi học thuyết về đạođức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hộilúc bấy giờ” [9-tr37]
Những phong tục đạo đức của người nguyên thủy, đời sống của xã hộivăn minh là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và các hoạt động nhận thức của
xã hội đó Sự phát triển từ phong tục đạo đức của người nguyên thủy đến ýthức đạo đức của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến caocủa hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ratrước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất,trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và pháttriển Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống cácquan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càngphát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, làsản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan
hệ người – người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệuquả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con ngườicàng có đạo đức Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậychừng nào con người còn tồn tại” [9-tr 43]
Trang 21- Chức năng của đạo đức: Đạo đức có chức năng to lớn tác động theo hứơng thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển xã hội Đạo đức có những chức năngsau:
+ Đạo đức có chức năng điều chỉnh hành vi: Đạo đức là một phươngthức điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và xã hội cùngtồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Chứcnăng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đòihỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng đểphân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác
và làm thành cái không thể thay thế của đạo đức
Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nênquan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộngđồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)
Đối tượng điều chỉnh: Hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan
hệ cá nhân với cộng đồng (gián tiếp)
Cách thức điều chỉnh được biểu hiện: Lựa chọn giá trị đạo đức; xác địnhchương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành
vi bởi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lýtưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu
- Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phêphán mạnh mẽ cái ác
- Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩnmực đạo đức xã hội
+ Đạo đức có chức năng giáo dục: Xã hội có giai cấp hình thành và tồntại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá nhân chịu sự tác động Ở đây, môitrường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và
Trang 22thực tiễn đạo đức Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ýthức đạo đức cá nhân Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dụcbằng hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội
và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triểnthành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức Chức năng giáo dục củađạo đức cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa
cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng;mặt khác, là sự “ tự giáodục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng
+ Đạo đức có chức năng nhận thức: Với tư cách là một hình thái ý thức
xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội
Sự phản ánh của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hìnhthái ý thức khác
1.2 Một số vấn đề về giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
1.2.1 Khái niệm về giáo dục đạo đức và quá trình giáo dục đạo đức chohọc sinh Tiểu học [2]
- Giáo dục đạo đức: là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựngcho thế hệ trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho họ những quy tắchành vi thể hiện trong giao tiếp với mọi người với công việc, vơi Tổ quốc.Giáo dục đạo đức cần phải được coi trọng đặc biệt, nhất là trong sựnghiệp cách mạng hiện nay của dân tộc khi mà nước ta gia nhập WTO Giáodục đạo đức cho thế hệ trẻ là làm cho nhân cách của họ phát triển đúng
về mặt đạo đức, tạo cơ sở để họ ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của
cá nhân với bản thân, với người khác (gia đình, bạn bè, thầy cô giáo…) với xãhội, với tổ quốc, với môi trường tự nhiên, với cộng đồng quốc tế
- Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến đổi hệ thống các chuẩnmực đạo đức từ những đòi hỏi từ bên ngoài xã hội đối với cá nhânthành
Trang 23những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của đối tượng giáo dục.
- Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là quá trình tác động từ nhiềuhướng khác nhau làm cho cá nhân học sinh phát triển đúng về mặt đạođức, tạo cơ sở để các em có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đứctrong mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với người khác và với xã hội Kếtquả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được những phẩm chất đạođức tốt đẹp, bền vững, có hiểu biết để ứng xử trong các mối quan hệ xã hội
cụ thể
- Quá trình giáo dục đạo đức cho HSTH được xem xét như là một hệthống bao gồm các thành tố cơ bản sau:
+ Mục đích, nhiệm vụ giáo dục
+ Nội dung giáo dục
+ Phương pháp, phương tiện giáo dục
+ Giáo viên
+ Học sinh
+ Kết quả giáo dục
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Giáo dục đạo đức nhằm chuyển hóa những quy tắc, những chuẩnmực đạo đức thành những phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh,hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thựchiện các chuẩn mực xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật.Giáo dục đạo đức cho HSTH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
+ Giáo dục cho học sinh những chuẩn mực hành vi ngày càng có tínhkhái quát từ lớp dưới lên lớp trên Ví dụ như, từ chỗ giáo dục các em “đi xinphép, về chào hỏi” , “ giữ yên lặng khi ông bà, bố mẹ nghỉ ngơi” đến chỗ giáo
Trang 24dục cho các em “ làm vui lòng ông bà, cha mẹ”, “ hiếu thảo với ông bà chamẹ”…
Trang 25+ Nâng cao dần cơ sở lý luận( ở mức cho phép) các chuẩn mực hành vi,trong đó giúp học sinh hiểu được ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện chuẩnmực hành vi, tác hại của việc làm trái chuẩn mực quy định.
+ Tăng cường những hoạt động giáo dục ngày càng phong phú, hình thứcngày càng hấp dẫn, phạm vi ngày càng mở rộng từ trong lớp đến ngoài lớp,
từ trong trường đến ngoài trường
+ Hình thành ở HS những kĩ năng sống cơ bản như lập kế hoạch, thảoluận, hợp tác, tổ chức, tự đánh giá hoạt động của mình
+ Phát huy ý thức và năng lực tự quản của các em từ thấp đến cao đểtiến tới chỗ các em có thể tự quản được các hoạt động của mình
1.2.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Giáo dục đạo đức là một bộ phận cực kỳ quan trọng của quá trình sưphạm, đặc biệt là ở Tiểu học Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu
về mặt đạo đức cho HSTH, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan
có thái độ đúng đắn và có hành vi, thói quen đạo đức tương ứng Tức là,việc giáo dục đạo đức có đòi hỏi các em không những biết, thừa nhận sự cầnthiết, tính tất yếu của chuẩn mực mà còn thực hiện hành vi, công việc theo sựhiểu biết của mình với động cơ, tình cảm tích cực
Trang 26Các chuẩn mực hành vi đạo đức được xây dựng từ các phẩm chấtđạo đức – lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng yêu lao động, tinh thần tậpthể, tính kỷ luật Chúng phản ánh các mối quan hệ hàng ngày của các em Đólà:
- Quan hệ cá nhân với xã hội: Tôn kính quốc ca, quốc kì; kính yêu BácHồ; tự hào về đất nước và con người Việt Nam; biết ơn những thươngbinh liệt sĩ, các chiến sĩ quân đội, công an; yêu quê hương, làng xóm, phốphường của mình; bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa do cha ông ta để lại
- Quan hệ cá nhân với công việc, lao động: Chăm chỉ, kiên trì, vượt khótrong học tập; tích cực tham gia các công việc lao động khác nhau( lao động
tự phục vụ, lao động sản xuất, lao động công ích…)
- Quan hệ cá nhân với những người xung quanh: Yêu quý, hiếu thảo vớiông bà, cha mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình; kính trọng
và biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng, giúp đỡ, đoàn kết với bạn bè; tôntrọng và quan tâm, giúp đỡ hàng xóm, láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ…
- Quan hệ cá nhân với tài sản xã hội, tài sản của người khác : Tôn trọng,giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhà trường( trường lớp, bàn ghế, dụng cụ laođộng, đồ dung thí nghiệm…), của xã hội( nhà cửa, máy móc, hàng hóa, nhữngcông trình công cộng…), của người khác ( đồ đạc, thư từ…)…
- Quan hệ cá nhân với thiên nhiên: Bảo vệ, giữ gìn môi trường tự nhiênxung quanh nơi học nơi chơi, nơi qua lại – bảo vệ cây trồng, cây xanh có ích,vật nuôi, động vật có ích, diệt trừ động vật có hại ( chuột, ruồi, muỗi, gián…);tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; bảo vệ tài nguyên môi trường
- Quan hệ cá nhân với bản thân: Khiêm tốn, thật thà, trung thực,bạo dạn…
1.2.4 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
* Giáo dục ý thức đạo đức
Trang 27Giáo dục ý thức đạo đức là quá trình hình thành ở học sinh nhữngtri thức cơ bản, cần thiết về các chuẩn mực hành vi đạo đức, trên cơ sở đóbước đầu hình thành niềm tin đạo đức cho các em.
Theo từng chuẩn mực hành vi đạo đức, cần giúp học sinh nắmvững những tri thức cẩn thiết như:
- Yêu cầu của chuẩn mực
- Sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi: Ý nghĩa, tác dụng của việcthực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức và tác hại của việc làm trái chuẩn mựcquy định
- Cách thực hiện chuẩn mực đó: Những công việc cần làm và nhữnghành động cần tránh
Những tri thức đạo đức này là cơ sở quan trọng của việc hình thànhniềm tin, ý thức đạo đức tự giác
* Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức
Đời sống tinh thần của con người nói chung, trẻ em nói riêng, sẽ trở nênkhô cứng, trống rỗng nếu không biết yêu, biết ghét, không có cảm xúc màthờ ơ với những người xung quanh, với công việc, với thiên nhiên…Ngược lại,
ở những người có tình cảm đạo đức chân chính, họ rất dễ hòa đồng vớinhững người xung quanh, đời sống tinh thần trở nên phong phú, cuộc sốngvui tươi, công việc hiệu quả hơn…Vì vậy, giáo dục tình cảm đạo đức là mộtnhiệm vụ hết sức quan trọng nhưng rất khó khan, tinh tế bởi vì tác độngđến thế giới nội tâm, thế giới của những cảm xúc trẻ em
Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức là một quá trình hình thành ởhọc sinh những thái độ đúng đắn có liên quan các chuẩn mực hành vi đạođức và từ đó hình thành tình cảm đạo đức bền vững cho các em
Ở tiểu học những thái độ, tình cảm đạo đức cần giáo dục cho các em
có thể chia thành một số nhóm sau:
Trang 28+ Kính yêu, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng , lễphép biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng, yêu mến bạn bè; tôn trọng những ngườixung quanh…
+ Kính yêu Bác Hồ, tôn kính Quốc ca, Quốc kì; biết ơn thương binh liệt
sĩ, yêu trường, mến lớp; yêu quê hương làng xóm…
+ Chăm học, chăm làm việc trường, việc lớp; yêu lao động…
+ Yêu thiên nhiên, môi trường sống xung quanh…
+ Lòng tự trọng, khiêm tốn, thật thà, trung thực
+ Ủng hộ, đồng tình, tán thành những việc làm tốt, phù hợp vớichuẩn mực đạo đức; ngược lại lên án, phê phán, chê cười những hành độngsai trái, có hại cho người khác, cộng đồng xã hội
Theo từng chuẩn mực hành vi đạo đứa, cần giáo dục cho học sinh nhữngthái độ tình cảm như:
+ Thái độ thực hiện hành vi đạo đức ( tích cực, chăm chỉ, tự giác…)
+ Thái độ đối với hành động tích cực (đồng tình, tán thành…), thái độđối với hành động tiêu cực ( phê phán, lên án…)
+ Tình cảm với đối tượng ( kính trọng, biết ơn, yêu quý…)
* Giáo dục hành vi thói quen đạo đức
Việc giáo dục một chuẩn mực hành vi đạo đức nào đó cho trẻ emphải dẫn đến kết quả cuối cùng là các em thực hiện hành vi tương ứng trongcuộc sống, qua các mối quan hệ hàng ngày Hành vi đó nếu được lặp đilặp lại nhiều lần sẽ trở thành thói quen của trẻ, được thể hiện như một néttính cách bền vững
Giáo dục hành vi thói quen đạo đức là tổ chức, yêu cầu, khuyến khíchhọc sinh thực hiện những hành động, việc làm trong cuộc sống của mình phùhợp với các chuẩn mực hành vi đạo đức và từ đó rèn luyện thói quen đạo đứctích cực
Trang 29Ở tiểu học cần hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen đạođức cơ bản như:
+ Giúp đỡ chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình bằngnhững việc làm vừa sức
+ Hành vi lễ phép với người lớn đặc biệt là ông bà, cha mẹ, anh chị, thầy
cô giáo…
+ Giúp đỡ những người xung quanh, thầy cô giáo, bạn bè, hàng xóm,láng giềng, trẻ em, cụ già…
+ Bảo vệ trường lớp, tài sản công cộng
+ Tham gia các hoạt động nhân đạo để giúp đỡ những người gặpkhó khan, hoạn nạn, các phong trào đền ơn, đáp nghĩa ở địa phương
+ Tham gia các công việc bảo vệ giữ gìn thiên nhiên…
Cần giáo dục ‘‘hành vi văn hóa’’ cho học sinh ngay từ nhỏ, tức là hành
vi không những “đúng” về mặt đạo đức, mà còn “ đẹp” về mặt thẩm mĩ.1.2.5 Những nguyên tắc hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
* Khái niệm
“Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của líluận giáo dục, có tác dụng chỉ đạo mọi hoạt động của thầy và trò trongquá trình giáo dục nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục, từ đó đạtđược mục đích giáo dục đề ra.”
* Hệ thống các nguyên tắc giáo dục
+ Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích của hoạt động giáo dục
Như chúng ta đã biết, trong quá trình giáo dục tiểu học, chúng ta phải tổchức những loại hoạt động khác nhau: hoạt động học tập, hoạt độngngoại khóa, hoạt động lao động, hoạt động vui chơi Mỗi loại hoạt động lạibao gồm những hình thức hoạt động cụ thể Ví dụ như : hoạt động xã hội
có thể được
Trang 30tổ chức với hình thức: quyên góp giúp đỡ đồng bào bị bão lũ, tham gia các phong trào đền ơn đáp nghĩa ở địa phương…
Khi tổ chức một hoạt động nào đó, điều đầu tiên cần nghĩ đến là tổ chứchoạt động đó “để làm gì”? “nhằm đạt được kết quả gì”? Tức là cần xác địnhmục đích, mục tiêu của hoạt động
Như vậy mục đích là yếu tố hàng đầu của mỗi hoạt động giáo dục, nó cótác dụng định hướng cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hìnhthức tổ chức hoạt động Việc xác định đúng mục đích, mục tiêu của hoạt độnggiáo dục góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tiểu học
Nguyên tắc này đề ra những yêu cầu đối với giáo viên như sau:
- Xác định được mục đích và mục tiêu giáo dục của hoạt động
- Xác định được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức thích hợpcho hoạt động giáo dục
+ Nguyên tắc giáo dục gắn với cuộc sống học sinh, với thực tiễn đấtnước
Quá trình giáo dục tiểu học có mối quan hệ mật thiết với cuộc sống họcsinh, thực tiễn đất nước Đó là vì quá trình giáo dục tiểu học phải giáodục cho học sinh những chuẩn mực hành vi nhất định nhằm đáp ứngnhững đòi hỏi mà xã hội “ đặt hàng” cho giáo dục tiểu học.Tạo điều kiệncho các em hình thành được cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng củanhân cách người công dân, người lao động, có khả năng ứng xử đúng đắ,khẳng định bản thân và hòa nhập vào cuộc sống, vào thực tiễn đất nước.Quá trình giáo dục tiểu học không chỉ góp phần tích cực vào việc chuẩn
bị bước đầu cho học sinh trở thành người chủ tương lai của đất nước, màcòn giúp các em sống một cách tự tin, tự chủ vào thời điểm hiện tại nhưmột người công dân nhỏ tuổi.Vì vậy, học sinh tiểu học không những
Trang 31phải có những hiểu biết cần thiết về cuộc sống xung quanh mà còn phải cónăng lực,
Trang 32đặc biệt là những nét phẩm chất nhân cách về mặt đạo đức, lao động, thểchất, thẩm mĩ…để tham gia một cách tự giác, tích cực, tự tin vào cuộc sốngthường ngày, vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước.
Mặt khác, cuộc sống và thực tiễn đất nước lại tạo điều kiện thuận lợicho quá trình giáo dục tiểu học Cuộc sống và thực tiễn đất nước cùng vớinhững hoạt động và mối quan hệ phong phú, đa dạng là môi trường, làphương tiện hỗ trợ cho quá trình giáo dục tiểu học
Chúng ta cần gắn yêu cầu giáo dục với thực tiễn đất nước theonhững yêu cầu sau:
- Giúp cho học sinh có những hiểu biết cần thiết về cuộc sống, về thựctiễn đất nước
- Tổ chức và thu hút toàn bộ học sinh vào các hoạt động xã hội một cáchvừa sức
+ Nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể
Cần giáo dục học sinh trong tập thể và bằng tập thể đó là vì tập thể họcsinh vừa là môi trường giáo dục vừa là phương tiện giáo dục
Nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên thực hiện những yêu cầu sau:
- Xây dựng lớp học sinh thành một tập thể vững mạnh
- Tổ chức các hoạt động tập thể mang lại tác dụng giáo dục
- Tổ chức giao lưu không những trong phạm vi lớp mà còn trong phạm
vi toàn trường
+ Nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hànhngay trong hoạt động lao động của học sinh trong và ngoài nhà trường, lấylao động làm phương tiện để hình thành ở học sinh những phẩm chất đạođức của con người mới (yêu lao động, yêu người lao động, quý trọng conngười lao động, sản phẩm lao động,…)
Trang 33+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa ý thức và hành vi
Trong quá trình giáo dục tiểu học, để chuyển hóa chuẩn mực hành vithành kỹ năng, hành vi, thói quen tích cực ở học sinh, cần đồng thờihình thành ở học sinh cả ba mặt ý thức, thái độ, tình cảm và kĩ năng, hành vi,thói quen tương ứng
Giáo viên cần chú ý thực hiện các yêu cầu sau:
- Giúp học sinh hình thành được những tri thức cần thiết về chuẩn mựchành vi
- Hình thành ở học sinh niềm tin tương ứng
- Tổ chức cho học sinh rèn luyện hành vi thói quen tích cực
- Đánh giá kết quả nhận thức và rèn luyện của học sinh một cách kháchquan, công bằng
+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tôn trọng nhân cách họcsinh và yêu cầu hợp lý đối với các em
Sự tôn trọng nhân cách học sinh xuất phát từ lòng nhân ái như là một giátrị đạo đức cần tôn trọng, yêu thương con người Mỗi HSTH là một conngười, là một nhân cách, mặc dù nhân cách này đang trên đà hình thành
và phát triển Do đó, HSTH trước hết cần được tôn trọng như là một conngười trong xã hội dân chủ.Trong quan hệ với học sinh, giáo viên không đơnthuần là một công dân mà còn là một nhà giáo dục Giáo viên là nhà giáo dục
có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân cách HSTH theo các quy định, giátrị, chuẩn mực xã hội thì càng phải tôn trọng nhân cách học sinh của mình.Giáo viên cần tuân theo các yêu cầu sau:
- Tôn trọng phẩm giá, danh dự, thân thể học sinh, đồng thời kíchthích lòng tự trọng của các em
- Đề ra những yêu cầu hợp lý theo tiến trình giáo dục để học sinhphấn đấu, rèn luyện
Trang 34- Tin tưởng và lạc quan đối với sự tiến bộ của học sinh.
+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tổ chức, điềukhiển, hướng dẫn của giáo viên và vai trò chủ thể tích cực của học sinh
Trong quá trình giáo dục tiểu học, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, tổ chức,điều khiển, hướng dẫn học sinh tham gia, thực hiện các hoạt động nhằm hìnhthành và phát triển nhân cách học sinh tiểu học theo mục đích giáo dụctiểu học đã xác định
Trong quá trình này, học sinh tiểu học giữ vai trò là đối tượng giáo dục.Hai vai trò này thống nhất với nhau, tác động qua lại nhau trong đó tưcách đối tượng giáo dục là điều kiện, tư cách chủ thể giáo dục là cơ sở
+ Nguyên tắc tính đến đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm lớp và đặc điểm
cá nhân học sinh
Đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm lớp và đặc điểm cá nhân học sinh có ảnhhưởng không nhỏ đến tiến trình và kết quả giáo dục Dù là đối tượng giáo dục,HSTH chỉ có thể ‘chịu’ được những tác động thích hợp, hay với tư cách là chủthể các em cũng chỉ thực hiện tốt được những hoạt động vừa sức vớimình Bên cạnh đó lứa tuổi HSTH và ngay cả lứa tuổi học sinh từng khối lóp(lớp 1 đến lớp 5) đều có những đặc điểm riêng biệt về sự phát triển tâm lý,
về trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống…và hơn nữa mỗi lớp mỗi cá nhânhọc sinh cũng đều có những đặc điểm riêng biệt
Lý luận và thực tiễn giáo dục đều chứng minh rằng, nếu các hoạt độngđược tổ chức phù hợp với học sinh tiểu học thì chất lượng và hiệu quảgiáo dục sẽ được nâng cao Ngược lại khi hoạt động giáo dục không phùhợp với các em thì hoạt động đó sẽ không mang lại hiệu quả, hoặc chất lượng
và hiệu quả giáo dục hoạt động đó thấp
+ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục nhà trường vớigiáo dục gia đình và xã hội
Trang 35Quá trình giáo dục tiểu học muốn đạt được kết quả với chất lượng
và hiệu quả cao phải là một quá trình khép kín trong đó cần có sự liên kếtthống nhất giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xãhội.Sự phối hợp này tạo ra một sức mạnh tổng hợp tác động đến sự hìnhthành và phát triển nhân cách các em, bảo đảm quá trình này luôn diễn rađúng hướng góp phần ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực nảy sinh
Để thống nhất được giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáodục xã hội cần thực hiện theo những yêu cầu sau:
- Thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội về mục đích, mục tiêu,nội dung phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, cách thức liên kếtgiáo
dục
- Liên kết tổ chức các hoạt động giáo dục
- Cùng tham gia đánh giá kết quả giáo dục học sinh
- Giữ vững vai trò chủ đạo của nhà trường
+ Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt trong quá trình giáo dục
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình giáo dục phải gắn với mỗi cá nhân cụthể, gắn với mỗi tình huống cụ thể Mỗi học sinh có nhu cầu, động cơ, nguyệnvọng, vốn kinh nghiệm, trình độ nhận thức khác nhau Vì vậy, giáo viên phảikhéo léo quan sát để nắm vững học sinh một cách toàn diện để có thể lựachọn và linh hoạt về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình giáodục
Hệ thống các nguyên tắc giáo dục trên có mối quan hệ biện chứng vớinhau Trong quá trình giáo dục đạo đức mỗi giáo viên cần kết hợp, lồng ghépmột cách nhuần nhuyễn, khéo léo, linh hoạt sao cho phù hợp với yêu cầu
và nội dung giáo dục để đạt được thành công
Trang 361.2.6 Phương pháp giáo dục hướng tới giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Khái niệm phương pháp giáo dục
Trang 37Theo Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Hữu Hợp, phương pháp giáo dục là cáchthức tổ chức hoạt động giáo dục, trong đó có sự tương tác thống nhất giữanhà giáo dục – giáo viên tiểu học và người được giáo dục – học sinh tiểuhọc, nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục và từ đó, đạt được mục đíchgiáo dục do xã hội đặt ra đối với nhà trường tiểu học [2-104]
Hệ thống phương pháp giáo dục để giáo dục đạo đức cho học sinh:
* Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân
+ phương pháp đàm thoại: Đàm thoại là phương pháp tổ chức tròchuyện, chủ yếu là giữa giáo viên và học sinh, về các chủ đề giáo dục dựa trênmột hệ thống câu hỏi nhất định
Ở tiểu học, đàm thoại thường được tiến hành theo con đường quy nạp.Giáo viên đưa ra các hành vi, sự việc, hiện tượng cụ thể để học sinh vận dụngkinh nghiệm bản thân, hiểu biết của mình phân tích và từ đó các em đi đếnkết luận khái quát về chuẩn mực hành vi cần thực hiện
+ phương pháp kể chuyện: Kể chuyện là phương pháp giáo viên dunglời của mình thuật lại một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục nhất định
HSTH rất ham thích nghe kể chuyện, với hứng thú cực cao Những câuchuyện hấp dẫn có thể tác động mạnh mẽ đến nhận thức, gây ra ở học sinhnhững ấn tượng khó quên, những xúc cảm sâu sắc, làm cho các em có khi ghinhớ chúng suốt đời
Trong câu chuyện giáo viên nêu ra, trước một tình huống, các nhân vậtthực hiện những hành động nhất định và hành động này dẫn đến kết quả tíchcực hay tiêu cực nào đó Nếu hành động này là tốt, thiện thì nó mang lạikết quả có lợi, tốt đẹp và ngược lại nếu hành động này là xấu, ác thì nómang lại kết quả xấu, có hại Nhờ những kết quả hay hậu quả này, cùngvới kinh nghiệm sống của bản thân, học sinh sẽ rút ra những bài học cầnthiết
Trang 38+ phương pháp giảng giải: Giảng giải là phương pháp giáo viên dùnglời của mình để trình bày, giải thích, chứng minh cho hành động, việc làm nóiriêng hay chuẩn mực, hành vi nào đó nói chung.
Giảng giải góp phần giúp học sinh hiểu được chuẩn mực một cách đầy
đủ hơn, sâu sắc hơn, tạo cơ sở để chúng hình thành niềm tin đúng đắn, tránhđược những niềm tin mù quáng, máy móc Tuy nhiên phương pháp nàynếu lạm dụng sẽ dẫn đến thuyết giáo khô khan, kém hấp dẫn, làm hạn chếhứng thú nhận thức và tính tích cực, độc lập của học sinh
+ phương pháp nêu gương: Nêu gương là phương pháp dung nhữngtấm gương cụ thể, sống động, ấn tượng để kích thích học sinh bắt chước hoặctránh
Phương pháp nêu gương dựa vào tính bắt chước, ưu thế của tư duy trựcquan – cụ thể ở HSTH Nêu một tấm gương tốt là để học sinh thấy được cáitốt đẹp, cảm phục tấm gương đó rồi bắt chước, cố gắng thực hiện đượcnhững hành động việc làm như tấm gương đó Những mẫu mực cụ thể sẽlàm cơ sở, chỗ dựa quan trọng cho ý thức các em chưa được hình thành đầyđủ
Nêu gương còn dựa vào sự tự đánh giá của học sinh Giáo viên đưa ranhững tấm gương tiêu cực để các em tránh Khi đó việc thấy được cái có hại ,cái xấu của tấm gương đó, học sinh tự ‘soi’ vào mình và tự nhắc nhở bảnthân
– không được làm những điều như người đó ( tấm gương xấu) đã làm.Tấmgương xấu có tác dụng nhắc nhở , ngăn học sinh tiểu học tránh làm điểu xấu,điều ác
* Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội, hình thành kinhnghiệm ứng xử cho học sinh
Trang 39+ phương pháp yêu cầu sư phạm: Yêu cầu sư phạm là phương pháp tổchức học sinh thực hiện nội quy, quy chế dành cho các em hay yêu cầu chúngthực hiện hành vi, công việc cụ thể phù hợp với chuẩn mực xã hội, quy địnhcủa tập thể.
Trang 40Trong thực tiễn giáo dục, yêu cầu sư phạm thường được nêu ra như mộtnhiệm vụ, một quy định cụ thể mà tập thể lớp đã đề ra cho các thành viêncủa mình Yêu cầu sư phạm cũng có thể được sử dụng để chấn chỉnh hành vicủa trẻ như học sinh vi phạm kỉ luật, nội quy cần đề ra yêu cầu bắt buộc đểthay đổi hành vi.
+ phương pháp tập luyện: Tập luyện là phương pháp tổ chức chohọc sinh lặp đi lặp lại các thao tác, các hành động nhất định một cáchthường xuyên có hệ thống nhằm biến chúng thành kỹ năng, hành vi, thóiquen hợp lý.Nếu việc tập luyện được thực hiện trong các tình huống, điềukiện khác nhau với tần số cao thì việc hình thành kỹ năng, thói quen, hành
vi càng có hiệu quả, ngược lại nếu tính thường xuyên và tính hệ thống bị viphạm thì khó có thể giúp các em có được kĩ năng, hành vi, thói quen tích cực.+ phương pháp rèn luyện: Rèn luyện là phương pháp tổ chức cáchoạt động và cuộc sống đa dạng, phong phú cho học sinh, tạo cho các emđiều kiện ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội, hình thành các kĩ năng tổchức các hoạt động của mình
Ngoài học tập, HSTH còn tham gia các hoạt động khác nhau: vui chơi,lao động, công tác xã hội… dưới các hình thức cụ thể như văn nghệ, báotường, hái hoa dân chủ…Hoạt động càng phong phú, đa dạng thì quátrình giáo dục càng có hiệu quả.Phương pháp này giúp hình thành ở trẻkinh nghiệm thực tiễn, về tổ chức và thực hiện hoạt động, về các mối quan hệtập thể, các mối quan hệ xã hội
+ Phương pháp tạo tình huống giáo dục: Là phương pháp mà giáo viênphát hiện ra các tình huống giáo dục hoặc tạo ra các tình huống giáo dục vàđưa học sinh vào trong các tình huống đó Nhờ việc học sinh thường xuyên
xử lí các tình huống giáo dục mà hành vi, thói quen hành vi đạo đức đượchình thành