1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề cương ôn tập môn triết học

32 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 152 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề cương gợi ý trả lời các câu hỏi môn triết học dành cho sinh viên đại học và các học viên sau đại học của tất cả các chuyên ngành.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

PGS, TS VŨ TRỌNG DUNG - TRƯỞNG KHOA TRIẾT HỌC

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH KHU VỰC I HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Câu 1: Hoàn cảnh ra đời của triết học Trung Quốc cổ-trung đại

- Trung Quốc là một trong những nơi có nền văn minh sớm nhất trên TG

Vào cuối thiên niên kỷ thứ 3 T CN, xã hội TQ đã bước vào thời kỳchiếm hữu nô lệ sớm hơn châu Âu hàng ngàn năm Mở đầu Nhà nước chiếm hữu nô lệ

TQ là triều đại nhà Hạ (năm 2205-1766 TCN), sau đó là nhà Thương (1766-1400TCN), vào năm 1400 TCN nhà Thương dời đô về đất Ân nên đổi tên thành nhà Ân(1400-1100 TCN), nhà Chu thay thế nhà Ân (1100-221 TCN) Triết học TQ xuất hiệntrong thời đại nhà Chu

Vào thế kỷ XI TCN, bộ lạc du mục Chu từ Tây Bắc TQ dọc theo sôngHoàng Hà tiến vào đất Ân tiêu diệt nhà Ân, lập ra nhà Chu, mở đầu thời kỳ văn minhdựng nước trong lịch sử TQ Nhà Chu được chia làm 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn đầu của nhà Chu ( sử học gọi là Tây Chu- từ TK XI đến TKVIII trước CN) là giai đoạn ổn định và phát triển, xã hội có phép tắc, có nền nếp, cóquy chế, kỷ cương, thái bình thịnh trị (Nhà Chu có hơn 1000 nước chư hầu nhưng tất

cả các nước chư hầu đều tăm tắp tuân theo mọi mệnh lệnh của nhà Chu)

+ Giai đoạn sau của nhà Chu ( Đông Chu- từ TK VIII đến TK III trướcCN) là giai đoạn nhà Chu ngày càng lâm vào suy vong với những biến động lớn, toàndiện, kéo dài suốt 500 năm Đây là thời kỳ loạn lạc triền miên diễn ra những cuộc chiếntranh dữ dội không ngớt giữa các nước chư hầu nhà Chu, xuất hiện tình trạng nướcmạnh lấn nước yếu, nước lớn hiếp nước nhỏ, tự xưng hùng, xưng bá để giành đất,

Trang 2

giành dân của nhau nên lịch sử còn gọi giai đoạn Đông Chu là thời đại Xuân 479)- Chiến Quốc(479-221)

Thu(722-Theo số liệu sử sách: thời đại Xuân Thu (năm 722-479) là 243 năm đãxảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ, 52 vụ bán rẻ đất nước, 36 vụ bầy tôi giết vua.Cuối thời đại Xuân Thu, đất nước TQ chỉ còn lại 20 nước

Từ nửa sau thế kỷ V trước CN đất nước TQ bước vào thời đại ChiếnQuốc(năm 479-221) còn lại 7 nước, tạo thành thế thất hùng: Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu,Ngụy và Tần Bảy nước hùng mạnh sừng sững đứng ngang hàng nhau lại tiếp tục gâychiến tranh liên miên hết năm này sang năm khác làm cho đất nước TQ rơi vào cảnhbinh đao Trong những năm tháng ấy, TQ xuất hiện một con người phi thường làDoanh Chính ( Tần Thủy Hoàng) đã làm nên đất nước TQ Đến năm 221 trước CN:Doanh Chính nhà Tần nổi dậy dẹp được 6 nước kia ( Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy)lập nên đế chế thống nhất- đế chế phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên của TQ vàlên ngôi Hoàng đế Trung Hoa thống nhất Tần Thủy Hoàng Doanh Chính bắt dân xâythành, đắp lũy làm nên Vạn Lý Trường Thành

Nhận xét: Rõ ràng, đây chính là thời kỳ lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô

lệ thị tộc của nhà Chu đã tỏ ra lỗi thời, không phù hợp để tiến nhập vào xã hội phongkiến Chính vào thời điểm này, trong XH đã xuất hiện những tụ điểm, những trung tâmnơi tập trung các kẻ sĩ, họ đứng trên lập trường của tầng lớp mình phê phán XH cũ,đồng thời đề ra hình mẫu của một XH tương lai, lịch sử gọi thời đại này là thời kỳ

“Bách gia chư tử” ( Trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” ( trăm nhà đua tiếng)

và chính nhờ có quá trình “Bách gia chư tử”, “Bách gia tranh minh” đã đẻ ra các nhà tưtưởng vĩ đại và họ chính là những người đã hình thành nên những hệ thống triết họckhá hoàn chỉnh, chặt chẽ trong lịch sử tư tưởng TQ

Câu 2: Tư tưởng chính trị-xã hội của Nho giáo

Tư tưởng chính trị- xã hội là tư tưởng lớn, hàng đầu của Nho giáo

Các nhà Nho luôn luôn hoài bão về một chế độ xã hội có kỷ cương, thái

bình thịnh trị Muốn vậy, phải chấm dứt loạn ly, cho nên trị đối lập với loạn Để chấm

Trang 3

dứt loạn phải thực hiện Chính danh, nên Chính danh là tư tưởng cơ bản của chính trị Nho giáo nhằm đưa xã hội loạn trở lại trị.

Chính danh gồm 2 phần: Danh và thực, Danh: là tên gọi, chức vụ, địa

vị, thứ bậc của một người trong XH; thực: là phận sự của người đó bao gồm cả nghĩa

vụ và quyền lợi Danh và thực phải phù hợp với nhau, một khi Danh và thực không

phù hợp gọi là loạn danh

Danh thực của mỗi người do các mối quan hệ xã hội quy định, mỗi mối

quan hệ XH được gọi là 1 luân ( luân là trật tự, là con đường, đạo cư xử) Xã hội có 5 mối quan hệ cơ bản giữa người và người gọi là Ngũ luân, đó là:

+ Quân – Thần + Phụ – Tử + Phu – Thê + Huynh – Đệ +Bằng – Hữu

Trong 5 mối quan hệ này thì 3 mối quan hệ đầu ( Quân-Thần; Phụ – Tử;

Phu – Thê) được coi là 3 mối quan hệ cơ bản nhất, quan trọng nhất gọi là Tam Cương Theo tôn ty trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất; theo quan hệ chiều ngang thì vua- cha -

chồng ở hàng làm chủ Điều đó phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền

của Nho gia

Tam Cương phải đi liền với Ngũ thường ( tức là 5 đức thường phải có hàng

ngày: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) Gọi tắt Tam Cương, Ngũ Thường là Đạo Cương

Trang 4

+ Trung ( thành thực) + Ngôn(dịu dàng, chừng mực, phải lời) + Tín ( giữ lời).

+ Hạnh ( đức hạnh, tính nết tốt)Riêng đàn bà phải thực hiện thêm Đạo tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử

Nho giáo không dùng pháp trị ( dùng luật pháp, bạo lực, quyền uy, hình phạt để cai trị dân) mà dùng đức trị, tức là đạt được chữ Danh bằng Đức trị.

Đức trị là dùng luân lý, đạo đức để điều hành guồng máy xã hội Trung

tâm của đạo đức Nho giáo là Đức nhân ( hay cốt lõi của Đức trị là Đức nhân) Nhân là

quan hệ giữa người và người phải dựa trên cơ sở tình thương Lòng thương người phảidựa trên 2 nguyên tắc:

+ Điều gì mình không muốn thì đừng có làm cho người ( kỷ sở bất dục,vật thi ư nhân); Điều gì người muốn thì mình tích tụ cho người, đem lại cho người;Điều gì người ghét thì mình chớ có làm

+ Mình muốn đứng vững thì làm cho người đứng vững ( kỷ dục lậpnhi,lập nhân); Mình muốn công việc của mình được thành đạt thì phải giúp đỡ tạo lậpcho người thành đạt ( kỷ dục đạt nhi, đạt nhân)

Nhân nói rộng ra còn bao hàm các đức: Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.

+ Lễ: Lễ vừa là tư cách thờ cúng (lễ bái), vừa là những quy định có tính

luật pháp Lễ vừa là những phong tục tập quán, vừa là một kỷ luật tinh thần Vì vậy,Khổng tử day: Trái với Lễ đừng xen

Trái với Lễ đừng nghe Trái với Lễ đừng nói Trái với Lễ đừng làm

Không học Lễ thì không có chỗ đứng ( bất học lễ, vô dĩ lập).

Nho giáo khuyên bảo con người trước hết phải học Lễ, sau mới học Văn

( Tiên học Lễ, hậu học văn){ Lễ có thể hiểu là Đức, là hồng, là phẩm chất; Văn có thểhiểu là tài, chuyên, năng lực}

Trang 5

So sánh giữa Đức và Tài, Khổng tử dạy: đạo đức nặng hơn tài năng, đứchơn tài là người quân tử, tài hơn đức dễ hóa ra kẻ tiểu nhân.

+ Nghĩa: là những việc nên làm nhằm duy trì đạo lý.

+ Trí: là tri thức, biết người, là dùng người trực, bỏ kẻ gian, biết giáo hóa kẻ gian thành người trực Phải có trí mới hành nhân được, không thể người nhân

mà lại thiếu trí.

+ Tín: là lời nói đi đôi với làm, phải giữ lời, vâng lời.

Nhận xét: Nhìn chung, người có đức nhân là người có tình cảm chânthực, luôn hết lòng vì nghĩa, nghiêm trang, tề chỉnh, rộng lượng, khoan dung, siêngnăng, cần mẫn Còn kẻ bất nhân thì đầy những trí thuật, lắm mẹo vặt, nhiều lúc rấtkhôn khéo, linh lợi mà tình cảm đơn bạc, kẻ bất nhân hành động chỉ vì lợi, không có lễnghĩa, kẻ bất nhân thường dối trá, gian ác, phản loạn, lừa trên gạt dưới

Tóm lại: Đức trị là chỗ đứng vững chắc hơn Pháp trị trong lịch sử cai

trị các nước phương Đông Về điểm này, Khổng tử dạy rằng: Lễ hay hơn hình phạt ởchỗ: Lễ cấm trước khi xảy ra, còn hình phạt thì cấm sau khi xảy ra

Câu 3: Tư tưởng về con người ( về nhân sinh quan) của Nho giáo

Các nhà Nho đều tập trung toàn bộ trí tuệ xây dựng một hình mẫu conngười lý tưởng với những chuẩn mực đạo đức đáp ứng trật tự cai trị kiểu phương

Đông, đó là người quân tử.

Các nhà Nho chỉ ra: quân tử luôn có đầy đủ các đức Ngũ thường: Nhân,

Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Cụ thể: Quân tử là người nắm được mệnh trời, sống theo mệnhtrời Bởi vì, Khổng Tử dạy: Không biết mệnh trời thì chẳng có thể thành người quân tử( Bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dã); Quân tử luôn nỗ lực chăm lo tu dưỡng đạo đức,khiêm tốn, cẩn thận, nhân ái, có trách nhiệm, kính trên nhường dưới, sống thân ái vàhòa đồng với mọi người

Các nhà Nho còn chỉ ra: Quân tử phải đạt 9 tiêu chuẩn:

1 Khi nhìn thì để ý nhìn cho minh bạch.

Trang 6

2 Khi nghe thì lắng tai nghe cho rõ ràng.

3 Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa.

4 Tướng mạo phải giữ cho khiêm cung {khiêm nhường với người dưới,cung kính với người trên}

5 Nói năng phải giữ bề trung thực

6 Làm việc phải trong sự kính cẩn

7 Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han

8 Khi giận thì nghĩ đến hoạn nạn có thể xảy ra

9 Khi thấy lợi liền phải nghĩ đến nghĩa

Đã là người quân tử thì phải tỏ đức sáng ngày càng rộng, ngày càng cao

trong thiên hạ, muốn vậy quân tử phải nhận biết được cái thang 8 bậc mà phấn đấu:

1 Cách vật: là phải từ sự vật, sự việc, tiếp xúc với sự vật, sự việc, nghiên

cứu xem xét đến nơi, đến chốn sự vật, sự việc mới biết sự phải trái ở đâu

2 Trí tri: là phải thấu hiểu suy xét đến cùng điều mình biết.

3 Thành ý: là ý thành thật, không được dối mình.

4 Chính tâm: là lòng ngay thẳng, chính trực, làm chủ mình.

5 Tu thân: là sửa thân mình, tu chỉnh bản thân, có sai thì sửa, không

được bảo thủ, có thế mới tiến lên được Tu thân phải là việc làm hàng ngày

6 Tề gia: là lo toan sửa sang gia đình mình chỉnh tề, tốt đẹp.

7 Trị quốc: là lo toan việc nước, bình trị được nước mình

8 Bình thiên hạ: là thu phục thiên ha.

Nhận xét:Nhìn chung, trong học thuyết Nho giáo, cái gì được coi là tốt,

là đẹp, là tiêu biểu cho con người đều được quy tất cả vào người quân tử Nhưng mặttrái của người quân tử cần phải chỉ ra là:

Trang 7

+ Quân tử là người có lễ giáo, có tôn ti chặt chẽ đến mức rườm rà vàtrong những cộng đồng xã hội: Nhà, nước, thiên hạ Thì nhà là gốc, có một sức mạnh

to lớn đến con người và có muôn nghìn sợi dây trói buộc con người một cách rất nghiệtngã nên vô gia cư là nỗi bất hạnh lớn nhất của con người, đau khổ nhất là những ngườikhông có nhà để gắn mình vào Nho giáo cho rằng có 4 loại người đau khổ sau đây:

Quan: là người đàn ông lớn tuổi không có vợ {quan phu: là người

=> đó là cơ sở của chủ nghĩa cơ hội hiện nay

Về mặt này, quân tử là con người hòa và yên, hòa với bên ngoài để yên

cho bản thân, nên quân tử là con người vị kỷ Quân tử là người thủ cựu {thủ: là giữ,cựu: là cổ -> là giữ nếp cổ xưa}, phục cổ, luôn luôn quay về xa xưa nên quân tử nênquân tử là người hoài cổ, sùng cổ, sính cổ nên luyến tiếc quá khứ, dẫn đến quên hiệntại, chẳng màng tới tương lai Rốt cuộc quân tử cho xưa hơn nay-> cho nên quân tử làngười bảo thủ, trì trệ-> không chịu đổi mới-> dẫn đến không chịu làm cách mạng

{ Nho giáo cho rằng: Xưa hơn nay, truyền thống hơn hiện đại, quá khứhơn hiện tại, điều này ngược lại với sự phát triển của xã hội loài người (xem quy luậtphủ định của phủ định) Ngược lại, cho rằng xưa, truyền thống, quá khứ không quantrọng hoặc xem nhẹ dẫn tới siêu hình, không có xưa thì không thể có nay…}

+ Quân tử là người không có đạo đức lao động, không bao giờ nói đếnlao động SX, thậm chí khinh bỉ lao động chân tay Nho giáo chỉ đề cao lao tâm, laođộng trí óc

Trang 8

Tóm lại : Hình mẫu con người lý tưởng của Nho giáo là người tha hóa.Thực chất quân tử là con người đẳng cấp thuộc tầng lớp quý tộc, là những người nắmquyền hành trong XH, đối lập với đông đảo người dân lao động mà Nho giáo gọi làtiểu nhân Nho giáo phân biệt rất nghiêm ngặt, rạch ròi giữa quân tử và tiểu nhân Tiêu

chuẩn để phân biệt quân tử và tiểu nhân là: điều nhân, rằng quân tử hữu nhân còn tiểu

nhân bất nhân Vì vậy, Nho giáo cũng phác họa ra hình mẫu con người tiểu nhân ở cácđiểm sau đây:

+ Tiểu nhân phải yên thân, yên phận và lấy người quân tử làm chuẩntheo mệnh trời đã định, phải biết an bài với số phận, nếu cưỡng lại với số phận sẽ khổcực hơn

+ Tiểu nhân phải tỏ ra dễ sai đối với người quân tử

+ Tiểu nhân phải ra sức làm lụng để nuôi người quân tử + Tiểu nhânsuốt đời phải noi theo người quân tử

Nói chung, tiểu nhân là người nhỏ mọn, người không có tư cách, khảnăng làm nên sự nghiệp gì đáng kể

{Khi nói về dân, Mạnh tử viết: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, đây là tư tưởng dân bản}

4 Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin ý nghĩa thế giới quan và

phương pháp luận của nó

Định nghĩa vật chất của V.I Lênin

Tình hình mới của lịch sử và thời đại đặt ra là phải chống lại chủ nghĩaduy tâm các loại và khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trướcMác trong quan niệm về vật chất Muốn vậy phải có một quan niệm chính xác

về vật chất V.I Lênin đã hoàn thành nhiệm vụ đó

Một mặt, trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc và khái quát nhữngthành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên; mặt khác, kế thừa và tiếp tụcphát triển những tư tưởng triết học của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự đối lập

Trang 9

giữa vật chất và ý thức, về bản chất và tính thống nhất vật chất của thế giới,

về tính khái quát của phạm trù vật chất và sự tồn tại của vật chất dưới các

dạng cụ thể v.v, vào năm 1908, trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ

nghĩa kinh nghiệm phê phán V.I Lênin đã nêu ra định nghĩa khoa học về vật

chất:

"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan

được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".

Để nắm nội dung định nghĩa vật chất của V.I Lênin, trước hết cần tìm

hiểu phương pháp định nghĩa vật chất V.I.Lênin chỉ ra rằng không thể định

nghĩa vật chất bằng phương pháp định nghĩa các khái niệm thông thường.Phương pháp định nghĩa các khái niệm thông thường là quy khái niệm cần

định nghĩa vào khái niệm rộng hơn nó, rồi chỉ ra đặc điểm của nó Chẳng hạn

định nghĩa: hình vuông là hình tứ giác có bốn cạnh bằng nhau, bốn góc vuông

và có hai đường chéo bằng nhau, giao điểm giữa hai đường chéo vuông góc

và chia đường chéo thành hai nửa bằng nhau Nhưng đối với phạm trù vậtchất, với tư cách là một phạm trù triết học - một phạm trù khái quát nhất vàrộng cùng cực, không thể có một phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất -

thì duy nhất về mặt phương pháp luận chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng

cách đối lập tuyệt đối nó với ý thức, xem vật chất là thực tại khách quan tồn

tại độc lập với ý thức là cái phản ánh nó V.I Lênin chỉ ra rằng "không thểđem lại cho hai khái niệm nhận thức luận này một định nghĩa nào khác ngoàicách chỉ rõ rằng trong hai khái niệm đó, cái nào được coi là có trước" Vì vậy,trong định nghĩa vật chất đã xuất hiện từ cảm giác (tức ý thức)

Định nghĩa vật chất của V.I Lênin bao hàm các nội dung sau đây:

Một là, vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan Khi nói vật chất với tư cách là một phạm trù triết học thì nó là một sự

trừu tượng Vì vậy "chúng ta không biết, vì chưa có ai nhìn được và cảm thấy

Trang 10

vật chất với tính cách là vật chất bằng con đường cảm tính nào khác" Song

sự trừu tượng này chỉ cái đặc tính chung nhất, bản chất nhất mà mọi sự vật,

hiện tượng cụ thể nào của vật chất cũng có, đó là đặc tính tồn tại khách quan

và độc lập với ý thức của loài người Đặc tính này là tiêu chuẩn cơ bản duy

nhất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất Khi nghiêncứu nội dung này cần phải chú ý cả hai khía cạnh phân biệt nhau, nhưng lạigắn bó với nhau, đó là tính trừu tượng và tính hiện thực cụ thể của vật chất.Nếu chỉ thấy tính trừu tượng, thổi phồng tính trừu tượng mà quên mất nhữngbiểu hiện cụ thể của vật chất thì không thấy vật chất đâu cả, sẽ rơi vào lậptrường duy tâm Ph Ăngghen chỉ ra rằng, "có thể nhận biết được vậtchất bằng cách nghiên cứu những vật thể riêng biệt" "Chúng ta rất có thể ănđược trái anh đào và trái mận, nhưng chúng ta không thể ăn được trái cây vìchưa có ai ăn được trái cây với tính cách là trái cây"Ngược lại, nếu chỉ thấytính hiện thực cụ thể của vật chất sẽ đồng nhất vật chất với vật thể Cần khẳngđịnh rằng chủ nghĩa duy vật mácxít không bao giờ quy vật chất thành những

"viên gạch nhỏ của lâu dài thế giới" có tính chất bất biến mà luôn luôn hiểu

vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức của

con người phản ánh.

ý nghĩa của nội dung này là ở chỗ: thứ nhất, khắc phục triệt để sai lầm

cơ bản của chủ nghĩa duy vật trước Mác, đó là quy vật chất về một dạng cụthể của vật chất; đưa học thuyết duy vật tiến lên một bước mới, đáp ứng đượcnhững đòi hỏi mới do những phát minh mới nhất của khoa học tự nhiên đề ra;

thứ hai, cho chúng ta cơ sở khoa học để nhận thức vật chất dưới dạng xã hội,

đó là những quan hệ sản xuất, tổng hợp các quan hệ sản xuất là cơ sở hạ tầng,tạo thành quan hệ vật chất, và từ đây làm nảy sinh quan hệ tư tưởng, đó làkiến trúc thượng tầng Định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã khắc phục quanđiểm duy tâm về lĩnh vực xã hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác

Hai là, thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Với nội dung này, V.I Lênin làm

Trang 11

rõ mối quan hệ giữa thực tại khách quan và cảm giác, rằng thực tại kháchquan (tức là vật chất) là cái có trước ý thức, không phụ thuộc vào ý thức, độclập với ý thức; còn cảm giác (tức là ý thức) của con người là cái có sau vậtchất, do vật chất sinh ra, phụ thuộc vào vật chất Như vậy vật chất là tính thứnhất, ý thức là tính thứ hai Vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách quan, lànguyên nhân phát sinh ra ý thức; không có cái bị phản ánh là vật chất sẽkhông có cái phản ánh là ý thức ý thức là sản phẩm của sự tác động của vậtchất vào giác quan con người Tất cả những gì tồn tại khách quan tác độngvào giác quan đem lại cho con người trong cảm giác đều là vật chất.

ý nghĩa của nội dung này là ở chỗ: nó chống lại mọi luận điệu sai lầm

của chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức như duy tâm chủ quan, duy tâmkhách quan, nhị nguyên luận v.v là những trường phái triết học cố luận giảicho tinh thần là cái sinh ra mọi sự vật, hiện tượng phong phú, đa dạng của thếgiới xung quanh chúng ta

Ba là, thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh Với nội dung này, V.I Lênin chứng minh vật chất tồn tại khách

quan, nhưng không phải tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cáchhiện thực dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể, và con người bằng các giácquan của mình có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận biết được Nghĩa là, ngoàidấu hiệu tồn tại khách quan, vật chất còn có một dấu hiệu quan trọng khác đó

là tính có thể nhận thức được Khẳng định vật chất là cái được cảm giác củachúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh V.I Lênin muốn nhấn mạnh rằngbằng những phương thức nhận thức khác nhau như chép lại, chụp lại, phảnánh con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Vì vậy, về nguyêntắc, không có đối tượng vật chất nào không thể nhận biết, chỉ có những đốitượng vật chất chưa nhận thức được mà thôi

ý nghĩa của nội dung này là ở chỗ: thứ nhất, hoàn toàn bác bỏ thuyết

không thể biết; thứ hai, cổ vũ các nhà khoa học ngày càng đi sâu vào nghiên

cứu, phát hiện ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới cũng như những

Trang 12

quy luật vận động và phát triển của thế giới vật chất, từ đó làm giàu thêm khotàng tri thức của nhân loại.

Là kết quả của sự khái quát trên phương diện triết học những thành tựumới nhất của khoa học tự nhiên và hoạt động thực tiễn của con người, địnhnghĩa vật chất của V.I Lênin đã giải đáp một cách khoa học, sâu sắc cả hai

mặt nội dung vấn đề cơ bản của triết học Vì vậy, ngoài ý nghĩa thế giới quan

khoa học trên đây, định nghĩa vật chất của V.I Lênin còn có ý nghĩa phương pháp luận chung đối với chúng ta trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Vì vật chất có trước, tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức, ýthức có sau vật chất; vật chất quyết định ý thức, cho nên trong nhận thức vàhoạt động thực tiễn "phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hànhđộng theo quy luật khách quan", phải xuất phát từ điều kiện vật chất kháchquan đã và đang có làm cơ sở cho mọi hành động của mình; không được lấy ýmuốn, nguyện vọng chủ quan làm điểm xuất phát Yêu cầu khi đề ra mục tiêu,nhiệm vụ và các biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cho địa phươngmình, đơn vị mình, ngành mình, phải nắm chắc tình hình thực tế khách quanthì mới nêu ra mục đích, chủ trương đúng và sẽ đi đến thắng lợi trong hoạtđộng thực tiễn Ngược lại, cần chống thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội, bấtchấp quy luật khách quan, không đếm xỉa đến điều kiện vật chất khách quan,tuỳ tiện, phiến diện; lấy ý muốn, nguyện vọng, cảm tính làm xuất phát điểmcho chủ trương, chính sách; hậu quả là đường lối không hiện thực, khôngtưởng và tất yếu sẽ đi đến thất bại trong hoạt động thực tiễn

Câu 12: Thực tiễn là gì? Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn?

{Phạm trù thực tiễn không chỉ là phạm trù của lý luận nhận thức nói riêng màcòn là một trong những phạm trù trung tâm, nền tảng cơ bản của toàn bộ triết học Mác

- Lênin Vì vậy, xung quanh vấn đề thực tiễn đã có nhiều trường phái triết học bàn đến

Các nhà triết học duy tâm chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần chứkhông hiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người

Trang 13

Nhìn chung, các nhà triết học duy tâm đã xem xét nhận thức tách rời hoạt động thựctiễn, chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tư tưởng Thực chất họ đã gạt bỏ thựctiễn khỏi nhận thức Chẳng hạn, Hêghen (1770 - 1831) nhà triết học duy tâm kháchquan xuất sắc người Đức định nghĩa rằng: Thực tiễn là một suy lý lôgic (suy luậnlôgíc), cứ suy lý mọi cái trong tư duy thì nó đúng trong hiện thực Bởi vì, ông coi ýniệm khách quan- thứ ý niệm tồn tại độc lập với ý thức con người và sinh ra ý thức conngười, sinh ra mọi vật Nhưng phải nói rằng, lôgíc của tư duy đúng khi nó phản ánhkhách quan hiện thực khách quan mới đúng Vì suy lý phải là sự kết hợp của từ haiphán đoán trở lên mới rút ra được kết luận.

Ví dụ: Phán đoán 1: Hễ gà gáy sáng là mặt trời mọc (theo kinh nghiệm đây

là phán đoán đúng, đó là hiện thực)

Phán đoán 2: Sáng nay gà không gáy (Thực tế đây cũng là phán đoánđúng) Nhưng Hêghen kết luận: Sáng nay mặt trời không mọc Nhưng đây là suy lýsai, vì không thể nói gà không gáy là mặt trời không mọc, không thể nghĩ là mặt trờikhông mọc Nhưng trong nghệ thuật là hư cấu và được phép hư cấu Chỉ có nghệ thuậtmới "cắt nửa vầng trăng, chặt đôi, bẻ đôi câu thơ" Nghệ thuật là như thế nhưng khôngphải là phi lý.Nghệ thuật là vậy, khác hẳn chủ nghĩa duy tâm

Các nhà triết học duy vật trước Mác đã có công lớn trong việc phát triểnthế giới quan duy vật, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo và thuyếtkhông thể biết- Thuyết phủ nhận khả năng nhận biết thế giới khách quan của conngười Tuy nhiên, khuyết điểm lớn nhất của họ là ở chỗ: Họ không thấy được vai tròcủa thực tiễn đối với nhận thức, lý luận, khoa học Ngay cả Phoiơbắc (1804 - 1872)nhà triết học duy vật lớn nhất trước Mác(thầy dạy triết học Mác), tuy có đề cập đếnthực tiễn song ông cũng không thấy được vai trò của thực tiễn, không thấy được thựctiễn là hoạt động vật chất cảm tính có tính năng động của con người Với ông, quanniệm "chỉ có hoạt động lý luận mới là cao quý, mới là hoạt động đích thực của conngười" Do đó, ông coi thường thực tiễn, miệt thị thực tiễn, xem thực tiễn là cái gì cótính chất con buôn, bẩn thỉu, phức tạp Ông cũng không hiểu được vai trò, ý nghĩa củathực tiễn đối với nhận thức và cải tạo thế giới

Trang 14

Bàn về thực tiễn, chủ nghĩ Mác - Lênin cho rằng, con người tự làm ralịch sử của mình nhưng không phải bắt đầu bằng hoạt động lý luận (Không phải conngười sinh ra là ứng xử với nhau mà là giang tay hái lượm) mà bằng hoạt động thựctiễn cải tạo thế giới hiện thực Chính Mác, Ănghen và Lênin là những người đầu tiêntrong lịch sử triết học đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức, đưa ra quan điểm đúngđắn về bản chất của thực tiễn Do đó, các ông đã đem lại một quan niệm khoa học vềvai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triểncủa xã hội loài người

Về v.trò của t.tiễn, Lênin viết: "Q.niệm về đ/s, về t.tiễn, phải là q.niệm thứ I và

cơ bản của ll về nhận thức"}

*Khái niệm thực tiễn: Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất cảm tính

có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.

Phạm trù thực tiễn bao hàm các nội dung sau đây:

- Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người màchỉ là những hoạt động vật chất hay nói theo C.Mác là hoạt động cảm tính của conngười, bằng giác quan cảm nhận được (toàn bộ hoạt động của loài người rất phongphú, đa dạng, tựu trung lại có ba loại: hoạt động vật chất; hoạt động tinh thần- hoạtđộng lý luận; hoạt động đảm bảo sinh tồn giống nòi) Các hoạt động còn lại không xếpvào thực tiễn

{Chẳng hạn, từ cây gỗ quý để có một cái tủ đẹp nếu chỉ ngồi suy nghĩ khôngthôi thì không thể biến nó thành vật phẩm được mà cây gỗ đó phải có người lao động,người thợ mộc dùng cưa, đục, bào tác động vào mới ra cái tủ Đây là các hoạt động vậtchất.}

Nói thực tiễn là hoạt động vật chất điều đó có nghĩa là trong quá trìnhhoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện vật chất, công cụ vật chất,sức mạnh vật chất của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để cải tạo, làm biến đổichúng phù hợp với nhu cầu của mình

Trang 15

Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và kháchthể( những hiện tượng, quá trình, đối tượng con người tác động vào, không đồng nhấtvới thế giới quan), trong đó chủ thể( con người tác động vào khách thể là chủ thể)hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó mà nhận thức khách thể Vì vậy, thựctiễn trở thành mắt khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài.

{ Sự vật tác động vào con người thông qua các giác quan con người nhận thứcnhưng đây chỉ là nhận thức bên ngoài Như thế chưa đủ, con người còn muốn nhậnthức bên trong sự vật, bản chất sự vật Triết học trước Mác không làm được điều đó.Triết học mácxít đã đưa thực tiễn vào nhận thức Bởi lẽ: Từ trực quan sinh động đến tưduy trừu tượng và trở về thực tiễn là con đường nhận thức mà nhận thức là hình ảnhchủ quan về thế giới khách quan Hơn nữa, từ nhận thức được thực tiễn kiểm nghiệm,tổng kết, khái quát thực tiễn trở thành lý luận.}

- Thực tiễn còn là hoạt động vật chất có tính chất loài (loài người): Hoạtđộng vật chất đó không thể chỉ được tiến hành bằng từng con người riêng lẻ mà phảibằng hoạt động của đông đảo quần chúng nhân dân lao động (đó là hoạt động củanhiều tầng lớp, nhiều giai cấp) chủ thể là cả xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhấtđịnh Do đó, xét về nội dung cũng như phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử

*Hoạt động thực tiễn có các hình thức cơ bản sau: hoạt động SX vậtchất, hoạt động chính trị-xã hội và thực nghiệm khoa học

- Hình thức cơ bản đầu tiên của hoạt động thực tiễn là hoạt động SX vật

chất Đây là hình thức hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ bản nhất, vì nó

Trang 16

quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các hình thứckhác của hoạt động thực tiễn.

{Nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức hoạt động thực tiễn khác của hoạtđộng sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại độc lập (vì có thểphân biệt người với vật bằng bất kỳ hoạt động gì nhưng đầu tiên phải là hoạt động laođộng sản xuất)}

- Hoạt động chính trị xã hội: Hình thức hoạt động này xuất hiện khi xã

hội phân chia thành giai cấp (có tính lịch sử), đó là hoạt động đấu tranh giai cấp, đấutranh giải phóng dân tộc, đấu tranh chính trị, đấu tranh cho hoà bình, hoạt động cáchmạng XH nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội

- Cùng với sự ra đời và phát triển của khoa học, một hình thức cơ bản

khác của thực tiễn cũng xuất hiện, đó là hoạt động thực nghiệm khoa học Chỉ có hoạt

động thực nghiệm khoa học chứ không phải toàn bộ hoạt động khoa học là thực tiễn

Vì trong hoạt động khoa học có cả hoạt động lý luận Thực nghiệm là hình thức đặcbiệt của thực tiễn, bao gồm: Thực nghiệm khoa học, thực nghiệm sản xuất, thựcnghiệm xã hội cùng biến đổi giới tự nhiên và xã hội nhưng nó là hoạt động của conngười được tiến hành trong những điều kiện nhân tạo (do con người tạo ra) nhằm rútngắn độ dài của quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới

* Trên cơ sở những hình thức cơ bản này, những hình thức không cơbản của thực tiễn được hình thành Những hình thức đó là: mặt thực tiễn của các hoạtđộng trong một số lĩnh vực như: hoạt động nghệ thuật, hoạt động giáo dục, hoạt động y

tế Sở dĩ những hình thức này không cơ bản là vì: không phải vì chúng kém quan trọng

mà vì chúng được hình thành và phát triển từ những hình thức cơ bản, chúng phụthuộc vào những hình thức cơ bản Chúng là những hình thức thực tiễn phái sinh (sinh

ra từ cái cơ bản)

{Ví dụ: Hoạt động giáo dục Từ mục đích của Đảng ta là xây dựng một

nước Việt Nam độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội với mục tiêu: dân giàu,

nước mạnh, xã hộ công bằng, dân chủ, văn minh Mục tiêu này là hoạt động thực tiễn.

Ngày đăng: 02/05/2019, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w