khóa luận môn triết học dành cho các sinh viên đại học và các học viên cao học với tất cả các chuyên ngành học.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA LÊNIN, Ý NGHĨA THẾ GIỚI QUAN VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA
NÓ TRONG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC
TIỄN
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS VŨ TRỌNG DUNG - TRƯỞNG KHOA TRIẾT HỌC
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH KHU VỰC I
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 24 Định nghĩa vật chất của Lênin, ý nghĩa thế giới quan khoa học 6
5 Ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn 9
6 Kết luận 22
7 Danh mục tài liệu tham khảo 23
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 3Cơ sở của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử Với cơ sở này, lần đầu tiên giai cấp vô sản và nhân dân laođộng đã có một vũ khí tinh thần để đấu tranh giải phóng giai cấp mình và cả
xã hội ra khỏi sự áp bức bóc lột Như vậy, triết học Mác là vũ khí tinh thầncủa giai cấp vô sản, còn giai cấp vô sản là lực lượng “vật chất” của triết họcMác Sự thống nhất chặt chẽ giữa triết học Mác với giai cấp vô sản làm chotriết học Mác thực sự thể hiện tính cách mạng của mình và giai cấp vô sảnmới thực hiện được sứ mệnh lịch sử là lật đổ xã hội cũ, từng bước xây dựngmột xã hội mới, chế độ Xã hội chủ nghĩa Với chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã biến đổi căn bản tính chấtcủa triết học, đối tượng nghiên cứu và mối liên hệ của nó với các khoa họckhác Triết học Mác đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận củacác khoa học cụ thể Các tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở để cụ thểhóa và phát triển triết học Mác
Lênin là người đã bảo vệ và tiếp tục phát triển triết học Mác trong thời
kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, ông đã kháiquát những thành tựu của khoa học, nhất là trong vật lý học, phát triển hơnnữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, một trong số
đó chính là định nghĩa về phạm trù vật chất Để nắm vững cơ sở của triết họcMác - Lênin, chúng ta phải nhận thức đúng đắn phạm trù này
I Vật chất là gì?
+ Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất:
Trang 4Từ khi ra đời cho đến nay, lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Cuộc đấu tranh đó trước hết xuất phát từviệc lý giải vấn đề căn nguyên của thế giới Có rất nhiều ý kiến khác nhau trảlời cho câu hỏi này, tựu trung lại, có hai loại ý kiến đối lập nhau:
Một loại ý kiến cho rằng cái sinh ra các sự vật hiện tượng phong phú đadạng của thế giới xung quanh chúng ta là tinh thần Đây là quan điểm duytâm Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng tư duy, ý thức của con người làxuất phát điểm, là nguyên nhân, là cội nguồn của mọi sư vật hiện tượng Sựvật hiện tượng chẳng qua chỉ là những phức hợp của cảm giác, tri giác củacon người Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng, có một thực thể tinh thầntồn tại trước thế giới vật chất, trước tự nhiên xã hội và con người đó là ý niệmtuyệt đối, tinh thần thế giới Chính nó là cái sản sinh ra giới tự nhiên, xã hội
-Sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất và khả năng nhận thức thếgiới của con người
- Nguồn gốc, bản chất và nội dung của ý thức
- Tính thống nhất, tính vô tận, tính vĩnh viễn, tính phong phú và muôn
vẻ của thế giới vật chất
Như vậy phạm trù vật chất được hiểu rất khác nhau, phụ thuộc vào sựphát triển của hoạt động thực tiễn và nhận thức trong từng thời kỳ của lịch sửnhân loại
Quan niệm vật chất của các nhà duy vật cổ đại mang tính trực quancảm tính, thể hiện ở chỗ họ đã đồng nhất vật chất với những vật chật cụ thể,
coi đó là cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại ta gọi đó là quan điểm nhất nguyên
thể Chẳng hạn trong triết học Ấn độ cổ đại phái Cha -rơ -vác coi cơ sở đầu
Trang 5tiên là đất, nước, lửa và không khí Trường phái Mi -lê của triết học Hy Lạp
cổ đại coi cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là nước (Ta-lét), không khí men); trong triết học của A-na-xi-men thì A-pây-rôn được coi là một dạng vậtchất vô tận, không xác định là một cái gì đó giữa nước và không khí là cơ sởđầu tiên của mọi tồn tại Hê -ra-cơ -lít lai coi lửa là cơ sở đầu tiên của mọi tồntại Một số nhà triết học khác lại cho rằng thế giới sự vật hiện tượng do một số
(A-na-xi-nguyên thể đầu tiên tạo thành, ta gọi là quan điểm đa (A-na-xi-nguyên thể Chẳng hạn,
nhà triết học Hy lạp cổ đại Em-pê-dô-lơ (khoảng 490-430 TCN) và trườngphái không chính thống Lô -ka-ya-ta của triết học Ấn độ cổ đại đều cho rằngbốn yếu tố: đất, nước, lửa (hay ánh sáng), không khí (hay gió) sinh ra mọi vật.Bốn căn nguyên đó tồn tại vĩnh viễn, không tự sinh ra và mất đi Còn thuyếtngũ hành của triết học Trung quốc cổ đại cho rằng, năm yếu tố: kim, mộc,thủy, hỏa, thổ là những yếu tố khởi nguyên cấu tạo mọi vật Bước tiến quantrọng nhất của sự phát triển phạm trù vật chất là định nghĩa vật chất của hainhà triết học Hy lạp cổ đại: Lơ -xíp (khoảng 500-440 TCN) và Đê -mô -crit.Hai ông định nghĩa vật chất là nguyên tử Nguyên tử là những hạt nhỏ nhấtkhông thể phân chia, không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hìnhdạng, tư thế và trật tự sắp xếp Mọi sự vật hiện tượng của thế giới là do sự kếthợp và phân giải của các nguyên tử mà thành
Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng thuyết nguyên tử cổ đại là một bướcphát triển của chủ nghĩa duy vật trên con đường hình thành phạm trù vật chấttriết học, tạo thành cơ sở triết học cho nhận thức khoa học sau này Việc đồngnhất vật chất với một dạng cụ thể của nó là nguyên tử kéo dài và trở thànhtruyền thống trong tư duy của các nhà triết học duy vật và các nhà khoa học tựnhiên sau này Chính những tư tưởng về nguyên tử của Lơ -xíp, Đê-mô -crit
đã được Ga -li-lê, Đề-các, Niu-tơn, Bê-cơn, Hốp-bơ.khẳng định và phát triểnhơn nữa Thế kỷ XIX, các nhà triết học và khoa học tự nhiên, do không hiểuphép biện chứng duy vật, vẫn đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc vật chấtvới một thuộc tính phổ biến của các vật thể đó là khối lượng
Trang 6+ Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bác bỏ quan điểm duy vật siêu hình về vật chất.
Đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX trong vật lý học có những phátminh rất quan trọng đem lại cho con người những hiểu biết mới, sâu sắc vềcấu trúc của thế giới vật chất
Năm 1895, Rơnghen đã phát hiện ra tia X
Năm 1896, Béc-cơ -ren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ, đã chứng tỏrằng nguyên tử không thể không thể không phân chia được và không thểchuyển hóa sang các nguyên tử khác
Năm 1897, Tôm-xơn phát hiện ra điện tử Điện tử là một trong nhữngyếu tố cấu tạo nên nguyên tử Phát minh này chứng tỏ nguyên tử không phải
là đơn vị cuối cùng tạo nên thế giới vật chất
Năm 1901, Kau-phman đã phát hiện ra rằng trong quá trình vận độngkhối lượng của điện tử tăng khi vận tốc của nó tăng Phát minh này phủ nhậnhoàn toàn quan điểm siêu hình cho rằng khối lượng là bất biến và đồng nhấtvật chất với khối lượng
Tất cả những phát minh ấy đưa lại cho con người những hiểu biết mới sâu sắc
về nguyên tử Điều đó đã gây ra một cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong cácnhà triết học và khoa học tự nhiên Lợi dụng cơ hội này, các nhà triết học duy tâmmột mặt biện hộ cho quan điểm sai lầm của mình, mặt khác, họ đẩy mạnh cuộc tấncông trực diện vào khái niệm vật chất
Lênin đã đã bác bỏ sự giải thích duy tâm đối với phạm trù vật chất và chỉ
ra rằng, không phải là vật chất tiêu tan mà chỉ có giới hạn hiểu biết của conngười về vật chất tiêu tan, nghĩa là cái mất đi không phải là vật chất mà làgiới hạn của sự nhận thức về vật chất
II Định nghĩa vật chất của Lênin - ý nghĩa thế giới quan khoa học
Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc cách mạng trong khoa học tựnhiên và phê phán chủ nghĩa duy tâm về triết học, Lênin đã đưa ra một định
nghĩa toàn diện, sâu sắc và khoa học về vật chất: “Vật chất là một phạm trù
triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người
Trang 7trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Khi định nghĩa phạm trù vật chất, Lênin đòi hỏi cần phải phân biệt vậtchất với tính cách là một phạm trù triết học với các khái niệm của khoa học tựnhiên về các đối tượng, sự vật cụ thể ở các trình độ kết cấu và tổ chức khácnhau và các thuộc tính khác nhau tương ứng của chúng Lênin cũng chỉ raphương pháp định nghĩa vật chất là phạm trù rộng nhất trong hệ thống cácphạm trù nên không thể định nghĩa nó bằng phương pháp định nghĩa thôngthường: qui khái niệm cần định nghĩa vào một khái niệm rộng hơn và chỉ ra
những đặc điểm khác biệt mà chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng cách tuyệt
đối nó với ý thức, xem vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý
thức là cái phản ánh nó Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặtcủa vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, nó bao hàm các nội dung sau đây:
Một là, vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan Khi nói vật chất với tư cách là phạm trù triết học thì nó là một sự trừu
tượng Song sự trừu tượng này chỉ cái đặc tính chung nhất, bản chất nhất mà
mọi sự vật, hiện tượng cụ thể nào của vật chất cũng có, đó là đặc tính tồn tại
khách quan và độc lập với ý thức loài người Đặc tính này là tiêu chuẩn cơ
bản duy nhất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất Cầnphải chú ý hai khía cạnh phân biệt nhau nhưng lại gắn bó với nhau, đó là tínhtrừu tượng và tính cụ thể của vật chất Nếu chỉ thấy tính trừu tượng, thổiphồng tính trừu tượng mà quên mất những biểu hiện cụ thể của vật chất thìkhông thấy vật chất đâu cả, sẽ rơi vào trường hợp duy tâm Ngược lại, nếu chỉthấy hiện thực cụ thể của vật chất sẽ đồng nhất vật chất với vật thể Ý nghĩacủa nội dung này là ở chỗ:
- Đã khắc phục triệt để sai lầm của chủ nghĩa duy vật trước Mác, đó làqui vật chất về một dạng cụ thể của vật chất; đưa học thuyết duy vật tiến lênmột bước mới, đáp ứng được những đòi hỏi mới do những phát minh mớinhất của khoa học tự nhiên đề ra
Trang 8- Đã tạo ra cơ sở khoa học để nhận thức vật chất dưới dạng xã hội, khắcphục quan điểm duy tâm về đời sống xã hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác.
Hai là, thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Điều đó khẳng định “thực tại
khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức)
là cái có sau (tính thứ hai) Vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách quan, lànguyên nhân phát sinh ra ý thức Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức Ýthức là sản phẩm của sự tác động của vật chất vào giác quan con người Ýnghĩa của nội dung này là: nó chống lại chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thứcnhư duy tâm chủ quan, duy tâm khách quan, nhị nguyên luận là những trườngphái cố luận giải cho tinh thần là cái sinh ra mọi sự vật, hiện tượng của thếgiới xung quanh chúng ta
Ba là, thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất) được
biểu hiện thông qua các dạng cụ thể mà con người có thể trực tiếp hoặc giántiếp nhận biết được Bằng cảm giác (ý thức) con người có thể nhận thức đượcthế giới vật chất với các phương thức nhận thức khác nhau (như chép lại,chụp lại, phản ánh) Vì vậy, về nguyên tắc, không có đối tượng vật chất nàokhông thể nhận biết, chỉ có những đối tượng vật chất chưa nhận thức được màthôi Ý nghĩa của nội dung này là:
- Hoàn toàn bác bỏ thuyết không thể biết
- Đã có tác động cổ vũ động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứuthế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới cũng nhưnhững qui luật vận dộng và phát triển của thế giới vật chất, từ đó làm giàuthêm kho tàng tri thức của nhân loại
Là kết quả của sự khái quát trên phương diện triết học những thành tựumới nhất của khoa học tự nhiên và hoạt động thực tiễn của con người, địnhnghĩa vật chất của V.I Lênin đã giải đáp một cách khoa học, sâu sắc cả hai
mặt nội dung vấn đề cơ bản của triết học Vì vậy ngoài ý nghĩa thế giới quan
Trang 9khoa học trên đây, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin còn có ý nghĩa phương pháp luận chung đối với chúng ta trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
III Ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn:
Vì vật chất có truớc, tồn tại khách quan không tồn tại vào ý thức, ý thức
có sau vật chất; vật chất quyết định ý thức, cho nên trong nhận thức và hoạtđộng thực tiễn “phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và tuân theo quy luậtkhách quan”, phải xuất phát từ điều kiện vật chất khách quan đã và đang cólàm cơ sở cho mọi hoạt động của mình; không được lấy ý muốn chủ quan làmđiểm xuất phát Yêu cầu khi đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và các biện pháp thựchiện các mục tiêu, nhiệm vụ cho địa phương mình, đơn vị mình, ngành mình,phải nắm chắc tình hình thực tế khách quan thì mới nêu ra mục đích, chủtrương đúng và sẽ đi đến thắng lợi trong hoạt động thực tiễn Ngược lại, cầnchống thái độ chủ quan duy ý chí, nóng vội bất chấp quy luật khách quan, tùytiện phiến diện; lấy ý muốn nguyện vọng cảm tính làm xuất phát điểm chochủ trương chính sách; hậu quả là đường lối không hiện thực, không tưởng vàtất yếu sẽ đi đến thất bại trong hoạt động thực tiễn
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng con người tự làm ra lịch
sử của mình nhưng không phải bắt đầu bằng hoạt động lý luận mà bằng hoạtđộng thực tiễn cải tạo thế giới hiện thực Chính Mác, Ăngghen và Lênin lànhững người đầu tiên trong lịch sử triết học đã đưa thực tiễn vào lý luận nhậnthức, đã đưa ra quan điểm đúng đắn về bản chất của thực tiễn Do đó, các ông
đã đem lại một quan niệm khoa học về vai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối vớinhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Lênin đã viết về vai trò của thực tiễn: “Quan niệm về đời sống, về thựctiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
Thực tiễn là những hoạt động vật chất cảm tính có tính lịch sử - xã hộicủa con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Trang 10Sự phát triển của nhận thức loài người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện lýluận nên lý luận là sản phẩm phát triển cao của nhận thức, đồng thời thể hiệntrình độ cao của nhận thức.
Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn,phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất yếu, những quy luật của thế giớikhách quan
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lý luận là sự tổng kết những kinhnghiệm của loài người, là tổng hợp những kiến thức về tự nhiên và xã hội tíchtrữ lại trong quá trình lịch sử” Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng viết: “Thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác -Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lýluận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”
Lý luận được hình thành trong mối liên hệ với thực tiễn, do đó giữathực tiễn và lý luận có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó thực tiễn giữvai trò quyết định, còn lý luận có sự tác động to lớn trở lại thực tiễn
Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết là ở chỗ: thực tiễn là cơ
sở, động lực, mục đích chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, lý luận và khoahọc
Triết học Mác - Lênin khẳng định và chứng minh rằng: Thực tiễn làtiêu chuẩn kiểm tra nhận thức, lý luận, khoa học, nghĩa là sau khi có tri thức
lý luận, tri thức khoa học, vấn đề không phải là bàn cãi xem nó đúng hay sai
mà chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm, tức là đem áp dụng lý luận, khoa họcvào thực tiễn mới xác định tri thức đạt được là đúng hay sai, là chân lý hay sailầm, là chân thực hay giả dối Thực tiễn là tiêu chuẩn đanh thép chứng minhchân lý, nghiêm khắc bác bỏ sai lầm, giả dối
Tuy nhiên, thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý vừa có tính tuyệt đối, vừa cótính tương đối: Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ thực tiễn là tiêu chuẩn kháchquan duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn có thể xácnhận được chân lý Tính tương đối thể hiện ở chỗ thực tiễn không phải là bấtbiến, đứng nguyên một chỗ mà nó cũng có quá trình vận động, biến đổi và
Trang 11phát triển Thực tiễn là một quá trình cho nên chân lý cũng là một quá trình,điều đó đòi hỏi nhận thức của chúng ta cũng phải đổi mới và phát triển theothực tiễn cho phù hợp.
Tuy xuất hiện trên cơ sở thực tiễn, song lý luận không thụ động theosau thực tiễn mà nó có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thựctiễn Vai trò của lý luận đối với thực tiễn thể hiện ở các điểm sau:
Lý luận khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, do đó lý luận soiđường, dẫn dắt chỉ đạo thực tiễn, điều chỉnh hoạt động thực tiễn đạt kết quảcao Lý luận, khoa học làm cho hoạt động của con người trở lên chủ động, tựgiác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
"Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi"
Lý luận góp phần vào việc tổ chức, giáo dục, thuyết phục quần chúng,CácMác viết: Lý luận sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhậpvào quần chúng Lý luận có thể dự báo tương lai, từ đó hướng dẫn con ngườitrong cuộc sống hiện tại cũng như trong hoạt động thực tiễn tiếp theo
Do vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mà dẫn tới
hai sai lầm cực đoan, đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều
chủ nghĩa mà cán bộ đảng viên chúng ta ít nhiều đã mắc phải trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa qua và đã gây ra những tác hại nhất định Chonên, các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X (từ đổi mới đến nay) đã đề ranhiệm vụ phải xây dựng phương pháp tư duy khoa học chống chủ nghĩa kinhnghiệm và chủ nghĩa giáo điều
Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa: Đó là khuynh hướng tuyệt đối hoá kinh
nghiệm thực tiễn, hoàn toàn thoả mãn kinh nghiệm bản thân, chỉ dừng lại ởtrình độ kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là tất cả, hạ thấp lý luận, coi thường lýluận khoa học, ngại học lý luận, không chịu quan tâm tổng kết kinh nghiệm
để đề xuất lý luận
Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đã gây ra những hậu quả sau:
Dễ dẫn đến tư duy áng chừng, đại khái, thiếu chính xác, thiếu chặt chẽtrong công tác (trong chỉ đạo, lãnh đạo gọi là bệnh chỉ tay 5 ngón)