1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện tim hà nội năm 2017

109 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu tiến hành phân tích danh mục thuốc được sử dụng và đánh giá những bất cập trong sử dụng thuốc tại bệnh viện vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích t

Trang 1

„p -```333333333333322==== 0 oo3 TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

ĐỖ THỊ BÍCH THUỶ

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI NĂM 2017

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

ĐỖ THỊ BÍCH THUỶ

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC

TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI NĂM 2017

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Chuyên ngành : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC

Mã số : CK 62 72 04 12

Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Thanh Bình

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các công trình khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2019

Đỗ Thị Bích Thuỷ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện và hoàn thành tại Bệnh viện Tim Hà Nội,

Trường Đại học Dược Hà Nội

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp

đỡ, hướng dẫn của các Thầy, Cô trong trường, lãnh đạo bệnh viện, tập thể khoa

Dược, các bạn học và các đồng nghiệp tại Bệnh viện Tim Hà Nội

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Giáo sư Nguyễn Thanh Bình, Hiệu

trưởng trường Đại học Dược Hà Nội - người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt

kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Phòng sau đại học, Bộ môn Quản lý

và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, những người đã truyền đạt kiến

thức quý báu và hỗ trợ tôi trong thời gian học tập vừa qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Giáo sư Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh

viện Tim Hà Nội - người đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi và chỉ dẫn cho tôi

trong thời gian học tập và nghiên cứu

Xin được chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại Bệnh viện Tim Hà Nội,

tập thể Khoa Dược đã giúp đỡ tôi cả công sức và thời gian để tôi hoàn thành

việc học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Chồng và các con

tôi đã luôn động viên, giúp đỡ, chia sẻ khó khăn và đồng hành với tôi trong mọi

hoàn cảnh, mọi lĩnh vực để tôi chuyên tâm học tập và nghiên cứu

Đồng thời xin gửi lời cám ơn đến các anh/chị và bạn bè đã nhiệt tình chia

sẻ giúp tôi hoàn thành luận văn này

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2019

Học viên

Đỗ Thị Bích Thuỷ

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỬ DỤNG THUỐC 3

1.1.1 Mô hình bệnh tật 3

1.1.2 Xu hướng bệnh tật 3

1.1.3 Sử dụng thuốc trên thế giới và tại Việt Nam 5

1.1.3 Các danh mục thuốc tại bệnh viện 7

1.2 PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG 9

1.2.1 Các phương pháp phân tích danh mục thuốc sử dụng 9

1.2.2 Thực trạng phân tích danh mục thuốc sử dụng thuốc trên thế giới và tại Việt Nam 13

1.3 MỘT SỐ YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG BẤT CẬP TRONG SỬ DỤNG THUỐC 20

1.3.1 Bất cập trong sử dụng thuốc do danh mục thuốc trúng thầu 21

1.3.2 Bất cập trong sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý 22

1.3.3 Bất cập trong sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic 23

1.3.4 Bất cập trong sử dụng thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước đặc biệt với thuốc thuộc thông tư 10 23

1.3.5 Bất cập trong sử dụng thuốc theo gói thầu 24

1.4 MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI 24

1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 26

CHƯƠNG 2 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27

Trang 6

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 27

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.3.2 Các chỉ số, biến số nghiên cứu 28

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu: 37

2.3.4 Phương pháp phân tích, trình bày và xử lý số liệu 38

2.4 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI 39

3.1.1 Phân tích cơ cấu DMT sử dụng theo DMT được BHYT chi trả 39

3.1.2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo cơ quan tác dụng 39

3.1.3 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 41

3.1.4 Phân tích cơ cấu DMT sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 44

3.1.5 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo đường dùng 45

3.1.6 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo tên biệt dược - tên generic và theo gói thầu 47

3.1.7 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo thành phần 48

3.1.8 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại ABC 49

3.1.9 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại ABC và nhóm điều trị 50

3.1.10 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại VEN 52

3.1.11 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc theo ma trận ABC-VEN 52

3.1.12 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp 56

Trang 7

3.1.13 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo kết quả đấu thầu

2017 57

3.2 XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG BẤT CẬP TRONG SỬ DỤNG THUỐC 58

3.2.1 Bất cập sử dụng thuốc do danh mục thuốc trúng thầu 58

3.2.2 Bất cập trong sử dụng thuốc thuộc thông tư 10/2016 59

3.2.3 Bất cập trong sử dụng thuốc sản xuất trong nước 60

3.2.4 Bất cập trong sử dụng thuốc generic 60

3.2.5 Bất cập trong sử dụng thuốc theo phân loại VEN 62

3.2.6 Bất cập trong sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý 63

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 68

4.1 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm điều trị 68

4.2 Cơ cấu thuốc theo thuốc generic và biệt dược và theo gói thầu 71

4.3 Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu 72

4.4 Thuốc danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp 73

4.5 Cơ cấu thuốc đơn và đa thành phần 74

4.6 Cơ cấu thuốc theo đường dùng 75

4.7 Cơ cấu thuốc theo danh mục thuốc được BHYT chi trả 77

7.8 Về phân tích ABC/VEN 78

4.9 Yếu tố bất cập trong sử dụng thuốc khi so sánh với danh mục thuốc trúng thầu 81

4.10 Hạn chế của nghiên cứu 84

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 85

1 Kết luận 85

2 Đề xuất 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU

ADR Adverse drug reaction Phản ứng có hại của thuốc AIDS Acquired immune deficiency

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Hướng dẫn phân loại thuốc nhóm V,E,N: 11

Bảng 1.2 T lệ sử dụng thuốc generic và BDG tại một số khu vực 13

Bảng 1.3 Nhóm thuốc có t lệ chi phí cao tại một số bệnh viện Việt Nam 17

Bảng 2.4 Các biến số nghiên cứu 29

Bảng 2.5 Các chỉ số về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng mục tiêu 1 32

Bảng 2.6 Chỉ số xác định một số yếu tố ảnh hưởng bất cập đến DMTSD 36

Bảng 3.7 Cơ cấu DMT theo DMT được BHYT chi trả 39

Bảng 3.8 Cơ cấu DMT theo cơ quan tác dụng mã bậc 1 của ATC 40

Bảng 3.9 Cơ cấu DMT sử dụng năm 2017 theo nhóm tác dụng dược lý 41

Bảng 3.10 Cơ cấu nhóm thuốc tim mạch theo phân nhóm tác dụng dược lý 42

Bảng 3.11 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 43

Bảng 3.12 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 44

Bảng 3.13 Cơ cấu theo xuất xứ của 5 nhóm tác dụng dược lý có giá trị sử dụng lớn nhất 45

Bảng 3.14 Cơ cấu danh mục thuốc theo đường dùng 45

Bảng 3.15 Cơ cấu thuốc tiêm theo nhóm tác dụng dược lý 46

Bảng 3.16 Cơ cấu danh mục thuốc theo tên generic và tên BDG 47

Bảng 3.17 Cơ cấu danh mục thuốc theo thành phần 48

Bảng 3.18 Cơ cấu thuốc đa thành phần theo nhóm tác dụng dược lý 48

Bảng 3.19 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại ABC 49

Bảng 3.20 Cơ cấu thuốc hạng A theo nguồn gốc xuất xứ 50

Bảng 3.21 Cơ cấu DMT theo phân loại ABC và nhóm điều trị 51

Bảng 3.22 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại VEN 52

Bảng 3.23 Cơ cấu danh mục thuốc theo ma trận ABC-VEN 53

Bảng 3.24 Cơ cấu nhóm thuốc AV 54

Bảng 3.25 Cơ cấu thuốc nhóm AE theo tác dụng dược lý 55

Trang 10

Bảng 3.26 Cơ cấu danh mục thuốc theo thông tƣ 10/2016/TT-BYT 56

Bảng 3.27 Cơ cấu thuốc thuộc TT 10/2016/TT-BYT theo xuất xứ 57

Bảng 3.28 Cơ cấu DMT sử dụng theo kết quả đấu thầu 2017 57

Bảng 3.29 So sánh DMT sử dụng và DMT trúng thầu 58

Bảng 3.30 Thay thế thuốc sử dụng trên 120 so với DMT trúng thầu 59

Bảng 3.31 So sánh thuốc thuộc TT 10 trong 2 DMT 59

Bảng 3.32 So sánh cơ cấu thuốc của hai danh mục theo xuất xứ 60

Bảng 3.33 So sánh cơ cấu thuốc của hai danh mục theo tên thuốc 61

Bảng 3.34 Cơ cấu DMT theo tỉ lệ sử dụng so với số lƣợng trúng thầu 61

Bảng 3.35 So sánh 2 DMT theo phân loại VEN 62

Bảng 3.36 9 thuốc nhóm V có số lƣợng sử dụng trên 120 63

Bảng 3.37 So sánh cơ cấu thuốc ở hai danh mục theo nhóm điều trị 64

Bảng 3.38 So sánh tỉ lệ SD/ TT theo nhóm tác dụng dƣợc lý trong 2 DMT 65

Bảng 3.39 So sánh cơ cấu nhóm tim mạch trong 2 danh mục thuốc 66

Bảng 3.40 So sánh nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn ở DMT sử dụng và DMT trúng thầu 67

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Xu hướng cơ cấu số lượt khám chữa bệnh theo nhóm bệnh 4

Hình 1.2 Vị trí của các DMT trong bệnh viện 9

Hình 1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy bệnh viện Tim Hà Nội 25

Hình 2.4 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 28

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mô hình bệnh tật trên thế giới và tại Việt Nam có xu hướng thay đổi đáng

kể trong thời gian gần đây T lệ bệnh lây nhiễm giảm và t lệ các bệnh không lây nhiễm tăng Theo dự đoán, vào năm 2020, bệnh mạn tính sẽ gây ra gần ba phần tư tổng số ca tử vong trên toàn thế giới, đặc biệt tại các nước đang phát triển [62] Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do các bệnh mạn tính là bệnh tim mạch (17 triệu người, chiếm 48% số ca tử vong do bệnh mạn tính) [66] Bệnh không lây nhiễm đang tạo ra gánh nặng y tế nặng nề do t lệ tàn tật, t vong cao

và có xu hướng ngày càng gia tăng Chi phí điều trị cho bệnh không lây nhiễm trung bình cao gấp 40-50 lần so với điều trị các bệnh lây nhiễm, đòi hỏi kỹ thuật cao, thuốc đặc trị đắt tiền, thời gian điều trị kéo dài, dễ bị biến chứng Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tổn thất về kinh tế đối với các nước có thu nhập thấp

và trung bình do các bệnh mạn tính là hơn 7000 t USD trong giai đoạn từ

2011-2025 (bình quân mỗi năm gần 500 t USD) [64] Do đó, việc quản lý sử dụng các thuốc điều trị các bệnh mạn tính là rất quan trọng

Mục tiêu hướng đến của hoạt động sử dụng thuốc là an toàn, hợp lý, hiệu quả Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia thực trạng sử dụng thuốc không hợp lý đang

ở mức độ đáng báo động Ở các nước đang phát triển ít hơn 40 bệnh nhân được điều trị theo các hướng dẫn điều trị chuẩn [68] Việc sử dụng thuốc không hợp lý sẽ tác động tiêu cực đến cá nhân người bệnh nói riêng và cộng đồng nói chung Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh, là một mắt xích quan trọng nhằm đảm bảo vấn đề sử dụng thuốc cho người bệnh Vì vậy, đánh giá hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện thông qua phân tích danh mục thuốc (DMT) sử dụng

để từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp là rất cần thiết đối với mỗi cơ sở y tế

Các thuốc muốn đưa vào sử dụng trong bệnh viện phải trải qua một quy trình mua sắm chặt chẽ: từ xây dựng danh mục thuốc đấu thầu, tổ chức đấu thầu

Trang 13

đến cung ứng Theo ước tính, thuốc chiếm khoảng 60 tổng ngân sách sử dụng của bệnh viện [60] nên việc có một danh mục thuốc trúng thầu phù hợp sẽ giúp đảm bảo tính chủ động trong cung ứng cũng như tính hiệu quả, an toàn, tiết kiệm Tuy nhiên, mức độ phù hợp giữa danh mục thuốc trúng thầu và danh mục

sử dụng thực tế là như thế nào? Có những bất cập gì trong sử dụng thuốc? Đó là câu hỏi mà các bệnh viện trong đó có bệnh viện Tim Hà Nội rất mong muốn có câu trả lời để có thể thực hiện tốt hơn công tác lựa chọn và mua sắm thuốc

Bệnh viện Tim Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Sở Y

tế Hà Nội, là bệnh viện chuyên khoa tim mạch hạt nhân của cả nước hoạt động theo cơ chế tự chủ Hằng năm, bệnh viện đã thực hiện khám chữa bệnh cho hàng trăm nghìn lượt người bệnh bảo hiểm y tế, dịch vụ Để đảm bảo hoạt động sử dụng thuốc đạt hiệu quả cao, Hội đồng thuốc và điều trị, khoa Dược luôn bám sát các quy định, thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng đầy đủ, kịp thời và hướng tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu tiến hành phân tích danh mục thuốc được

sử dụng và đánh giá những bất cập trong sử dụng thuốc tại bệnh viện vì vậy,

chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2017” với 2 mục tiêu:

1 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2017

2 Phân tích một số yếu tố bất cập trong sử dụng thuốc tại bệnh viện Tim

Hà Nội năm 2017

Trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao chất lượng sử dụng thuốc tại bệnh viện Tim Hà Nội, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỬ DỤNG THUỐC

1.1.1 Mô hình bệnh tật

Mô hình bệnh tật MHBT của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia

sẽ là tập hợp tất cả những tình trạng mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác động của những yếu tố khác nhau xuất hiện trong cộng đồng, xã hội đó trong một khoảng thời gian nhất định Mô hình bệnh tật bệnh viện là số liệu thống kê

về các bệnh lý trong khoảng thời gian nhất định thường theo năm của bệnh nhân đến khám và điều trị Nhằm nghiên cứu mô hình bệnh tật một cách thống nhất, thuận lợi và chính xác, WHO đã ban hành bảng phân loại quốc tế về bệnh tật ICD International Classification of Diseases và được sửa đổi nhiều lần để phù hợp với tình hình thực tế Mô hình bệnh tật chính là căn cứ quan trọng giúp xây dựng DMT phù hợp, làm cơ sở để bệnh viện hoạch định, phát triển toàn diện trong tương lai [65, 70]

Mỗi bệnh viện có tổ chức, nhiệm vụ khác nhau, đặt trên các địa bàn khác nhau với đặc điểm dân cư địa lý khác nhau và đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong tuyến y tế khác nhau dẫn tới MHBT ở mỗi bệnh viện khác nhau Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có 2 loại MHBT bệnh viện: MHBT của bệnh viện đa khoa và MHBT của bệnh viện chuyên khoa Một bệnh nhân có thể mắc nhiều bệnh hoặc một bệnh liên quan đến nhiều cơ quan trong cơ thể, do

đó một bệnh viện chuyên khoa thường có bệnh tật của chuyên khoa đó và một

số bệnh thông thường kèm theo

1.1.2 Xu hướng bệnh tật

Trong số 57 triệu ca tử vong trên toàn cầu năm 2008, có 36 triệu người

63 chết vì bệnh không lây nhiễm, chủ yếu là bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh đường hô hấp mạn tính, khoảng 80 trong số đó xảy ra ở nước phát triển thấp và trung bình Do ở các nước kém phát triển, chi phí khám chữa

Trang 15

bệnh do người dân tự trả, nên tiền chữa bệnh là vấn đề căng thẳng với các gia đình đặc biệt là gia đình thu nhập thấp [66]

Ở Việt Nam, có sự thay đổi rõ rệt về MHBT trong khoảng hơn một thập

k gần đây Theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh KCB tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê năm 2015, xu hướng t trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao [38] Nếu t trọng này năm 1986 chỉ là 39 thì năm 1996 tăng lên 50 , năm 2006 là 62 và chỉ sau 5 năm, đến năm 2010 t trọng này đã tăng thêm 10 , lên 72 Ngược lại với xu hướng này

là sự giảm đi nhanh chóng của t trọng số đợt KCB đối với người mắc bệnh truyền nhiễm T trọng số lượt KCB liên quan đến tai nạn, chấn thương, ngộ độc

có xu hướng chững lại Như vậy, gánh nặng bệnh tật chuyển dịch mạnh sang các bệnh không lây nhiễm chủ yếu là bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh phổi mạn tính) [9] Chính vì vậy, vai trò của bệnh viện chuyên khoa hay khoa tim mạch ngày càng đóng vai trò quan trọng vào vấn đề điều trị và sử dụng thuốc của người bệnh

(Niên giám thống kê y tế 2010)

Hình 1.1 Xu hướng cơ cấu số lượt khám chữa bệnh theo nhóm bệnh

Trang 16

1.1.3 Sử dụng thuốc trên thế giới và tại Việt Nam

Theo báo cáo của tập đoàn IMS Health, thị trường Bắc Mỹ chiếm t lệ lớn nhất so với các khu vực khác khoảng 40 doanh số dược phẩm bán ra trên thế giới hàng năm , trong khi toàn bộ châu Á, châu Phi, châu Úc chỉ chiếm khoảng 19 [47] Tuy nhiên, theo dự báo thị trường mới nổi tại các nước đang phát triển dự kiến sẽ vượt qua 5 nước Châu Âu Pháp, Đức, Anh, Ý và Tây Ban Nha về chi tiêu thuốc trên toàn cầu và sẽ chiếm 30 chi tiêu toàn cầu vào năm

2016 so với 13 của Châu Âu [69]

Tại Việt Nam, tổng nguồn tài chính y tế cũng tăng từ gần 140.000 t đồng năm 2010 lên gần 200.000 t đồng năm 2012 Tổng chi y tế bình quân đầu người hàng năm trên toàn quốc tăng từ 1,263 triệu/ người năm 2009 lên 2,184 triệu/ người năm 2012 Tỉ lệ chi y tế so với GDP từ năm 2010 đến 2012 là khoảng 6,0 [10] Một chi phí rất lớn dùng cho chi phí y tế, thuốc và không ngừng gia tăng Do đó, những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc rất được sự quan tâm trên cả thế giới và tại Việt Nam

Sử dụng thuốc hợp lý là một trong những vấn đề ưu tiên của ngành y tế

Tổ chức Y tế thế giới đưa ra định nghĩa về sử dụng thuốc hợp lý từ những năm

1985 và khái niệm này cũng đã được đưa vào trong văn bản Việt Nam thông tư 21/2013/TT-BYT) [6, 53] Trong thông tư 21/2013/TT-BYT, Sử dụng thuốc hợp

lý được định nghĩa là "là việc dùng thuốc đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của

người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh (đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng" [6]

Thực trạng sử dụng thuốc không hợp lý trên thế giới và tại Việt Nam đang

là vấn đề rất được quan tâm Các trường hợp phổ biến của việc sử dụng thuốc không hợp lý bao gồm: sử dụng quá nhiều loại thuốc cho một bệnh nhân; sử dụng kháng sinh không hợp lý, thường ở liều không đủ hay dùng để điều trị các

Trang 17

bệnh nhiễm trùng không do vi khuẩn; sử dụng quá nhiều thuốc tiêm khi có thể

sử dụng thuốc uống; kê đơn không theo hướng dẫn điều trị và tự điều trị, tự sử dụng thuốc phải kê đơn [53]

Sử dụng thuốc không hợp lý gây ra nhiều hậu quả như gây bệnh nghiêm trọng thậm chí tử vong, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và một số bệnh mãn tính; kháng kháng sinh; sử dụng không hiệu quả nguồn lực dẫn đến vượt quá khả năng chi trả của bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân nghèo, làm mất lòng tin ở bệnh nhân [63] Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc, kê quá nhiều thuốc cho bệnh nhân cũng làm tăng nguy cơ gặp phản ứng có hại Hậu quả do phản ứng có hại của thuốc gây ra đã và đang được nhìn nhận là một vấn đề nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn đến việc điều trị của người thầy thuốc trên lâm sàng Theo một nghiên cứu tại Mỹ, ADR là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ

tư đến thứ sáu ở Mỹ Tại một số quốc gia Châu Âu, tỉ lệ nhập viện do ADR khoảng hơn 10 Na Uy 11,5 ; Pháp 13,0 ; Anh 16,0 [50] Thiệt hại kinh

tế gây ra bởi ADR là đáng báo động Theo một nghiên cứu thực hiện ở Mỹ vào năm 2002, chi phí y tế hằng năm cho bệnh tật và tử vong liên quan đến thuốc là khoảng 177,4 t USD [51, 52] Tại Anh, chi phí này là khoảng 847 triệu USD và tại Đức là 588 triệu USD Gánh nặng do ADR đòi hỏi phải có biện pháp can thiệp tích cực thông qua hoạt động cảnh giác dược Vì vậy, Tổ chức Y tế thế

giới khuyến cáo “các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, cần dùng

thuốc hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả và cung cấp được nhiều thuốc hơn cho nhân dân” [63]

Sử dụng thuốc trong bệnh viện đóng một vai trò quan trọng trong sử dụng thuốc Điều này càng đúng với thực trạng sử dụng thuốc tại Việt Nam hiện nay Theo báo cáo, chi phí thuốc khám chữa bệnh ở nước ta chiếm tới 60 , thậm chí

ở một số bệnh viện chiếm tới 70-80 , con số này quá cao so với khuyến cáo của WHO từ 25-30% [19] Tổng kết đã cho thấy rằng, khoảng 1/3 ngân sách một năm của bệnh viện được chi cho mua nguyên liệu, vật tư, bao gồm cả thuốc

Trang 18

Thuốc chiếm khoảng 60 tổng ngân sách tiêu hao, trong đó có những thuốc hết hạn trước khi sử dụng Do đó, khoa Dược là một trong những khoa đóng vai trò quan trọng nhất của một cơ sở y tế - nơi một lượng tiền lớn được chi định kỳ để mua thuốc Trường hợp không có hoặc thiếu thuốc từ khoa Dược có thể dẫn tới việc chăm sóc sức khỏe không đảm bảo và mất uy tín bệnh viện Vì vậy, việc đánh giá sử dụng thuốc, giúp nâng cao vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện đóng một vai trò quan trọng vào sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả

1.1.3 Các danh mục thuốc tại bệnh viện

Việc phân tích sử dụng thuốc tại bệnh viện không thể tách rời các danh mục thuốc trong bệnh viện Đầu tiên phải kể đến danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) Danh mục thuốc bệnh viện có nhiều định nghĩa khác nhau Theo Tổ

chức Y tế thế giới WHO : "Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc

đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện" Ngoài ra, còn có

một số định nghĩa khác về DMTBV như định nghĩa của Hiệp Hội dược sỹ bệnh

viện Mỹ: "Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục các thuốc và thông tin liên

quan được cập nhật liên tục, đảm bảo nhu cầu lâm sàng cho bác sỹ, dược sỹ và các chuyên gia y tế khác trong chẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh hoặc để cải thiện sức khoẻ Danh mục thuốc bệnh viện ngoài thuốc còn bao gồm các sản phẩm tương tự thuốc, vật tư y tế, chính sách sử dụng thuốc, thông tin thuốc, công cụ hỗ trợ việc ra quyết định và hướng dẫn điều trị của cơ sở y tế" Trong

phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa DMT bệnh viện của Tổ chức Y tế thế giới

Một danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng tốt mang lại lợi ích sau:

- Lựa chọn các thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý

- Loại bỏ các thuốc không an toàn và không hiệu quả

- Giảm chi phí do giảm số lượng thuốc mua sắm

- Cung cấp thông tin thuốc tập trung và có trọng tâm trên cơ sở DMTBV

Trang 19

Chính vì vậy, lựa chọn xây dựng DMT là bước then chốt và có vai trò quan trọng tiên quyết, ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động cung ứng và tính hợp lý, an toàn, kinh tế trong sử dụng thuốc Theo WHO, việc xây dựng DMT bệnh viện phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện

- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật

- Tuân thủ các hướng dẫn điều trị hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Đáp ứng với các phương pháp, kỹ thuật mới trong điều trị

- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện

- Thống nhất DMT thiết yếu, DMT được BHYT chi trả do Bộ Y tế ban hành

- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước

Hiện nay ở nước ta, việc xây dựng DMTBV được dựa trên một số danh mục sau: Danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT; Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần thứ VI; Danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh; DMT sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng

Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục do Hội đồng thuốc và Điều trị lựa chọn Tuy nhiên, quá trình điều trị trong lâm sàng lại có thể phát sinh những vấn

đề ngoài dự kiến vì vậy mà số lượng và chủng loại thuốc sử dụng trong thực tế điều trị lại có thể khác so với danh mục thuốc đã được Hội đồng thuốc và điều trị phê duyệt Danh mục này được gọi là danh mục thuốc sử dụng Liên quan đến danh mục thuốc sử dụng thì trong bệnh viện còn có danh mục thuốc mua ngoài kế hoạch và danh mục thuốc bổ sung Việc phân tích danh mục thuốc sử dụng và so sánh danh mục thuốc sử dụng với danh mục thuốc trúng thầu để từ

đó có những điều chỉnh cho phù hợp trong hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện năm sau là rất quan trọng Các hoạt động này cần phải được thực hiện thường xuyên

Trang 20

Hình 1.2 Vị trí của các DMT trong bệnh viện 1.2 PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG

1.2.1 Các phương pháp phân tích danh mục thuốc sử dụng

Để đánh giá về thực trạng sử dụng thuốc trong bệnh viện nhiều nghiên cứu đã được tiến hành với việc sử dụng các chỉ số và phương pháp nghiên cứu khác nhau Trong tài liệu Hội đồng thuốc và Điều trị của WHO hay thông tư số 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế đã đưa ra một số phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc [6, 41]

1.2.1.1 Phân tích ABC

Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm t lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện Phân tích ABC có thể:

- Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường Thông tin này được sử dụng để:

+ Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn

Danh mục thuốc bệnh viện

Danh mục thuốc thuộc kế hoạch đấu thầu

Danh mục thuốc trúng thầu

Danh mục thuốc yêu

cầu mua bổ sung

Thực hiện đấu thầu mua sắm thuốc

Danh mục thuốc thanh

toán bảo hiểm

Hướng dẫn điều trị

chuẩn

Danh mục thuốc sử dụng năm trước

Hợp đồng cung ứng thuốc theo đấu thầu rộng rãi

Danh mục thuốc mua

sắm ngoài đấu thầu

rộng rãi

Trang 21

+ Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế

+ Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn

- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật

- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện

- Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn Phương pháp này cũng có thể ứng dụng cho một đợt đấu thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu

- Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt là thuốc trong nhóm A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không

có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng giá thành rẻ hơn

- Phân tích ABC cũng có thể được sử dụng để đánh giá một phác đồ điều trị khi tất cả các thuốc sử dụng có hiệu quả tương đương

Phương pháp phân tích ABC đã cho thấy những ưu, nhược chính sau:

Ưu điểm chính: giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào

Nhược điểm chính: không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau [6]

1.2.1.2 Phân tích VEN

Phân tích VEN là phương pháp phổ biến giúp lựa chọn những thuốc cần

ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện trong khi nguồn kinh phí không đủ để mua tất cả các thuốc như mong muốn Các thuốc được phân chia tùy theo tác dụng thành các hạng mục sống còn, thiết yếu và không thiết yếu

Trang 22

Phân tích VEN cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau khác với phân tích ABC chỉ có thể so sánh những nhóm thuốc có cùng chung hiệu lực điều trị

- Các thuốc sống còn V : gồm các thuốc dùng để cứu sống người bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản

- Các thuốc thiết yếu E : gồm các thuốc dùng để điều trị cho những bệnh nặng nhưng không nhất thiết cần phải có cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản

- Các thuốc không thiết yếu N : gồm các thuốc dùng để điều trị những bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong danh mục thiết yếu và không cần thiết phải lưu trữ trong kho

Hướng dẫn phân loại thuốc nhóm V,E,N được thể hiện ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Hướng dẫn phân loại thuốc nhóm V,E,N:

Tác dụng điều trị của thuốc

Phòng bệnh nghiêm trọng Chữa bệnh nghiêm trọng Chữa bệnh nhẹ/ triệu chứng tự hồi phục được

Chứng minh được hiệu lực tác dụng

Chưa được chứng minh hiệu lực tác dụng

Có Không

Luôn luôn Không bao giờ

Không

Có thể

Luôn luôn Hiếm khi

Không Không

Có thể

Có thể

Trang 23

Phương pháp phân tích VEN có các ưu- nhược điểm sau:

Ưu điểm:

- Cho phép so sánh các thuốc khác nhau về hiệu lực tác dụng

- Phối hợp với phân tích ABC cho phép phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc Nhược điểm:

- Không gặp khó khăn trong phân tích thuốc khác nhau về hiệu lực điều trị

- Phân loại nhóm V và nhóm E gặp khó khăn tuy nhiên không quá quan trọng vì chủ yếu quan tâm tới thuốc nhóm N [53]

1.2.1.3 Ma trận ABC - VEN

Kết hợp phân tích ABC và VEN được ma trận ABC/VEN có thể mang lại hiệu quả trong việc kiểm soát lựa chọn và mua sắm Ma trận ABC/VEN bao gồm các nhóm: nhóm I AV, BV, CV, AE, AN), nhóm II (BE, CE, BN), nhóm III CN Đây là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện các vấn

đề sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện

1.2.1.4 Phân tích nhóm tác dụng dược lý/ nhóm điều trị

Nhóm điều trị được sắp xếp theo danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y

tế thế giới hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại dược lý- Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ AHFS hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu- Điều trị- Hoá học ATC của Tổ chức Y tế thế giới

Phân tích nhóm điều trị giúp xác định những nhóm thuốc trong DMTBV

có mức tiêu thụ và chi phí cao, trên cơ sở thông tin về bệnh tật chỉ ra những vấn

đề sử dụng thuốc bất hợp lý, từ đó xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc sử dụng quá mức và căn cứ vào đó để tìm giải pháp mua sắm thuốc thay thế [57] Như vậy, cần có những đánh giá về tình hình sử dụng thuốc để từ đó có những can thiệp phù hợp

Trang 24

1.2.2 Thực trạng phân tích danh mục thuốc sử dụng thuốc trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.2.1 Trên thế giới

Các thuốc biệt dược gốc chiếm t lệ nhỏ ở các nước thu nhập thấp 22,3 , tăng dần ở các nước thu nhập trung bình 43,7 ), và trên trung bình (61,8%) [44] Một khoản tiết kiệm đáng kể có thể đạt được khi chuyển sang dùng các thuốc generic có hiệu quả điều trị tương đương mà giá thành lại thấp hơn [43] Nghiên cứu tại Phần Lan cho thấy trong năm đầu thay thế các thuốc BDG bằng thuốc generic đã giúp giảm 10 chi phí thuốc [56] Tại Anh quốc, tổng chi tiêu tiền thuốc giảm 70 sau khi đưa vào sử dụng các thuốc generic, ở Tây Ban Nha là 52% [71] Tuy vậy, chi phí khó có thể giảm thêm do các thuốc phát minh sau khi hết hạn bảo hộ đã dần giảm giá tương đương với thuốc generic [49]

Bảng 1.2 Tỷ lệ sử dụng thuốc generic và BDG tại một số khu vực [54]

Các nước thu nhập

trung bình thấp

33,6 Philippines đến 97,5% (Syria)

8,2% (China, Shandong) đến 80,8% (Morocco)

Thay thế các thuốc BDG bằng thuốc generic nhằm giảm chi phí là chủ đề gây tranh luận liên quan đến các bệnh như động kinh, phương pháp điều trị có chỉ số điều trị hẹp, gắn với nguy cơ mất hiệu quả hoặc gia tăng độc tính [46] Tuy vậy, các thuốc generic và tương đương sinh học có vai trò quan trọng trong kiểm soát chi phí và khả năng tiếp cận thuốc [48]

Kết quả phân tích ABC/VEN tại khoa Dược của trường Y tại Delhi cho thấy tỉ lệ nhóm thuốc A,B,C tương ứng là 18,6 ; 24,0 và 57,4 ; t lệ nhóm thuốc V,E,N lần lượt là 18,7%, 49,5% và 31,8% Phân tích ma trận ABC-VEN cho thấy về số lượng thì 28,68 thuốc được phân loại là nhóm I, 41,09 được

Trang 25

phân loại là nhóm II và 30,23 được phân loại là nhóm III; còn về giá trị thì các nhóm I, II, III lần lượt chiếm là 73,0 , 22,2 và 4,8 [60] Còn theo một nghiên cứu về phân tích ABC-VEN tại khoa Dược một bệnh viện ở Ấn Độ năm 2007-2008 kết quả cho thấy phân loại ABC tương ứng là 13,78 , 21,85 và 64,37 về số lượng còn về giá trị các nhóm này chiếm tương ứng là 69,97 , 19,95% và 10,08% Kết qủa phân tích VEN cho thấy t lệ các nhóm V,E,N lần lượt là 12,11 , 59,38 và 28,51 Kết quả phân tích ma trận ABC-VEN cho kết quả nhóm I, II, III về số khoản mục là 22,09 , 54,63 và 23,28 còn về giá trị là 74,21 , 22,23 và 3,56 [45]

Một nghiên cứu khác tại Nga được thực hiện từ 2011-2014, cùng với phân tích ABC/VEN năm 2013 nhóm nghiên cứu đã tiến hành can thiệp bằng các hoạt động đào tạo dựa trên bằng chứng về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Kết quả chi phí thuốc năm 2014 giảm so với năm 2013, điều này hết sức quan trọng vì giúp đảo ngược xu hướng sử dụng thuốc trong 3 năm trước đó là tăng Gần 40 ngân sách tiền thuốc năm 2014 là dùng cho thuốc V, cao nhất trong 4 năm nhưng giá trị tuyệt đối của nhóm N năm 2014 giảm so với năm 2012 và 2013 [59]

Nghiên cứu phân tích danh mục thuốc tại Muhimbili Tanzania tiến hành phân tích từ 07/2011 đến 06/2012 cho thấy nhóm V chiếm 17 , nhóm E chiếm

70 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy với các thuốc nhóm A chiếm t trọng ngân sách lớn nhưng bệnh viện chưa áp dụng các biện pháp quản lý tồn trữ với nhóm này Điều này có thể dẫn tới nguy cơ sử dụng thuốc bất hợp lý [61]

1.2.2.2 Tại Việt Nam

Phân tích ABC/VEN

Ở Việt Nam hiện đang mở rộng việc áp dụng phân tích ABC/VEN ở các bệnh viện Tác giả Vũ Thị Thu Hương sử dụng phương pháp ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và Điều trị trong xây dựng

và thực hiện DMT tại một số bệnh viện đa khoa và nhận thấy các bệnh viện đã mua sắm tương đối tập trung vào các thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều

Trang 26

trị sử dụng 70 tổng kinh phí để mua sắm 11,2 - 13,1 số khoản mục thuốc Đây là các thuốc có giá trị và số lượng sử dụng lớn trong bệnh viện Do

đó, cần ưu tiên trong mua sắm đồng thời quản lý chặt chẽ các thuốc thuộc nhóm

A [22, 23] Trong một nghiên cứu khác của tác giả Huỳnh Hiền Trung tại bệnh viện 115 cũng sử dụng phương pháp phân tích ABC/VEN là một tiêu chí để đánh giá sự cải thiện trong can thiệp liên quan đến DMT tại bệnh viện 115, ban đầu phân tích ABC/VEN năm 2006, sau đó sử dụng các biện pháp can thiệp và đánh giá lại vào năm 2008 Theo số lượng thuốc, nhóm I gồm AV, AE, AN, BV,CV là nhóm cần đặc biệt quan tâm vì sử dụng nhiều ngân sách hoặc cần cho điều trị đã thay đổi từ 14,8 trước can thiệp xuống còn 9,1 sau can thiệp Nhóm II gồm BE, BN, CE tuy mức độ quan trọng ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì sử dụng ngân sách tương đối lớn và cần thiết cho điều trị, từ t lệ 57,3 trước can thiệp giảm xuống còn 41,6 , 71 hoạt chất đã được hội đồng thuốc và điều trị loại khỏi DMT sau can thiệp Nhóm III ít quan trọng nhưng chiếm t lệ 27,9 theo số lượng, sau can thiệp còn 11,5 , có 82 hoạt chất được loại khỏi DMT [39]

Năm 2010, nghiên cứu tại bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 cho thấy nhóm A có 149/151 mặt hàng tiêu thụ chiếm t lệ 79,87 Nhóm C có giá trị tiêu thụ ít, chiếm t lệ 5 nhưng số lượng mặt hàng lớn chiếm 70,72 Sử dụng phương pháp phân tích ABC/VEN cũng tại bệnh viện 108 năm 2012 cho thấy kinh phí tập trung chủ yếu ở nhóm I AV, AE, AN, BV, CV chiếm t lệ 73,8 , nhóm không thiết yếu chiếm một t lệ nhỏ 1,5 [25] Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An năm 2015, thuốc E, N, V lần lượt có giá trị sử dụng chiếm 58,83 , 27,61 và 13,57 Phân tích ABC/VEN cho thấy nhóm AN chiếm 21,23 Nhóm thuốc AN thường là các thuốc bổ trợ [26]

Nhóm thuốc bổ trợ có hiệu quả điều trị không rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến trong cả nước Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán BHYT toàn quốc năm 2010 cho thấy trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn

Trang 27

nhất gồm cả thuốc bổ trợ: L–ornithin L-aspartat, Glucosamin, Ginkobiloba, Arginin, Glutathion Trong đó L-ornithin L aspartate nằm trong số 5 hoạt chất chiếm t lệ lớn nhất về giá trị thanh toán

Phân tích nhóm tác dụng dược lý

Không có kết quả nào phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện chuyên khoa tim Còn kết quả tại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa khác cho thấy cơ cấu danh mục thuốc tại bệnh viện được sử dụng rất đa dạng Tại các bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình, Nông nghiệp, Thanh Hoá, Hữu Nghị đa khoa Nghệ An và bệnh viện Phụ Sản Hà Nội số nhóm tác dụng dược lý đều trên 22 nhóm [13, 33, 34, 40]

Những năm gần đây, các bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, đứng đầu là bệnh tim mạch, ung thư, bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường và tâm thần [62] Tuy vậy, nhóm thuốc kháng sinh và các nhóm thuốc hỗ trợ điều trị chiếm t trọng cao trong chi phí điều trị Đấu thầu mua thuốc BHYT tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập trong cả nước cho thấy nhóm kháng sinh chiếm t lệ cao nhất, chiếm 34,6% Thống kê năm 2009, t lệ chi phí kháng sinh chiếm 38,4 tổng chi phí thuốc, năm 2010 là 37,7 [4] Tổng kết hoạt động thanh toán thuốc BHYT năm 2010, 30 hoạt chất có giá trị thanh toán nhiều nhất thì trong đó các thuốc kháng sinh chiếm một t trọng khá lớn 21,92 Kết quả phân tích tại một số bệnh viện cũng cho thấy nhóm điều trị ký sinh trùng chiếm giá trị sử dụng lớn như tại bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An nhóm này chiếm trên 1/3 tổng kinh phí chiếm 38,99 và là nhóm có số khoản mục lớn nhất [26] hay tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hoá, bệnh viện quân Y 7B Tỉnh Đồng Nai, bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương Chiếm giá trị sử dụng cao thứ hai sau nhóm kháng sinh là nhóm thuốc tim mạch [21, 33, 42] Điều này phản ánh xu hướng mặc dù bệnh nhiễm khuẩn vẫn chiếm ưu thế nhưng đã có sự gia tăng dần của các bệnh không lây nhiễm trong mô hình bệnh tật tại Việt Nam

Trang 28

T lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong cơ cấu sử dụng thuốc giảm so với cùng kỳ năm 2009 Vitamin giảm từ 6,5 năm 2009 xuống còn 4,7 năm 2010 Đây là tín hiệu đáng mừng trong công tác sử dụng thuốc hợp lý tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc biệt tuyến tỉnh, huyện chưa thực hiện tốt sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi phí không cần thiết cho người bệnh, tăng tình trạng kháng kháng sinh Trong thời gian tới, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng thuốc và Điều trị, công tác bình bệnh

án, phân tích sử dụng thuốc trong các ca lâm sàng nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh và vitamin, nâng cao chất lượng điều trị [4]

Bảng 1.3 Nhóm thuốc có tỷ lệ % chi phí cao tại một số bệnh viện Việt Nam

có tỷ lệ % chi

phí cao

Bệnh viện Nông nghiệp [14]

Bệnh viện

Đà Nẵng [15]

BVĐK tỉnh Yên Bái [35]

Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu

Tổng giá trị tiền thuốc ước tính sử dụng năm 2012 là 2.600 triệu USD tăng 9,1 so với năm 2011 Giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2012 ước tính đạt khoảng 1.200 triệu USD, tăng 5,26 so với năm 2011 Trị giá thuốc nhập khẩu năm 2012 là 1.750 triệu USD và bình quân tiền thuốc đầu người là 29,5 USD [3] Đấu thầu mua thuốc generic thay thế thuốc BDG là chính sách chiến lược của các quốc gia thu nhập thấp, Việt Nam là một trong những quốc gia theo đuổi chính sách này Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc và sản xuất thuốc trong nước mới

Trang 29

đáp ứng được gần 50 nhu cầu sử dụng thuốc tính theo giá trị sử dụng , chủ yếu là các thuốc thông thường [32] T lệ thuốc sản xuất tại Việt Nam ở các bệnh viện tuyến Trung ương chỉ đạt 11,9 , tuyến tỉnh 33,9 , tuyến huyện 61,5 trong tổng số tiền thuốc điều trị [32]

Năm 2010, ở 1018 bệnh viện trong cả nước, tổng số tiền mua thuốc là 15 nghìn t đồng, tăng 22,4 so với năm 2009, trong đó t lệ tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam chiếm 38,7 tăng nhẹ so với năm 2009 38,2 ) Tại 34 bệnh viện Trung ương năm 2010, tổng trị giá tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam là hơn

378 t đồng 11,9 , giảm nhẹ so với năm 2009 12,3 Tại 307 bệnh viện tỉnh/thành phố năm 2010, tổng trị giá tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam là hơn 2.232 t đồng 33,9 , tăng nhẹ so với năm 2009 33,2 Ở 559 bệnh viện huyện năm 2010, tổng trị giá tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam là 2.900

t đồng, chiếm 61,5 so với tổng số tiền mua thuốc T lệ này tăng hơn so với năm 2009 60,4 [4]

Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thu Hương tại một số bệnh viện đa khoa cho kết quả cao hơn như tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước ở tuyến Trung Ương cao nhất là 36,8 và thấp nhất là 25,5 ; ở tuyến huyện thì t lệ này nằm trong khoảng từ 48,5 đến 55,5 [22] Kết quả khảo sát tại một số bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An, Bình Dương, Bà Rịa t lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước lần luợt là 21,19 , 18,0 , 47,61 [20, 26, 42] T lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước còn thấp do các thuốc này chủ yếu mới đáp ứng được điều trị các bệnh thông thường với dạng bào chế đơn giản Các công ty sản xuất thuốc trong nước chưa đầu tư sản xuất thuốc chuyên khoa, thuốc đặc trị hoặc thuốc có yêu cầu sản xuất với công nghệ cao

Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic

Thuốc biệt dược gốc là những thuốc đã có bằng chứng về chất lượng, an

toàn và hiệu quả điều trị, được Bộ Y tế ban hành trong “Danh mục thuốc biệt

dược gốc” Thuốc generic có giá thành rẻ hơn so với thuốc biệt dược gốc vì vậy

Trang 30

trong thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế quy định ưu tiên sử dụng thuốc generic Do đó, việc tăng cường sử dụng thuốc generic được khuyến khích trong trường hợp có thể thay thế cho một mục đích điều trị với điều kiện tương đương sinh học Hiện nay giá thuốc biệt dược gốc cao hơn nhiều so với các thuốc generic Do đó việc ưu tiên sử dụng các thuốc generic được xem là một trong những biện pháp làm giảm chi phí điều trị

Kết quả nghiên cứu năm 2014 và năm 2015 tỉ lệ thuốc biệt dược gốc tại một số bệnh viện chiếm khoảng từ 7-30 số khoản mục và giá trị Tỉ lệ về số khoản mục thuốc biệt dược gốc tại bệnh viện Bắc Kạn, Hữu Nghị Đa khoa Nghệ

An và Bà Rịa - Vũng Tàu là 7,2 ; 26,86 và 17,9 Tỉ lệ về giá trị của thuốc Biệt dược gốc tại bệnh viện đa khoa Bắc Kạn, Hữu Nghị Đa Khoa Nghệ An trong năm 2015 và 2016 và Bà Rịa- Vũng Tàu là 4,5 ; 25,06 ; 29,70% và 26,46% [18, 20, 26, 40]

Tình hình sử dụng thuốc đơn thành phần - thuốc phối hợp nhiều thành phần

Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định ưu tiên sử dụng thuốc dạng đơn chất Đối với những thuốc dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính

an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất [6]

Phần lớn tại các bệnh viện, thuốc đơn thành phần có số lượng và giá trị chiếm tỉ lệ cao trong DMT sử dụng Kết quả phân tích cơ cấu DMT của bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2014 cho thấy thuốc đơn thành phần chiếm chủ yếu về số lượng khoản mục và giá trị sử dụng 87,7 tổng khoản mục và 78,8 tổng chi phí thuốc [18] Kết quả phân tích cơ cấu DMT tại bệnh viện Bà Rịa- Vũng Tàu và Hữu Nghị đa khoa Nghệ An cho thấy tỉ lệ thuốc đơn thành phần chiếm về số khoản mục là 82,44% và 84,15% Về giá trị sử dụng thì thuốc đơn thành phần chiếm 77,1 ở bệnh viện Bà Rịa- Vùng Tàu và 79,45 ở bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An [20, 40]

Trang 31

Tình hình sử dụng thuốc theo đường dùng

Bộ Y tế ban hành thông tư 23/2011/TT-BYT quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh Theo đó, bệnh viện căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để lựa chọn đường dùng thuốc thích hợp Bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị [2]

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về sử dụng thuốc tại phần lớn bệnh viện đều cho thấy đường tiêm là đường có tỉ lệ sử dụng cao nhất trong bệnh viện Tại bệnh viện đa khoa Bắc Kạn tỉ lệ thuốc tiêm truyền là 49,0 về số khoản mục và 92,4 về giá trị sử dụng [18] Bệnh viện Hữu Nghị đa Khoa Nghệ An thì đường tiêm truyền cũng là đường được sử dụng nhiều nhất, 77,98 về giá trị và 41,35 về số khoản mục [40] Bệnh viện đa khoa Bình Dương thì thuốc đường uống sử dụng nhiều nhất chiếm 52,4 về số khoản mục và 33,2 về giá trị sử dụng [42]

Tình hình sử dụng thuốc thuộc thông tư 10

Những thuốc thuộc thông tư 10 là những thuốc mà hàng sản xuất trong nước đáp ứng hiệu quả điều trị, giá cả hợp lý và khả năng cung ứng Theo nguyên tắc các thuốc này phải ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước Tuy nhiên thực tế vẫn có những thuốc thuộc thông tư 10 nhưng lại là thuốc nhập khẩu Tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An, tỉ lệ thuốc thuộc TT10 tương ứng về số khoản mục và giá trị sử dụng là 18,68 và 37,0 Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện này cũng cho thấy nếu chuyển thành thuốc sản xuất trong nước sẽ tiếp kiệm được 4,7 t đồng tiền chi phí sử dụng thuốc [40]

1.3 MỘT SỐ YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG BẤT CẬP TRONG SỬ DỤNG THUỐC

Một trong các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sử dụng và có thể tạo ra các vấn đề bất cập là hoat động mua sắm thuốc Các quốc gia sử dụng nhiều phương pháp để mua thuốc và được áp dụng khác nhau ở mỗi nước, thường là

Trang 32

sự kết hợp của các chiến lược và phụ thuộc chính sách riêng của mỗi quốc gia Những quốc gia có mức thu nhập trung bình hoặc thấp thường dùng phương thức đấu thầu giá thấp nhất để mua sắm thuốc, với biện pháp tăng sử dụng các thuốc generic thay thế biệt dược gốc [65] Mua thuốc qua đấu thầu là một phương thức mua sắm phổ biến giúp tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế một cách công bằng [67] Chi phí thuốc trong Bệnh viện chiếm 5-12 tổng chi phí ở các nước phát triển, chiếm 40 tổng chi phí ở các nước đang phát triển Vì vậy, đấu thầu và thực hiện sử dụng kết quả đấu thầu thuốc là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong giảm thiểu chi phí sử dụng thuốc [55] Mua sắm thuốc ở các bệnh viện tại Việt Nam chủ yếu thông qua đấu thầu tập trung hoặc tự thực hiện, ưu tiên hình thức đấu thầu rộng rãi, ngoài ra còn có các hình thức khác như mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, chào hàng cạnh tranh rút gọn [11, 31] Sau quá trình đấu thầu tại các bệnh viện sẽ chọn ra được danh mục thuốc trúng thầu Nếu hoạt động mua sắm, dự đoán tốt thì số khoản mục và giá trị sử dụng thuốc

sẽ theo danh mục thuốc trúng thầu hoặc xê dịch trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, thực tế số khoản mục và giá trị sử dụng thuốc tại các bệnh viện thường khác so với danh mục thuốc trúng thầu Chính vì vậy, các nghiên cứu so sánh giữa danh mục thuốc trúng thầu và danh mục thuốc sử dụng được thực hiện Từ những so sánh này sẽ phát hiện ra những vấn đề bất cập trong sử dụng thuốc từ

đó có những điều chỉnh cho phù hợp cho hoạt động đấu thầu và sử dụng thuốc năm sau

1.3.1 Bất cập trong sử dụng thuốc do danh mục thuốc trúng thầu

Theo quy định tại thông tư 10 và thông tư 11 tất cả các thuốc sử dụng phải nằm trong khoảng từ 80-120 so với số lượng trúng thầu Chính vì vậy, một số nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá xem danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện có bao nhiêu thuốc nằm trong giới hạn này như nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An hay bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam [16, 40]

Trang 33

Kết quả cho thấy có sự khác nhau về số khoản mục và giá trị sử dụng giữa DMT trúng thầu và DMT sử dụng Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện 19/8 Bộ Công An cho thấy chỉ có 92,17 thuốc trúng thầu được sử dụng [36] Còn kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Thanh Oai và bệnh viện Giao thông vận tải thì tỉ lệ về số khoản mục thuốc được sử dụng là theo đấu thầu rộng rãi là 71,0 và 75,5 và tỉ lệ mua bổ sung ngoài kết quả trúng thầu là 29,0% và 24,5% [12, 27] Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh thì tỉ lệ sử dụng trên trúng thầu là 64,36 về số khoản mục và 62,77 về giá trị Tại bệnh viện việc sử dụng các thuốc rất đa dạng có thuốc sử dụng trên 120 nhưng cũng có thuốc lại không được sử dụng [17]

1.3.2 Bất cập trong sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý

Kết quả so sánh danh mục thuốc trúng thầu và danh mục thuốc sử dụng cho thấy tại các bệnh viện có những nhóm thuốc trúng thầu nhưng lại không được sử dụng như nhóm huyết thanh, globulin miễn dịch tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An và nhóm thuốc chống co giật, chống động kinh tại bệnh viện đa khoa Thanh Oai Hà Nội [27, 40] Còn tại bệnh viện Giao thông vận tải thì 1 nhóm thuốc đông y là nhóm thuốc chữa các bệnh về dương về khí và 1 nhóm thuốc tân dược là nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hoà miễn dịch không được sử dụng [12] Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện 19/8 Bộ Công An thì tất cả các nhóm thuốc đều được sử dụng [36] Các nhóm thuốc còn lại thì đều

có tỉ lệ sử dụng cao trên 70 hoặc 80 [27, 40] Theo quy định của thông tư

11 số lượng thuốc được phép sử dụng của mỗi khoản mục dao động trong khoảng 80-120 so với số lượng trúng thầu Kết quả cho thấy hầu hết các thuốc nằm trong giới hạn quy định tuy nhiên vẫn có những nhóm thuốc nằm ngoài giới hạn quy định Tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An 20,46 nằm trong giới hạn cho phép, 61,8 có số lượng thấp hơn giới hạn và 79 mặt hàng có số lượng vượt quá giới hạn [40]

Trang 34

Các nghiên cứu cũng đi sâu phân tích vào nhóm thuốc để thấy rõ sự bất cập Như nhóm thuốc kháng sinh tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An có những kháng sinh sử dụng quá 120 trong khi vẫn có hàng thay thế tương đương và những mặt hàng này sử dụng chưa đến 80 [40]

1.3.3 Bất cập trong sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic

Để có thể tiết kiệm được chi phí trong điều trị, Bộ Y tế khuyến cáo các bệnh viện ưu tiên sử dụng thuốc generic Chính vì vậy, đánh giá tỉ lệ thuốc generic trong sử dụng và so sánh giữa tỉ lệ sử dụng/ trúng thầu cũng là chỉ số giúp đánh giá vấn đề sử dụng thuốc tại bệnh viện đã hợp lý chưa Tại bệnh viện

đa khoa Hữu Nghị Nghệ An tỉ lệ thuốc generic so với tổng danh mục thuốc sử dụng chiếm 70,3 [40] Tại BVĐK tỉnh Yên Bái năm 2014 tỉ lệ sử dụng/trúng thầu thuốc generic là 76,3 , giảm xuống còn 71,3 năm 2015 T lệ giá trị thuốc generic/ tổng danh mục thuốc sử dụng cũng giảm từ 41,31 xuống 39,77% [35] Còn tại BVĐK huyện Thanh Oai, tỉ lệ thuốc generic sử dụng so với trúng thầu là 103,0 , thuốc generic chiếm 64,3 so với tổng danh mục thuốc sử dụng Như vậy, có thể thấy tỉ lệ cũng rất khác nhau giữa các bệnh viện

1.3.4 Bất cập trong sử dụng thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước đặc biệt với thuốc thuộc thông tư 10

Việc ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước vừa giúp giảm chi phí điều trị vừa giúp thúc đẩy phát triển ngành sản xuất thuốc trong nước Bộ Y tế

cũng đã có chính sách ưu tiên sử dụng thuốc trong nước với đề án "Người Việt

Nam ưu tiên sử dụng thuốc Việt Nam" Chính vì vậy, việc đánh giá sử dụng

thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước cũng là một chỉ số quan trọng giúp đánh giá vấn đề hợp lý trong sử dụng thuốc Nhiều nghiên cứu đánh giá về hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện đã đánh giá về chỉ số này Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Giao thông vận tải tỉ lệ của thuốc sản xuất trong nước tương ứng là 68,5 về số khoản mục và 54,3 về giá trị sử dụng [12] Một số nghiên cứu không chỉ đánh giá chỉ số này trong giai đoạn sử dụng và đánh giá cả trong

Trang 35

giai đoạn mua sắm thể hiện ở danh mục thuốc trúng thầu và so sánh tỉ lệ ở danh mục thuốc sử dụng so với danh mục thuốc trúng thầu

Đặc biệt với sự ra đời của thông tư 10 quy định các thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng thì một chỉ số quan trọng đánh giá tính hợp lý trong sử dụng thuốc của bệnh viện là có ưu tiên

sử dụng và thay thế các thuốc nhập khẩu bằng các thuốc trong danh mục này Nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá vấn đề này như nghiên cứu tại bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An Nghiên cứu này đã cho thấy trong 122 thuốc thuộc thông tư 10 thì có đến 56,6 số khoản mục thuốc là thuốc nhập khẩu và chiếm 84,0 về giá trị sử dụng [40]

1.3.5 Bất cập trong sử dụng thuốc theo gói thầu

Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thanh Cường tại bệnh viện Giao thông vận tải cho thấy t lệ về số khoản mục của sử dụng/ trúng thầu của các nhóm khá tương đồng nhau nhưng tỉ lệ về giá trị sử dụng/ trúng thầu của các nhóm thuốc lại có sự chênh lệch lớn Tỉ lệ tương ứng của các gói 1,2 và 3 tương ứng là 45,7%; 81,2% và 99,4% [12]

1.4 MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI

Bệnh viện Tim Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Sở Y

tế Hà Nội, là bệnh viện tuyến cuối về tim mạch của thành phố Hà Nội, là bệnh viện hạt nhân của Bộ Y tế tỏn lĩnh vực tim mạch Bệnh viện là đơn vị sự nghiệp

có thu, hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính, hạch toán độc lập, tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên

Bệnh viện có các nhiệm vụ khám, điều trị nội, ngoại khoa các bệnh về tim mạch cho tất cả các đối tượng người bệnh bao gồm người lớn và trẻ em; nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật chẩn đoán và điều trị các bệnh về tim mạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên khoa tim mạch, thực hiện công tác phòng dịch, phòng bệnh, hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong

Trang 36

nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị các bệnh về tim mạch và các chức năng nhiệm

vụ khác

Bệnh viện có các trang thiết bị hiện đại, ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới Với 380 giường bệnh, 50 phòng khám, 3 phòng tim mạch can thiệp, 4 phòng mổ tim mở giúp đám bảo công tác khám và điều trị tại bệnh viện Bệnh viện Tim Hà Nội là một trong số ít các trung tâm tim mạch thực hiện hoàn chỉnh với 5 mũi nhọn: nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, tim mạch can thiệp, tim mạch chuyển hoá Bệnh viện đã thực hiện hiệu quả vai trò của bệnh viện chuyên khoa đầu ngành của Thủ đô, bệnh viện tuyến cuối chuyên khoa tim mạch của cả nước Tổng số bệnh nhân điều trị nội, ngoại trú năm 2017 tương ứng là 11.631 người và 164.295 người Tổng số lượt bệnh nhân đến khám liên tục tăng qua các năm Từ 17.872 năm 2012 tăng lên 253.549 năm 2017

Tổng số cán bộ viên chức, người lao động đang làm việc tại bệnh viện là

666 người, trong đó có 116 bác sĩ; 21 dược sĩ; 330 điều dưỡng, kỹ thuật viên và

199 cán bộ nhân viên khác [1] Sơ đồ tổ chức bộ máy bệnh viện Tim Hà Nội được thể hiện ở hình sau:

Hình 1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy bệnh viện Tim Hà Nội

Ban giám đốc

Công đoàn Đoàn thanh niên

Khối lâm sàng

9 khoa, 1 đơn nguyên, 1 phòng khám đa khoa, 1 bộ phận, 3 trung tâm

Trang 37

1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Bệnh viện Tim Hà Nội là một đơn vị tự chủ về tài chính Do đó, bệnh viện cần quản lý tốt ngân sách phục vụ cho các hoạt động bệnh viện để đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của bệnh viện Trong đó quản lý để đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý có ý nghĩa quan trọng nhất Do thuốc thường chiếm một lượng lớn kinh phí hoạt động của bệnh viện, từ 40-60% Để đảm bảo cung ứng thuốc đầy

đủ, chất lượng, kịp thời cho công tác khám và điều trị cần xây dựng được một danh mục thuốc hợp lý và sử dụng thuốc hiệu quả Điều này, chỉ có thể làm được khi hoạt động rà soát, đánh giá danh mục thuốc được thực hiện thường xuyên, hàng năm Việc phân tích danh mục thuốc sử dụng và trúng thầu để từ đó đánh giá những bất cập trong sử dụng thuốc sẽ giúp bệnh viện có những điều chỉnh kịp thời Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào phân tích danh mục thuốc sử dụng và trúng thầu tại bệnh viện Tim Hà Nội, chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để từ đó đưa ra các khuyến nghị phù hợp giúp bệnh viện có thể thực hiện được những hoạt động điều chỉnh cần thiết và phù hợp

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Danh mục thuốc sử dụng năm 2017 của bệnh viện Tim Hà Nội

- Danh mục thuốc trúng thầu năm 2017

- Danh mục thuốc mua ngoài kế hoạch năm 2017

- Danh mục thuốc bổ sung năm 2017

- Các báo cáo thống kê sử dụng thuốc tại bệnh viện

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu: 1/1/2017-31/12/2017

Thời gian thực hiện nghiên cứu từ 2/2018 đến 11/2018

Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Bệnh viện Tim Hà Nội

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang (hồi cứu tài liệu)

Sơ đồ nội dung nghiên cứu được thể hiện ở hình 2.3

Trang 39

Hình 2.4 Sơ đồ nội dung nghiên cứu

2.3.2 Các chỉ số, biến số nghiên cứu

Các biến số nghiên cứu được trình bày ở bảng sau:

Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2017

Phân tích cơ cấu danh mục

thuốc sử dụng tại bệnh

viện Tim Hà Nội năm 2017

- Theo DMT được BHYT chi trả

- Theo cơ quan tác dụng

- Theo nhóm tác dụng dược lý

- Theo nguồn gốc xuất xứ

- Theo phân loại ABC

- Theo phân loại ABC và nhóm điều trị

- Theo phân loại VEN

- Theo ma trận ABC-VEN

- Theo đường dùng

- Theo tên thuốc

- Theo thành phần

- Theo thông tư 10/2016/TT-BYT

- Theo kết quả đấu thầu

Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bất cập trong sử dụng thuốc năm 2017

- Bất cập trong sử dụng thuốc do DMT trúng thầu

- Bất câp trong sử dụng thuốc thuộc TT10/2016/TT-BYT

- Bất cập trong sử dụng thuốc sản xuất trong nước

- Bất cập trong sử dụng thuốc generic

- Bất cập trong sử dụng thuốc theo phân loại VEN

- Bất cập trong sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý

Kết quả Bàn luận Kết luận và kiến nghị

Trang 40

Bảng 2.4 Các biến số nghiên cứu

thập số liệu Mục tiêu 1: Phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2017

Phân loại (từ 27)

1-Tài liệu sẵn

có (DMT sử dụng 2017) + Tra cứu thông tin về nhóm tác dụng điều trị của thuốc

Phân loại (1.Có thuộc; 0 Không thuộc)

DMT sử dụng năm 2017+ DMT trong thông tư 40/2014/TT-BYT

Phân loại (1

Thuốc sản xuất trong nước, 2

Phân loại (1

Thuốc đơn thành phần; 2 Thuốc đa thành phần

DMT sử dụng năm 2017

Ngày đăng: 30/04/2019, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w