1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương môn triết

28 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 67,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết đại cương Mac Le Nin, Những Vấn đề cơ bản của Triết học, Nội dung cơ bản của Phật giáo và ảnh hưởng vào Việt nam, nội dung cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng vào Việt Nam, Nguyễn tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác Lê Nin

Trang 1

Câu 1: Những vấn đề cơ bản của triết học

Triết học là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trícủa con người trong thế giới đó

Khái niệm vấn đề cơ bản của triết học: Triết học cũng như các khoa học khácphải giải quyết rất nhiều những vấn đề có liên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳquan trọng, là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại đượcgọi là vấn đề cơ bản của triết học

Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”

- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

+ Mặt thứ nhất, đó là vấn đề giữa tồn tại và tư duy, giữa ý thức và vật chất, cái

nào có trước? cái nào quyết định cái nào? Tùy theo cách giải quyết vấn đề này màtriết học chia thành hai trào lưu chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, nên vật chất cótrước, tồn tại độc lập với ý thức và quyết định ý thức; còn ý thức là thuộc tính, là sựphản ánh vật chất Chủ nghĩa duy vật trải qua nhiều giai đoạn phát triển với năm hìnhthức lịch sử cơ bản: duy vật cổ đại (mộc mạc, chất phác), duy vật tầm thường thế kỷV-XV, duy vật cơ học máy móc thế kỷ XVII-XVIII, duy vật siêu hình thế kỷ XIX vàduy vật mác-xít (biện chứng)

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tinh thần) là bản chất của thế giới, nên ýthức là cái có trước và quyết định vật chất; còn vật chất là cái có sau, là sự “biểuhiện” của ý thức Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản: duy tâm chủ quan (coi

ý thức là bản chất của thế giới, nhưng đó là ý thức của con người nằm trong conngười) và duy tâm khách quan (cũng coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng đó làmột thực thể tinh thần tồn tại bên ngoài con người và độc lập với con người)

Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật: là sự phát triển của tri thức, của khoa học; làlợi ích và cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội tiến bộ, cách mạng ởmỗi giai đoạn phát triển của lich sử Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm: là sự tuyệtđối hóa một hình thức hay một giai đoạn của quá trình nhận thức dẫn đến tách nhậnthức và ý thức khỏi thế giới hiện thực khách quan; thông thường là lợi ích và sự phảnkháng của các giai cấp, các lực lượng bảo thủ trước tiến bộ xã hội

+ Mặt thứ hai, là vấn đề về khả năng nhận thức của con người - Con người có

khả năng nhận thức được thể giới hay không?

Toàn bộ các nhà triết học duy vật và đa số những nhà triết học duy tâm đều thừanhận rằng thế giới có thể nhận thức được Nhưng các nhà duy vật cho rằng, nhận thức

là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan trong bộ óc con người Còn các nhà duytâm thì cho rằng, nhận thức chỉ là sự ý thức về bản chất ý thức

Trang 2

Trả lời vấn đề này còn có những nhà triết học theo nguyên tắc bất khả tri (khôngthể biết) Những người này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa tính tương đối của tri thứcdẫn đến phủ nhận khả năng nhận thức của con người.

+ Bên cạnh những nhà triết học nhất nguyên (duy vật và duy tâm) giải thích thếgiới từ một bản nguyên, hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có những nhà triết học nhịnguyên luận Nhị nguyên luận cho rằng thế giới được sinh ra từ hai bản nguyên độclập với nhau, bản nguyên vật chất sinh ra các hiện tượng vật chất, bản nguyên tinhthần sinh ra các hiện tượng tinh thần Nhị nguyên luận thể hiện lập trường dung hòagiữa duy vật và duy tâm, đó chỉ là khuynh hướng nhỏ trong lịch sử triết học và trongcuộc đấu tranh triết học nó càng trở nên gần với chủ nghĩa duy tâm

- Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:

+ Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vậtchất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ýthức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy

+ Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệgiữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy

+ Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thếgiới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trườngphái triết học đó, cụ thể:

* Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triếthọc này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên haynhị nguyên

* Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đótheo thuyết khả tri hay bất khả tri

+ Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người

Câu 2 Nội dung cơ bản của Phật Giáo và ảnh hưởng vào VN

1 Nguồn gốc ra đời của phật giáo

- Đạo phật ra đời khoảng thế kỷ thứ VI TCN Người sáng lập là Thái tử Siddhartha(Thích ca mầu ni hay Tất Đạt Da), con vua Tĩnh Phạn, thuộc thành Capilavastu.Thích ca sinh ngày 8/4/563 TCN và mất năm 483 TCN

- Đạo Phật có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, văn hóa của thế giới

và các quốc gia chịu ảnh hưởng của Phật giáo

- Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam từ đầu công nguyên

2 Nội dung tư tưởng

- Kinh điển Phật giáo: Gồm 3 bộ phận (tam tạng)

+ Kinh tạng (sutra) là những lời thuyết pháp của Đức phật Thích ca

+ Luật tạng (vinaya) những nguyên tắc, giới điều mà giáo đoàn Phật giáo phải theo

Trang 3

+ Luận tạng (sastra) các tác phẩm luận giải các vấn đề Phật giáo của các học giả, caotăng

- Kinh điển Nam tông chỉ có bộ A hàm (Trường A hàm, trung A hàm, tăng nhất Ahàm Tạp A hàm, Tiểu A hàm), kinh điển Bắc tông ngoài bộ A hàm còn rất nhiềukinh khác: Hoa nghiêm kinh, Bát nhã Ba la mật da, Duy Ma la cật, Viêm giác, Kimcang, Di đà…

- Thế giới quan:

+ Vô thường (chuyển biến liên tục): tất cả các sự vật, hiện tượng đều trong quá trìnhlưu chuyển, biến dịch, không có cái gì là thường trụ bất biến cả Sự biến hóa theo chutrình: Sinh, trụ, dị, diệt (hay thành, trụ, hoại, không)

+ Vô ngã (không có cái tôi): Phật giáo cho rằng thế giới hữu tình và con người đượctạo nên do sự nhóm họp của các yếu tố vật chất (sắc) và tinh thần (danh) Chúng hội

tụ với nhau trong thời gian ngắn rồi lại tản ra Do đó sự vật, hiện tượng và cả conngười chỉ là dạng hư ảo, không thực

Danh và sắc chia thành 5 yếu tố (ngũ uẩn): Sắc (vật chất); Thụ (cảm giác); Tưởng (ấntượng); Hành (tư duy); Thức (ý thức).Hay là 6 yếu tố (lục đại): Địa, thủy, hỏa, phong,không, thức

- Nhân sinh quan:

+ Thuyết luân hồi: (nghĩa là bánh xe quay tròn): Đạo Phật cho rằng cuộc đời mà

chúng ta ý thức được hiện tại, không phải là sự kiện độc nhất, mà đó chỉ là một trong

vô số đoạn đường linh hồn cá biệt trải qua và còn nhiều đoạn khác chờ đợi nó Cứnhư vậy thành một vòng tròn khép kín không thoát ra được

+ Nghiệp báo: Là cái do hành động của ta gây ra Trong cuộc đời mỗi con người đều

phải gánh chịu những hậu quả do hành vi ở kiếp trước gây ra, sự gánh chịu đó gọi lànghiệp báo Nếu ăn ở hiền lành, làm điều thiện điều tốt, tu nhân tích đức ở kiếp nàythì có nghiệp tốt báo ứng điều lành, điều tốt cho đời sau Ngược lại nếu ở kiếp nàylàm điều ác, điều xấu sẽ ứng báo cho đời sau phải gánh chịu

+ Quan niệm về đời người: Đạo Phật cho rằng cuộc đời con người là “bể khổ” Mục

đích của họ là tìm con đường giải thoát chúng sinh khỏi những nỗi khổ đau bất tận

Để đi tới giải thoát Phật nêu lên “tứ diệu đế” (4 chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng màmọi người phải nhận thức được)

Một là: Khổ đế.

Đạo Phật khẳng định cuộc đời con người là khổ Đức phật nói rằng: “Nước mắt củachúng sinh ở ba trăm ngàn thế giới tích trữ lại bằng nước của bốn đại dương” Cáikhổ được tóm ở trong 8 loại (bát khổ)

• Sinh khổ -Thụ biệt ly khổ

• Lão khổ - Oán tăng hội khổ

• Bệnh khổ - Sở cầu bất đắc khổ

Trang 4

• Tử khổ - Ngũ thụ uẩn khổ

Hai là: Nhân đế (nguyên nhân dẫn đến khổ đau của con người) Phật đưa ra 12

* Duyên thức: Tâm thức từ chỗ trong sáng, cân bằng trở nên ô nhiễm, mất cân bằng

* Duyên danh- sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần, sinh ra lục căn(nhãn,nhĩ,tỷ,thiệt,thân, ý = mắt, tai, mũi,lưỡi, thân thể, ý thức)

* Duyên lục nhập: Là quá trình tiếp xúc với bên ngoài Lục căn tiếp xúc với lục trần(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)

* Duyên xúc: Là tiếp xúc, phối hợp giữa lục căn, lục trần và ý thức để nhận biết ra cáibên trong từ cái bên ngoài

* Duyên thụ: Là cảm giác do tiếp xúc mà sinh ra yêu, ghét, buồn, vui

* Duyên ái: là yêu thích, chỉ sự nảy sinh dục vọng

* Duyên thủ: Muốn giữ lấy, chiếm lấy

* Duyên hữu: Xác định chủ thể chiếm hữu (cái ta)

Duyên sinh: Vì có tạo nghiệp, tức là có nghiệp nhân thì ắt có nghiệp quả tức là phảisinh ra

Duyên lão- tử: Có sinh ra thì sẽ có già và chết đi

Ba là: Diệt đế: Phật khẳng định nỗi khổ có thể bị tiêu diệt, có thể chấm dứt được luân

hồi

Bốn là: Đạo đế: Đó là con đường giải thoát, diệt khổ Đạo phật đưa ra 8 con đường

chân chính (bát chính đạo)

* Chính kiến: Hiểu biết đúng

* Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn

* Chính ngữ: Giữ lời nói chân chính

* Chính nghiệp: Làm điều thiện, tu nhân, tích đức

* Chính mệnh: Tiết chế dục vọng, giữ các điều răn

* Chính tinh tiến: hăng hái, tích cực trong việc tìm kiếm, truyền bá chân lý của Phật

* Chính niệm: Phải thường xuyên nhờ Phật, thờ Phật, niệm Phật

* Chính định: Tĩnh lặng tập trung tư tưởng mà suy nghĩ về tứ diệu đế, vô ngã, vôthường

Tóm lại: Phật giáo nguyên thủy có tư tưởng vô thần, tư tưởng biện chứng Đạo

phật tích cực đấu tranh chống chế độ đẳng cấp, tố cáo bất công xã hội, đòi tự do, bìnhđẳng cho mọi người Tuy nhiên, triết học Phật giáo thể hiện tính duy tâm chủ quan,đưa ra triết lý duy tâm về xã hội và giải phóng con người

Trang 5

3 Ảnh hưởng của phật giáo vào việt nam

Thời kỳ du nhập của Phật giáo vào việt nam trước thế kỷ thứ 5 Theo 2 con

đường, Con đường chính thống và con đường phi chính thống:

- Con đường chính thống : Là con đường thông qua truyền đạo, những đoàn tăng ni

phật tử do vị vua Asuca tài trợ tiền bạc truyền đạo từ trung Quốc đi vào Việt Nam

- Con đường phi chính thống : Phật giáo VN đi Theo con đường buôn bán tơ lụa.

-> Khi vào việt Nam, Phật giáo nguyên thủy bị khúc xạ và chịu ảnh hưởng của kinh tế,văn hóa, phong tục, tập quán của người Việt nam, phật giáo có nét tương đồng với quanniệm nhân sinh của người Việt, đó là “từ bi bác ái cứu khổ cứu nạn” Bản chất củangười việt nam là nhân ái, và như vậy phật giáo phù hợp với thế giới quan, nhân sinhquan của người việt và nó du nhập vào việt nam và trở thành tôn giáo sớm nhất, có ảnhhưởng sâu rộng nhất tới nền văn hóa việt Nam

* Phật giáo thời kỳ Hậu –Lý –Nam đế đến Tiền Lê (Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ

X): Thời kỳ này được coi là thời kỳ truyền đạo và hình thành nên rất nhiều nhữngtrường phái phật giáo đặc biệt Phái thiền mang tính thuần túy của người VN chúng tanhư: Yên Tử, Trúc Tâm thiền viện Thời kỳ này chú ý đến vị Vua Lê Đại Hành sau này

là vị vua Đinh Bộ Lĩnh

* Phật giáo thời kỳ Lý-Trần: Thời kỳ phát triển hưng thịnh nhất của phật giáo Việt

Nam Đặc biệt là Vị vua Lý Công Uẩn, người sáng lập ra nhà Lý, vua Lý Thánh Tông.Thời kỳ này phật giáo được coi là Quốc Đại

- Cuối thế kỷ thứ XV Ở Việt Nam xuất hiện hiện tượng Tam-giáo-đồng-nguyên, bêncạnh đạo phật lúc này xuất hiện sự xâm nhập của nho giáo tức là của tư tưởng từ TrungQuốc vào Việt Nam Nho giáo vào Việt Nam phù hợp với ý thức hệ của giai cấp thốngtrị ở Việt Nam Phật giao dần dần suy đi và nhường chỗ cho Nho giáo, nhưng không cónghĩa là Nho giáo ở Việt Nam tiêu diệt Phật giáo -> 3 tôn giáo Nho –Phật – Lão cùngsong song tồn tại

* Phật giáo thời kỳ Hậu-Lê đến Nguyễn: Hệ tư tưởng Nho giáo trở thành chính thống

ở Việt Nam, Phật giáo suy giảm dần và không còn giữ vị trí độc tôn như trước Tuynhiên phật giáo vẫn tồn tại cùng với truyền thống văn hóa Việt Nam và cùng với Lãogiáo Phật giáo vẫn tồn tại

* Thời kỳ Phong trào Chấn- Hưng-Phật giáo: Khôi phục lại phật giáo.

* Thời kỳ Đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam (Từ năm 1954-1975): Miền Nam VN đạo

phật có xu hướng hiện đại hóa Phật giáo, nhưng bên cạnh hiện đại hóa phật giáo theomưu đồ của ĐQ Mỹ và đặc biệt là chính phủ của ngụy quân, ngụy quyền lúc đó ->thìTôn giáo vẫn giữ được vai trò nhất định trong ủng hộ chiến tranh, chống chiến tranh,vẫn phản ánh được phong tục tập quán truyền thống của người việt và các nhà tu hànhxuống đường ủng hộ chiến tranh chính nghĩa ở Việt Nam

* Giai đoạn đất nước thống nhất và phật giáo thống nhất.

Trang 6

=> Phật giáo VN tiếp thu ảnh hưởng từ 2 phía, ẤN ĐỘ VÀ TRUNG Quốc, hoặc trực

tiếp hoặc gián tiếp khi vào VN Phật giáo vào VN hội tụ đủ 2 dòng là Tiểu thừa và Đạithừa,

=> Phật giáo vào VN chịu ảnh hưởng của Nho giáo – Lão giáo và phong tục tập quán,

tín ngưỡng của người VN Từ đó tạo ra những nét riêng biệt của phật giáo VN, phậtgiáo VN có bề dầy gần 20 thế kỷ và tồn tại phát triển trong quán trình tồn tại phát triểnlâu dài như vậy Phật giáo VN đã xây dựng cho mình 1 truyền thống yêu nước gắn bódân tộc góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, trong tư tưởng,đạo đức, tâm trí lối sống của người dân./

Kết luận: Góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Phật giáo khuyên con người

sống lương thiện Góp phần giáo dục đạo đức con người Ảnh hưởng tích cực đến mốiquan hệ giữa con người

Câu 3: Trình bày nội dung cơ bản của Nho giáo và ảnh hưởng vào VN

I Lịch sử phát triển

- Người sáng lập là Khổng tử (551- 479 TCN) Sinh ra ở Khúc Phụ nước Lỗ (Sơn Đông- TQ) Đứng trên lập trường của phái quí tộc cấp tiến nhà Chu, ông muốn lập lạikỷ cương, pháp chế của xã hội với nội dung mới cho phù hợp Ông chủ chương làm chính trị lấy đức làm gốc Ông đã đi nhiều nơi tham gia nhiều hoạt động chính trị- xã hội và để lại nhiều tác phẩm có giá trị về mặt triết học, đạo đức, quản lý xã hội…

- Mạnh tử (371- 289 TCN) phát triển Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm Ông chorằng bản chất con người là thiện, vì ai cũng có cái tâm Ông chủ trương chính trị được lòng dân: “dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”

- Tuân tử (313- 238 TCN) ông tiếp thu một cách có phê phán các học thuyết triết học

TQ lúc bấy giờ Ông phủ nhận đấng sáng tạo tối cao và cho rằng trời, đất, con người

là 3 bộ phận cấu thành của vũ trụ, chúng có quy luật vận hành riêng không phụ thuộc vào ý thức con người Theo ông bản tính con người là ác do ai cũng có dục vọng và lòng ham lợi Ông chủ trương dùng luật hình để giáo hóa tính ác

- Thời kỳ Hán nho: Đổng Trọng Thư (TK II TCN) phát triển nho giáo theo hướng duy tâm thuần túy (duy tâm mục đich luận) Lưu Hâm đưa tư tưởng sấm vĩ vào nho học

- Thời kỳ Tống nho:

+ Chu Đôn Di (TK X) Đưa ra thái cực đồ

+ Trình Hạo, Trình Di (TK XI) phát nho theo hướng lý học

+ Chu Hy (TK XII) theo hướng lý- khí

II Nội dung cơ bản

1 Quan niệm về xã hội:

-Xã hội phải có lễ Tức là xã hội phải có kỷ cương, trật tự nhất định Nội dung của lễ:+ Đảm bảo quyền lãnh đạo tối cao của vua: “thiên hạ hữu đạo tắc lễ, nhạc, chinh,phạt tự thiên tử xuất”

+ Ngôi thứ phải rõ ràng: Quân- quân; thần- thần; phụ- phụ; tử- tử

Trang 7

+ Chính danh: Mọi người phải làm đúng danh phận của mình Ông cho rằng: “Danhbất chính tắc ngôn bất thuận; ngôn bất thuận tắc sự bất thành; sự bất thành tắc lễ nhạcbất hưng; lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất chúng…”

- Xã hội phải no đủ làm cơ sở cho việc xây dựng chính quyền Khổng tử cho rằng đểxây dựng một quốc gia hùng mạnh, thái bình thịnh trị thì phải làm 3 việc sau: Túcthực (lương thực dồi dào); tức binh (binh lực hùng mạnh); Dân tín (giữ lòng tin củadân) Sau này Mạnh tử phát triển: “tạo cho mỗi người một hằng sản để họ có mộthằng tâm”

-Xã hội phải hòa: Mâu thuẫn xã hội không phát triển tới mức đối kháng, các giai cấpphân biệt không đến mức tranh giành lẫn nhau “Lễ chi dụng, hòa vi quí”

- Dùng đức trị: Khổng tử cho rằng việc quản lý đất nước dùng đạo đức như sao Bắcđẩu chỉ cần ở một chỗ mà các sao khác phải chầu vào

2 Quan niệm về dân: Là những người bị trị, lao động chân tay phục cho chế độphong kiến Khổng tử đề cao vai trò của dân

- Dưỡng dân: Khổng tử cho việc “ bác thi tế chúng” (thi ân rộng rãi để cứu giúp dânchúng) là việc của thánh vương

- Giáo dân: Khổng tử cho rằng nhiệm vụ dạy dân ngang hàng với nhiệm vụ nuôi dân

3 Quan niệm về con người và đào tạo con người:

-Bản chất của con người

Bản tính con người muốn nhìn sắc đẹp, tai thích nghe điều hay, miệng muốn ănngon Con người khác con vật ở tính hợp quần, con người điều khiển được con vật Khổng tử là người đầu tiên đưa ra ý kiến về nhân tính con người: “tính tương cận,tập tương viễn” Mạnh tử cho rằng tính con người là thiện Tuân tử cho rằng tính conngười là ác

- Quan hệ giữa người với người: Nho giáo chỉ bàn về quan hệ chính trị- đạo đức củacon người, xây dựng quan hệ chính trị- đạo đức hoàn thiện từ gia đình đến xã hội.+ Quan hệ gia đình: Cha- con; chồng- vợ; anh- em

+ Quan hệ xã hội: Vua- tôi; thầy- trò; trưởng- ấu; bè- bạn

Lúc đầu những quan hệ này là hai chiều nhưng sau đó chỉ còn một chiều

Đến thời Hán nho được qui thành “tam cương”, “ngũ thường”

- Đào tạo con người:

+ Đối tượng đào tạo: Con người của giai cấp thống trị phong kiến

+ Các sách đào tạo: tứ thư, ngũ kinh

+ Nội dung đào tạo: Chủ yếu tập chung đào tạo lĩnh vực chính trị- đạo đức Học văn

để tải đạo, học thơ để ngôn trí, chú ý cách ứng xử, các nguyên tắc đạo đức của conngười (tam cương, ngũ thường) Coi thường các kiến thức tự nhiên, sản xuất vật chấtcho xã hội

Nho giáo chú ý mẫu người lý tưởng (người quân tử)

Trang 8

4 Quan niệm về mệnh trời, quỉ thần, sống chết:

- Quan niệm về mệnh trời: Khổng tử không nhất quán trong quan niệm về mệnh trời,

có lúc ông xem trời như sự vận hành của giới tự nhiên, nhưng có lúc ông coi trời nhưlực lượng siêu nhiên quyết định vận mệnh, số phận con người

- Chỉ quan tâm đến việc sống

- Kính quỉ thần và tránh xa nó

III Ảnh hưởng của nho giáo ở Việt Nam

Nho giáo vào Việt nam từ những năm cuối trước Công nguyên Từ cuối thế kỷXIII trở đi, Nho giáo dần dần lấn át Phật giáo và trở thành quốc giáo Nó được pháttriển trong sự ảnh hưởng của truyền thống dân tộc Việt nam và Phật giáo ảnh hưởngcủa Nho giáo đối với nước ta có cả mặt tích cực và tiêu cực

1.Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo ở Việt Nam

Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo thể hiện ở những điểm sau:

- Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo vệchủ quyền dân tộc Công lao của Nho giáo là góp phần đào tạo tầng lớp nho sĩ Việtnam, trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn

Du, Ngô Thì Nhậm Những thể chế chính trị, lễ nghi đạo đức Nho giáo đã du nhậpvào Việt nam Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dòng văn minh dân gian làng xã đượcphổ biến và phát triển, thể hiện ở các cuộc đua, vui chơi, hoa văn trang trí đền chùa Các tư tưởng đấng trượng phu, quân tử, quan hệ tam cương, tam tòng tứ đức, thủ tục

ma chay, cưới xin, các quy định về tôn ti trật tự, ảnh hưởng rất đậm nét ở Việt nam,nhất là bắt đầu từ đời nhà Lê, khi Nho giáo bắt đầu thống trị và trở thành hệ tư tưởngchính thống của chế độ phong kiến

Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước Nhiều ý nghĩa giá trị củanhững chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã được quần chúng nhân dân sử dụng trong nềnđạo đức của mình

Ví dụ như:

+ "Tiên học lễ, hậu học văn" là khẩu hiệu trong các trường học Việt nam từ xưađến nay Bác Hồ cũng từng sử dụng những thuật ngữ đạo đức của Nho giáo và đã đưavào đó những nội dung mới như: "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trung,hiếu, "

+ Tư tưởng "Trăm năm trồng người" và "Hữu giáo vô loại" (nghĩa là dạy họccho mọi người không phân biệt đẳng cấp) của Khổng Tử đã được Đảng Cộng sảnViệt nam vận dụng trong công cuộc xây dựng đất nước

- ảnh hưởng chính của Nho giáo là thiết lập được kỷ cương và trật tự xã hội.Nho giáo với các tư tưởng chính trị - đạo đức như "Chính danh", "Nhân trị", "Nhânchính" luôn luôn là bài học quý giá và được vận dụng trong suốt lịch sử Việt nam

Trang 9

Nguyễn Trãi trong "Bình Ngô đại cáo" đã viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", và

"Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn Đem chí nhân để thay cường bạo" Đảng ta thựchiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: "Dân giàu, nước mạnh" và "Chúng takhông sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng" Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết họcNho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư tưởng không phù hợp với thời đại và hoàncảnh của Việt nam lúc bấy giờ Chẳng hạn Khổng Tử cho rằng: "Thứ dân bất nghị"tức là dân thường không có quyền bàn việc nước, còn Bác Hồ đề cao dân chủ KhổngTử coi thường vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trươngnam nữ bình quyền

2.Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam

Nho giáo suy đến cùng là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về mặt triết học

Nó thường được sử dụng để bảo vệ, củng cố các xã hội phong kiến trong lịch sử Nhogiáo góp phần không nhỏ trong việc duy trì quá lâu chế độ phong kiến ở á Đông nóichung và ở Việt nam nói riêng Nho giáo cũng là một trong những nguyên nhân kìmhãm sản xuất phát triển ở Việt nam Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, truyền thống tậpthể đã biến thành chủ nghĩa gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán, bất bình đẳng Nhogiáo không thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên bởi phương phápgiáo dục thiên lệch của Nho giáo chỉ quan tâm tới đạo đức, học và dạy làm người màkhông đề cập đến kiến thức khoa học kỹ thuật Những mặt tiêu cực đó phản ánh tínhchất bảo thủ lạc hậu của Nho giáo ở nước ta

Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam thì tư tưởng chính trị đạo đức của Nho giáo có ảnh hưởng trên các mặt sau:

Trên lĩnh vực xã hội: Nó có tác dụng ổn định kinh tế chính trị để phát triểnkinh tế Đó là điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt nam

- Trên lĩnh vực chính trị - đạo đức: Ngày nay áp dụng những tư tưởng của Nhogiáo, kế thừa nhữnh mặt tích cực của nó để đạt mục tiêu ổn định kinh tế, xã hội; đặcbiệt chú trọng Nho giáo cổ đại (Khổng Tử) chứ không phải Nho giáo sau này (chỉnhấn mạnh quan hệ một chiều) Đảm bảo nhìn nhận vấn đề một cách hợp lý, duy trìvấn đề phê phán đúng lúc, đặt vấn đề dân chủ trong việc áp dụng những tinh hoa tíchcực Trong kinh doanh phải biết trọng chữ tín, lấy chữ tín làm đầu, trong đó có mộtvấn đề rất quan trọng là phải quan tâm đúng mức đến chất lượng sản phẩm

Qua những điều phân tích ở trên có thể thấy rằng, tư tưởng đạo đức Nho giáo đã

có ảnh hưởng đáng kể ở nước ta Sự tác động, ảnh hưởng này ở hai mặt vừa có tínhtích cực, vừa có những hạn chế nhất định Để xây dựng đạo đức mới cho cơn ngườiViệt Nam hiện nay chúng ta cần kế thừa mặt tích cực, đồng thời khắc phục và xóa bỏdần những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng đạo đức Nho giáo Công việc này phảiđược tiến hành thường xuyên, kiên trì và lâu dài

Trang 10

Câu 4 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin

1 Phạm trù thực tiễn:

Các nhà triết học trước Mác: Không thấy được vai trò của thực tiễn đối với lịch xã hội và nhận thức

sử-+ Phoiơbắc: Cho rằng thực tiễn là những gì mang tính buôn bán, bẩn thỉu

+ Hêghen: Thấy được vai trò của thực tiễn, nhưng thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tưtưởng

- Chủ nghĩa Mác: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính mục đích, mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

- Các dạng của hoạt động thực tiễn:

+ Dạng cơ bản: Hoạt động sản xuất vật chất: là quá trình con người sử dụng công cụ

lao động tác động vào giới tự nhiên, nhằm cải biến các dạng vật chất của tự nhiênphục vụ con người và xã hội

Hoạt động chính trị- xã hội: Nhằm cải biến xã hội, thay đổi các quan hệ xã hội, các

chế độ xã hội

Hoạt động thực nghiệm khoa học: Là quá trình con người sử dụng môi trường nhân

tạo để tác động vào các sự vật, phục vụ cho quá trình nghiên cứu, nắm bắt sự vật vàphục vụ cuộc sống con người

+ Các dạng không cơ bản: Là những hoạt động hình thành và phát triển từ nhữngdạng cơ bản Đó là các hoạt động trên lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo…

- Kết cấu của thực tiễn: Gồm có: nhu cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện và hiệu quả

2 Phạm trù lý luận.

- Quá trình nhận thức

+ Nhận thức là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng thế giới kháchquan trên cơ sở thực tiễn lịch sử- xã hội

+ Quá trình nhận thức trải qua 2 giai đoạn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

- Lý luận là sản phẩm phát phát triển cao của nhận thức Đó là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, qui luật của thế giới khách quan.

- Các cấp độ lý luận:

+ Triết học: là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vịtrí, vai trò của con người trong thế giới ấy

+ Lý luận chuyên ngành

3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, giữa lý luận và thực tiễn có mốiquan hệ biện chứng với nhau, quy định, tác động qua lại với nhau, trong đó:

Trang 11

3.1.Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn , đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở, động lực

và mục đích của nhận thức Chính trong quá trình cải tạo thế giới mà nhận thức, lýluận ở con người mới được hình thành và phát triển Thực tế lịch sử cho thấy, conngười quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn Trongquá trình này, con người sử dụng các công cụ, phương tiện tác động vào các sự vật,hiện tượng, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính và tính qui luật, nhờ đó mà conngười có được những hiểu biết về thế giới khách quan Ban đầu con người thu nhậnnhững tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổnghợp, trừu tượg hóa, khái quát hóa để xây dựng thành lý luận Do đó, có thể nói,thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Không có thực tiễn thìkhông có nhận thức, không có lý luận Những tri thức mà chúng ta có được cho đếnhôm nay hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Quá trìnhphát triển của thực tiễn đặt ra yêu cầu lý luận phải giải đáp: Thực tiễn là điểm xuấtphát trực tiếp của nhận thức Nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướngvận động và phát triển của nhận thức, mục đích của nhận thức là phải giải đáp đượcnhững vấn đề do thực tiễn đặt ra

Quá trình cải tạo thế giới bằng hoạt động thực tiễn cũng chính là quá trình hoànthiện bản thân con người Thông qua thực tiễn, con người phát triển năng lực bản

chất, năng lực trí tuệ của mình Ph.Ăngghen viết: “Từ trước đến nay, khoa học tự nhiên cũng như triết học đã coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với

tư duy của họ Hai môn ấy một mặt chỉ biết tự nhiên mặt khác chỉ biết có tư tưởng Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người phát đã phát triển song song với việc người ta người đã học cải biến tự nhiên”.

Như vậy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, đượcnâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học, năng lực tư duy lôgic không ngừngđược củng cố và phát triển, các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại giúp choquá trình nhận thức ngày càng tốt hơn

Nhưng bản thân lý luận không có mục đích tự thân Lý luận khoa học ra đời vìchúng cần thiết cho hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội Hay nói một cách khác, thựctiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụthực tiễn, hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực tiễn của quầnchúng Lý luận chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, đápứng được những đòi hỏi của thực tiễn

Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tađang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp, đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu

để đáp ứng những yêu cầu đó Chẳng hạn, đó là những vấn đề lý luận về CNXH vàcon đường đi lên ở nước ta, về kinh tế thị trường, về hoàn chỉnh hệ thống quan điểm

Trang 12

đổi mới, v.v Qua việc làm sáng tỏ những vấn đề trên, chắc chắn lý luận sẽ góp phầnđắc lực vào sự nghiệp đổi mới đất nước.

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận còn thể hiện ở chỗ thực tiễn làtiêu chuẩn của chân lý Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận vớihiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Do đó, mọi lý luận phải thôngqua thực tiễn để kiểm nghiệm Vì vậy, C Mác đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem

tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải

là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con ngườiphải chứng minh chân lý” Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽđược bổ sung vào kho tàng tri thức của nhân loại; những những lý luận nào chưa phùhợp thực tiễn sẽ tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại

Chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác nhận được tri thức đạt được là đúnghay sai, là chân lý hay sai lầm Thực tiễn sẽ nghiêm khắc chứng minh chân lý, bác bỏsai lầm Tuy nhiên, cần phải hiểu tiêu chuẩn thực tiễn một cách biện chứng: tiêuchuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối là ở chỗ thựctiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giađoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có tính tươngđối vì thực tiễn không đứng im một chỗ mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là mộtqúa trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủquan Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con người trởthành những chân vĩnh viễn, tuyệt đích cuối cùng Trong quá trình phát triển của thựctiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và hiện nay vẫn phải được kiểmnghiệm bởi thực tiễn tiếp theo Vì vậy, những tri thức được thực tiễn chứng minh ởmột giai đoạn lịch sử nhất định phải tiếp tục được bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa vàphát triển hoàn thiện hơn Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễngiúp ta tránh khỏi những cực đoan sai lầm như chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ hoặc chủnghĩa chủ quan, chủ nghĩa tương đối

Sự phân tích trên đây về vai trò của thực tiến đối với lý luận đòi hỏi chúng taphải quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuấtphát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổngkết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đôi với hành Nếu xarời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnhquan liêu, chủ nghĩa xét lại

3.2 Thực tiễn được chỉ đạo bởi lý luận khoa học; ngược lại lý luận khoa học phải được vận dụng vào thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn.

Coi trọng thực tiễn không có nghĩa là xem thường lý luận, hạ thấp vai trò của lýluận Không nên đề cao cái này, hạ thấp cái kia và ngược lại Không thể dừng lại ởnhững kinh nghiệm thu nhận lại trực tiếp từ thực tiễn mà phải nâng lên thành lý luậnbởi lý luận là một trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Lý luận có vai trò rấtlớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thôngqua hoạt động của con người Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường,dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Đánh giá vai trò và ý nghĩa lớn lao của lý luận, Lênin viết:

“Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”

Trang 13

Lý luận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành "lực lượng vật chất".

Lý luận có thể dự kiến được sự vận động trong tương lai, từ đó vạch ra phươnghướng cho thực tiễn, chỉ rõ những phương pháp hành động có hiệu quả nhất để đạtmục đích của thực tiễn Nhờ có lý luận khoa học mà hoạt động của con ngươi nênchủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mậm, tự phát Sức mạnh của chủ nghĩa Mác

- Lênin là ở chỗ, trong khi khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõqui luật khách quan của sự phát triển, dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sựtiến hóa xã hội Điều đó làm cho các Đảng của giai cấp công nhân có thể vạch rađường lối, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp hành động cho phù hợp với đặc điểm,hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi nước một cách sáng tạo Chủ tịch Hồ Chí Minh

ví "không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi"

Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sựphản ánh hiện thực, do sự chi phối của hệ tư tưởng và thái độ không khoa học nên lýluậncó nguy cơ xa rời cuộc sống và trở nên ảo tưởng, giáo điều Trong khi nhấn mạnhvai trò quan trọng của lý luận, V.I Lênin nhắc đi nhắc lại rằng, lý luận cách mạngkhông phải là giáo điều, nó là "kim chỉ nam" cho hành động cách mạng; và lýluậnkhông lại là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luậnluôn cần được bổsung bằng những kết luận mới được rút ra từ thực tiễn sinh động Chủ tịch Hồ ChíMinh cũng chỉ rõ: “Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽkhông có kết quả Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luậnphải liên hệ với thực tế

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩaMác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lýluận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luậnsuông

Sự hình thành và triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thể hiện tiêu biểu cho sựgắn bó mật thiết giữa lý luậnvà thực tiễn C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát thựctiễn cách mạng, lịch sự xã hội để xây dựng nên hệ thống lý luận của mình V.I.Lêninđã nêu một tấm gương sáng về sự phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễnmới Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện nước Nga lúc đó, V.I Lênin đã đưa ra chínhsách kinh tế mới (NEP) và Người nhận xét: “toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủnghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản”

Như vậy, sức mạnh của lý luậnlà ở chỗ nó gắn bó mật thiết với thực tiễn, đượckiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn

Câu 5 Tại sao nói phép biện chứng duy vật là đỉnh cao trong sự phát triển của phép biện chứng?

1 Phép biện chứng

1.1 Khái niệm

- Phép biện chứng là lý luận triết học của phương pháp biện chứng

- Theo Anghen: Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sựvận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy

1.2 Lịch sử phát triển của phép biện chứng

Trong lịch sử triết học, pbc phát triển qua 3 hình thức cơ bản: pbc chất phác thời cổ đại, pbc duy tâm cổ điển Đức và pbc duy vật của CN Mác - Lênin.

Trang 14

Trong lịch sử triết học, pbc phát triển qua 3 hình thức cơ bản: pbc chất phác thời cổđại, pbc duy tâm cổ điển Đức và pbc duy vật của CN Mác - Lênin.

* Phép biện chứng chất phác thời cổ đại:

Là hình thức đầu tiên của pbc trong lịch sử triết học, là nội dung trong nhiều hệthống TH của TQ, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Trong đạo Phật, qua niệm về nhânduyên, vô ngã, vô thường đã chứa đựng những tư tưởng biện chứng khá sâu sắc.Trong thuyết Âm - Dương, Âm và Dương tồn tại trong mối liên hệ qui định lẫn nhautạo ra sự thống nhất giữa cái bất biến với cái biến đổi, giữa cái duy nhất với cái sốnhiều, đa dạng, phong phú Trong thuyết Ngũ hành, 5 yếu tố Kim - Mộc - Thủy - Hỏa

- Thổ tồn tại trong mối liên hệ tương sinh, tương khắc với nhau Các yếu tố đó tácđộng, chuyển hóa lẫn nhau, ràng buộc, qui định lẫn nhau, tạo ra sự biến đổi trong vạnvật

Theo Hêraclit, thế giới vật chất tồn tại trong sự hình thành, vận động vĩnh viễn củacác mặt đối lập Pbc của ông phản ánh sự vận động, biến đổi của TG vật chất nhờphát hiện ra mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng Ông coi sự vận động, biến đổi của TGcũng giống sự chuyển động, đều trôi đi, chảy đi của 1 con sông mà ông đã xây dựngtrong "Học thuyết về dòng chảy"

Pbc chất phác thời cổ đại có đặc điểm là: nhận thức đúng về tính biện chứng của TGnhưng không phải dựa trên thành tựu của khoa học mà bằng trực kiến thiên tài, bằngtrực quan chất phác, qua phỏng đoán, ngây thơ, chất phác, là kết quả của sự quan sáttrực tiếp Do đó, chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưa c/m được mối liên

hệ phổ biến nội tại của giới tự nhiên

* Phép bc duy tâm cổ điển Đức: được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện ở hệ thống

TH của G.Hêghen

TH cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của pbc duy tâm Tính duytâm trong TH của Heeghen được biểu hiện ở chỗ, ông coi thế giới được hình thànhbằng việc thừa nhận một thực thể tinh thần ngoài TG, sáng tạo TG gọi là tinh thần ýniệm tuyệt đối, ý niệm tuyệt đối sáng tạo ra TG bằng cách tha hóa xuống TG tự nhiên

và chịu sự tác động của qui luật TN, chuyển về đầu óc con người để chuyển về tinhthần TG Với pbc này ông đã chỉ ra:

+ Hai nguyên lý biện chứng: Giữa ý niệm và khái niệm có mối qua lại lẫn nhau; Sựphát triển của ý niệm

+ Ba qui luật cơ bản trong quá trình vận động, phát triển: Lượng biến dẫn đến chấtbiến; Qui luật mâu thuẫn; Qui luật phủ định của phủ định

+ Xây dựng được hệ thống các phạm trù cơ bản: Cụ thể trừu tượng; Tất nhiên ngẫu nhiên; Bản chất - hiện tượng

- Hêghen là người đầu tiên xây dựng pbc thành hệ thống nhưng pbc của ông lại làpbc duy tâm, pbc lộn ngược, không sử dụng được, muốn sử dụng phải cải tạo

*Phép biện chứng duy vật của CN Mác - Lênin.

Kế thừa có chọn lọc toàn bộ giá trị tư tưởng nhân loại, lý luận trong lịch sử, trực tiếpnhất là TH cổ điển Đức (Hêghen và Phoiơbac), CN không tưởng Pháp, kinh tế chínhtrị học cổ điển Anh Kế thừa 1 cách có phê phán toàn bộ những tư tưởng về hạt nhânhợp lý trong pbc của Heeghen, loại bỏ những yếu tố tiêu cựcXD nên TH Macxit,đem lại cho pbc một hình thức mới về chất, đó là pbc duy vật Pbc duy vật là sự

Ngày đăng: 27/04/2019, 00:33

w