1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề cương dược liệu

59 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 671 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những dược liệu có thể sử dụng làm nguồn nguyên liệu chiết xuất các chất tinh khiết làm thuốc ở Việt Nam thực tại và triển vọng.. * Điều tra cây thuốc, bài thuốc: Công tác điều tra cây t

Trang 1

1 Thực trạng nghiên cứu, phát triển Dược liệu ở nước ta và trên thế giới (T2)

2 Tiềm năng về khí hậu và tài nguyên để phát triển dược liệu và sản phầm nguồn gốc dược liệu ở VN (T4)

3 Tính đặc thù trong nghiên cứu và ứng dụng y dược cổ truyền Việt Nam (T5)

4 Những dược liệu có tiềm năng khai thác tinh dầu ở Việt Nam (T7)

5 Nguồn nguyên liệu bán tổng hợp thuốc steroid truyền thống và xu hướng tương lai (T11)

6 Tanin, sử dụng tanin, dược liệu chứa tanin trong y học và trong công nghệ, Các dược liệu có tiềm năng cung cấp tanin ở Việt Nam (T13)

7 Những cây được trồng với quy mô lớn cung cấp nguyên liệu làm thuốc ở Việt Nam (T15)

8 Tài nguyên sinh vật biển sử dụng làm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng (Tảo spirulina, Cá ngựa, Hải sâm, Rong câu chỉ vàng ) (T18)

9 Động vật, khoáng vật, tiềm năng nghiên cứu, phát triển sản phẩm làm thuốc từ động vật khoáng vật (T21)

10 Những dược liệu có thể sử dụng làm nguồn nguyên liệu chiết xuất các chất tinh khiết làm thuốc ở Việt Nam thực tại và triển vọng (T25)

11 Sử dụng công nghệ nano trong các chế phẩm nguồn gốc dược liệu (T27)

12 Công nghệ chiết xuất siêu tới hạn (Supercritical fluild extraction - SFE), thành tựu, triển vọng sử dụng SFE trên thế giới và ở Việt Nam (T30)

13 Kỹ thuật nuôi cấy mô Nuôi cấy mô cây thuốc, đánh giá về những thành tựu và triển vọng về nuôi cấy mô cây thuốc ở Việt Nam (T33)

14 Thuốc bảo vệ thực vật nguồn gốc cây cỏ, tính ưu việt, tình hình phát triển, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nguồn gốc cây cỏ trên thế giới và ở Viêt Nam (T35)

15 Các thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc cây cỏ sử dụng ở Việt Nam, Cho thí dụ về một sản phẩm bảo vệ thực vật nguồn gốc cây cỏ thông dụng trên thị trường (T37)

16 Thực trạng chất lượng dược liệu và các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu trên thị trường hiện nay (T38)

17 Hệ thống các tiêu chuẩn sử dụng để kiểm nghiệm dược liệu hiệu quả, tính phù hợp của hệ thống các tiêu chuẩn trong kiểm nghiệm, quản lý dược liệu và các sản phẩm nguồn gốc dược liệu hiện nay (T39)

18 Những công trình, thành tựu nghiên cứu, ứng dụng dược liệu trong nước về lĩnh vực điều tra, sưu tầm cây thuốc trong dân gian, các bài thuốc cổ truyền (T40)

19 Những công trình, thành tựu nghiên cứu, trong nước về lĩnh vực khai thác, chế biến, sử dụng DL (T42)

20 Những công trình, thành tựu nghiên cứu trong nước về lĩnh vực trồng trọt, tạo nguồn dược liệu (T44)

21 Những công trình, kết quả nghiên cứu, ứng dụng dược liệu trong nước về lĩnh vực nghiên cứu hóa học cây thuốc (T47)

22 GMP, GACP  vai trò, hiệu quả của áp dụng GMP, GACP trong sản xuất các sản phẩm làm thuốc nguồn gốc Dược liệu (T49)

23 Những công trình, kết quả nghiên cứu, ứng dụng dược liệu trong nước về lĩnh vực nghiên cứu tác dụng dược lý (T52)

24 Những công trình, kết quả nghiên cứu, ứng dụng dược liệu trong nước về lĩnh vực nghiên cứu tạo chế phẩm mới (T54)

25 Thực phẩm chức năng , vai trò, vị trí, trong phát triển và ứng dụng dược liệu (T56)

Trang 2

26 Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (T57)

CĐ 1: Thực trạng nghiên cứu phát triển dược liệu ở Việt Nam và trên thế giới

Đất nước con người việt nam được thiên nhiên ưu ái cho một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một taì nguyên cây thuốcnói riêng và tài nguuyên dược liệu nói chung Việt nam có sự giàu có về mặt đa dạng sinh học bao gồm 275 loài động vật có

vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát 80 loài động vật lưỡng cư,2500 loài cá, 5500 loài côn trùng Việt nam có khoảng 12000loái thực vật bậc cao(đả xác định tên được 8000 loài ), 600 loài nấm, 800 loài rêu và hàng tram các loài tảo lớn

* Điều tra cây thuốc, bài thuốc:

Công tác điều tra cây thuốc, bài thuốc được chú trọng và đầu tư; xây dựng được kho dữ liệu về cây thuốc, bài thuốc ViệtNam phong phú:

Các sách tổng hợp về cây thuốc, bài thuốc: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (đỗ tất lợi); Từ điển cây thuốc Việt Nam

(Võ Văn Chi); Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ); Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt nam (Viện Dược liệu);…

Viện Dược liệu phối hợp các địa phương đánh giá tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu

Kết quả điều tranguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005 của 

Viện Dược liệu (2006) cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thực vậtbậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc. Trong 

đó nhóm thực vật bậc cao có mạch có 3.870 loài. Những cây thuốc có giátrị sử dụng cao, có khả năngkhai thác trong tự nhiê

n là những cây thuốc nằm trong danh mục 185 cây thuốc và vị thuốc thiết yếucủa Bộ Y tế cũng như những cây thuốc đang được thị trường dược liệu quan tâm gồm có 206 loài cây có khả năng khai  thác Việc điều tra vẫn được tiếp tục, và được tổngkết hàng năm

*Khai thác dược liệu:

Nhu cầu khai thác, sử dụng dược liệu chủ yếu là sản xuất thuốc từ dược liệu (tại bệnh viện và các công ty, cơ sở sản xuất) vàthuốc đông y Dược liệu cũng đóng vai trò là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất thực phẩm chức năng

Một số thành tựu trong khai thác dược liệu:

+ Công Trình nghiên cứu chiết suất Artemisinin – Của PGS,TS Nguyễn Thanh Nghị - Giảng Viên Bộ môn Công nghiệp

Dược Trường Đại học Dược HN trong cây thanh cao hoa vàng chữa số rét hiện nay xuất khẩu sang các nước châu phi Hiệnnay Cây thanh Cao hoa vàng đang được trồng nhiều ở khu vực trung du miền núi Cũng là nguồn thu lớn cho người nôngdân

+ THUỐC ĐIỀU loét dạ dày AMPELOP , Thành phần chính là từ cao chè dây đề tài khoa học do GS.TS Phạm Thanh Kỳ ,

nguyên Hiệu trưởng trường đại học Dược Hà Nội nghiên cứu SX, thuốc có tác dụng điều trị loét dạ dày tá tràng

+ Sản phẩm diabetna – thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, được ra đời từ kết qua nghiên cứu dây thìa canh của PGS.TS Trần Văn Ơn.

+ Một số dược liệu khác cũng được quan tâm phát triển, bảo tồn và khai thác như: Ba kích, cà gai leo, diệp hạ châu…

-*Trồng trọt, chế biến dược liệu:

+ Hạn chế:

Việc nuôi trồng, thu hoạch còn manh mún, mang tính tự phát Dược liệu

không được sản xuất theo quy trình, quy hoạch cụ thể: trồng lẫn dược liệuvới vùng

trồng lúa và hoa màu, kỹ thuật trồng và chăm sóc các cây dược liệu chủ yếu theo

kinh nghiệm, sử dụng tùy tiện giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nguồn nước

tưới…

- Nhà nước chưa có cơ chế chính sách đồng bộ và phù hợp để đẩy mạnh và

khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nuôi trồng, sơ chế, chế

biến và bảo quản dược liệu trong nước

- Việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất giống cây thuốc, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng giốngcây thuốc chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn (giống cây trồng không đạt chuẩn, năng suất cây trồng cònthấp )

Nhìn nhận những hạn chế đó, thì đã có những chủ trương chính sách để khắc phục: xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, nguyêntắc GACP-WHO (‘ Thực hành tốt trồng trợ và thu hái cây thuốc”); ban hành “Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đếnnăm 2020 và định hướng đến năm 2030” …

- Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội đang lưu giữ gần 400 cây thuốc từ những thuốc di thực nhập nội,các cây thuốc nguyên sinh của các tỉnh đưa về, và các giống cây thuốc từ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản Gần 200 loài vàgiống cây thuốc được nhập nội từ Trung Quốc như: Đương quy, Bạch truật, Bạch chỉ, Ngưu tất, Huyền sâm, Đẳng sâm,Hoàng kỳ, Hoàng cầm, Xuyên khung, Vân mộc hương, Tam thất, Hoàng bá, Đỗ trọng, Xuyên tâm liên, Địa liền

Trang 3

Trong nhiều cây thuốc nhập nội tư nước ngoài vào Việt nam, một số cây đã được khí hậu hoá cho thích nghi với điều kiệnsống từng vùng miền và nhiều cây trở thành cây bản địa của Việt Nam Trong số đó có các cây đầu vị thuốc bắc và hàng nămđều có diện tích trồng lớn như cây Đương quy, Bạch chỉ, Huyền sâm, Vân mộc hương, Xuyên khung, Hoàng bá, Đỗ trọng

*Nghiên cứu chế phẩm mới:

Điểm nổi bật:

- Việc nghiên cứu hóa học và tác dụng dược lý của dược liệu được chú trọng, đầu tư, làm tăng thêm nguồn tri thức về dượcliệu, đóng vai trò lớn trong việc sử dụng, khai thác, kiểm nghiệm dược liệu,…

- Tiếp cận với các tiên tiến trên thế giới trong các nghiên cứu dược liệu về dược liệu, hóa học, quy trình sản xuất, bào chế

Đã có sự phối hợp trong việc nghiên cứu hóa học, dược lý và quy trình sản xuất, bào chế từ đó có nhiều sản phẩm dược liệu

có chất lượng trên thị trường

thuốc truyền thống, tính tên toàn thế giới, hàng năm doanh thu thuốc từ dược liệu

ước tính khoảng 80 tỷ USD Tỷ lệ các sản phẩm thuốc từ dược liệu đã được sử

dụng rộng rãi và phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới như Úc (48,5%), Trung Quốc (90%), Nhật Bản (49%), Hàn Quốc(69%),…

Trang 4

CĐ2 : T iềm năng khí hậu và tài nguyên để phát triển dược liệu và các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu ở Việt Nam 1.Đặt vấn đề:

Nước ta là một trong những nước có chủng thực vật phong phú và đa dạng nhất thế giới, Việt Nam có đến trên 10.600 loàithực vật, và có khoảng 3.800 loài cây được sử dụng làm thuốc Đây chính là nguồn nguyên liệu quý giá để phát triển dượcliệu và các sản phẩm từ dược liệu của nước ta Sở dĩ có được ưu thế như vậy là do nước ta có điều kiện khí hậu đa dạng,đấtđai màu mỡ, lại có rất nhiều rừng phù hợp cho nhiều giống cây cỏ sinh sống Sau đây, tôi xin phân tích tiềm năng về khíhậu, về tài nguyên đất và tài nguyên rừng ở nước ta hiện nay có thể góp phần vào việc phát triển dược liệu và các sản phẩm

có nguồn gốc dược liệu

+ Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mang tính khí hậu lục địa Biển Đông ảnh hưởng sâu sắc đếntính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của đất liền Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam,hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lêncao, từ bắc vào nam và từ đông sang tây Việt Nam có thể được chia ra làm hai đới khí hậu lớn:

-> Miền Bắc (từ đèo Hải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt (xuân-hạ-thu-đông), chịu ảnh hưởng củagió mùa Đông Bắc (từ lục địa châu Á tới) và gió mùa đông Nam, có độ ẩm cao

-> Miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanhnăm và chia thành hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa).Bên cạnh đó, do cấu tạo của địa hình, Việt Nam còn có những vùngtiểu khí hậu Có nơi có khí hậu ôn đới như tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; có nơi thuộc khí hậu lục địa nhưLai Châu, Sơn La

Với điều kiện khí hậu đa dạng như vậy nước ta có được sự đa dạng của các loại dược liệu tương thích với từng vùng khí hậu

đó Ngoài các loại dược liệu sẵn có, các dược liệu ngoại nhập cũng có thể dễ dàng chọn được vùng quy hoạch phát triển phùhợp Ví dụ như cây Thảo quả là cây du nhập vào nước ta hiện đang được quy hoạch trồng trên Sapa và nhiều vùng núi caokhác do phù hợp với khí hậu ôn đới

-Tài nguyên đất:

Diện tích đất liền của việt nam khoảng hơn 300.000km2, và chia thành 3 nhóm chính:

+Nhóm đất feralit ( chiếm 65% diện tích đất tự nhiên)hình thành trực tiếp tại các miền đồi núi Có giá trị với việc trồng rừng

và cây công nghiệp,

+ Nhóm đất mùn trên núi cao ( chiếm 11% diện tích đất tự nhiên), chủ yếu là đất rừng đầu nguồn cần được bảo vệ

+ Nhóm đất bồi tụ phù sa sông và biển( chiếm 24% diện tích đất tự), tập trung ở các đồng bằng, nhất là đồng bằng sôngCửu Long và đồng bằng sông Hồng Nhóm đất này tơi xốp, giữ nước tốt, thích hợp với cây lương thực, thực phẩm nhất làcây lúa

àViệt Nam có đặc điểm đất đai màu mỡ, đa dạng đây cũng là một yếu tố tạo nên sự đa dạng của các cây Dược liệu

*Tài nguyên rừng: Đặc điểm về khí hậu và đất đai như trên đã tạo ra diện tích rừng ở nước ta khá rộng lớn:

- Hiện nay nước ta có khoảng 30% diện tích đất được che phủ bởi rừng, trong đó có rất nhiều vườn quốc gia từ bắc vàonam.Với diện tích quy hoạch đến năm 2010 khoảng 2.370.270 ha (hiện có 2.164.688 ha)hệ thống rừng đặc dụng Việt nam sẽgóp phần bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu

-Một số vườn quốc gia hiện nay và các dược liệu quý:

+Vườn Quốc gia cúc Phương: Có tới 433 loài cây làm thuốc, 229 loài cây thực phẩm-thuốc như : Ba Gạc, Đẳng sâm, Hoàngđàn, Thạch xương bồ, Huyết giác, Huyết dụ, Dừa cạn, Thiên niên kiện, các cây cho tinh dầu, …Mới đây, VQG đã phát hiệnthêm nhiều loài thực vật, có nhiều loài cây thuốc, đang giám định VQG đã xây dựng một vườn thực vật diện tích trên 160

ha, là trung tâm cung cấp giống các loài thực vật quý hiếm có giá trị kinh tế cao

+Vườn Quốc gia Ba Bể: Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền nghiên cứu, điều tra được hơn 720loài cây có ích, trong đó có 650 loài cây thuốc

+Vườn quốc gia Tam Đảo: Hệ thực vật ở đây rất phong phú trong đó cây làm thuốc (311 loài), cây cho tinh dầu (32 loài).Cây làm thuốc điển hình như: Ba kích, Hoàng đằng, Chân chim, Cốt toái bổ, Vú hương, Quế, Trầm hương, Khôi tía, Sanhân, Sa nhân quả to, Chân chim núi, Kim ngân, Cẩu tích, Na rừng, Củ mài, Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Bẩy lá một hoa, Bách

Trang 5

CĐ 3: Tính đặc thù trong nghiên cứu và ứng dụng YHCT Việt Nam

Tính đặc thù của Y dược học cổ truyền Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong thư gửi cán bộ y

tế ngày 27/02/1955: “YHCT phải dựa trên tính khoa học, dân tộc và đại chúng”

 Bên cạnh đó nền Y Dược học cổ truyền VN còn là trao đổi, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm của các dân tộc, củacác nước trong khu vực và tích lũy dần và phát triển xây dựng các mặt mạnh của kiến thức đó kết hợp với những kinhnghiệm trước đó thành kinh nghiệm mới của riêng mình Đây chính là sự thể hiện tính kế thừa và trao đổi của Y Dược học

cổ truyền VN

Ví dụ như: Các lý luận triết học duy vật cổ đại (thuyết Âm Dương, thuyết Ngũ Hành,…) được các nhà y học cổphương Đông của Trung Quốc vận dụng vào điều trị bệnh, chế biến thuốc,… Từ đó y dược học cổ truyền có 1 nền tảng vữngchắc dựa trên 1 hệ thống lý luận đã được ghi chép thành văn bản Do vậy, có thể nói đây là một nền y học mang tính kế thừa

và phát triển Trải qua hàng nghìn năm phát triển những sai sót đã bị loại bỏ, các kiến thức còn lại là tinh hoa của cả dân tộc

ta - đó là những kiến thức đã được chứng minh là đúng - nên nền Y Dược học cổ truyền VN mang tính khoa học cao

 Điểm đặc biệt của Y Dược học cổ truyền VN là dựa trên hệ thống lý luận triết học phương Đông: coi con người làmột thể thống nhất, có mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường, các cơ quan trong cơ thể luôn quan hệ mật thiết với nhau Vàdựa trên nguyên tắc này đưa ra phương pháp tự chữa bệnh (cơ thể có khả năng tự điều chỉnh cân bằng), hoặc điều trị bệnhtoàn thân

 Ngoài ra YHCT còn thể hiện tính khoa học ở việc kế thừa y học bản địa

2 Tính dân tộc:

 Nền Y Dược học cổ truyền VN có lịch sử lâu đời, nền Y Dược học cổ truyền được bắt nguồn từ 1 nền y học dân gian(tri thức bản địa) phong phú thông qua thực tiễn nhiều đời, các kinh nghiệm được đúc kết thành lý luận Nền YHCT VN lànền y học của dân, do dân và vì dân Nó tiếp thu tinh hoa của nền y học nước ngoài, trong đó công đầu phải kể đến Đại y tônlĩnh Hải Thượng Lãn Ông người đã có công đưa lý luận phương Đông vào VN và Thiền sư Tuệ Tĩnh với chức danh Namdược thần hiệu có phương châm chữa bệnh “Nam dược trị nam nhân”

3 Tính đại chúng:Tính đại chúng của YDHCT VN đã được chứng minh qua hàng nghìn năm Đó là một nền YDH của dân

và vì dân.Nó có tính chất quần chúng rộng rãi, tính sáng tạo và tính nhân đạo sâu sắc.Tính đại chúng được thể hiện ở:

 Từ xa xưa cha ông ta đã mở rộng và phát triển việc trồng dược liệu:

- Trong thời kỳ phong kiến dưới triều nhà Trần (1225-1399) đã có trồng cây thuốc ở Phả Lại (vườn thuốc Vạn An vàDược Sơn xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) để tự túc thuốc men, không phụ thuộc vào TQ Trong thời nàyTuệ Tĩnh đã gây dựng được phong trào trông thuốc ở đền chùa, vườn nhà để chữa bệnh cho dân Nhiều làng trồng dược liệu

ra đời mà ngày nay vẫn còn truyền thống như Đại Yên (Ba Đình- HN), Nghĩa Trai (Văn Lâm- Hưng Yên),…

- Từ sau khi cách mạng Tháng Tám thành công đến nay đã có nhiều vườn thuốc mẫu được thành lập giúp cho các sinhviên, học viên học tập và nhân dân các địa phương biết đến các cây thuốc chữa bệnh Với chủ trương phát triển nền YHDTkết hợp với y học hiện đại nhiều nơi ở các trung tâm y tế xã huyện đã trồng vườn cây thuốc với những cây thuốc nam quenthuộc như Hương nhu, Sài đất, kinh giới, Tía tô, Húng chanh, Kim ngân, Xạ can, … để chữa bệnh cho nhân dân xung quanh

- Trong những năm gần đây nhà nước đã phê duyệt nhiều dự án để phát triển việc nuôi trồng dược liệu như: xây dựngphân vùng trồng và phát triển dược liệu theo tiêu chuẩn GAP, bảo tồn nguồn gen thuốc quý, …

 Tính đại chúng còn thể hiện ở việc mở rộng đào tạo YDHCT: Các trường y dược trong toàn quốc đều có chươngtrình đào tạo YDHCT Dược liệu là môn học bắt buộc đối với các sinh viên trường dược Quy mô đào tạo chuyên ngànhYDHCT ngày càng được mở rộng thu hút số lượng lớn các sinh viên theo học

 Một số chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nền YDHCT:

- Chỉ thị 101 TTg ngày 15/03/1961; 21 CP ngày 19/02/1967 và 26 CP ngày 19/10/1978 đã quy định: “Trên cơ sởkhoa học thừa kế và phát huy những kinh nghiệm tốt của đông y và kết hợp với tây y tăng cường khả năng phòng bệnh chữabệnh và tiến tới xây dựng nền y học VN”

- Điều 49 chương III, hiến pháp nước CHXHCN VN có ghi: “Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏenhân dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền”

Nghị quyết lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về Định hướng chiến lược công tác chămsóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân và Chính sách quốc gia về thuốc của VN là dựa trên cơ sở thừa hưởng vốn quý của nềnYHCT lâu đời của dân tộc ta với một sự kết hợp khéo léo thích hợp thành tựu y học hiện đại của thế giới

 Phát triển các thuốc có nguồn gốc dược liệu Đó là những sản phẩm có chứa hoạt chất được chiết xuất từ thiên nhiênnhư Artemisinin trong Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L., Asteraceae - Họ Cúc), … hoặc được xuất phát từ các bàithuốc dân gian hoặc bài thuốc theo kinh nghiệm gia truyền như Bổ trung ích khí, Phong tê thấp bà Giằng, …

Trang 6

Với những chính sách ưu tiên phát triển các thuốc có nguồn gốc dược liệu của Nhà nước thì đã có rất nhiều các công

ty dược trong nước phát triển mạnh và nổi tiếng trên thị trường về sản xuất các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu như công tyTraphaco, Mediplantex, OPV, Phúc Vinh…

 Phát triển các cơ sở khám chữa bệnh theo YHCT để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân bêncạnh những cơ sở khám chữa bệnh khác: Từ năm 1988 đến nay ở tất cả các tỉnh thành phố đều có bệnh viện y học dân tộc,

có các khoa y học dân tộc trong bệnh viện đa khoa cả nước

Như vậy nền YHCT VN thể hiện rõ 3 tính đặc thù: tính khoa học, tính dân tộc và tính đại chúng

Trang 7

CĐ4: Nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu và sự sản xuất, buôn bán tinh dầu ở Việt Nam

Phần I Đại cương về tinh dầu

1 Định nghĩa

Tinh dầu là một hỗn hợp của nhiều thành phần, thường có mùi thơm, không tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ,bay hơi được ở nhiệt độ thường và có thể điều chế từ thảo mộc bằng phương pháp cất kéo hơi nước. 

2 Phân loại tinh dầu theo cấu trúc hóa học

Theo cấu trúc hóa học, có thể chia làm 4 loại tinh dầu:

- Các dẫn chất của monoterpen: Myrcen, lymonen, α- pinen, β-pinen, geraniol, linanol, nerol…

- Các dẫn chất của sesquiterpen: zingiberen, curcumen, nerolidol,…

- Các dẫn chất có nhân thơm: eugenol, p-cymen, thymol…

- Các hợp chất có chứa nitơ (N) và lưu huỳnh (S): mythyl isothiocyanat, alicin…

3 Các phương pháp thu tinh dầu

- Phương pháp cất kéo hơi nước

- Phương pháp chiết xuất bằng dung môi

- Phương pháp ướp

- Phương pháp ép

Phần II Những dược liệu có tiềm năng khai thác tinh dầu ở Việt Nam

1 Cây Quế Việt Nam

Tên khoa học: Cinnamomum cassia J S Presl, 1825, thuộc họ Long não – Lauraceae.

* Đặc điểm thực vật: Cây gỗ, cao 10 – 20m Lá mọc so le có cuống ngắn, dài nhọn hoặc hơi tù,có ba gân hình cung Hoatrắng Quả hạch hình trứng

* Phân bố: Quế phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang,Tuyên Quang, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, BàRịa-Vũng Tàu Trong đó có 4 vùng trồng quế tập trung là: Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá - Nghệ An và Quảng Nam -Quảng Ngãi Chất lượng tinh dầu quế Yên Bái thuộc loại tốt nhất cả nước

* Thành phần hoá học:

Hàm lượng tinh dầu trong vỏ quế khá cao (1,0-4,0%), còn trong lá và cành non thường thấp (0,3-0,8%) Tinh dầu từ vỏ cómàu vàng nâu nhạt, sánh, vị cay, thơm, ngọt, nóng, nặng hơn nước; với thành phần chính là (E)-cinnamaldehyd (70-95%);ngoài ra còn khoảng 100 hợp chất khác Tinh dầu từ lá quế thường có màu nâu đậm và thành phần chủ yếu cũng là(E)-cinnamaldehyd (60-90%) Hàm lượng (E)-cinnamaldehyd quyết định chất lượng của tinh dầu quế Tinh dầu quế thươngphẩm trên thị trường thế giới đòi hỏi hàm lượng (E)-cinnamaldehyd trong khoảng 75-95% (ISO: >80% (E)-cinnamaldehyd).Ngoài tinh dầu, trong vỏ quế còn chứa tanin, chất nhựa, đường, calci oxalat, coumarin và chất nhầy…

* Công dụng của tinh dầu quế:

• Giảm lượng đường trong máu và điều trị bệnh tiểu đường loại 2

• Giảm cholesterol

• Trợ giúp tiêu hóa

• Điều trị tiêu chảy

• Chữa cảm lạnh thông thường

• Giảm đau viêm khớp

• Tăng cường trí nhớ và chức năng nhận thức

• Điều trị đau răng

• Loại bỏ hơi thở hôi

• Chữa đau đầu và chứng đau nửa đầu

Theo số liệu khảo sát của Hoàng Cầu (2005) về 75 hộ gia đình trồng quế tại bản Khe Lơ (xã Yên Sơn – Văn Yên – YênBái), trong thời gian từ 1993-1994 thu nhập trung bình từ quế đạt 10 triệu đồng/hộ/năm (bình quân hộ thu nhập cao: 20 triệuđồng/năm, bình quân hộ thu nhập thấp: 6 triệu đồng/năm)

Đến năm 1998, diện tích rừng quế ở nước ta đạt khoảng 61.820 ha (trong đó có 19.743 ha có thể khai thác) với trữ lượngước tính khoảng 29.000-30.000 tấn vỏ Cũng năm 1998, sản lượng quế vỏ đã khai thác đạt 2.867 tấn Hàng năm Việt Namxuất khẩu khoảng 1.500-2.000 tấn vỏ và 5-7 tấn tinh dầu quế

Cây quế không những có giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái, giữ đất, giữ nước

ở những vùng đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý của cây bản địa, đồng thời góp phần quantrọng giúp nhiều hộ nông dân xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu

2 Cây Hồi

* Tên khoa học: Illicium verum Họ Hồi: Illiciaceae

* Phân bố: Hồi được coi là đặc sản của tỉnh Lạng Sơn Ngoài ra còn trồng ở Quảng Ninh, Lào Cai, Bắc Cạn

* Thành phần hóa học:

- Quả có chứa tinh dầu 8 -9% Quả mới thu hoạch có thể chứa 10 – 15%.

Trang 8

- Tinh dầu quả Hồi, tên thương phẩm Star anis oil, là chất lỏng màu vàng nhạt, có mùi đặc biệt, vị ngọt Thành phần chínhchủ yếu là trans anethol (85-90%)

- Lá có chứa tinh dầu 0,56-1,73% Tinh dầu lá có hàm lượng anethol xấp xỉ tinh dầu quả

- Hạt chứa chất béo

* Công dụng:

- Quả Hồi có tác dụng giúp tiêu hóa, lợi sữa, giảm đau, giảm có bóp nhu động ruột, dùng để trị ỉa chảy, nôn mửa…

- Tinh dầu Hồi có tác dụng tương tự như dược liệu Ngoài ra tinh dầu còn dùng để tổng hợp hormone estrogen

- Dùng làm gia vị và hương liệu cho rất nhiều sản phẩm trong kỹ nghệ thực phẩm màu

- Hiện nay tinh dầu Hồi còn được sử dụng để chiết xuất acid Shikimic là nguyên liệu để tổng hợp Tamiflu, là thuốc đặc trịcác bệnh cúm, nhất là cúm A/H1N1, H5N1, H3N2; Chế biến các loại thuốc xoa bóp, nội tiết, tiêu hóa

Hồi là một trong những cây đặc sản có giá trị kinh tế cao của tỉnh Lạng Sơn Cây Hồi phân bố trong một vùng sinhthái hẹp của thế giới, chỉ trồng được ở một phần diện tích của tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam của Trung Quốc và mộtphần diện tích của tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh của Việt Nam Hồi ở Lạng Sơn có chất lượng tinh dầutốt nhất thế giới và nổi tiếng với tên gọi “Hồi xứ Lạng” Lạng Sơn đã trồng được 33.400 ha rừng Hồi chiếm 71% tổng diệntích rừng Hồi của cả nước Sản lượng quả Hồi (hoa Hồi) khô đạt trên 6.500 tấn trong năm 2010, đem lại giá trị xuất khẩukhoảng 600 - 650 tỷ đồng/năm, đây là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh Lạng Sơn

3 Cây Dó bầu

Những năm trước đây, người dân không rõ hiệu quả kinh tế từ cây dó bầu (cây dó) như thế nào, chỉ thấy nhiều láibuôn thường về một số địa phương để thu mua vỏ cây với giá rẻ từ 5.000 đồng đến 7.000 đồng/kg để xuất bán sang TrungQuốc Việc bà con khai thác ồ ạt đã làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, diện tích cây dó giảm sút Sau khi công nghệchiết xuất tinh dầu từ cây dó bầu được Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuấtthử nghiệm ở một số tỉnh, cùng với sự phổ biến, tuyên truyền rộng rãi việc phát triển cây dó theo chủ trương của Chính phủ,người dân đã dần hiểu ra giá trị kinh tế của cây dó Từ đó, trên khắp các tỉnh, người dân đã đầu tư trồng và khôi phục diệntích cây dó Cây dó có nhiều tác dụng như: tạo trầm; chiết suất tinh dầu; làm đồ gỗ mỹ nghệ, phong thủy; lá cây làm trà.Trong đó, việc chiết xuất tinh dầu là cho hiệu quả kinh tế cao và thiết thực nhất

* Tên khoa học: A agallocha Roxb Họ: Trầm - Thymelaeaceae

* Tên khác: Trầm, kỳ nam, rà hương

* Đặc điểm thực vật: Dó bầu là một loại cây gỗ thường xanh, cao 20 – 30 m, đường kính thân đạt 60 – 80 cm, thân thườngthẳng, đôi khi có rãnh dạng lòng máng; bạch gốc cao tới 2 m; vỏ ngoài nhẵn, màu nâu xám, thịt vỏ màu trắng có nhiều chất

xơ (celluloz), nứt dọc lăn tăn, dễ bóc và tước ngược từ gốc lên; cành mảnh, cong queo, màu nâu nhạt, có lông hoặc nhẵn, tánthưa Lá đơn, mọc cách (so le); cuống lá dài 4 – 6 mm; phiến lá hình trứng, bầu dục thuôn đến mác thuôn, kích thước 8 – 15

x 2,5 – 9 cm, mỏng như giấy hoặc dai gần như da, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt hơn và có lông mịn; gốc lá thonnhọn dần hay tù

* Phân bố:  Trầm hương sinh trưởng rải rác trong rừng thường xanh ẩm nhiệt đới, nguyên sinh hoặc thứ sinh trên đỉnh dông,trên sườn núi hoặc trên đất bằng ở độ cao 50 – 1.000 m (-1.200 m) so với mặt biển Ở nước ta, Trầm hương thường phân bốrải rác trên sườn núi có độ dốc nhỏ, thoát nước Trong quần xã của Trầm hương thường gặp các cây gỗ lớn: Táu

(Hopeaspp.), Huỳnh (Tarrieta sp.), Gụ mật (Sindora siamensis Teysm Ex Miq.)… Đôi khi cũng gặp Trầm hương mọc trong rừng thứ sinh cùng các loài Thánh thất (Ailanthus triphysa (Dennst) Alst.), Mò lưng bạc (Cryptocarya metcalfiana Allen), Bưởi bung (Acronychia laurifolia Blume),  Mít nài (Artocarpus asperula) và Ràng ràng (Ormosia sp.)…

* Trồng trọt và thu hái: Cho đến nay việc nhân giống vẫn chủ yếu bằng hạt Cây dó bầu sau khi trồng khoảng 4 – 5 năm tuổithì bắt đầu ra hoa kết trái Tùy vào điều kiện thời tiết của mỗi vùng mà thời gian ra hoa có khác nhau Ở miền TrungViệt Nam, cây bắt đầu ra hoa vào tháng 3 và trái chín vào tháng 7 dương lịch Nhưng ở miền Nam, thời gian ra hoa là tháng

2, trái chín tháng 5 – 6 dương lịch

* Nguồn gốc tạo trầm hương từ cây dó bầu:  Gỗ cây dó bầu có khả năng hình thành một loại sản phẩm đặc biệt gọi là Trầmhương, do cây bị một loại bệnh gây ra bởi tác động bên ngoài Loại gỗ này tỏa ra mùi thơm và khi thả xuống nước thì chìm

vì vậy mà có tên là trầm hương Vì “trầm” theo chữ Hán có nghĩa là chìm, còn “hương” có nghĩa là mùi thơm

      Căn cứ vào sự hóa nhựa nhiều hay ít mà có những sản phẩm như: Tóc, Trầm hương và Kỳ nam

      a./ Tóc: có nguồn gốc từ chữ “tok” của người Campuchia, đó là do sự biến đổi chất gỗ bên ngoài, thường dùng đểlàm nhang

      b./ Trầm hương: do sự phân hóa không trọn vẹn của các phần tử gỗ, gỗ ít tẩm nhựa hơn, màu nâu hay có sọc đen,nhẹ, nổi được trong nước, dùng để chưng cất tinh dầu

      c./ Kỳ nam: (nghĩa là điều kỳ diệu của phương nam); do sự biến đổi hoàn toàn của các phần tử gỗ – Các phần tử gỗthoái hoá, biến dạng, mất mộc tố chứa một chất nhựa thơm – có màu nâu đậm hay đen, nặng chìm trong nước, vị đắng.Thường hình thành ở phần lõi gỗ

*   Tính chất lý hóa của tinh dầu trầm hương

Tinh dầu trầm hương là chất lỏng sánh, nhớt, dẻo, có màu vàng hoặc màu hổ phách đậm, mùi thơm dịu của trầm.Bằng khứu giác ta cảm thấy tinh dầu trầm có mùi thơm tương tự như mùi tinh dầu hương lau và tinh dầu đinh hương Nóđược dùng làm chất định hương, giữ cho hương thơm lâu và dậy mùi trong công nghiệp hương liệu Một số kết quả phân tíchcủa Thụy Sỹ đã cho biết, thành phần chủ yếu của tinh dầu trầm hương gồm các agarofuranoid, các sesquiterpenoid của nhómchất eudesman, eremophilan, valencan và vetispiran

Trang 9

      Khi chưng cất, các thành phần chính của tinh dầu thường bốc hơi ở nhiệt độ cao (khoảng 200oC) Nghiên cứu cácmẫu trầm hương thương phẩm khác nhau từ Ấn Độ đã cho thấy thành phần hóa học của chúng cũng rất khác nhau.

- Nhóm nghiên cứu của Ishihara và cộng sự năm 1993 đã nghiên cứu phân tích 4 mẫu trầm hương lấy từ 4 khu vực khácnhau trên lãnh thổ Việt Nam, tất cả các mẫu tinh dầu thu được khi được phân tích bằng phổ GC/MS đều cho thấy chúng cóchứa rất nhiều các sesquiterpen và chromon

* Công dụng của tinh dầu trầm hương

  Tinh dầu trầm có giá trị đặc biệt, được dùng trong công nghệ chế biến các loại chất thơm, các loại nước hoa cao cấp, đắttiền Mùi của trầm vừa phản phất mùi của tinh dầu đinh hương, vừa có mùi thơm của hoa hồng Các hoá mỹ phẩm có chứatinh dầu trầm rất được ưa chuộng, đặc biệt ở khu vực Trung Đông và Ấn Độ

      Lớp vỏ trong ánh bạc ở thân cây có thể bóc được từng mảng lớn, phẳng và bền Đây cũng là sản phẩm quý mà trướcđây các tín đồ tôn giáo ở Ấn Độ, Sumatra (Indonesia) đã dùng làm giấy sao chép kinh thánh hoặc may các bộ quần áo sangtrọng và gói bọc thi hài

      Trong y học cổ truyền ở nước ta, Trầm hương được coi là vị thuốc quý,  hiếm, có vị cay, tính hơi ôn, vào 3 kinh tỳ, vị

và thận; có tác dụng giáng khí, nạp thận, bình can, tráng nguyên dương; được dùng chủ yếu để chữa các bệnh đau ngực,bụng, nôn mửa, bổ dạ dãy, hen suyễn, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu và khó thở

      Trong y học ở phương Tây, ở Ấn Độ và Trung Quốc, hương trầm được sử dụng để điều trị bệnh ung thư, đặc biệt làvới bệnh ung thư tuyến giáp trạng

      Y học cổ truyền Trung Quốc coi Trầm là vị thuốc có tác dụng chữa các bệnh đau bụng, tiêu chảy, hoen suyễn, kíchdục, tráng dương và tiêu hoá tốt

      Nền y học dân tộc Thái Lan lại dùng Trầm để điều trị các bệnh tiêu chảy, lợi tiểu, hạ sốt, chống nôn, bổ huyết và trợtim

      Hương trầm được dùng để thắp xua muỗi và côn trùng có hại

      Dăm gỗ trầm cũng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là chữa bệnh thấp khớp, bệnh đậu mùa,bệnh đau bụng và dùng cho phụ nữ sau khi sinh con

      Nước sắc từ gỗ trầm nghe nói là có tác dụng kháng khuẩn, đặc biệt là với các loại khuẩn Mycobacterium tuberculosis và Shigella flexneri.

      Gỗ từ những cây trầm hương không bị bệnh thường nhẹ, có thể dùng là đóng gỗ, làm gỗ dán và làm cánh cửa ởtrường hợp chịu tải nhẹ

* Giá trị kinh tế của trầm hương

Trầm hương là sản phẩm đặc biệt của tự nhiên, trên thế giới Trầm luôn là loại hàng quý, hiếm và đắt giá Giá muabán Trầm hương được tính theo kg tùy thuộc vào chất lượng, trầm hương loại 1 từ 800 -1.200 USD, lên 7.000 - 8.000 USD;các loại khác cũng có mức tăng từ 10 đến 15 lần Tinh dầu trầm hương hiện nay tùy theo chất lượng, xuất xứ và công nghệsản xuất, có mức chào bán từ  5.000 đến  80.000 USD/lít Theo ước tính của Liên hiệp Khoa học sản xuất tinh dầu – hươngliệu – mỹ phẩm Việt Nam thì trong những năm từ 1980 đến 1990, khối lượng Trầm hương các loại đã bị khai thác và xuấtkhẩu từ nước ta cũng vào khoảng 300 tấn Trong đó có 2.000 kg Trầm từ loại 1 – 4, trị giá chừng 1,5 triệu đô la Mỹ và300.000 kg Trầm loại 5 – 9, trị giá khoảng 4,5 triệu đô la Mỹ; đặc biệt là 200 kg Kỳ nam loại 1 – 3, trị giá 0,5 triệu đô la Mỹ

và tới 2.800 kg Kỳ nam loại 4 – 8, trị giá 2,52 triệu đô la Mỹ

4 Cây tràm gió

* Tên khoa học: Melaleuca cajuputi Họ Sim: Myrtacaea

* Thành phần hóa học:

- Lá có chứa tinh dầu Dược điển VN III quy định hàm lượng tinh dầu không dưới 1%.

- Tinh dầu Tràm là chất lỏng màu vàng nhạt, mùi dễ chịu, thành phần chính bao gồm 2 loại sau:

α- Terpineol …… ……… 5% – 12%

     Eucalyptol………42%  – 52%

* Công dụng của tinh dầu tràm

   Hoạt chất α- Terpineol chiết xuất từ tinh dầu tràm có tính sát trùng (diệt khuẩn, nấm và siêu vi) tốt, do đó  α- terpineol làmột nguyên liệu quý để bào chế nhiều loại thuốc bôi xức trực tiếp hoặc dầu khí dung bay hơi

   Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy α- Terpineol có rất nhiều ưu điểm:

- Không độc với con người ở liều có tác dụng kháng khuẩn,

- Có thể dùng cho mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em và trẻ sơ sinh,

- Có tác dụng sát trùng khá rộng trên vi khuẩn, nấm và siêu vi,

- Theo nghiên cứu cấp Bộ Y tế, thực hiện tại Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh, 2008 của Hãng dược phẩm OPDIS PHARMAthì hoạt chất α-terpineol có tác dụng ức chế diệt cả hai vi rút cúm A H5N1 và A H1N1

- Nguyên liệu α- Terpineol  (Tiêu chuẩn dược điển Anh) dùng làm thuốc đã được Bộ Y tế cấp mã số đăng ký sản xuất 2686-99

VNA Từ năm 2008, Bộ Y tế đã cho phép đưa dầu tràm vào Danh mục thuốc thiết yếu để Kiểm soát bệnh địa phương (localdiseases control) trong chương trình Chăm sóc sức khoẻ ban đầu

  Cây tràm có khá nhiều ở nước ta, dầu tràm quá quen thuộc với người Việt Nam từ nông thôn đến tỉnh thị Trong dầutràm có chứa dược chất α- Terpineol, đặc biệt trong tràm hoang dại vùng Thừa Thiên Huế hàm lượng chất này rất rất cao đến12-14% Đây là một dược liệu quý để bào chế rất nhiều dược phẩm tốt, thích hợp cho nhiều căn bệnh và lại có thể sử dụngrộng rãi cho nhiều độ tuổi, người lớn, trẻ em

Trang 10

    Thiết nghĩ, nếu được khai thác sử dụng hợp lý, hiệu quả thì đây là một nguồn dược liệu dồi dào, một nguồn thu nhập tốtcho nông dân những vùng đồi rú đất bạc màu cằn cỗi.   

5 Cây Gừng

* Tên khoa học: Zingiber officinale Họ Gừng: Zingiberaceae

* Thành phần hóa học:

- Gừng chứa tinh dầu (2-3%), nhựa dầu (4,2 - 6,5%), Chất béo (3%) và chất cay: Zingerol, Zingeron…

- Tinh dầu gừng là chất lỏng không màu hoặc màu vàng nhạt Thành phần chủ yếu của tinh dầu là hợp chất hydrocarbonsesquiterpenic: Zingiberen (35,6%), arcurcumen (17,7%) …

- Nhựa dầu gừng có chứa khoảng 20 – 25% tinh dầu và 20 – 30% các chất cay

* Công dụng:

- Gừng khô, tinh dầu gừng và nhựa gừng dùng làm chất thơm trong kỹ nghệ thực phẩm và kỹ nghệ pha chế đồ uống

Hàng năm toàn thế giới sản xuất khoảng 30 tấn tinh dầu gừng và 150 - 300 tấn nhựa dầu gừng Các nước sản xuất tinh dầu

và nhựa dầu chính: Ấn Độ và Trung Quốc Các nước tiêu thu chính: USA, Canada, Anh, Đức

6 Cây sả chanh

* Tên khoa học: Cymbopogon citratus Stapf.

* Đặc điểm thực vật và phân bố

        Cây thảo sống nhiều năm, thân rễ sinh nhiều chồi bên tạo thành bụi xoè đều ra xung quanh, mỗi bụi có thể gồm 50 –

200 tép Cây cao 1 – 2m, bẹ lá và chồi thân thường có màu tía đến trắng xanh Phiến lá thuôn dài, kích thước 50 – 100 x 0,5– 2 cm Cụm hoa to dài đến 60 cm, có 4 – 9 đôt, gồm nhiều bông nhỏ

Sả Chanh được trồng nhiều ở các nước Nam Mỹ như Achentina, Brazin, Honduras, Guatemala, Liên Bang Nga, BắcAustralia, Ấn Độ, Bănglades, Việt Nam và các nước Đông Nam Á

Sản lượng hàng năm khoảng 650 tấn (1986) Các nước sản xuất chính là Achentina, Brazin, Guatemala, Honduras

* Thành phần hoá học

Hàm lượng tinh dầu: 0,46 – 0,55%

Tinh dầu sả Chanh là chất lỏng màu vàng nhạt, mùi thơm của sả, với các hằng số: d20: 0,8986, nD20: 1,4910, D20: - 620.Thành phần chính của tinh dầu là citral (bao gồm citral a và citral b) 65 - 86%

Sả C citratus trồng ở Trảng Bôm (Việt Nam) có hàm lượng citral trong tinh dầu là 80%

Một điểm đặc trưng cho tất cả các loài sả là trong tinh dầu có chứa methytheptenon với hàm lượng 1 - 2% làm cho tinh dầu

sả có mùi rất đặc trưng của sả

7 Một số dược liệu khác

Ngoài các dược liệu đã được phân tích ở trên, Việt Nam có thế mạnh phát triển rất nhiều dược liệu chứa tinh dầukhác như hương nhu, bạc hà, hoắc hương, thanh cao… Với điều kiện khí hậu nóng ẩm nhiệt đới, thuận tiện cho việc trồngtrọt và thu hoạch với năng suất cao Tuy nhiên cần có chính sách khuyến khích nông dân từng địa phương phát triển trồngcây dược liệu, hướng dẫn cách chăm sóc, nhân giống và tìm được đầu ra ổn định

Trang 11

CĐ 5: Nguồn nguyên liệu bán tổng hợp thuốc steroid truyền thống và xu hướng tương lai.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thuốc steroid là thuốc có khung steroid (các hydrocarbon có 4 vòng).Steroid có nhiều trong nấm, thảo mộc và một ít

ở động vật vì vậy nên ngoài các steroid tổng hợp (có giá thành cao hơn rất nhiều), rất nhiều steroid được bán tổng hợp từnguồn gốc thiên nhiên để làm thuốc.Steroid được ứng dụng nhiều như thuốc ngừa thai, thuốc trị rối loạn kích thích tố, thuốctrợ tim

Về các steroid có nguồn gốc dược liệu có thể chia ra làm các nhóm:

-  Nhóm spirostan: ví dụ: diosgenin, hecogenin, sarsasapogenin, smilagenin, tigogenin Hai steroid thuộc nhómnày quan trọng nhất là diosgenin (có chủ yếu trong các loài Dioscorea) và hecogenin (có chủ yếu trong các loàiAgave)

- Nhóm furostan : Ví dụ parillin, avenacosid

- Nhóm aminofurostan : Ví dụ jurubin

- Nhóm spirosolan : Ví dụ solasonin, tomatin

- Nhóm solanidan : Ví dụ Solanin

- Nhóm các steroid có cấu trúc mạch nhánh khác Ví dụ polypodosaponin và oslandin

Hiện nay, các thuốc steroid được sử dụng khá nhiều trong lâm sàng Steroid có nhiều trong thực vật, nên việc nghiêncứu nguồn nguyên liệu cây thuốc bán tổng hợp steroid đang là một hướng đi đúng đắn và đầy triển vọng Vì vậy chủ đề nàygóp phần tìm hiểu nguồn nguyên liệu bán tổng hợp thuốc steroid truyền thống và xu hướng tương lai, mang lại một cái nhìnkhái quát về nguồn nguyên liệu tiềm năng này

1 BÁN TỔNG HỢP THUỐC STEROID TỪ NGUỒN NGUYÊN LIỆU TRUYỀN THỐNG

Trước đây các steroid thường được bán tổng hợp từ các chất có nguồn gốc từ một số dược liệu Đặc biệt là các cây

có chứa saponin steroid đã có sẵn cấu trúc 4 vòng như: Diosgenin, hecogenin, smilagenin… Trong thực tế, để tổng hợphormon steroid, người ta dùng chủ yếu diosgenin vì 90% các dẫn chất steroid dùng làm thuốc đều đi từ nguồn nguyên liệunày Mặc dù diosgenin có gặp trong nhiều họ, nhưng chỉ có họ Dioscoreaceae (chi Dioscorea) thì mới có giá trị thực tế đểdùng làm nguồn nguyên liệu bán tổng hợp thuốc steroid

Saponin steroid có sapogenin cấu trúc bởi khung steroid đặc trưng, có 27 carbon Ứng dụng rộng rãi nhất củasapogenin steroid là sử dụng chúng như nguồn nguyên liệu cơ bản để bán tổng hợp thành các hormon sinh dục vàcorticosteroid Sử dụng phổ biến nhất là diosgenin

Một số saponin steroid được lấy từ dược liệu:

1.1 Diosgenin được lấy chủ yếu từ một số loài Dioscoreathuộc họ Củ nâu Dioscoreaceae

1.1.1 Củ mài gừng

 Tên khoa học:Dioscorea zingiberensis - Họ Củ nâu Dioscoreaceae

 Bộ phận dùng: thân rễ

 Phân bố: huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng , huyện Bảo Lộc, Đơn Dương- Lâm Đồng, huyện Khánh Sơn, Khánh

Vĩnh- Khánh Hoà, Trà My - Quảng Nam, Vĩnh Thạnh, An Lão - Bình Định…

 Thành phần hoá học: Saponin steroid - Diosgenin

1.1.2 Củ nần

 Tên khoa học:Dioscorea hispida - họ Củ nâu Dioscoreaceae

 Bộ phận dùng: rễ củ

 Phân bố: phân bố rải rác các tỉnh vùng núi Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, đặc biệt

là từ Quảng Trị trở vào Độ cao phân bố thường dưới 1000m Là cây cho năng suất cao, dễ trồng

 Thành phần hoá học: diosgenin

1.1.3 Cây tỳ giải

 Tên khoa học:Dioscorea tokoro Họ: Củ nâu Dioscoreaceae

 Bộ phận dùng: Thân rễ

 Thành phần hoá học: Diosgenin và các sapogenin khác Tỷ lệ sapogenin toàn phần 1-1,5%

1.1.4 Dioscorea deltoidea (Dioscorea nhập nội)

 TPHH: diosgenin, hàm lượng 1,3-1,7% (sau khi ủ đạt 2,7-3,5% do một số chất chuyển hóa thànhdiosgenin)

 BPD: thân rễ90% các dẫn chất steroid dùng làm thuốc đều đi từ nguồn nguyên liệu diosgenin và hàng năm trên thế giới cần gần1.000 tấn diosgenin Vì vậy, nguồn nguyên liệu dùng để chiết xuất diosgenin vẫn tiếp tục là một triển vọng lớn của ngànhdược liệu Việt nam

1.1.5 Râu hùm

 Tên khoa học:Tacca chantriere - họ Râu hùm Taccaceae

 Bộ phận dùng: thân rễ,

Trang 12

 Phân bố: chi Tacca ở VN có 6 loài, trog đó râu hùm có phạm vi phân bố rộng rãi nhất Viện Dược liệu, từ 1986, Râu

hùm đã được phát hiện ở 26 tỉnh miền núi và trung du Vùng phân bố cây chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền núi từTây Nguyên trở ra, gồm Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hoà Bình,Sơn La, Tuyên Quang , Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Cạn

1.2 Thành phần hoá học: saponin steroid, khi thuỷ phân cho diosgenin, beta-sitosterol, taccaosid Trong loài râu

hùm Việt Nam, hàm lượng diosgenin chiết được là 1,2-1,8%

1.3 Hecogenin chủ yếu lấy từ dược liệu sau:

1.2.1 Dứa bà (Thùa, Dứa Mỹ)

 Tên khoa học:Agave americana L., họ Thùa (Agavaceae)

 Bộ phận dùng: Lá, rễ.

 Phân bố: Cây có nguồn gốc ở Bắc và Trung Mỹ nay được trồng ở nhiều nơi trong nước ta

 Thành phần hoá học: Sapogenin steroid chủ yếu là hecogenin và tigogenin.  Tỷ lệ hecogenin ở lá dứa Mỹ ở miền

Bắc nước ta vào khoảng 0,03%, còn ở Ấn Độ tỷ lệ này là 0,065% Ngoài ra trong lá có rất nhiều đường khửsaccharose, chất nhầy, vitamin C

1.2.2 Mía dò (Cát lối, Ðọt đắng) - Costus speciosus,họ Mía dò - Costaceae

 Bộ phận dùng: Thân rễ

 Phân bố: Cây của vùng Ấn Ðộ, Malaixia, mọc hoang ở nhiều nơi trong các lùm bụi, trên các gò đất, chỗ đất ẩm mát.

 Thành phần hóa học: chủ yếu là các hydrat cacbon, các chất albuminoid Từ rễ khô chiết được các chất diosgenin,

tigogenin và một số saponin khác

1.3 Solasonin được chiết từ một số loài thuộc họ Cà (Solanaceae)

- Cà Lá xẻ (Solanum laciniatum) được nghiên cứu đưa vào quy trình chiết suất Solasodin

- Cà gai leo-Solanum procumbens, cây mọc hoang nhiều ở các vùng đồng bằng và trung du Toàn thân, nhất là rễ cóchứa diosgenin, solasodinon, solasodin

2 BÁN TỔNG HỢP THUỐC STEROID THEO XU HƯỚNG TƯƠNG LAI

Trong tương lai, cùng với sự phát triển của công nghiệp dược và sự thay đổi nhu cầu thuốc steroid dùng trong điều trịbệnh tật, nhiều dược liệu sẽ được dùng nhiều Có thể kể ra một số dược liệu có chứa steroid sau:

1 Yến mạch (Avena L Họ Lúa - Poaceae) có Avenacosid Khi thủy phân cắt cho steroid nhóm spirostan

2 Bạch Tật Lê hay Thích tật lê, Gai chống, Gai ma vương- Tribulus terrestris, họ Tật Lê (Zygophyllaceae) trong cây

có chứa nhiều diosgenin, hecogenin, tigogenin và pseudodiosgenin… Các saponin này có tác dụng làm tăng sinhtổng hợp testosteron trong cơ thể nam giới và do hàm lượng testosteron trong máu được nâng cao lên 30 – 40%

Ứng dụng công nghệ sinh học: Trong những thập niên gần đây đã có nhiều công trình khoa học áp dụng thành tựu của

công nghệ sinh học để tạo ra các nguồn nguyên liệu mới trong bán tổng hợp steroid

Merkli và cộng sự (1997) đã nuôi cấy rễ tơ của cây Trigonella foenumgraceum bằng cách gây nhiễm chủng A4 của Agrobacterium rhizogenes Các rễ tơ này đã sản xuất Diosgenin Hàm lượng Diosgenin này rất cao, khoảng 0.04% trọng

lượng khô, gần gấp 2 lần so với các rễ không biến nạp chủng A4, 8 tháng tuổi (0.024%)

Hiện nay Viện Hóa học Việt Nam đang sở hữu công nghệ chiết xuất phytosterol từ phụ thải công nghiệp chế biến dầuđậu tương Độ tinh sạch của sản phẩm đạt > 94% Đây là một hướng phát triển rất tốt, tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dàocho công nghệ bán tổng hợp các thuốc steroid

Vì vậy, các steroid trong dược liệu sẽ là một nguồn nguyên liệu quan trọng và có giá trị để bán tổng hợp các thuốcsteroid

Trang 13

Chuyên đề 6: Tanin và nguồn dược liệu chiết xuất tannin ở Việt Nam

Từ xa xưa con người đã biết dùng một loại dịch chiết từ thực vật có khả năng kết hợp với protein của da sống độngvật làm cho da biến thành da thuộc không thối và bền Nhưng khái niệm “tanin” chỉ chính thức được đưa ra vào năm 1796.Đến năm 1878 Pronst đã chiết xuất được tanin và năm 1879 thì chế được tanin tinh khiết Ngày nay, khái niệm tanin đã trởnên rất quen thuộc Trong dược học, vai trò của tanin ngày càng được chú ý do nhóm tanin rất phổ biến trong thiên nhiên và

có hoạt tính dược lực cao Không chỉ với ngành dược, tanin cũng đóng vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp khácnhư thuộc da, mực viết, nhuộm và thời gian gần đây người ta bắt đầu lưu ý đến khả năng thay thế phenol dầu mỏ của tanin

Tanin là các polyphenol có trong thực vật có vị chát được phát hiện dương tính với “thí nghiệm thuộc da” và đượcđịnh lượng dựa vào mức độ hấp phụ trên bột da sống chuẩn Định nghĩa này không bao gồm các chất phenol đơn giản haygặp cùng với tanin như acid gallic, các chất catechin, acid chlorogenic… mặc dù những chất này ở những điều kiện nhấtđịnh có thể cho tủa với gelatin và một phần nào bị giữ trên bột da sống Chúng được gọi là Pseudotanin

Cơ chế thuộc da được giải thích do tanin có nhiều nhóm –OH phenol, tạo nhiều dây nối hydro với các mạchpolypeptide của protein Nếu phân tử tanin càng lớn thì sự liên hợp với protein càng chặt Phân tử lượng tanin phần lớn nằmtrong khoảng 500 – 5000

Trong cây, tanin tham gia vào quá trình trao đổi chất, các quá trình oxy hóa khử và đóng vai trò bảo vệ cho cây dotanin có tính kháng khuẩn

Trong y học, tanin có nhiều tác dụng quan trọng

Tanin kết hợp với protein tạo thành trên màng niêm mạc nên có tác dụng làm thuốc săn da

Tanin cũng là thành phần chính có tác dụng chữa bỏng, vết thương do tính chất của nó khi tác dụng với protein củahuyết tương tạo thành tủa tanat protein Lớp tủa này sau 10 -15 phút se khô thành màng mỏng che phủ kín vết thương, vếtbỏng, ngăn không cho dịch huyết tương thoát ra và ngăn cách vết thương với môi trường bên ngoài, đến khi liền sẹo, màngthuốc tự bong ra

Tanin có tác dụng kháng khuẩn nên dùng làm thuốc súc miệng khi niêm mạc miệng, họng bị viêm loét hoặc ổ loét

do nằm lâu ngày; tanin có thể dùng để chữa tiêu chảy mạn tính

Tanin kết hợp tạo tủa với muối kim loại nặng và với alkaloid nên dùng chữa ngộ độc đường tiêu hóa

Tanin có tác dụng làm đông máu nên dùng đắp lên vết thương cầm máu, chữa trĩ, rò hậu môn

Ngoài ra, tanin còn được dùng trong các ngành khác: sản xuất mực viết, dùng trong kỹ nghệ in; làm thuần khiết rượubia; làm hóa chất thuộc da trong công nghệ thuộc da; dùng nhuộm vải sợi, lưới đánh cá…

Các cây có chứa tanin được phân bố rộng rãi trên khắp cả nước, tất cả các dược liệu có vị chát đều chứa tanin Trongcây, các bộ phận tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời thường có hàm lượng tanin cao Tanin gặp chủ yếu trong thực vật bậccao ở những cây hai lá mầm Các họ hay gặp nhất là sim, hoa hồng, đậu, thông, đinh hương…

Ngũ bội tử có hai loại là Ngũ bội tử Âu và Ngũ bội tử á

Ngũ bội tử Âu là tổ tạo nên của một loài côn trùng cánh màng – Cynips gallae tinctoriae Olivier khi loài côn trùng này chích để đẻ trứng trên chồi cây sên – Quercus lusitanica Lamk var infectoria Olivier Trong quá trình phát triển của sâu non các mô thực vật bao quanh sâu non cũng phát triển to dần tạo thành tổ sâu Ngũ bội tử á do loài sâu Schlechtendalia chinensis Bell tạo nên trên cây muối Rhus chinensis Mill (= Rhus semialata Murr.) Cây muối có mọc ở các tỉnh miền núi

nước ta như Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai Hiện nay ta vẫn phải nhập ngũ bội tử của Trung Quốc

Thành phần chính của Ngũ bội tử là tanin, thuộc loại tanin gallic, hàm lượng tanin từ 50-70%, Các tác dụng chính:chữa viêm ruột mạn tính; giải độc alkaloid và kim loại nặng đường uống; bôi ngoài chữa nhiễm trùng da, vết thương chảymáu Ngoài ra, ngũ bội tử còn là nguyên liệu chính để chế biến tanin tinh khiết, chế mực viết

Tanin trong măng cụt Dược liệu là vỏ quả của cây măng cụt – Garcinia mangostana L., Clusiaceae (Họ Bứa) Vỏ

quả chứa 8% tanin, chất nhựa và các chất mangostin là những dẫn chất xanthon Vỏ măng cụt dùng để chữa lỵ, tiêu chảy.Măng cụt được trồng nhiều ở miền Nam nước ta để lấy quả ăn Nhưng hiện tại nước ta không có công nghệ chế biến măngcụt đóng hộp nên không thu gom được vỏ để làm nguyên liệu chiết xuất tanin

Tanin trong cây ổi Dược liệu là chồi kèm theo 2-4 lá đã mở của cây ổi – Psidium guyava L., Myrtaceae (Họ Sim).

Búp và lá non chứa 8-9% tanin, ngoài ra còn có các flavonoid, acid crataegolic, chất sáp… Trong quả nhất là quả chưa chíncũng có tanin, flavonoid ổi là loại cây ăn quả phổ biến được trồng nhiều trên khắp cả nước Tanin từ ổi được dùng để chữa

đi lỏng, lỵ Trong kháng chiến chống Pháp, cao búp ổi được dùng có kết quả rất tốt Có thể dùng nước sắc để rửa các vếtloét, vết thương

Trong các công trình nghiên cứu khoa học gần đây, các nhà khoa học đã chỉ ra một nguồn nguyên liệu có chứa nhiều

tanin là keo lá tràm (Acacia auriculiformis, Fabaceae), keo tai tượng (Acacia mangium, Fabaceae), cây keo lai giữa keo lá

tràm và keo tai tượng… Đây là nguồn thay thế phenol trong dầu mỏ khi nguồn dầu mỏ đang có xu hướng cạn kiệt Ngoài ra,tanin còn được dùng chế tạo keo dán gỗ tanin formaldehyde thân thiện với môi trường, sẽ giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm,trong khi chất phenol trong sản xuất keo truyền thống lại là khắc tinh của môi trường sống Vỏ keo (chủ yếu là keo lá tràm,keo lai) có chứa tanin thuộc nhóm thủy phân và tanin ngưng tụ với hàm lượng khoảng 20-21% Các loại keo này xuất hiệnnhiều nhất và thích nghi nhất là ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào Đây chủ yếu là đối tượng phục vụ công nghiệp giấy, lấy

gỗ Vỏ các loại cây này thường bị bỏ đi hoặc dùng làm chất đốt Vì vậy, việc chiết tách tanin từ vỏ keo có ý nghĩa hết sức

Trang 14

quan trọng về mặt khoa học và thực tiện nhằm sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong tự nhiện và có khả năng tái tạo đểứng dụng trong công nghiệp

Trong thời gian gần đây, cây xoan chịu hạn Azadirachta indica A Juss, Meliaceae (hay còn gọi là cây Neem, cây

xoan ấn Độ) được đưa vào trồng thành công ở các tỉnh khô hạn, đất cằn như Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh kháccũng đem lại một nguồn nguyên liệu để chiết xuất tanin từ vỏ cây với hàm lượng khoảng 14% Ngoài chiết xuất tanin, câyxoan chịu hạn còn có nhiều tác dụng khác như trồng để lấy bóng mát, chắn gió, phủ đất trống vùng khô hạn, lấy gỗ; quả và ládùng làm thuốc trừ sâu sinh học; thịt quả để chiết xuất làm xà phòng cao cấp cho động vật

Một trong những nguồn nguyên liệu giàu tanin ở nước ta có thể tiến hành khai thác đó là những cây rừng ngập mặn

với diện tích lớn chủ yếu là các cây họ Đước (Rhizophoraceae) Rhizophoraceae Nhưng khi khai thác cây ngập mặn người ta

mới chỉ chú trọng đến việc lấy gỗ thân phục vụ nhu cầu chất đốt và xây dựng còn các phần khác thì bỏ phí Hiện nay, các đềtài nghiên cứu định lượng và chiết xuất tanin trong các cây rừng ngập mặn là rất ít, trong khi nước ta có diện tích rừng ngậpmặn khá lớn, khoảng 20.000ha với thành phần loài tuy không nhiều nhưng số loài cây có khả năng cung cấp tanin có số

lượng rất lớn như: cây đước (Rhizophora stylosa Griff), cây trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong), cây sú

(Aegiceras corniculatum, Myrsinacear), vẹt (Bruguiera gymnorrhiza, Rhizophoraceae), cây mắm (gồm nhiều cây thuộc chi mắm Avicennia, họ mắm Avicenniaceae)…

Ngoài ra, còn có rất nhiều cây có chứa tanin trong tự nhiên như:

- Vỏ cây hồng xiêm - Manilkara zapota, Sapotaceae, chứa tanin với hàm lượng cao, quả xanh chứa tanin nhưng

khi chín thì không còn Hồng xiêm được trồng khắp nước ta làm cây ăn quả

- Quả cây chiêu liêu - Terminalia nigrovenulosa Kiene, Combretaceae chứa 20-40% tanin với acid ellagic, acid

gallic, acid quinic Cây thường mọc hoang ở các rừng thưa, rừng thứ sinh ở miền Nam nước ta

- Quả cây bàng - Terminalia catappa L., Combretaceae chứa khoảng 17% tanin.

- Lá và búp cây sim - Rhodomyrtus tomentosa Wight., Myrtaceae

- Lá và búp cây chè - Camellia sinensis Kuntze, Theaceae Chè được trồng khắp nơi ở nước ta, tập trung nhiều ở

Vĩnh Phú, Hà Giang, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Nam - Đà Nẵng cho tới Đắc Lắc, Lâm Đồng

- Rễ và thân rễ cây đại hoàng - Rheum palmatum L., Polygonuceae

- Nụ hoa đinh hương - Syzigium aromaticum (L.) Merr et Perry, Myrtaceae (6-10% tanin) Cây có trồng ở miền

Trung nhưng ít phát triển

- Vỏ quả và vỏ rễ cây lựu - Punica granatum L., Punicaceae chứa hàm lượng tanin khoảng 2%

- Vỏ rễ cây bạch đàn nam - Macaranga tanaria (L.) Muel – Arg, Eaphorbiaceae Cây mọc trong các rừng bình

nguyên ở nhiều nơi, thường có nhiều ở các tỉnh phía Nam

Nước ta với lợi thế có nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau đem lại nguồn dược liệu vô cùng phong phú, trong đó cónhiều loại dược liệu quý Nhưng hiện nay các doanh nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu cổ truyền phải nhập đến 85% lượngdược liệu, chủ yếu là từ Trung Quốc Điều đáng nói là cây thuốc của ta được buôn bán qua biên giới theo đường khôngchính ngạch với giá rất rẻ, nhưng Việt Nam phải nhập lại dược liệu với giá cao hơn nhiều lần Đi kèm với nó là chất lượngdược liệu nhập về không thể kiểm soát được khiến cho cho các doanh nghiệp vô cùng khó khăn Chính vì thế, việc phát triểnnguồn đông dược trong nước là bước đi cần thiết để có thể phát triển mạnh và toàn diện lĩnh vực y học cổ truyền, tiếp nốiquan điểm “Nam dược trị Nam nhân” của ông Thánh thuốc nam Tuệ Tĩnh từ hơn sáu thế kỷ trước Trong lộ trình chung đó,việc phát triển các nguồn dược liệu có chứa tanin đồng thời với phát triển công nghệ chiết xuất là rất quan trọng Cần cónhiều hơn nữa các nghiên cứu định lượng hàm lượng tanin trong các cây nguyên liệu để xác định được nguồn nguyên liệuchiết xuất tanin chủ yếu, thích hợp với mỗi vùng Đồng thời xây dựng các mô hình để người dân trồng phát triển nguồnnguyên liệu, vừa đem lại giá trị kinh tế cho người dân, vừa đảm bảo nguồn dược liệu ổn định, chất lượng cho ngành dược

Trang 15

Câu 7: Một số cây thuốc được trồng với quy mô lớn cung cấp nguyên liệu làm thuốc ở Việt Nam

Vấn đề quy hoạch và phát triển nguồn nguyên liệu dược liệu cho công nghiệp dược, đảm bảo về số lượng và chất lượng là vấn đề cấpthiết đặt ra Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020

và tầm nhìn đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có đề cập đến phát huy thế mạnh, tiềm năng của Việt Nam để pháttriển sản xuất thuốc từ dược liệu

Một số cây thuốc được trồng với quy mô lớn cung cấp nguyên liệu làm thuốc ở Việt Nam

1 Cây hòe

Tên khoa học: Styphnolobium japonicum (L.) Schott.; Syn Sophora japonica L.), họ Ðậu Fabaceae

Bộ phận dùng: Nụ hoa phơi hay sấy khô

Thành phần hoá học: Flavonid,chủ yếu là Rutin (hơn 20% trong nụ hoa)

Tác dụng và công dụng: cầm máu,giảm tính thấm của mao mạch, làm tăng độ bền thành mạch, điều hòa huyết áp

Một số vùng nguyên liệu và sản lượng

- Tỉnh Thái Bình và 3 huyện phía nam tỉnh Nam Định chiếm 85% sản lượng hòe cả nước Chỉ riêng xã Bách Thuân (Vũ Thư,Thái Bình) diện tích trồng hòe là 200ha Sản lượng đạt 50-60kg/sào với cây trồng trên 3 năm Mỗi năm số lượng cây giốnghòe bán ra ở Thái Bình là 1 triệu cây Ở Thái Bình có 4 nhà máy chiết rutin từ nụ hòa với công suất 5 tấn nụ/ngày/nhà máy,

từ Rutin thô chiết ra được Rutin tinh khiết lên tới 90%

2 Cây kim tiền thảo

Tên KH: Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr, họ đậu Fabaceae.

Bộ phận dùng: Thân, cành mang lá phơi khô.

Thành phần hóa học chính: Saponin, flavonoid.

Công dụng: Chữa sỏi thận, sỏi túi mật, sỏi bàng quang, phù thũng, đái buốt, đái dắt.

Một số vùng nguyên liệu và sản lượng

- Tại thị trấn Hà Lam, (Thăng Bình, Quảng Nam), Kim tiền thảo đã được trồng thử nghiệm đạt năng suất 4 tạ/sào Chínhquyền thị trấn đang tìm đầu ra để phát triển 30-40 ha cây kim tiền thảo

- Tại xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam (Bắc Giang) đã hình thành vùng chuyên canh cây kim tiền thảo Theo thống kê, toàn

xã Nghĩa Phương có gần 40 ha (chiếm gần 1/3 diện tích) trồng kim tiền thảo của cả huyện (125 ha), ước tính mỗi năm thu vềhơn 3 tỷ đồng năm 2006, xã đã mời cán bộ khuyến nông huyện hướng dẫn bà con học cách chăm sóc cây trồng, giờ đây cả

xã đã hình thành vùng chuyên canh cây dược liệu đồng thời là nơi cung ứng giống cho toàn tỉnh Nhiều Công ty dược phẩm

ở Bắc Giang, Hải Dương, Hà Nội, Thái Nguyên… đến thu mua

- Hiện nay trên địa bàn xã Quế Nham, (Tân Yên, Bắc Giang) có trên 10 mẫu cây dược liệu Kim tiền thảo được bà con nôngdân trông xen canh với cây hành vụ chiêm cho thu nhập cao Giá bán kim tiền thảo đạt 12000đ/kg

- Hiện 7/7 thôn của xã Tiền Phong (Yên Dũng, Bắc Giang) đều trồng cây kim tiền thảo với tổng diện tích khoảng

50 ha, sản lượng đạt 600 tấn/năm, trong đó tập trung ở các thôn: Thành Công, Quyết Tiến, Bình An, An Thịnh Từ mô hìnhtrồng kim tiền thảo ở xã Tiền Phong, gần đây, một số xã khác của huyện Yên Dũng như Tân An, Yên Lư, Tiến Dũng, ĐồngViệt, Đồng Phúc, Xuân Phú, Nham Sơn, Đức Giang cũng đưa vào trồng Kim tiền thảo được UBND huyện Yên Dũng xácđịnh là một trong những cây trồng hàng hóa

Trang 16

3 Cây Thanh hao hoa vàng

Tên khoa học: Artemisia annua L Họ Cúc, Asteraceae

Bộ phận dùng: Lá, cành mang lá phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học

- Thành phần có tác dụng sinh học quan trọng là một sesquiterpenlacton tên là artemisinin

Công dụng:

Artemisinin sử dụng trong điều trị các trường hợp sốt rét ác tính

Một số vùng nguyên liệu và sản lượng

- Năm 2014, Toàn xã Vĩnh Ninh (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) có 4 thôn với số dân vào khoảng 1.200 hộ, thì có trên 700 hộtrồng thanh hao, với diện tích 164ha (chiếm trên 70% diện tích nông nghiệp toàn xã) Trong đó, thôn Hậu Lộc có diện tíchtrồng lớn nhất lên đến trên 80ha

- Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn vĩnh phúc, năm 2006 tỉnh có 3364,7ha thanh hao hoa vàng, caohơn 2858,45 ha so với năm 2005 Huyện có diện tích trồng thanh hao hoa vàng lớn nhất là huyện Bình Xuyên với 990,6 ha

- Ngày 8/5/2012 Ban quản lý Dự án giảm nghèo tỉnh Hòa Bình đã ký tắt hợp đồng với Công ty CP Dược phẩm Sao Kim hỗtrợ gieo trồng, tiêu thụ sản phẩm thanh hao hoa vàng cho nông dân 4 huyện Đà Bắc, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thủy Hiện nay

có khoảng 800 hộ nông dân 4 huyện trên tham gia trồng cây thanh hao hoa vàng với diện tích thực tế khoảng 137 ha, ướctính sản lượng 450 tấn Theo tính toán lợi nhuận thu được khi nhận sự hỗ trợ của dự án là 44,8 triệu đồng/ha; đạt 35,9 triệuđồng/ha khi chưa có hỗ trợ

- Theo số liệu từ Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Vĩnh Tường (tỉnh Vình Phúc), nếu như năm 2013, diện tíchtrồng thanh hao hoa vàng trên toàn huyện đạt 153,8 ha thì năm nay (2014), diện tích gieo trồng tăng lên là 165 ha

4 Cây Actisô

Tên khoa học: Cynara scolymus L., họ Cúc Asteraceae

Bộ phận dùng: Lá, hoa, rễ và thân cũng dùng làm thuốc.

Thành phần hóa học:

- Thành phần chính là các acid phenol dẫn xuất từ acid caffeic Ngoài ra còn có các dẫn chất sesquiterpenlacton với hàmlượng tới 5% và các flavonoid 0,35-1% Trong các acid phenol, cynarin được coi là hoạt chất chính

Tác dụng và công dụng: lợi mật, hạ cholesterol

Một số vùng nguyên liệu và sản lượng

- Theo thông tin từ Phòng Kinh tế huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), sản lượng atisô tươi năm 2014 toàn huyện ước đạt 300 tấn,

tăng hơn 200 tấn so với năm 2013

- Theo thông tin từ Phòng Kinh tế huyện Sa Pa (tỉnh Lào Cai), hiện nay (2014), 51 ha Atiso chính vụ trên địa bàn huyện đã

được thu hoạch xong với tổng sản lượng đạt 1.900 tấn Năm 2014, huyện Sa Pa có gần 200 hộ trồng Atiso với diện tích câychính vụ là 51 ha, đạt 102% kế hoạch, tăng 11 ha so với năm trước Trong đó, thị trấn Sa Pa 19 ha; xã Sa Pả 12,5 ha; LaoChải 2,5 ha; Hầu Thào 3,5 ha; Tả Phìn 12,3 ha; Tả Van 1,2 ha Đến thời điểm này, nhân dân đã thu hoạch xong, năng suấtAtiso đạt khoảng 39 - 40 tấn/ha Tổng sản lượng khoảng 1.900 tấn lá tươi, với giá thu mua 2.200 đồng/kg, huyện Sa Pa thuđược gần 4,2 tỷ đồng

Trang 17

- Đến năm 2005, diện tích cây atisô tại Đà Lạt đã đạt khoảng 75 ha Nơi có diện tích và sản lượng atisô cao nhất là địa bànThái Phiên (phường 12), diện tích vào khoảng 35 - 40 ha, chiếm hơn nửa diện tích atisô của thành phố, diện tích còn lại rảirác ở một số nơi trong và ngoài thành phố như: phường 11 (25 ha); xã Xuân Thọ (10 ha) Sản lượng đạt từ 46 - 50 tấn/ 1ha,trong đó rễ và thân lá 16 tấn, lá 24 tấn, bông sáu tấn, đây là sản lượng tương đối cao trong vòng năm năm trở lại đây (đếnnăm 2005)

- Năm 2015, diện tích atiso ở Đà Lạt hiện chỉ còn ở Phường 12, thành phố Đà Lạt với diện tích không quá 50ha

5 Cây quế

Tên khoa học: Cinnamomum spp., họ Long não Lauraceae

Bộ phận dùng: - Quế nhục: Vỏ thân quế

- Quế chi: cành hoặc vỏ cành non

Thành phần hóa học: (chính) tinh dầu

Công dụng: chữa cảm lạnh, sốt không ra mồ hôi, đau bụng trúng thực, phong tê bại, ỉa chảy

Một số vùng nguyên liệu và sản lượng

- Theo báo cáo của sở NN & PTNT tỉnh Yên Bái năm 2012, Cây Quế: Diện tích hiện có 37.898 ha (trong đó diện tích tập trung22.589 ha, phân tán 15.309 ha) Diện tích trồng mới năm 2012 là 3.649,1 ha (tập trung chủ yếu ở Văn Yên, Trấn Yên, Yên Bình,Văn Chấn, ); Sản lượng Quế vỏ khô đạt 3.000 tấn, tinh dầu quế 150 tấn

- Năm 2014, diện tích quế của tỉnh Yên Bái có gần 30.000 ha, tập trung chủ yếu ở một số huyện như Văn Yên (16.000 ha),Trấn Yên (6.600 ha), Văn Chấn (gần 5.000 ha) Định hướng đến năm 2015, diện tích quế toàn tỉnh đạt khoảng 40.000 ha,được quy hoạch ở các huyện Văn Yên (24.700 ha), Trấn Yên (8.500 ha), Văn Chấn (6.600 ha) Sản lượng thu hoạch hàngnăm khoảng 5.000 tấn vỏ quế khô, 150 - 200 tấn tinh dầu Sản lượng xuất khẩu hàng năm từ 1.000 - 2.000 tấn, xuất khẩusang Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan

- Năm 2012, xã Nậm Đét (Bắc Hà, lào Cai), toàn xã có gần 900 ha, trong đó có hơn 600 ha đang cho thu hoạch.  Theo thống

kê năm 2012, người dân trồng quế ở Nậm Đét đã bóc, tỉa  bán ra thị trường hơn 180 tấn quế khô, thu về gần 4 tỷ đồng, đạtsản lượng và doanh thu cao nhất từ trước tới nay.Cũng theo đánh giá của Bí thư Đảng ủy xã Nậm Đét Triệu Kim Vảng, câyquế đã trở thành cây hàng hóa có giá trị cao, đem lại nguồn thu lớn cho người dân và theo định hướng đến năm 2015, toàn xã

Trang 18

CĐ 8 Tài nguyên sinh vật biển dùng làm thuốc

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam biển chiếm 70% diện tích đất đai chứa nhiều loại vi sinh vật mà con người chưa khám phá hết Cho đếnnay các nhà sinh vật học đã phát hiện dược khoảng 300.000 loài thực vật và động vật biển và còn rất nhiều loài chưa biết.Hàng vạn hợp chất thiên nhiên từ biển được phân lập, trong đó nhiều chất đã được làm thuốc và nhiều chất có độc tính rấtcao như tetrodotoxin từ cá nóc, nọc rắn biển, độc tố của con sò

Bờ biển Việt Nam chạy dài trên 3260 km, có nguồn tài nguyên sinh vật biển nhiệt đới rất phong phú và đa dạng về

số lượng và giàu về hàm lượng Hàng năm đem lại nguồn lợi trên 2 triệu tấn trong số hơn 90 triệu tấn hải sản của thế giới,đồng thời cũng là hệ sinh thái rất đặc thù.Môi trường biển cung cấp các hoạt chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học cao, trong

đó nhiều chất cho thấy có đặc điểm cấu trúc chưa hề gặp ở các hợp chất thiên nhiên trên cạn.Các nghiên cứu đã xác địnhđược danh mục 11.000 loài sinh vật biển Việt Nam, bao gồm cả động và thực vật.Từ đó phát triển hướng nghiên cứu tàinguyên sinh vật biển dùng làm thuốc, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng

Chính vì lí do này mà tôi viết chủ đề: “ Tài nguyên sinh vật biển dùng làm thuốc, mỹ phẩm và thực phẩm chứcnăng” với mục tiêu sau:

 Hệ thống một số sinh vật biển (cả thực vật và động vật) được nghiên cứu về phân bố, thành phần hóa học, tácdụng và một số chế phẩm từ những nguồn tài nguyên biển này

 Đưa ra một số đề xuất để việc nghiên cứu và phát triển nguồn tài nguyên sinh vật biển dùng làm thuốc, mỹ phẩm,thực phẩm chức năng được bền vững và lâu dài

I Nội dung: trình bày một số sinh vật biển dùng làm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng:

- Nguồn thực vật biển (Tảo Spirulina, Rong câu chỉ vàng, Rong sụn, Các loại rong biển khác)

- Và nguồn động vật biển (Cá ngựa, Hải sâm, Mẫu lệ, sụn vi cá mập…)

1 Tảo Spirulina :Spirulina là loài trong họ Osciliatoriaceae

1.1 Dinh dưỡng và thành phần hóa học

 Hàm lượng protein trong tảo thuộc loại cao nhất trong các thực phẩm hiện nay, 56-77% trọng lượng khô

 Hàm lượng vitamin rất cao: Cứ 1kg tảo xoắn Spirulina chứa 55 mg vitamin B1, 40 mg vitamin B2, 3mg vitamin B6,

113 mg vitamin PP…

 Hàm lượng khoáng chất có thể thay đổi theo điều kiện nuôi trồng, thông thường sắt là 580-646 mg/kg, Mangan là23-25 mg/kg,…

 Phần lớn chất béo trong Spirulina là axit béo không no

 Hàm lượng carbohydrat khoảng 16.5%

1.2 Tác dụng

 Tảo Spirulina có chứa phong phú các axit amin cần thiết như lysine, threonin… rất quan trọng cho trẻ, đặc biệt làtrẻ thiếu sữa mẹ Hàm lượng khoáng chất và các nguyên tố vi lượng phong phú có thể phòng tránh bệnh thiếu máu do thiếudinh dưỡng một cách hiệu quả

 Trong tảo Spirulina có chứa nhiều loại chất chống lão hóa như β-caroten, vitamin E, có tác dụng chống oxi hóa, làmchậm sự lão hóa của tế bào,đồng thời sắt, canxi có chứa nhiều trong tảo vừa dễ hấp thụ vừa có tác dụng phòng và hỗ trợ điềutrị các bệnh thường gặp ở người già như thiếu máu, xốp xương

 Hỗ trợ trong điều trị bệnh viêm gan, suy gan, bệnh nhân bị cholesterol máu cao, bệnh tiểu đường, loét dạ dày tátràng, bệnh đục thủy tinh thể và suy giảm thị lực, bệnh rụng tóc

 Làm tăng sức đề kháng với môi trường và tăng sức dẻo dai trong vận động

1.3 Nuôi trồng và phát triển Spirulina tại Việt Nam

Tảo spirulina được giáo sư Ripley D.Fox đưa vào Việt Nam từ năm 1985 Từ đó đến nay có nhiều công trình nghiêncứu về việc nuôi trồng và phát triển chúng ở VN

Một số sản phẩm tảo Spirulina trên thị trường Việt Nam

Ngoài các sản phẩm Spirulina nhập từ Thái Lan, Trung Quốc…các sản phẩm được chế biến từ tảo Spirulina tại ViệtNam cũng đã xuất hiện ngày càng nhiều và đa dạng Hiện nay đã có 5 sản phẩm Spirulina của công ty Detech (Viện khoahọc và công nghệ Việt Nam) được Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cấp phép lưu hành trên thị trường.Đó là các sản phẩm:

- Spira@ B: dùng cho người suy dinh dưỡng, người mới ốm dậy cần phục hồi sức khỏe…

- Spir@HA: dùng cho người bị tăng huyết áp, giảm stress vào tăng cường trí nhớ cho người già…

- Spir@CĐ: dùng để tăng sự đề kháng, chống độc, khử gốc tự do…

- Dia-Spir@: dùng cho người bị bệnh đáo tháo đường typ I và typ II

- Spir@Cid: dùng hỗ trợ cho việc phòng và chữa các bệnh ung thư

2. Rong câu chỉ vàng (Gracilaria asiatica = G verrucosa) Là loài rong câu có giá trị kinh tế lớn, phân bố rộng, có

sản lượng lớn nhất hiện nay

2.1. Phân bố: Sống ở môi trường nước lợ

2.2. Công dụng: rong câu chỉ vàng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất aga và các chế phẩm khác

Trang 19

2.3. Đánh giá: Việt Nam có nguồn lợi rong câu chỉ vàng khá lớn nhưng do khai thác trước đây không hợp lí, nguồn lợi

bị giảm sút nghiêm trọng

3 Rong sụn: tên khoa học là Kappaphicus alvarezii, Rong Sụn có đặc tính dòn dễ gẫy khi tươi.

3.1 Thành phần hóa học

 Carrageenan là thành phần hoá học chủ yếu của Rong sụn, chiếm 40 - 55% trọng lượng rong khô

Hàm lượng protein của Rong Sụn dao động trong khoảng 5-22%

 Hàm lượng chất khoáng trung bình trong Rong Sụn khoảng 20% trọng lượng khô thành phần chủ yếu của chấtkhoáng trong rong sụn là: Ca, K, S, và các nguyên tố khác như: Mg, Al, Ba, Sn, Fe, Si …nồng độ iod trong Rong Sụn nhỏhơn nhiều so với rong nâu

 Enzym: Trong rong sụn có thể chiết tách được enzym protease phân giải protein: nhóm enzym papain hay

Trong y dược và dược phẩm.

- Dùng để sản xuất các loại dược phẩm quan trọng Carrageenan là chất nhũ hoá trong ngành dược phẩm để sản xuất các loại

sản phẩm như các loại nhũ tương để thoa lên các vết thương , làm màng bao cho thuốc

- Cũng dựa vào tính chất là carrageenan mang điện tích âm nên được ứng dụng trong việc điều chế thuốc loét dạ dày vàđường ruột

- Ngoài ra sử dụng Rong Sụn có khả năng giảm cholesterol trong máu

4 Cá ngựa: cá biển thuộc chi Hippocampus và họ Syngnathidae

4.1 Phân bố: Chúng được tìm thấy ở những vùng nước nhiệt đới và ôn đới ở khắp nơi trên thế giới Cá ngựa đặc biệt ở

chỗ con đực "mang thai" và sinh con

4.2 Dùng toàn con, mổ bỏ nội tạng, phơi hay sấy khô Khi dùng tẩm rượu sao qua, tán nhỏ Cá ngựa có vị ngọt, hơi mặn,

tính ấm, có tác dụng bổ thận, tráng dương, điều khí, hoạt huyết

4.3 Tác dụng: cho đến nay, việc sử dụng cá ngựa làm thuốc hoàn toàn dựa theo tài liệu cổ và kinh nghiệm dân

gian Các công dụng được ghi lại trong các tài liệu là chữa liệt dương, đái són, suyễn, phụ nữ khó đẻ, … Thường phổ biếncách dùng cá ngựa ngâm rượu chung với những vị thuốc như dâm dương hoắc, câu kỷ tử, cẩu tích, thiên niên kiện, nhân sâm,

….để làm thuốc bổ tăng lực

5 Hải sâm: Hải sâm ở Việt Nam có tên khoa học là Stiehopus sp ở Trung Quốc là Stychopus chloronotus, ở Đại Tây

dương là Cucumaria frondosa.

5.1 Phân bố: là một loại động vật không xương sống, sống ở biển, trên đáy cát hoặc san hô chết Hải sâm phân bố ở

vùng biển Đông châu Phi, Đông Ấn Độ, Tây và Nam Thái Bình Dương Ở nước ta, có khá nhiều ở vùng biển Khánh Hòa,đảo Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu

5.2 Thành phần dinh dưỡng: hải sâm là một trong những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng hết sức phong phú

 Các nhà khoa học Trung Quốc ước tính cứ 100g hải sâm khô có chứa 75,6g protein, cao gấp 5 lần so với thịt lợn nạc

và 3,5 lần so với thịt bò, chỉ số này ở hải sâm Việt Nam là 63,23-67,22g

 Trong hải sâm còn có hàm lượng cao các acid amin quý như lysine, proline, arginine, histadine, acid glutamic,thionine…

 Nhiều nguyên tố vi lượng như P, Cu, Fe, Mn, Zn , đặc biệt là Se - một chất giải độc kỳ diệu

Ngoài ra, trong thành phần hải sâm còn có các loại vitamine như B1, B2, B12, C , hormone testosteron vàprogesteron, các chất có hoạt tính sinh học như lectin, saponin glucoside…

5.3 Tác dụng

5.3.1 Y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc dùng hải sâm để tăng cường khả năng hoạt động sinh dục cho nam

giới.Theo y học cổ truyền, hải sâm vị mặn, tính ấm, vào được kinh Tâm, Tỳ, Thận và Phế, có công dụng bổ thận ích tinh,dưỡng huyết nhuận táo, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tinh huyết hao tổn, hư nhược, liệt dương, di tinh,mộng tinh, tiểu tiện nhiều lần, táo bón

5.3.2. Kết quả nghiên cứu dược lý học hiện đại cho thấy, hải sâm có tác dụng :

- Tăng cường sức đề kháng và nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, ức chế quá trình sinh trưởng và di căn củacác tế bào ung thư;

- Chống mệt mỏi cơ bắp, duy trì trạng thái hoạt động cao;

-Chống lão hóa; tăng cường hoạt động của thần kinh và tăng phản xạ, ổn định tâm lý;

- Bổ sung các yếu tố tạo máu, tăng tuần hoàn máu, cải thiện khả năng hấp thu oxy và chống mệt mỏi cơ tim;

Để đạt được mục đích vừa làm thực phẩm bổ dưỡng, vừa làm thuốc chữa bệnh, người ta thường phối hợp dùng hảisâm với một số thực phẩm hoặc vị thuốc khác chế biến thành các món ăn - bài thuốc rất độc đáo

Mẫu lệ: Ostrea sp., họ Mẫu lệ (Ostreidae)

Bộ phận dùng: Vỏ khô của nhiều loài Hàu (Concha Ostreae).

Thành phần hoá học: Calci carbonat (80-95%), calci phosphat và sulphat, còn có Mg, Al, Fe.

Công dụng: Đánh trống ngực, mất ngủ, chóng mặt, ù tai, chữa đau dạ dày, cơ thể suy nhược, băng huyết, chữa mụn nhọt, lở

loét, tự hãn, đạo hãn, tràng nhạc

Trang 20

- Dầu gan cá mập, squalene và các chất 3-omega

- Các chất 3-omega: DHA(docosahaenoic acid) và EPA (eicosapentaenoic acid): trong gan cá mập và nhiều loại cá biểnkhác sống ở vùng biển sâu và lạnh

Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về sinh vật biển khác:

 Năm 1971, Phan Quốc Kinh cùng các cộng sự đã tiến hành thu bắt rắn biển ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh để bàochế thuốc Đã xác định cao rắn biển (còn gọi là đẻn) có tác dụng chống viêm, trị thấp khớp

 Viện hóa học, viện KH và CN đã nghiên cứu sản xuất chitosan từ vỏ tôm, cua Một số cơ sở đã điều chế glucosamintrị bệnh thấp khớp từ vỏ tôm, cua

 Hàng năm nước ta còn xuất một số lượng lớn rong biển sang Pháp để chế biến aginat và thạch

II Kết luận và bàn luận

Có thể nói rằng Việt Nam với ưu thế vị trí địa lý thích hơp (3 mặt giáp biển) đã đem lại cho nước ta nguồn tài nguyênsinh vật biển phong phú và đa dạng; nhưng việc sử dụng tài nguyên biển của nước ta chưa thật sự hiệu quả Trên thực tếnhững nguồn tài nguyên sinh vật biển có trữ lượng lớn đa phần được khai thác với mục đích xuất khẩu để thu ngoại tệ màchưa bảo tồn hợp lý nguồn tài nguyên này dẫn đến suy kiệt tài nguyên biển, giảm tính đa dạng sinh học của tài nguyên biểnViệt Nam

Mặc dù đã có những thành công nhất định về nghiên cứu nguồn tài nguyên sinh vật biển dùng trong ngành dược, tuynhiên việc nghiên cứu và sản xuất thực phẩm chức năng và thuốc từ biển ở nước ta còn chỉ là mới bước đầu, cần được nhànước và các nhà khoa học, doanh nghiệp đầu tư ở quy mô lớn hơn thì mới có khả năng phát triển.Bên cạnh việc khai thácthiên nhiên, tìm các sản phẩm mới thì phải nghiên cứu nuôi trồng một số sinh vật biển đặc hữu và có giá trị ở nước ta Việcthành lập một viện hay trung tâm nghiên cứu các thuốc và thực phẩm chức năng từ biển ở miền Nam nước ta là một nhu cầucần thiết và hữu dụng

Hi vọng bên cạnh cá, tôm, cua, mực… là nguồn thực phẩm quan trọng trong thực phẩm cho nhân dân ta thì các thuốc

và thực phẩm chức năng từ nguồn sinh vật biển sẽ tạo ra nhiều sản phẩm phòng chống bệnh tật, nâng cao sức khoẻ cộng

đồng cho nhân dân ta mà còn góp phần xuất khẩu mang lại nhiều ngoại tệ cho xã hội

Trang 21

Đ 9: Động vật, khoáng vật, tiềm năng nghiên cứu, phát triển sản phẩm làm thuốc từ động vật khoáng vật

Việt Nam là nước có nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau, bờ biển dài, các loài động vật, sinh vật biển phong phú, có nhiều khoáng sản Từ xa xưa ông cha ta có nhiều kinh nghiệm sử dụng các loài động vật, khoáng vật làm thuốc Các loại động vật, khoáng vật thiên nhiên này từ lâu đã được sử dụng trong các bài thuốc dân gian và mang lại hiệu quả chữa bệnh cao, một số loại động vật, khoáng vật dùng làm thuốc:

I ĐỘNG VẬT DÙNG LÀM THUỐC

1 Cá ngựa

Tên khoa học: Cá ngựa là cá biển thuộc chi Hippocampus và Họ Syngnathidae , bao gồm cả cá chìa vôi

Phân bố:Chúng được tìm thấy ở những vùng nước nhiệt đới và ôn đới ở khắp nơi trên thế giới

Bộ phận dùng : Toàn con bỏ nội tạng

Công dụng:

Theo YHCT: Chữa liệt dương, đái són , suyễn, phụ nữ khó đẻ, đinh sang , thũng độc,…Thường dùng cá ngựa làm thuốc bổ

có tác dụng gây hưng phấn ,kích thích tình dục, làm thuốc chữa đau bụng , giúp phụ nữ đẻ khó, thai ra khó hoặc chậm có con

Thường phổ biến dùng cá ngựa chung với những vị thuốc như dâm dương hoắc, câu kỳ tử, cẩu tích ,thiên niên kiện, nhân sâm … để làm thuốc bổ tăng lực

Đánh giá: Ở Việt Nam , từ năm 1990, cá ngựa đã được viện hải dương học Nha Trang nghiên cứu và từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm có khả năng phát triển ra cộng đồng

2 Hải sâm

Tên khoa học: Stichopus japonicus selenka

Phân bố: Ở nước ta, có khá nhiều ở vùng biển Khánh Hòa (Hòn Ngói , Hòn Đôn, Hòn Tai , Hòn Tai , Hòn Rùa ,Hòn Tre, Hòn Miễu…),đảo Trường Sa , Côn Đảo , Phú Quốc , Thổ Chu…

Thành phần dinh dưỡng:

- Protein: 100g hải sâm khô có chứa 63,23-67,22 protein

- hàm lượng cao các acid amin quý như lysin, prolin, arginin, histadin, acid glutamic, tyrosin…

- Hàm lượng cao các nguyên tố vi lượng như P, Cu,Fe,Mn,Zn…đặc biệt Se là 1 chất giải độc, làm vô hiệu hóa các kim loai nặng đi vào cơ thể qua đường ăn uống như Pb , Hg để thải ra nước tiểu

- Vitamin như B1, B12,B2,C…,hormon testosteron và progesteron các chất có hoạt tính sinh học như lectin, saponin

glucosid, tyrong đó có hai loai saponin là Rg (gây hưng phấn thần kinh, chống mệt mỏi và tăng cường thể lực) và Rh (có tác dụng ức chế tế bào ung thư)

Tác dụng:

Theo y học cổ truyền Hải sâm thường dược sử dụng để chữa các bệnh như tinh huyết hao tổn, hư nhược ,liệt dương, di tinh ,mộng tinh, tiểu tiện nhiều lần ,táo bón, kháng ung thư, hỗ trợ cho các trường hợp chồng ung thư…Bởi vậy kể từ xa xưa hải sâm đã được coi như một trong “tứ đại danh thái” và được mệnh danh là “nhân sâm của biển cả”

3.Sá sùng

Tên khác: Địa sâm, Sá trùng, Sâm đất, Nhân sâm biển, Giun biển, Bi bi,Con cạp đất, Đồn đột, Con chặt khoai.

Tên khoa học: Sipunculus nudus L, họ Sâu đất (Sipunculidae) Sá sùng thường tập trung ở bãi biển, dưới tán rừng ngập mặn

ở các tỉnh dọc bờ biển nước ta

Bộ phận dung: Cả con, bỏ đất cát trong bụng.

Trang 22

Thành phần hóa học chính: Thịt sá sùng có hàm lượng protid cao, hương vị thơm ngon, được sử dụng làm thực phẩm và

thuốc bổ dưỡng rất phổ biến trong cư dân vùng biển Sá sùng thường dùng dưới dạng món ăn, vị thuốc như nấu cháo, nấu canh, nướng, …

Công dụng: Dùng để chữa các chứng bệnh âm hư, ra mồ hôi trộm, tức ngực, lao phổi, ho, đờm nhiều, đái dầm, sưng răng

lợi, …

4.VỌNG NGUYỆT SA

Xếp loại: Động vật

Tên vị thuốc: Vọng nguyệt sa

Tên La Tinh: Lepus sinensis Gray

Tên khác: Sơn thỏ thi

Nguồn gốc: Phân khô của thỏ Hoa Nam, động vật họ thỏ rừng

Thu nhặt chế biến: Suốt năm đều có thể thu góp, nhưng mùa thu, đông thì nhiều, sau khi thu góp, bỏ hết cỏ tạp, bùn, cát,

sấy khô

Tính chất vị thuốc: Vị thuốc hình viên tròn, hơi dẹt, dài 0,6-1,5cm, cao 0,5-1cm mặt ngoài thô ráp, có cellulose, trong và

ngoài đều có màu xám Thể nhẹ, chất mềm, dễ vỡ vụn thành bã cỏ Không mùi, vị hơi đắng mà cay Dược liệu tốt thì nguyênvẹn, không vỡ, sắc vàng

Tính vị công dụng: Cay, bình, vào các kinh phế, can Sáng mắt, sát trùng, giải độc Dùng khi mắt mờ kéo màng, cam sang,

trĩ Liều thường dùng 3 - 6 gam

5.BẠCH BỐI XỈ

Xếp loại: Động vật.

Tên vị thuốc: Bạch bối xỉ.

Tên La Tinh: Monetaria annulus Linnaeus.

Nguồn gốc: Vị thuốc này là vỏ sò vòng nhăn làm tiền cổ (Hoàn Văn Hóa Bối).

Thu nhặt chế biến: Suốt năm lúc nào cũng thu nhặt được, sau khi thu tập để cho chết, để thịt thối rữa sau đó lấy nước dội

rửa hết thịt nát, lấy vỏ sò đen sấy khô

Tính chất vị thuốc: Vị thuốc này trông giống hình trứng, vỏ dài 1,2 – 2,5 cm, chiều rộng ước 2 cm, cao ước 1,5 cm, vùng

giữa phần lưng nổi lên, chung quanh hơi thấp bằng, mặt trước như sứ, màu vàng hoặc màu xám trắng, phần lưng hình bồ dụccuộn xoắn có màu vàng chanh Hai bên miệng sò đều cuộn vào trong, miệng sò mở toác có 10-14 đôi khía răng Không mùi, không vị Dược liệu tốt thì sắc trắng, bóng bảy, nhỏ con

Tính vị công dụng: Mặn, bình Vào kinh can Thanh tâm an thần, bình can minh mục Dùng khi run sợ, tâm phiền mất ngủ,

trẻ nhỏ ban sởi, mắt đỏ kéo màng Liều lượng thường dùng 6-12g

6.CHIM SẺ

Tên khác: Rặt rặt, Sẻ nhà, Tước điểu, Ma tước.

Tên khoa học: Passer montanus malaccensis Dubois, Passer domesticus L., họ Sẻ (Ploceidae) Chim sẻ có khắp nơi trong

nước ta

Bộ phận dùng: Thịt (Tước nhục), Tiết (Tước huyết), Trứng (Tước noãn), Phân (Ma tước phấn, thnah đan, thanh đơn, Tước

tô, Hùng tước thủy, Hùng tước xí) Phân chim sẻ có màu trăng, hình giống nụ Đinh hương, được gọi là Bạch đinh hương –

Faeces Paserum

Thành phần hóa học chính: Protid, chất khoáng.

Công dụng: Thịt chim sẻ vị ngọt mặn, tính ấm, không độc, có công dụng bổ ngũ tạng, tráng dương, ích khí, được dùng để

chữa suy nhược cơ thể, tạng phủ hư tổn, gầy yếu khó thở …

Trang 23

7.ONG MẬT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ ONG MẬT

Tên khác: Mật ong, Phong mật, Sáp ong, Hoàng lạp, Bạch lạp, Phấn hoa, Sữa ong chúa.

Tên khoa học: Apis cerana Fabricius (Ong mật gốc Á), Apis melifera L (Ong mật gốc Âu), Apis ligustica Spinola, họ Ong

mật (Apidae) Ong mật phát triển hoang dã và được nuôi ở nhiều địa phương nước ta

Mô tả: Ong mật sống thành đàn, một đàn ong có hàng nghìn con, gồm một ong chúa, vài trăm ong đực và hàng nghìn ong

thợ Ong thợ là ong cái nhưng không có khả năng sinh sản, làm nhiệm vụ canh gác tổ, làm tổ, bay đi lấy mật hoa, nhụy hoa, chăm sóc ong chúa và nuôi ong non.Tổ ong bằng sáp có nhiều ô hình sáu cạnh liền kề nhau Ong có bộ cánh kép, mỏng và trong suốt màu vàng mơ Đầu miệng có lưỡi dài hút mật hoa, có hai râu dài để định hướng phía Chân ong có nhiều đốt và lông Thân ong có bốn, năm vòng ngang Phía đuôi ong có ngòi, mang nộc độc

Bộ phận dùng: Nhiều sản phẩm từ Ong mật được sử dụng làm thuốc như mật ong, sáp, phấn hoa, sữa ong chúa,

Công dụng: Dùng cho người ho nhiều, táo bón, đau dạ dày, viêm miệng, vết bỏng, giải độc

II KHOÁNG VẬT DÙNG LÀM THUỐC

1.THẠCH CAO

Xếp loại: Khoáng vật và hóa thạch

Tên vị thuốc: Thạch cao

Nguồn gốc: Là quặng muối sulfat, thạch cao thuộc nhóm Ngạnh thạch cao, chủ yếu chứa calci sulfat ngậm nước

Thu nhặt chế biến: Quanh năm có thể đào lấy thạch cao từ quặng, loại bỏ hết đất cát, đá tạp

Tính chất vị thuốc: Là khối dài hoặc khối phẳng, màu trắng hoặc trắng xám, có cái nửa trong suốt Dễ đứt gãy theo chiều

dọc, mặt bẻ có vân như sợi, óng ánh như tơ tằm Thể nặng, chất mềm Có thể dùng móng tay khía thành bột Không mùi, vị nhạt Loại khối màu trắng, nửa trong suốt là tốt

Tính vị công dụng: Ngọt, cay, đại hàn Vào 2 kinh phế, vị Dùng sống để thanh nhiệt giáng hoả, trừ phiến khỏi khát Dùng

cho người có bệnh nhiệt ngoại cảm, miệng khô khát bứt rứt, phế nhiệt ho suyễn, vị hoả quá mạnh, đau đầu, đau răng Thạch cao nung có tác dụng thu thấp sinh cơ, chữa lở loét, cầm máu Liều thạch cao sống thường dùng để uống 15-60 gam, sắc trước Thạch cao nung dùng ngoài, nghiền bột rắc đắp chỗ đau

2.CHU SA

Xếp loại: Khoáng vật và hóa thạch

Tên vị thuốc: Chu sa

Tên khác: Thần sa, Đan sa

Nguồn gốc: Là đá khoáng thiên nhiên thần sa Chủ yếu chứa thuỷ ngân sulfur

Thu nhặt chế biến: Khai thác quanh năm Đào lên, dùng nước rửa sạch tạp chất, dùng nam châm hút hết chất sắt

Tính chất vị thuốc: Thứ chu sa dạng phiến mỏng hình thù không nhất định gọi là kính diện sa, thứ hình khối to nhỏ không

đều gọi là đậu biện sa, thứ hạt nhỏ gọi là chu bảo sa, cũng có dạng bột Bề mặt đều đỏ tối hoặc đỏ tươi, óng ánh như thuỷ tinh Thể nặng chất giòn, dễ vụn, không mùi vị nhạt Loại hạt to, màu đỏ tươi, óng ánh, chất giòn, dễ vụn, không có tạp chất

đá, cát là tốt

Tính vị công dụng: Ngọt, hơi hàn Vào kinh tâm, có độc Thanh tâm chấn kinh, an thần giải độc Dùng vào chứng tim rung

dễ giật, mất ngủ mộng mị, điện giảm phát cuồng Trẻ nhỏ kinh phong, nhìn mờ hoa mắt, miệng lở, họng đau, sang thương, thũng độc Liều thường dùng 0,3-1,5g, dùng ngoài vừa đủ Thường phối hợp với các thuốc khác nghiền bột bôi chỗ đau Không nên dùng lâu thuốc này Dùng nhiều đề phòng ngộ độc mạn tính thủy ngân tác hại đến chức năng gan thận, nên dùng cẩn thận

3.THẠCH CAO

Xếp loại: Khoáng vật và hóa thạch

Trang 24

Tên vị thuốc: Thạch cao

Nguồn gốc: Là quặng muối sulfat, thạch cao thuộc nhóm Ngạnh thạch cao, chủ yếu chứa calci sulfat ngậm nước

Thu nhặt chế biến: Quanh năm có thể đào lấy thạch cao từ quặng, loại bỏ hết đất cát, đá tạp

Tính chất vị thuốc: Là khối dài hoặc khối phẳng, màu trắng hoặc trắng xám, có cái nửa trong suốt Dễ đứt gãy theo chiều

dọc, mặt bẻ có vân như sợi, óng ánh như tơ tằm Thể nặng, chất mềm Có thể dùng móng tay khía thành bột Không mùi, vị nhạt Loại khối màu trắng, nửa trong suốt là tốt

Tính vị công dụng: Ngọt, cay, đại hàn Vào 2 kinh phế, vị Dùng sống để thanh nhiệt giáng hoả, trừ phiến khỏi khát Dùng

cho người có bệnh nhiệt ngoại cảm, miệng khô khát bứt rứt, phế nhiệt ho suyễn, vị hoả quá mạnh, đau đầu, đau răng Thạch cao nung có tác dụng thu thấp sinh cơ, chữa lở loét, cầm máu Liều thạch cao sống thường dùng để uống 15-60 gam, sắc trước Thạch cao nung dùng ngoài, nghiền bột rắc đắp chỗ đau

4.THẠCH GIẢI

Xếp loại: Khoáng vật và hóa thạch

Tên vị thuốc: Thạch giải (cua đá)

Tên La Tinh: Telphusa

Nguồn gốc: Là hóa thạch cổ sinh của nhiều động vật thuộc chi Thạch giải, họ Cung giải, loại Tiết chi Chủ yếu chứa calci

carbonat

Thu nhặt chế biến: Quanh năm có thể mò lấy, rửa sạch đất cát, phơi khô

Tính chất vị thuốc: Hình con cua, có con còn đủ chân móng rõ ràng, nhưng phần lớn là thân cua, hoặc một bên hiện rõ hình

con cua, một bên nhẵn như màu đất Màu từ nâu đất đến nâu sẫm Còn vết mai cua rõ ràng, bị gặm thành 4 cạnh tù, góc cạnh tròn không có răng cưa hoặc hơi có răng cưa Thể nặng, chất rắn như đá, đập vào nhau kêu thành tiếng, đập vỡ thì mặt vỡ hơi

có dạng hạt, màu xanh xám Không mùi, vị hơi mặn, hơi có cảm giác dính lưỡi Loại có hình như con cua, chất cứng màu xanh là tốt

Tính vị công dụng: Mặn, hàn Vào 2 kinh can, đởm Thanh can can sáng mắt tiểu sưng giải độc Dùng khi mắt đỏ kéo

màng, tiểu tiện khó, xích bạch đới hạ, ung nhọt sưng độc Liều thường dùng 5-15 gam Mài nước uống hoặc cho vào hoàn, tán Dùng ngoài lượng vừa đủ, thuỷ phi thành bột mịn nhỏ mắt hoặc trộn bôi vào chỗ đau

Tuy nước ta có nguồn tài nguyên khoáng vật, động vật phong phú, đa dạng nhưng chưa được khai thác hết hiệu quả chữa bệnh của chúng và trong các loài động vật, khoáng vật làm thuốc, hiện nay có nhiều loại bị khai thác quá mức trở lên hiếm, được đưa vào sách đỏ Vì vậy chúng ta cần nghiên cứu và khai thác hợp lý hơn, bên cạnh đó cần xây dựng kế hoạch nuôi, phát triển để sử dụng Khoáng vật lâu nay vẫn được các thầy thuốc y học cổ truyền sử dụng làm thuốc, mặc dù nước ta rất giàu khoáng sản nhưng những khoáng vật này phần lớn đều phải nhập từ các nước khác

Trang 25

CĐ10:Những dược liệu có thể sử dụng làm nguồn nguyên liệu chiết xuất các chất tinh khiết làm thuốc ở VN.

- Việc chiết xuất ra hoạt chất tinh khiết là một xu hướng của YHCT hiện đại

- Nước ta có nguồn dược liệu phong phú, là điều kiện để có thể cung cấp nguồn nguyên liệu chiết xuất ra các hoạt chấttinh khiết làm thuốc

- Trong đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn2007-2015 và tầm nhìn đến năm 2020” đã xác định: Xây dựng cơ sở chiết xuất hoạt chất tinh khiết từ dược liệu đểđảm bảo 20% nhu cầu hoạt chất cho sản xuất thuốc vào năm 2015 và 30% vào năm 2020.Cũng trong năm 2007, Thủtướng đã có quyết định số 43 và 61 về phát triển công nghiệp dược, trong đó có đề cập đến các vấn đề tăng cườngđầu tư phát triển các cơ sở chiết xuất tinh khiết các hoạt chất từ dược liệu

- Trên thực tế, thị trường cũng cõ nhiều sản phẩm có nguồn gốc chiết xuất từ Dược liệu

Có thể kể đến các dược liệu như sau:

1.Thanh hao hoa vàng

Tên khoa học: Artemisia annua L., Học cúc (Asteraceae)

Phân bố: Mọc hoang và được trồng ở Miền Bắc và ở Lâm Đồng

Thanh hao hao vàng có tác dụng chữa sốt rét, sốt, ỉa chảy, đau răng,…

Phát triển: cây thanh hao hoa vàng phát triển nhanh chống trên phạm vi toàn tỉnh Vĩnh Phúc Hiện nay tỉnh đã trồng đượcgần 200ha cây thanh hao hoa vàng, trong đó huyện Lập thạch trồng được 35ha, huyện Mê Linh trồng 50ha, huyện BìnhXuyên trồng được 52ha,… Theo kinh nghiệm của bà con nông dân ở đây thì cây thanh hao hoa vàng chỉ trồng được một vụtrong năm, sau 4 tháng sẽ cho thu hoạch Thời gian trồng bắt đầu từ tháng 1 là tốt nhất, bởi đây là loại cây ưa lạnh, hợp vớikhí hậu vụ đông xuân nước ta Cách chăm bón cây thanh hao hoa vàng cũng không đến nỗi khó Ngoài lượng phân chuồngbón lót lúc mới trồng, trong quá trình cây phát triển, bà con cũng chăm sóc tương tự như là lạc, đỗ

Tiềm năng: vừa phải

Quan điểm: Cây thanh hoa hao vàng chủ yếu được trồng để xuất khẩu sang Trung Quốc, dùng ở Việt Nam rất ít bởi số lượngbệnh nhân sốt rét rất ít Tuy nhiên nhu cầu xuất khẩu không ổn định, phụ thuộc nhiều yếu tố, nguy cơ rủi ro cao Vì vậykhông nên trồng đại trà, ồ ạt, cần có quy hoạch cụ thể

2 Hòe

Tên khoa học: Sophora japonica, họ Đậu Fabaceae

Phân bố: Được trồng nhiếu nhất ở tỉnh Thái Bình

Bộ phận dùng: Hoa chưa nở (nụ hoa), Dược điển quy định hoa nở lẫn vào không quá 10%

Thành phần hóa học: Chủ yếu là rutin, hàm lượng trong nụ hoa có thể đạt 28%, Dược điển quy định ít nhất 20% Ngoài ra lá

và vỏ quả cũng có chứa rutin

Tác dụng: Rutin có tác dụng làm bền thành mạch, giảm tính thấm của mao mạch, tăng sự bền vững của hồng cầu, hạ thấptrương lực cơ nhẵn, chống co thắt

Tiềm năng: lớn

Hiện nay tỉnh Thái Bình có hai công ty chiết xuất Rutin với công xuất tương đối lớn đó là:

+ Công ty cổ phần nông sản Đạt loan: 1 năm thu hoạch khoảng 10.000 tấn nguyên liệu, năng lực sản xuất khoảng 800 tấnRutin 95%/ năm Thị trường chủ yếu là xuất khẩu sang Trung Quốc và Nhật bản

+ Công ty cổ phần thương mại Dược vật tư y tế Khải Hà: sản lượng 50 tấn/ năm

Quan điểm: Hiện nay trên thị trường, rutin có thể kết hợp với các dược chất khác để sản xuất thành các dạng thuốc hỗn hợp (

ví dụ: Vitamin C, alcaloid dừa cạn, …) tuy nhiên ngoài thành phần rutin, trong nụ hoa hòe còn nhiều flavonoid khác nữa (ví

dụ quercetin) Do đó nên sử dụng trực tiếp, tránh mất các hoạt chất khác, cần nghiên cứu dạng sử dụng thích hợp Ví dụ: chethuốc

3 Bạc hà

Tên khoa học: Mentha arvensis L., Họ Hoa môi Lamiaceae

Phân bố: Được trồng khắp nơi

Trang 26

Quan điểm: Trước đây nước ta trồng bạc hà chủ yếu bán cho các nước XHCN, trồng được bao nhiêu bán bấy nhiêu,cung không đủ cầu Tuy nhiên, hiện nay giống bạc hà Á được trồng ở Việt Nam hiện nay đã bị thoái hóa (bạc hà hóahung) Nên nếu xác định phát triển sản xuất cây bạc hà thì cần giải bài toán về nguyên liệu, giống, vị trí trồng Hơn nữaMenthol tự nhiên giá rất đắt, trong khi menthol tổng hợp giá rẻ hơn nhiều cần phải tính toán về bài toán kinh tế.

4 Cây vàng đắng

Tên khoa học: Coscinium fenestratum (Gaertn) Colebr, họ Tiết dê Menispermaceae

Phân bố: Mọc hoang ở vùng núi miền đông Nam Bộ, Trung Bộ, Tây nguyên

Bộ phận dùng: Thân và rễ

Thành phần hóa học: Berberin 3-3,5%, ngoài ra còn có palmatin, jatrorizin

Tác dụng:

- Có tác dụng làm thuốc hạ nhiệt, chữa sốt rét, lỵ, ỉa chảy, đau mắt dưới dạng thuốc bột hay viên

- Dùng làm nguyên liệu chiết berberin để chữa ỉa chảy, ly, đau mắt, bệnh về gan mật, ăn uống khó tiêu

Quan điêm:

- Vàng đắng là vị thuốc có thể sử dụng độc vị, mỗi lần 5-10g/lần duy nhất

- Trong khi nếu sử dụng berberin thông thường 400mg/ 1 ngày tương đương với khoảng 30g dược liệu

- Ngoài berberin, trong vàng đắng còn chứa cả palmatin ( quý hơn berberin) lại bị loại đi trong quá trình chiết xuất.àNên sử dụng dạng bột dược liệu hoặc chiết xuất toàn phần

5 Bình vôi

Tên khoa học: Stephania rotunda Lour., họ Tiết dê Menispermaceae

Phân bố: Sống ở các núi đá vôi như ở Ninh Bình,…

Thành phần hóa học: Rotundin,

Tác dụng : an thần, gây ngũ

- Bình vôi dùng để chiết xuất Rotundin làm thuốc chữa mất ngũ Trên thị trường có chế phẩm Rotunda dùng chữabệnh mất ngũ

- Người dân hay lấy củ thái lát, ngâm rượu chữa hen, ho lao, lỵ, sốt, đau dạ dày

Quan điểm: trong Quyết định số 61/2007/QĐ-TTg ngày 07/5/2007 của Chính phủ về việc phê duyệt “Chương trìnhnghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia phát triển công nghệ hoá dược đến năm 2020”ghi rõ“Nghiên cứutrồng tập trung củ bình vôi, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghệ chiết xuất”

Trang 27

CĐ 1 1 : Sử dụng công nghệ Nano trong các chế phẩm nguồn gốc dược liệu

Việc ứng dụng công nghệ Nano trong nghiên cứu và sản xuất các loại dược phẩm là mộtlĩnh vực khá mới mẻ đối với ngành y dược học Việt Nam Thực tế không thể phủ định được những ưu điểm vượt trội màcông nghệ này chứng tỏ được tại nhiều quốc gia có nền y dược học tiên tiến trên thế giới

  Có lẽ việc áp dụng công nghệ này để sản xuất dược phẩm trong nước hiện nay còn hạn chế cho nên nhiều người vẫn còn lạlẫm với nó Thực ra công nghệ Nano từ lâu đã được xác định là một trong những chiến lược công nghệ mũi nhọn trong th ờigian gần đây , là một trong những bước tiến mạnh mẽ, có hiệu quả trong y dược

1 Giới thiệu chung về công nghệ Nano

Công nghệ Nano là ngành khoa học kỹ thuật sáng tạo và sử dụng các vật liệu, thiết bị và các hệ thống thông qua việc kiểm soát vật chất ở phạm vi kích thước từ 1 đến 150 nanomét (1 nanomet bằng 1 phần tỷ mét) Hiện tại, công nghệ nano được ứng dụng trong một loạt các lĩnh vực khác nhau từ in ấn, vật liệu tới các lĩnh vực cơ khí, tự động, công nghệ sinh học

và có độ hoà tan cao, ít hút ẩm, nói chung là thể hiện đặc tính lý hoá hoàn toàn mới

 Trong ngành dược, các sản phẩm ứng dụng công nghệ Nano có thể được phân thành 2 lĩnh vực chính: Các thuốc được tạo rabởi công nghệ Nano (Nanoengineered Drugs) và Hệ dẫn thuốc Nano (Nano Carriers)

Tăng độ hoà tan và tăng sinh khả dụng của các phân tử thuốc (các vật liệu dưới dạng tinh thể nano tăng sinh khả dụng đường uống)

Phát triển các dạng uống khác nhau (ví dụ hỗn dịch nano dùng cho đường tiêm)

Khai thác các đường dùng khác nhau (qua mũi, mắt tạo nhiều tiện lợi cho bệnh nhân)

Nanocarriers và hệ vận chuyển thuốc liposomes

Công nghệ Nano đã tạo ra hàng loạt hệ vật chất với kích thước từ vài nanomet tới 250 nanomet được sử dụng để vận chuyển dược chất đến các bộ phận mong muốn trong cơ thể với liều thích hợp và theo đúng thời gian mong muốn, nói tóm lại, đảm bảo được 3 yếu tố tạo nên tính an toàn và hiệu quả của thuốc: đúng nơi, đúng lúc và đúng liều Các dược chất hoặc các tác nhân chẩn đoán sẽ được đưa vào bên trong, liên kết hoá học hoặc gắn vào bề mặt của các tiểu phân nano Hệ vận chuyển thuốc tiêu biểu có nhiều triển vọng nhất là dạng thuốc liposome

Liposomes là những tiểu phân nhân tạo hình cầu có kích thước nano được cấu tạo cơ bản từ các thành phần phospholipid tự nhiên và cholesterol Liposome đã được xem như là hệ vận chuyển thuốc lý tưởng, một “magic bullet” (viên đạn thần kỳ), cókhả năng định vị và phá huỷ các mô bị bệnh mà không gây hại cho các mô khoẻ

Liposome có 3 khả năng đặc trưng:

- Có thể vận chuyển được các dược chất hòa tan trong nước cũng như các dược chất hoà tan trong dầu Các tiểu phân

liposome đồng thời còn có tác dụng bảo vệ và phóng thích một cách có kiểm soát các hoạt chất Do vậy liposome có thể thayđổi hoàn toàn các đặc điểm dược động học của hoạt chất Cấu trúc màng phospholipid của liposome đồng thời cũng là cấu trúc màng sinh học của cơ thể sống, do vậy liposome sẽ là chế phẩm y học có tính an toàn cao Liposome có khả năng được thiết kế để tăng nồng độ thuốc ở những mô đặc biệt, được coi là dạng thuốc “đích” (targeting drugs) lý tưởng Nó còn tạo ra nhiều thế hệ vận chuyển thuốc chọn lọc như hệ liposome miễn dịch và liposome nhạy cảm với nhiệt độ và độ pH

Trang 28

Hai chế phẩm tiêu biểu là liposome chứa Amphotericin B, một hoạt chất chống nấm phổ rộng và liposome chứa Doxorubicin, một chất chống ung thư truyền thống nhưng còn nhiều hạn chế do độc tính lớn.

Theo cơ chế thực bào, các tiểu phân liposome sẽ xâm nhập vào bên trong tế bào bị bệnh, giải phóng hoạt chất và tiêu diệt vi sinh vật Ngoài tác dụng tăng cường nồng độ thuốc bên trong các tế bào bị bệnh, chế phẩm liposome còn có tác dụng làm giảm độc tính đối với thận và và giảm tiết cytokin Các kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy chỉ với 1mg/kg/ngày, chế phẩm liposome chứa Amphotericin B đã mang lại hiệu quả điều trị thành công trên 91,1% bệnh nhân bị nấm hệ thống (invasive, sistem fungus infection) hoặc Leishmaiasis o với hiệu quả 46% khi sử dụng 4 - 6mg/kg/ngày chế phẩm

amphotericin B thông thường(Amphocil/Amphotec) Hơn nữa, có đến 34-60% bệnh nhân sử dụng chế phẩm amphotericin thông thường phải chịu các độc tính đối với thận

Các sản phẩm tiêu biểu cho liposome thế hệ thứ hai là Doxorubicin Các tiểu phân này có kích thước trung bình 100nm và có cấu tạo bên ngoài bởi lớp polyethylene glycol Lớp polymer này có tác dụng ngăn cản sự tiếp xúc giữa tiểu phân liposome và các thành phần huyết tương có tác dụng opsonin, nhờ đó giảm tác dụng thực bào Do vậy, các chế phẩm liposome này có thời gian bán huỷ kéo dài tới 71,5h so với thời gian 10 phút cho dạng thuốc Doxorubicin thông thường Các kết quả nghiên cứu trên bệnh nhân Kaposi’s Sarcoma (Ựng thư da) đã ghi nhận đáp ứng lâm sàng tích cực ở 43,2% bệnh nhân, so với tỷ lệ đáp ứng 24,5% khi điều trị kết hợp ABV (Doxorubicin -Bleomycin - Vincristin) §áng lưu ý là chỉ có 10,8% số bệnh nhân sử dụng chế phẩm này xuất hiện các phản ứng không mong muốn, tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị vĩnh viễn là 2% So với Doxorubicin, chế phẩm này còn hạn chế rất nhiều các độc tính đối với tim, suy tuỷ và dụng tóc (không có trường hợp nào bị suy tim xung huyết, 1% bệnh nhân bị ngộ độc huyết ở mức 4,7% bệnh nhân bị rụng tóc) Trong khi đó, nếu sử dụng Doxorubicin thông thường có đến 48/255 bệnh nhân bị độc tính tim và trong số này có 10 trường hợp bị suy timxung huyết, 54% các trường hợp bị rụng tóc

Chính vì vậy, nếu bệnh nhân sử dụng các chế phẩm này, ngoài hiệu quả về mặt điều trị, bệnh nhân còn có thể tránhđược những biến chứng khác rất nghiêm trọng Ngoài ra, xét về hiệu quả kinh tế, việc sử dụng các chế phẩm liposome sẽ giảm các chi phí phải mua những loại thuốc điều trị các biến chứng kèm theo §iều này không những mang lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn mang lại lợi ích cho những nhà quản lý bảo hiểm Quan trọng hơn, người bệnh ung thư sẽ có một cuộc sống chất lượng hơn nhiều

Tóm lại, liposome nói riêng, và các dược phẩm công nghệ Nano, và rộng hơn là các sản phẩm công nghệ Nano sử dụng trong chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị bệnh nâng cao chất lượng sống con người không những đang góp phần không nhỏ cho chất lượng cuộc sống con người mà còn tạo ra những chuyển biến lớn cho ngành sản xuất

Liposome có 3 khả năng đặc trưng: 

     - Có thể vận chuyển được các dược chất hoà tan trong nước (được giữ ở các khoang nước bên trong) cũng như các dược chất hoà tan trong dầu (được cấu tạo trong các lớp màng kép phospholipid) Các tiểu phân liposome đồng thời còn có tác dụng bảo vệ và phóng thích một cách có kiểm soát các hoạt chất Do vậy liposome có thể thay đổi hoàn hoàn các đặc điểm dược động học của hoạt chất

    - Cấu trúc màng phospholipid của liposome đồng thời cũng là cấu trúc màng sinh học của cơ thể sống, do vậy liposome sẽ

là chế phẩm y học có tính an toàn cao

    - Liposome có khả năng được thiết kế để tăng nồng độ thuốc ở những mô đặc biệt, được coi là dạng thuốc “đích”

(targeting drugs) lý tưởng Liposome tạo ra nhiều hệ vận chuyển thuốc chọn lọc

Đặc điểm cấu tạo của các tiểu phân liposome tạo ra nhiều ưu điểm về chế dược như sau:

   - Có cấu trúc ổn định khi bị pha loãng

   - Có thể dễ dàng thay đổi tính thấm của lớp màng kép với các phân tử phospholipid khác nhau

   - Có khả năng kết hợp tất cả các dược chất tan hay không tan trong nước và vận chuyển chúng đến môi trường mong muốn

   

3 Triển vọng kinh tế của công nghệ dược nano

Theo báo cáo của NanoMarkets, một công ty tư vấn công nghiệp thì các hệ vận chuyển thuốc sử dụng công nghệ nano sẽ tạo ra trên 1.7 tỷ USD vào năm 2009 và trên 4.8 tỷ USD vào năm 2012 Thị trường dịch vụ và các sản phẩm chất vận chuyển thuốc toàn cầu sẽ vượt 67 tỷ USD vào năm 2009 và sẽ thu hút đầu tư của rất nhiều công ty dược đa quốc gia

Trang 29

II Kết luận:

    Tóm lại, liposome nói riêng và các dược phẩm công nghệ Nano, và rộng hơn nữa là sản phẩm công nghệ nano sử dụng trong chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh, nâng cao chất lượng sống con người (ví dụ mỹ phẩm) đã và đang góp phần không những cho cuộc sống con người mà còn tạo ra những biến chuyển lớn cho các ngành sản xuất

Ngày đăng: 27/04/2019, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w