Đề cương Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản từ thực tiễn Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin 1 Tính cấp thiết của đề tài Ô nhiễm môi trường hiện nay[.]
Trang 1Đề cương:
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản từ thực tiễn Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ô nhiễm môi trường hiện nay đang là một trong các vấn đề được toàn thế giới quan tâm mạnh mẽ nhất Ô nhiễm môi trường gây ra hàng loạt các căn bệnh hiểm nghèo cho con người; gây ra thiên tai, lũ lụt, hạn hán; làm thay đổi môi trường sống, môi trường tự nhiên của sinh vật; là con đường dẫn đến diệt chủng loài người và toàn
bộ sinh vật trên trái đất này Trung tâm chính sách và luật môi trường Yale (YCELP) thuộc Đại học Columbia đã đưa ra chỉ số hiệu quả môi trường EPI để đánh giá tính bền vững về môi trường ở các quốc gia Việt Nam là một trong những quốc gia thường xuyên được YCELP quan tâm và đưa vào danh sách được đánh giá Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu của YCELP cho thấy EPI của Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2018 ngày càng tụt hậu so với chính Việt Nam và so với các quốc gia khác trên thế giới1 Theo công bố mới nhất của YCELP vào năm 2022, Việt Nam nằm trong top 3 quốc gia có chỉ số EPI thấp nhất gồm Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam2 Những số liệu đánh giá nêu trên và thực tiễn ô nhiễm môi trường mà toàn thể người dân Việt Nam trải qua đang gióng lên hồi chuông cảnh báo cho toàn bộ các cơ quan ban nghành về việc chú trọng vào kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Việt Nam
So với những lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật về dân sự, pháp luật về hình sự, pháp luật về thương mại thì pháp luật môi trường xuất hiện và được chú tâm muộn hơn hết Phải đến năm 1992, Hiến Pháp nước ta mới bắt đầu ghi nhận việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý kèm theo đó là việc bảo vệ môi trường và đến năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường mới chính thức được ra đời, đánh dấu cho cột mốc quan trọng của Nhà nước về việc bước đầu quan tâm vào công tác bảo vệ môi trường song song với phát triển kinh tế Tuy nhiên, trải qua quá trình tổ chức và thi hành pháp luật trên thực tiễn, pháp luật về bảo vệ môi trường không ngừng được thay thế, sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với tình hình phát triển kinh tế xã hội Luật bảo vệ môi trường năm 2014, sau khi ra đời được 5 năm đã bộc lộ nhiều hạn chế về việc mâu thuẫn với các quy định pháp luật khác và thiếu tính khả thi3 Luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2020 quy định nhiều điểm mới mang tính đột phá so với Luật bảo vệ môi trường năm 20144, tuy nhiên việc thi hành pháp luật trên thực tế cần được kiểm chứng qua thời gian sắp tới
Trong số các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản là một trong những mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước
ta Theo thống kê của Bộ tài nguyên và môi trường, tính đến đầu năm 2021 cả nước ta
1 Trần Đạt Thọ, Đinh Đức Trường (2019), Chỉ số hiệu quả môi trường (EPI): Thực trạng và giải pháp từ góc
nhìn kinh tế tại Việt Nam, Tạp chí khí tượng thủy văn số tháng 11 năm 2019.
2 Yale Center for Environmental Law & Policy (2022), https://epi.yale.edu/epi-results/2022/component/epi, ngày truy cập 05/02/2023.
3 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), https://monre.gov.vn/Pages/luat-bao-ve-moi-truong-qua-hon-05-nam- trien-khai-thuc-hien-da-boc-lo-nhung-vuong-mac,-bat-cap,-chong-cheo-voi-mot-so-he-thong-phap-luat-khac;-mot-so-dieu,-khoan-cua-luat-thieu-tinh-kha-thi.aspx, ngày truy cập 05/02/2023.
4 Mạnh Hùng (2022), Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi) năm 2020 tạo bước tiến lớn trong công tác bảo vệ môi
trường ở nước ta, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/bao-ve-moi-truong/-/2018/826011/luat-bao-ve- moi-truong-%28sua-doi%29-nam-2020-tao-buoc-tien-lon-trong-cong-tac-bao-ve-moi-truong-o%C2%A0nuoc-ta.aspx, Tạp Chí Cộng Sản số ngày 05 tháng 09 năm 2022.
Trang 2có hơn 3.679 khu vực phân bố khắp cả đất nước do hơn 3.300 cá nhân, tổ chức khai thác khoáng sản với nhiều loại khoáng sản khác nhau như đá, đất sét, đất cát, sỏi (làm vật liệu xây dựng thông thường), than, đá vôi, đá sét (làm nguyên liệu xi măng), đá hoa trắng, đá ốp lát5 Mặc dù Luật khoáng sản năm 2010 được ban hành đã trở thành một trong những khung pháp lý quan trọng góp phần bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, tuy nhiên, Luật khoáng sản năm 2010 vẫn còn một số hạn chế liên quan đến quy định về việc cấp phép khai thác, chế biến khoáng sản Nếu việc khai thác, chế biến khoáng sản không được quy định chặt chẽ và kiểm soát kịp thời thì hậu quả cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường tự nhiên là điều tất yếu sẽ xảy ra
Do vậy việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm trong suốt quá trình khai thác, chế biến khoáng sản là một trong những yêu cầu cơ bản và thiết yếu
mà các tổ chức, cá nhân khai thác, chế biến khoáng sản tại Việt Nam phải nghiêm túc thực hiện và tuân thủ đúng quy định pháp luật Để thực hiện được việc này, cần thiết phải có những nghiên cứu, đánh giá về các quy định pháp luật liên quan đến phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản
Hầu hết, các tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đều phải tuân thủ theo những quy định chung của pháp luật, do đó, để đảm bảo nghiên cứu mang tính chi tiết và thực tiễn hóa quy định pháp luật, tác giả quyết định chọn Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin làm đối tượng nghiên cứu trong đề tài
này Vì vậy đề tài nghiên cứu được tác giả thực hiện sẽ mang tên “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản từ thực tiễn Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin.”.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu này nhằm làm rõ quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản dựa trên các hoạt động thực tiễn
có liên quan tại Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin từ đó đưa ra đánh giá và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả việc thực thi các quy định pháp luật liên quan trong thực tiễn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, làm rõ lý luận pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản
và kiểm soát ô nhiễm môi trường ở góc độ khái niệm, vai trò, nguyên tắc và nội dung của các quy định này
Thứ hai, trình bày, phân tích việc tuân thủ quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản tại Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
Thứ ba, đánh giá việc tuân thủ quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản tại Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin ở các điểm thuận lợi, hạn chế
Thứ tư, từ thực tiễn đánh giá tại Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin đối chiếu với tình hình chung của các cá nhân, tổ chức có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thưc thi quy định pháp luật liên quan
5 Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021), Báo cáo Tổng kết, đánh giá 10 năm thực hiện Luật Khoáng sản năm
2010, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản,
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những quan điểm, học thuyết khoa học về kiểm soát ô nhiễm môi trường liên quan đến hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường của tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản Ngoài
ra, Luận văn nghiên cứu việc tuân theo quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản của Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn gồm các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường và khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam như: Luật bảo vệ môi trường, Luật khoáng sản và các văn bản hướng dẫn, pháp luật về thuế tài nguyên môi trường; pháp luật về phí và lệ phí…
4 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu thực tiễn tại Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin để làm rõ hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản tại Công ty này và phân tích các quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật để làm rõ hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường của Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin trên thực tế
Tác giả cũng sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, bình luận đối với những nghiên cứu khoa học, những bài viết, quan điểm của các tác giả khác liên quan một phần hoặc toàn bộ đối tượng nghiên cứu
5 Tình hình nghiên cứu:
Qua quá trình thực hiện đề tài, tác giả nhận thấy các nghiên cứu liên quan đến kiểm soát bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản nói chung vẫn còn hạn chế về số lượng, tất cả các nghiên cứu (nếu có) đều được thực hiện tại một
số thời điểm trước khi Luật bảo vệ môi trường năm 2020 ra đời Bên cạnh đó, không
có luận văn nào nghiên cứu từ góc độ của doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường của chính doanh nghiệp này
Một số luận văn có nội dung liên quan đến ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đã có một số tác giả nghiên cứu trước đó như:
“Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam” của tác giả Đặng Văn Cương (2014) đã phân tích sâu sắc nội dung
bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam Tác giả
đã tách bạch được khái niệm về khai thác khoáng sản, chế biến khoáng sản và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, đồng thời đưa ra quan điểm của chính tác giả về khái niệm của các hoạt động này Tác giả đã viện dẫn các phân tích khoa học về hoạt động khai thác, chế biến khoán sản để lý giải mục đích, ý nghĩa của các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường liên quan đến hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Ví dụ: tác giả đã nêu ra được việc khai thác 1 tấn thiếc phải xử lý 5000 tấn đất đá, hàng vạn mỏ nước, khai thác 1 tấn vàng phải xử lý
600 nghìn quặng, hàng ngàn kí lô gam sianua hay thủy ngân, dẫn chứng này nhằm lý giải cho việc cần thiết cho việc quy định chặt chẽ pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản để đảm bảo hạn chế ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Tác giả còn phân tích được vai trò, chức năng của cơ quan nhà nước trong hoạt
Trang 4động kiểm soát ô nhiễm môi trường khi tổ chức, cá nhân khai thác, chế biến khoáng sản để từ đó có cơ sở đánh giá cho việc cấp phép của cơ quan nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản Tác giả đã dẫn chứng nhiều địa phương, thực tiễn hoạt động của nhiều tổ chức khai thác khoáng sản tại Việt Nam Tuy nhiên Luận văn được thực hiện vào năm 2014, vào thời điểm Luật bảo vệ môi trường năm 2014 vừa được thông qua nên chưa thể kịp thời cập nhật thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ môi trường năm 2014 vào Luận văn Tương tự như vậy, đến thời điểm hiện tại Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã được ban hành, nên việc Luận văn có một số khác biệt so với
cơ sở pháp luật và thực tiễn hiện nay là điều tất yếu
“Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình” của tác giả Trần Thị Trà My (2015) đã trình bày và phân tích
sâu sắc các cơ sở lý luận liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường và quyền của con người được sống trong môi trường trong sạch, an toàn, lành mạnh Tác giả đã vận dụng được thực tiễn tại các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản tại khu vực Thành phố Tam Điệp và Huyện Nho Quang, tỉnh Ninh Bình để minh họa cho các phân tích trở nên minh thị và mạch lạc Tác giả đã phân tích được những hoạt động liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá như lập quy hoạch sử dụng tài nguyên đá, hoạt động đánh giá tác động môi trường, kiểm soát việc ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất, tiếng ồn, hoạt động quan trắc môi trường, cải tạo, phục hồi môi trường và các hành vi vi phạm về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong quá trình tổ chức, cá nhân khai thác đá Tuy nhiên, tác phẩm chưa phân tích sâu vào các khái niệm, đặc điểm của hoạt động khai thác khoáng sản theo quy định Luật khoáng sản Nghiên cứu này được thực hiện vào năm 2015 trước khi Luật bảo vệ môi trường năm 2020 ra đời, do đó hiện tại một số nội dung của Luận văn không còn phù hợp với những thay đổi của pháp luật về bảo vệ môi trường hiện tại
“Pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam” của tác
giả Phạm Chung Thủy (2012) đã trình bày và phân tích được các khái niệm cơ bản, đặc điểm của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tại Việt Nam, các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tại Việt Nam như quy định về đánh giá tác động môi trường, thăm dò khoáng sản, giấy phép và việc cấp phép khai thác khoáng sản Nghiên cứu của tác giả được thực hiện vào năm 2012, tại thời điểm này Luật khoáng sản năm 2010 chỉ mới được áp dụng trên thực tiễn hơn 2 năm nên Luận văn hầu như không đưa ra được các tình huống thực tiễn của các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản Bên cạnh đó, Luận văn chưa thực sự tập trung vào mục đích bảo vệ môi trường của các nhà lập pháp khi phân tích quy định của Luật khoáng sản liên quan đến hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, do đó các giải pháp tác giả đưa ra chưa thực sự gắn liền với thực tiễn xã hội, kinh tế
“Quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam” của tác giả Nguyễn Thị Khánh Thiệm” (2015) đã phân tích được thực tiễn hoạt động khai thác
khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam và các hoạt động của cơ quan nhà nước địa phương trong việc quản lý hoạt động khai thác khoáng sản như (1) hoạt động thi hành pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước; (2) xây dựng quy hoạch, kế hoạch khai thác khoáng sản; (3) tổ chức bộ pháy nhà nước về khai thác; (4) ban hành chính sách, quy định trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch khai thác khoáng sản; (5) thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích sâu vào ý nghĩa
Trang 5của việc quản lý nhà nước trong khai thác khoáng sản để nhằm bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường, hạn chế cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Tác giả cũng chưa phân tích được các cơ sở lý luận pháp lý về hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản
“Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng Công ty Xây dựng Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh” của tác giả Nguyễn Kiên Cường (2007)
tập trung phân tích những hoạt động cơ bản của Tổng Công ty Xây dựng Khoán sản và Thương mại Hà Tĩnh trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản Tuy nhiên Luận văn tập trung phân tích ở góc độ sử dụng nguồn vốn đầu tư hiệu quả mà không chú trọng việc bảo vệ môi trường hoặc kiểm soát ô nhiễm môi trường, tác giả có đưa
ra một số cơ sở pháp lý tuy nhiên các cơ sở pháp lý này không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành
6 Kế cấu của Luận văn:
Luận văn được phân bố thành 3 chương chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản
1.1 Khái niệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường
1.1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường
1.1.2 Khái niệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường
1.1.3 Nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm môi trường
1.2 Khái quát về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản
1.2.1 Khái niệm tài nguyên khoáng sản
1.2.2 Phân loại và vai trò của tài nguyên khoáng sản
1.2.3 Hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.4 Hoạt động chế biến khoáng sản
1.3 Mối quan hệ giữa việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản
1.4 Hệ thống các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản:
1.4.1 Quy định pháp luật về vai trò của cơ quan nhà nước
1.4.2 Quy định pháp luật về chủ thể có hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản
1.4.3 Quy định về xử phạt trong trường hợp vi phạm
Chương 2: Thực tiễn tuân thủ kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tại Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
2.1 Tổng quan về Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
2.1.1 Tên gọi và ngành nghề kinh doanh
2.1.2 Lịch sử hình thành Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
2.1.3 Các dự án khai thác và chế biến khoáng sản
2.2 Thực tiễn tuân thủ kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác
và chế biến khoáng sản tại Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
2.2.1 Giấy phép trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản
2.2.2 Thăm dò trữ lượng khoáng sản
2.2.3 Quản lý, vật chuyển, tiêu thụ
2.2.4 Thuê đất để thực hiện dự án khai thác khoáng sản
2.2.5 Chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản
Trang 62.2.6 Nộp tiền khai thác khoáng sản
2.2.7 Báo cáo kết quả khai thác
2.2.8 Đánh giá tác động môi trường
2.2.9 Khiếu kiện, khiếu nại, bồi thường
Chương 3: Đối chiếu và đề xuất giải pháp cho những tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tuân thủ tốt quy định về kiểm soát bảo vệ môi trường
3.1 Những tồn tại bất cập trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản 3.1.1 Những tồn tại của Công ty Kho Vận Đá Bạc VinaComin
3.1.2 Những tồn tại chung của tổ chức, cá nhân khai thác và chế biến khoáng sản
3.2 Đề xuất giải pháp cho tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tuân thủ tốt quy định về kiểm soát bảo vệ môi trường